BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ THU HƯƠNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY Chuyên ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA
VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: XH2b
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Lèo Thị Thơ
SƠN LA, NĂM 2016
Trang 2Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lý luận chính trị, Phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đã động viên, giúp đỡ
em trong suốt thời gian làm khóa luận Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô
giáo, Ths Lèo Thị Thơ, đã tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến khoa học
vô cùng quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong thư viện nhà trường đã tạo điều kiện về mặt tài liệu để em hoàn thành khóa luận
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của sở Giáo dục và đào tạo Tỉnh Sơn La đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện khóa luận một cách hoàn chỉnh nhất Song do còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân em chưa thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý kiến của quý Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên
để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5/2016
Sinh viên:
Trần Thị Thu Hương
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL CCGD CSVC GD&ĐT
GV HĐND
HS Nxb PCGD THCS PGS.TS SGK SGV
TB
TBDH THCS THPT
TS
TW UBND
XHCN
Cán bộ quản lý
Cơ cấu giáo dục
Cơ sở vật chất Giáo dục và đào tạo Giáo viên
Hội đồng nhân dân Học sinh
Nhà xuất bản Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Phó giáo sư tiến sĩ
Sách giáo khoa Sách giáo viên Trung bình Thiết bị dạy học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Tiến sĩ
Trung ương
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục 8
1.1.2 Vị trí và vai trò của giáo dục Trung học phổ thông trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La 23
1.2.2 Thực trạng phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Sơn La trước năm 2005 26
1.2.3 Bài học kinh nghiệm 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 : QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY 32
2.1 Đảng bộ thành phố Sơn La lãnh đạo phát triển giáo dục Trung học phổ thông giai đoạn 2005 - 2010 32
Trang 52.1.1 Quá trình lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành Trung
ương và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La 32
2.1.2 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 33
2.2 Đảng bộ thành phố Sơn La lãnh đạo phát triển giáo dục Trung học phổ thông giai đoạn 2010 đến nay 39
2.2.1 Quá trình lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh 39
2.2.2 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 42
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ SƠN LA 53
3.1 Đổi mới công tác quản lý của Nhà nước 53
3.2 Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò của giáo dục phổ thông trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương 55
3.3 Nâng cao chất lượng các nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 57
3.4 Lãnh đạo xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 60
3.4.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 60
3.4.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên 62
3.5 Củng cố, phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong các trường phổ thông 65
3.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN 69
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử xã hội loài người từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đã kết tinh trong mình toàn bộ những giá trị văn hoá cao đẹp, những tri thức, kinh nghiệm,
kỹ năng kỹ xảo trong các hoạt động phục vụ lợi ích con người và xã hội Song
để những giá trị văn hoá, những tri thức, kinh nghiệm đó được kế thừa, phát triển hoàn thiện và từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có con đường nào khác
là phải thông qua giáo dục và đào tạo
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại mà nền kinh tế tri thức đang làm biến đổi sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, tri thức trở thành nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới Mọi quốc gia, dân tộc muốn phát triển
và phát triển bền vững đều phải chăm lo đến sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học từ lâu đời Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thống đó đã góp phần tạo nên nét đẹp của nền văn hiến Việt Nam và được phát huy hơn bao giờ hết trong thời đại mới Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước, nền giáo dục nước nhà thực sự giữ một vai trò quan trọng, gánh vác những sứ mệnh của dân tộc
Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đòi hỏi trình độ dân trí ngày càng cao làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế xã hội, giáo dục và đào tạo là mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Phát triển giáo dục tức là phát triển con người: Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần của toàn xã hội; con người là nguồn lực cơ bản tạo ra mọi nguồn lực khác thúc đẩy xã hội phát triển; con người phát triển toàn diện, hài hoà có nhân sinh quan, thế giới quan cộng sản chủ nghĩa
Đảng và Nhà nước ta đã từ lâu nhận thức rất rõ vai trò, vị trí của giáo dục
Trang 8và ngày càng chăm lo sự nghiệp giáo dục Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ VII của Đảng khẳng định: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [9, tr.79] Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá VII tiếp tục chỉ rõ: Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục
vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII (1996) khẳng định:
“Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [10, tr.210] Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Vấn đề đào tạo con người là vấn đề quan trọng bậc nhất trong phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, là một trong những tiền đề cơ bản góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhận thức rõ vấn đề này tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ
IX (2001) Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” [11, tr.127] yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Trên cơ sở đó Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 40/2000/NQ - QH về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới
Với tư cách là một thành tố cơ bản của nền văn hoá dân tộc, giáo dục có một vị trí trọng yếu hàng đầu trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [12, tr.94-95] Giáo dục và đào tạo là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội mà nhân dân ta
Trang 9kiên trì lựa chọn và xây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp giáo dục mà chúng ta xây dựng là sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung thành với sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua những thách thức, đưa đất nước tiến lên theo kịp trào lưu phát triển chung của khu vực và quốc tế
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua, cùng sự phát triển của nền giáo dục cả nước, ngành giáo dục thành phố Sơn La nói chung, bậc giáo dục THPT nói riêng đã thu được nhiều thành tích đáng phấn khởi: Quy mô giáo dục được mở rộng, chất lượng và hiệu quả giáo dục ngày càng thể hiện rõ nét; hơn 10 năm liền ngành giáo dục thành phố được công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc của tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh đó sự nghiệp giáo dục thành phố, đặc biệt bậc giáo dục THPT còn bộc lộ nhiều hạn chế và tồn tại: cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới; chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các trường trong địa bàn thành phố; năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên còn hạn chế; công tác quản lý giáo dục chưa bắt kịp so với yêu cầu Trước tình hình đó đặt ra cho ngành giáo dục thành phố cần phải đánh giá đúng thực trạng chất lượng giáo dục các cấp học trong toàn thành phố để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm đã đạt được để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục THPT nói riêng, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo
Là sinh viên chuyên nghành Giáo dục chính trị đang sinh sống và học tập trên địa bàn tỉnh Sơn La, trực tiếp chứng kiến quá trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là nền giáo dục của thành phố dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ thành phố Sơn La, để góp phần khẳng định vai trò và công lao to lớn của Đảng nói chung và Đảng bộ thành phố Sơn La nói riêng đối với sự phát triển của nền
Đảng bộ thành phố Sơn La với việc phát triển giáo dục trung học phổ thông
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề Đảng lãnh đạo đối với giáo dục đào tạo là vấn đề quan trọng, do đó
đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, đã có không ít đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, tiêu biểu như:
- Phạm Văn Đồng "Vấn đề giáo dục - đào tạo" Nxb Chính trị quốc gia, số
XB.01553/XB-QLXD 1/7/1999
- Đỗ Mười "Phát triển mạnh giáo dục-đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước" , Nxb Giáo dục - mã số:8G230M6
- Vũ Đình Cự ( chủ biên) ( 1999), Giáo dục hướng tới thế kỉ XXI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
các trường trung học phổ thông ở Hà Nội giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ,
Chuyên ngành Xây dựng đảng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trong cuốn: “Giáo dục phổ thông - nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục
quốc dân” của Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), đề cập đến vai trò to lớn của
nền giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay, cần phải có những biện pháp cụ thể để giáo dục phổ thông thực sự là nền tảng của giáo dục quốc dân Bài viết
“Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay” của TS Vũ Thị Ngọc Ánh (2010), tác giả đã đưa đến độc giả những cái
nhìn khách quan nhất về thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh nhà
trường THPT hiện nay ở nước ta Cuốn “Phương thức bồi dưỡng học sinh năng
khiếu ở nhà trường phổ thông Việt Nam” của PGS.TS Đỗ Tiến Đạt (2010), tác
giả đã đưa ra các phương thức bồi dưỡng những em học sinh có những năng khiếu riêng có của mình trong nhà trường THPT ở nước ta, cần phải có những phương thức tiến bộ hơn để phát huy năng lực của các em học sinh Công trình
nghiên cứu “Đổi mới quản lý giáo dục nhà nước và hệ thống giáo dục quốc dân
trong hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá” của GS.TSKH Vũ Ngọc Hải
Trang 11(2012), đã đề cập đến công tác đổi mới quản lý giáo dục trong xu thế hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá
Trong bài viết: “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Báo Việt Nam net) đã nêu 6 vấn đề
"Cơ bản và cấp bách" nhằm "triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo
dục và đào tạo”
Những cuốn sách, bài viết nêu trên đã đưa ra nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục và các cách tiếp cận nghiên cứu về giáo dục phong phú, đa dạng Đó là những tài liệu mà nhóm tác giả tham khảo định hình cho mình một quan niệm đúng đắn về giáo dục được sử dụng trong đề tài
Vấn đề xây dựng và phát triển giáo dục cũng thu hút được nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ
như: “Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay”, “Luận văn nâng cao chất lượng giáo dục Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Chương hiện nay”, “Luận văn sự lãnh đạo của tỉnh ủy Thái Bình đối với công tác giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay”…
Nhìn chung những bài viết, đề tài, luận văn trên đã khẳng định tầm quan trọng của xây dựng và phát triển giáo dục trong đó có giáo dục THPT, nêu bật được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, được thể hiện bằng các đường lối, chính sách phát triển và sự vận dụng vào các địa phương cụ thể nêu ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục THPT phù hợp với từng khu vực Tuy nhiên, giáo dục THPT là vấn đề rất phong phú và rộng lớn, vẫn còn nhiều nội dung cụ thể mà các nhà nghiên cứu chưa đề cập tới, nhất là vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Sơn La với việc phát triển giáo dục THPT từ năm 2005 đến nay Việc tìm hiểu giáo dục THPT ở các địa phương mới triển khai bước đầu và hiệu quả chưa cao
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã có nhiều gợi ý giúp tôi định hướng
và xác định các mục tiêu nghiên cứu phù hợp cho đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tổng kết một bước thành quả của công tác lãnh đạo xây dựng và phát triển giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Sơn La
Trang 12- Tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng bộ thành phố Sơn La đối với
sự nghiệp đổi mới giáo dục của thành phố
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển giáo dục THPT
- Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Sơn La lãnh đạo xây dựng và phát triển giáo dục THPT; Tổng kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế, bài học 0kinh nghiệm trong quá trình phát triển giáo dục THPT
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Sơn La với việc phát triển giáo dục THPT từ năm
2005 đến nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Sơn La với việc phát triển giáo dục Trung học phổ thông từ năm 2005 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Khóa luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể như phương pháp: lịch sử
và logic, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu các tài liệu,
số liệu thống kê; phương pháp tổng kết kinh nghiệm… Đồng thời có kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả có liên quan trên cơ sở chọn lọc và nâng cao
Trang 136 Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần:
- Hệ thống hóa các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển giáo dục THPT
- Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Sơn La trong việc phát triển giáo dục THPT trên địa bàn thành phố giai đoạn 2005 đến nay
- Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về Đảng bộ thành phố Sơn La với việc phát triển giáo dục THPT
- Khóa luận có thể sử dụng làm tư liệu cho sinh viên, giáo viên trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về sự phát triển giáo dục THPT thành phố Sơn La
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển giáo dục THPT của Đảng bộ thành phố Sơn La
Chương 2: Quá trình Đảng bộ thành phố Sơn La lãnh đạo phát triển giáo dục THPT từ năm 2005 đến nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo phát triển giáo dục THPT ở thành phố Sơn La
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 141.1.1 Quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục
Ngay từ khi chủ nghĩa xã hội mới còn là học thuyết, Các Mác và Ăngghen
đã nhận thấy vai trò của sự nghiệp giáo dục và đào tạo và coi đó như một nhiệm
vụ bắt buộc đối với hết thảy mọi người Trong tác phẩm “Nguyên lý chủ nghĩa
cộng sản” khi trả lời câu hỏi: Cuộc cách mạng đó sẽ diễn biến như thế nào? Hai
ông đã nói rõ quan điểm: “… Đối với tất cả trẻ em khi không cần đến sự chăm sóc của người mẹ nữa, thì đưa vào giáo dục trong các cơ quan nhà nước và bằng
sự đài thọ của nhà nước, kết hợp với sự giáo dục với lao động trong công
năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho
họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ Do đó công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi người phải theo Như vậy là xã hội tổ chức theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa sẽ làm cho những thành viên trong xã hội có khả năng sử
ông còn khẳng định rằng: “… Bộ phận giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân cũng nhận thức rõ ràng rằng: tương lai của giai cấp họ và do đó tương lai của cả loài người, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [ 3, tr.37]
Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và Ph Ăng ghen đã
đề cập tới một xã hội tốt đẹp mà những người cộng sản nhằm tới là xã hội trong
Trang 15đó có sự phát triển của từng người tạo điều kiện cho sự phát triển của mọi người Các ông đã nhận thấy trước ở xã hội xã hội chủ nghĩa việc đào tạo những người cộng sản phát triển toàn diện có ý nghĩa đặc biệt Chính vì vậy mà các ông có quan niệm rất rõ ràng về nhiệm vụ giáo dục Các ông cho rằng nhiệm vụ giáo dục gồm 3 điểm:
C Mác và Ph Ăng ghen đã chỉ rõ sự phát triển toàn diện trong giáo dục là
sự phát triển thống nhất của thể chất và tinh thần, sự phát triển trong đó kết hợp việc dạy kỹ thuật với tham gia lao động thực tiễn của trẻ Sự phát triển toàn diện
sẽ tạo cho con người có khả năng định hướng một cách dễ dàng trong toàn bộ hệ thống sản xuất và dễ dàng chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác, tuỳ theo nhu cầu của xã hội và của bản thân Chính trong việc giáo dục như vậy, con người sẽ thoát khỏi sự phát triển phiến diện mà sự phân công lao động xã hội dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đã bắt con người phải chịu
Về phương pháp giáo dục, trong tác phẩm “Các Mác - Tư bản” (1960), Các Mác đã chỉ ra rằng: “Nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí tuệ và
thể dục, đối với hết thảy trẻ em trên mọi lứa tuổi nhất định nào đó và làm như vậy không những chỉ là phương pháp tăng thêm sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp tốt nhất và duy nhất để đào tạo ra những con người toàn diện” [6, tr.299]
Những quan điểm khoa học đúng đắn được C.Mác phản ánh thực chất sự tồn tại của con người trong xã hội Con người được xem là sản phẩm kỳ diệu nhất, cao nhất của lịch sử phát triển thế giới vật chất và chịu sự chi phối của thế giới tự nhiên Do vậy, vấn đề đặt ra là phải hiểu và xử lý mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa hoạt động nâng cao và hoạt động đơn giản Giữa phát triển
cả thể lực lẫn trí óc và chân tay để phát huy sức mạnh nội sinh, tiềm tàng trong
Trang 16mỗi con người như là cơ sở vật chất để khai thông và phát triển tinh thần của nhân tố con người và động lực trọng yếu cho quá trình trên
Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph Ăng ghen về giáo dục, V.I.Lênin đã đưa ra những lý luận đầy đủ hơn về giáo dục và hệ thống giáo dục, về nhiệm vụ
và tính chất của nền giáo dục trong xã hội mới Trong “Dự thảo Cương lĩnh
Đảng Cộng sản Nga” tháng 2 năm 1919, Lênin nêu những ý tưởng về giáo dục -
đào tạo đến nay vẫn còn mang tính thời sự và giá trị vận dụng thực tiễn của nó:
“Thực hiện chế độ giáo dục không mất tiền và bắt buộc, phổ thông và bách khoa (dạy lý thuyết và thực hành về tất cả các ngành sản xuất chủ yếu) cho tất
cả em trai, em gái dưới 16 tuổi
* Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với lao động sản xuất
* Lôi cuốn nhân dân lao động tích cực tham gia sự nghiệp giáo dục, phát triển những hội đồng giáo dục quốc dân, huy động những người biết chữ dạy người không biết chữ” [21, tr.118]
Trong nhiều phát biểu Lênin từng nói: “Học, học nữa, học mãi” hay: “Suy
cho cùng thì người thầy quyết định hết …”
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lênin đã nêu bật được vai trò, nhiệm vụ to lớn và nặng nề của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực, trong đó Người rất chú trọng đến giáo dục toàn dân, tới mọi người cùng làm giáo dục, tới bình đẳng, tới học đi đôi với hành, tới nhà trường gắn liền với xã hội, học không biết chán và không biết mỏi, học có suy ngẫm có tìm tòi sáng tạo, có tư duy phát triển, nghiên cứu luôn đổi mới phương pháp để đạt hiệu quả cao
Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục
Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp giáo dục của mình bắt đầu bằng việc trở thành thầy giáo dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), đến những năm tháng hoạt động ở Pháp với tên gọi Nguyễn Ái Quốc và sau này trở thành lãnh tụ Hồ Chí Minh Qua những năm tháng đó, Người đã tổ chức và trực tiếp giảng dạy nhiều lớp huấn luyện chính trị, văn hóa và quân sự cho bao lớp cán
bộ Người đã có công đào tạo nên nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam, những lãnh
Trang 17tụ xuất sắc của Đảng, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Không chỉ vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh và đặt nền móng cho nền giáo dục mới của Việt Nam, đó là nền giáo dục mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng, bảo đảm cho mọi người đều được đi học, ai cũng được học hành, có quyền bình đẳng về giáo dục; bảo đảm cho sự phát trển toàn diện những năng lực sẵn có của con người
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy giáo dục có vai trò và sức mạnh to lớn Những năm tháng bôn ba qua các đại dương tìm đường cứu nước, cứu dân, Người đã tận mắt chứng kiến và học được nhiều điều Sống ở Pari thủ đô nước Pháp, nơi được coi là trung tâm văn minh của nhân loại với nền khoa học - kỹ thuật phát triển hàng đầu thế giới vào đầu thế kỷ 20, Người đã nhận thức về tầm quan trọng của trình độ dân trí "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Vì thế, Người luôn coi việc đấu tranh chống chính sách "Ngu dân" của thực dân Pháp để có một nền giáo dục tự do là một trong những mục tiêu của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Người nói: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống giặc dốt là vấn đề cấp bách số hai, sau vấn đề chống nạn đói trong sáu nhiệm vụ cấp bách của nhà nước lúc bấy giờ Giặc dốt được coi như một thứ giặc cần tiêu diệt ngang hàng với giặc ngoại xâm Người xem việc nâng cao dân trí là một công việc cần phải thực hiện cấp tốc để làm cho: mọi người Việt Nam, ai cũng đều có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà Trong kháng chiến chống thực dân Pháp dù bận lãnh đạo nhân dân đánh giặc và sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm chú ý đến văn hóa và giáo dục, Người đã kêu gọi mọi người hăng hái học tập "Thi đua diệt giặc dốt" Trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người dã
kêu gọi "Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt" [15, tr.329].
Trang 18Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo Sinh thời, Người vẫn thường nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết Sau Cách mạng Tháng Tám, cùng với sự khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Người rất quan tâm đến sự nghiệp trồng người: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người Trong hoàn cảnh của nhà nước cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài và thiên tai dịch hoạ hoành hành, Người đã kêu gọi toàn dân ra sức diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Nhờ đó mà từ chỗ hơn 95% số dân mù chữ, dân ta đã trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học,
có đủ khả năng để giành độc lập, tự do cho đất nước Đây là điểm khởi đầu chói sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần mở đầu cho nền giáo dục của nước Việt Nam mới
Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vấn
đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục Người thường nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” và Hiền giữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên Tư tưởng này không những chỉ là sự kế thừa những truyền thống quý báu của dân tộc mà còn là sự phản ánh những yêu cầu lâu dài vừa cấp bách của nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội từ một trình độ xuất phát thấp về kinh tế và xã hội Sự vận động, phát triển khách quan của đất nước, tất yếu đòi hỏi nền giáo dục phải đem lại một chất lượng mới cho từng con người, cho cả dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mục tiêu mà nhà trường cần phải thực hiện trong hoạt động dạy và học là: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phục vụ đoàn thể, giai cấp nhân dân, Tổ quốc và nhân loại Để đạt được mục tiêu nói trên, Người chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện, trong việc giáo dục và học tập phải đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất
Đây chính là những nội dung giáo dục cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam mới và cũng là
Trang 19những nội dung chủ yếu của nhà trường trong việc giáo dục, rèn luyện học sinh vươn lên chiếm lĩnh những giá trị cao quý, tinh hoa của loài người và dân tộc
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đã trở thành cơ sở tư tưởng và lý luận cho việc xây dựng một nền giáo dục cách mạng kiểu mới mà chúng ta đã và đang thực hiện
Ngày nay, công tác giáo dục, đào tạo nhằm phát huy nguồn lực con người vẫn là một nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Sự nghiệp giáo dục nói chung, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng đang đứng trước những điều kiện thuận lợi mới và những thách thức lớn Vì thế, cần phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ra cho đất nước những con người vừa "hồng" vừa "chuyên"
Như vậy ta có thể khái quát: Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học Giáo dục là quá trình tác động có hệ thống, có kế hoạch của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ
sở giáo dục khác, của các cơ quan hành chính nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức cá nhân tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm đạt được mục tiêu là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sự nghiệp giáo dục
Trên cơ sở quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã có
Trang 20những nhận thức, quan điểm đúng đắn, tích cực về vai trò, vị trí của giáo dục trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất là trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
Ngay sau khi vừa giành được chính quyền, Đảng ta vừa tiến hành lãnh đạo nhân dân tiến hành diệt giặc dốt, vừa tiến hành cải cách nền giáo dục kiểu cũ thành nền giáo dục mới của một nước độc lập, một nền giáo dục và đào tạo thế
hệ trẻ thành những công dân kiểu mới của chế độ xã hội mới Trong suốt gần một nửa thế kỷ qua, chúng ta đã tiến hành 3 cuộc cải cách giáo dục (CCGD): Lần thứ nhất: Tháng 7/1950 Hội đồng chính phủ thông qua đề án CCGD
và quyết định thực hiện cuộc cải cách này
Lần thứ hai: Tháng 8/1956, chính phủ ban hành chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Lần thứ ba: Năm 1979, Bộ chính trị ra Quyết định số 14 tiến hành CCGD và được thực hiện từ năm 1981 đến nay Hiện nay, chúng ta vẫn đang tiếp tục điều chỉnh, đổi mới, chấn hưng giáo dục để ngày càng đạt đến sự hoàn thiện hơn
Trải qua các thời kỳ Đại hội, nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng (12/1986) cho đến nay, Đảng ta đã có những bước phát triển mới
về tư duy và tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII (1993) đã ra Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” với 4 quan điểm và 12 chủ chương, chính sách, biện pháp lớn
để phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản bảo đảm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ đất nước, phải coi giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển
Nghị quyết trung ương 2 (khoá VIII) “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000” là sự kế thừa, hoàn thiện và nâng cao những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng trong hoàn cảnh mới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tiếp tục khẳng định: Phát triển giáo dục
và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố
Trang 21cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững và Phát triển khoa học, công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Vì vậy, việc tạo bước chuyển biến mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm
là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đã được xác định là một trong ba khâu đột phá để làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội của nước ta Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, Hiến pháp 1992 và sửa đổi 2001; Luật giáo dục (1998) và Văn kiện Đại hội IX của Đảng, ngày 28/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg về
“Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” “Chiến lược phát triển giáo dục”
đã hệ thống hoá 4 quan điểm lớn: Một là, giáo dục là quốc sách hàng đầu; hai là, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng; ba là, phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng - an ninh; bốn là, giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Chiến lược cũng đã vạch ra 7 nhóm giải pháp lớn cần tập trung thực hiện để đạt được những mục tiêu đã đề ra Như vậy, nhận thức và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về giáo dục là nền tảng và tiền đề để nhận thức, đánh giá đúng
vị trí, vai trò của giáo dục trong xã hội Từ đó, đề xuất những giải pháp mang tính khả thi trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục ở từng địa phương, từng cơ sở Đây là những định hướng mang tính nguyên tắc, cần tuân thủ trong hoạt động thực tiễn
Tuy nhiên trong đánh giá kiểm điểm nhiệm kỳ khoá IX tại ĐH lần thứ X của Đảng cũng đã chỉ ra mặt yếu kém của giáo dục đào tạo: Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu Chương trình, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề chưa phù hợp
Chính vì vậy, trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển những năm tới về giáo dục và đào tạo, Đảng ta đặt ra nhiều vấn đề trọng tâm trong đó có nhấn mạnh: Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương
Trang 22trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giầu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất lượng giáo dục, đào tạo.
Đây là những tư tưởng cơ bản, cốt lõi có ý nghĩa chỉ đạo chiến lược cho quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nói riêng, xây dựng và phát triển đất nước nói chung trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã chỉ rõ: Giáo dục
và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời
Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Nêu rõ mục tiêu: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả;
Trang 23Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt;
có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã
xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Đặc biệt, đối với giáo dục trung học phổ thông, nghị quyết nêu rõ: Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp
và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lươ ̣ng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020 Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) tiếp tục nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán
về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Đại hội chỉ rõ: Trước hết, giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ phải gắn kết, tương tác lẫn nhau Đổi mới giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao tiềm năng, kỹ năng sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ của con người; khoa học, công nghệ phải gắn bó và thông qua nguồn nhân lực được đào tạo để thâm nhập sâu vào sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội Hướng đích của đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ là phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, trước hết là
Trang 24nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, theo đó là chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế
1.1.2 Vị trí và vai trò của giáo dục Trung học phổ thông trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
Hiểu một cách khái quát, giáo dục phổ thông là: Ngành giáo dục dạy
những kiến thức cơ sở chung cho học sinh [37, tr.394], tức là dạy những kiến
thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết, sát thực nhất để học sinh có thể áp dụng vào cuộc sống, nhằm thích nghi và hoà nhập tốt với xã hội hiện tại, là cơ sở của sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, nhiều triết gia đã đưa ra những quan niệm về giáo dục phổ thông
Platôn cho rằng: việc giáo dục con người được diễn ra trong một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, theo đó bậc giáo dục phổ thông tiếp nhận những học sinh
từ 7 đến 18 tuổi Trong đó từ 7 đến 12 tuổi, trẻ em vào học văn và trường học đàn, được học đọc, viết, tính toán, âm nhạc, tôn giáo, hội hoạ; từ 12 đến 18 tuổi, trẻ em được vào trường học thể thao Tại đây nhà trường rất coi trọng giáo dục thể chất, toán học, địa lý, thiên văn học với phương pháp thực tiễn
Arixtốt là người đầu tiên trong lịch sử có ý định phân kỳ lứa tuổi học sinh Ông cho rằng độ tuổi của học sinh bậc giáo dục phổ thông từ 7 đến 21 tuổi Ứng với mỗi lứa tuổi có đặc điểm phát triển riêng về tâm lý và sinh lý nên phải có nội dung và phương pháp giáo dục thích hợp cho trẻ em
Theo quan niệm của J.J.Ruxô, muốn giáo dục con người phải căn cứ vào đặc điểm tự nhiên của chúng, vì vậy giáo dục phải tuân theo sự phát triển của trẻ
để giáo dục trẻ Ông cho rằng bậc giáo dục phổ thông từ 11 đến 15 tuổi Đây là thời kỳ dạy chữ, là thời trí dục Ông đã cho nhiều chỉ dẫn quan trọng về dạy học cho trẻ em bằng phương pháp thực nghiệm
Hiện nay ở nước ta, giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào lớp một là
6 tuổi Giáo dục phổ thông là cấp học không những bắt đầu dạy kiến thức khoa học cơ bản mà quan trọng là dạy học sinh cách làm người cả về đạo đức, nhân
Trang 25cách Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9 Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là
11 Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi
là 15 Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở Giáo dục trung học cơ
sở giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Giáo dục phổ thông đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật; phát triển những nội dung đã học ở bậc học dưới, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, những kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật hướng nghiệp Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, giáo dục phổ thông còn có nội dung nâng cao
ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
Sách giáo khoa sẽ cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa được sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông
Cơ sở giáo dục phổ thông là các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông Học sinh học hết chương trình tiểu học có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng
Trang 26trường tiểu học xác nhận trong học bạ việc hoàn thành chương trình tiểu học Học sinh học hết chương trình trung học cơ sở có đủ điều kiện theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được trưởng phòng giáo dục và đào tạo cấp huyện cấp bằng trung học cơ sở Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được giám đốc sở giáo dục và đào tạo cấp tỉnh cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
Trong giáo dục phổ thông có hai loại hình quản lý: quản lý hệ thống và quản lý nhà trường Trong đó quản lý nhà trường là hạt nhân cơ bản Bởi lẽ, nhà trường là “rường cột” của hệ thống giáo dục quốc dân Đây chính là nơi trực tiếp thực hiện quá trình cung cấp kiến thức và những nhân tố căn bản của nhân cách con người Cùng với gia đình, đó là khâu có tầm quan trọng quyết định đối với
sự hình thành nhân cách học sinh Nhưng vấn đề quản lý chất lượng trong nhà trường hiện nay còn nhiều bất cập
Chúng ta có thể thấy giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người và của cả xã hội, nó là yếu tố quan trọng nhất hình thành toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức,
về nhân cách của con người, nhất là những kiến thức cơ sở trong các bậc học phổ thông Nó làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng để sản xuất ra nhiều của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Trong bối cảnh chung của thế giới bước vào kỷ nguyên thông tin, hội nhập và toàn cầu hoá về kinh tế, khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và cùng với công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vai trò của giáo dục có ý nghĩa quyết định thực hiện thành công sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông bao gồm 2 bậc: Tiểu học và trung học Trong bậc trung học có 2 cấp: Cấp THCS và cấp trung
học phổ thông Đảng ta đã xác định: “giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá
của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó phải đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển toàn diện con người Việt Nam
Trang 27xã hội chủ nghĩa ” [8, tr.18] Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo
dục nhấn mạnh: giáo dục phổ thông có nhiệm vụ giáo dục cho học sinh đạt trình
độ văn hoá phổ thông tương đối hoàn chỉnh, có năng lực làm các loại lao động phổ thông, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp, sẵn sàng đi vào học nghề và tăng gia lao động sản xuất, tham gia công tác xã hội hoặc học lên
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra với tốc độ như vũ bão, cuốn hút tất cả các nước ở nhiều mức độ khác nhau Cuộc cách mạng này sẽ chuyển một bộ phận nhân loại từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin và công nghệ Trên thế giới, năng suất lao động tăng lên không ngừng Theo: Thế giới toàn cảnh trước năm 2000: Chỉ trong vòng hai thập kỷ gần đây, loài người đã sản xuất được một lượng của cải vật chất công nghiệp gần bằng suốt thời kỳ 270 năm trước đó Cũng chính trong thời kỳ này, con người đã bước vào ngưỡng của của một thời đại mới - Đó là thời đại trí tuệ
Các ngành công nghệ cao là yếu tố then chốt quyết định phát triển như tin
học, vi điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới… Những ngành công nghiệp cao chính là những ngành công nghiệp làm ra sản phẩm có hàm lượng “chất xám” cao Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật không chỉ làm cho
kỹ thuật cổ truyền trở nên lỗi thời mà còn làm cho lối sống thay đổi, sự định hướng giá trị thay đổi, những chuẩn mực đạo đức và hành vi được nâng cao và
mở rộng
Đối với Việt Nam, bài toán của sự phát triển mà thời đại đặt ra chỉ có thể giải quyết bằng trí tuệ thời đại, của dân tộc, bằng đầu tư mạnh mẽ và ưu tiên cho giáo dục trong đó có giáo dục THPT để tạo nguồn lực trong cuộc chạy đua ở thế
kỉ mới này, vừa tránh được tụt hậu nhiều mặt trong thế giới hiện đại và vẫn có được những nhân cách mới, vững bước đi trên con đường xã hội chủ nghĩa
Với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các thành phần kinh tế được
tự do phát triển trong khuôn khổ pháp luật và đều bình đẳng trước pháp luật Các sản phẩm làm ra phải là hàng hoá có giá trị cao, có sức cạnh tranh trên thị trường Chính vì vậy mà đòi hỏi người lao động và những người quản lý rất
Trang 28nhạy bén, năng động, có tay nghề kinh tế cao, biết thích ứng linh hoạt trước những biến động của thị trường
Nền kinh tế thị trường cũng đặt ra yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo là phải đào tạo được những con người đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội Điều đó có nghĩa là, hệ thống giáo dục mà trước hết là giáo dục phổ thông phải giáo dục và truyền thụ cho học sinh những hiểu biết cơ bản về văn hoá dân tộc,
về những thành tựu của một số nền văn minh thế giới, về kỹ năng lao động, hướng nghiệp và dạy nghề, những tri thức ban đầu về nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường, những phẩm chất cần thiết để đi vào cuộc sống độc lập Trong thời kỳ “mở cửa” để tạo ra nguồn lực, sức lao động dồi dào, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước và có thể tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục THPT nói riêng càng cần phải làm tốt chức năng của mình Thực tế cho thấy, với cơ chế thị trường, lao động ngày càng xác lập giá trị đích thực của người lao động được đào tạo Muốn bảo đảm việc làm, không bị lạc hậu về trình độ và có điều kiện làm giàu chính đáng, người lao động phải thường xuyên học tập, bồi dưỡng về mọi mặt Việc không ngừng làm giàu trí tuệ của mỗi người là điều kiện để người
đó nhanh chóng có một cuộc sống sung túc, ổn định đồng thời tăng thêm nguồn trí tuệ cho đất nước, góp phần cho đất nước phát triển Đó chính là mục tiêu quan trọng của việc học tập và rèn luyện
Với vai trò và nhiệm vụ của mình, giáo dục THPT phải thực hiện những mục tiêu sau: nhằm giúp học sinh cũng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông có hiểu biết thông thường về kỷ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển vàphát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học CĐ-ĐH, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề và đi vào cuộc sống lao động Mục tiêu cụ thể của cấp THPT được xác định: yêu cầu học sinh sau khi học xong THPT phải đạt được các mặt về tư tưởng đạo đức, lối sống học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kỷ thuật và hướng nghiệp, kỹ năng học tập và vận dụng kiến thức cũng như các yêu cầu về thể chất và xúc cảm
Trang 29thẫm mỹ Tất cả các yêu cầu này đảm bảo thực hiện được mục tiêu chung là giáo dục- đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La
Đặc điểm tự nhiên của thành phố Sơn La
Sơn La giáp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai về phía Bắc; Phú Thọ, Hoà Bình
về phía Đông; Lai Châu, Điện Biên về phía Tây; tỉnh Thanh Hoá về phía Nam
và có 250 km đường biên giới chung với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, cách trung tâm thủ đô Hà Nội là 320km về phía Tây Bắc Sơn La có diện tích tự
các phường: Tô Hiệu, Chiềng Lề, Quyết Thắng, Quyết Tâm, Chiềng An, Chiềng Sinh, Chiềng Cơi và các xã: Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Xôm, Chiềng Ngần, Hua La
Thành phố Sơn La là tỉnh lỵ của tỉnh Sơn La, vùng Tây Bắc Việt Nam Trước là thị xã Sơn La, được chuyển lên thành phố theo nghị định số 98/2008/NĐ - CP ngày 3/9/2008 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Địa giới hành chính của thành phố Sơn La như sau: phía Bắc giáp huyện Thuận Châu và Mường La, phía Tây giáp huyện Thuận Châu, phía Nam giáp huyện Mai Sơn, phía Đông giáp huyện Mai Sơn và Mường La
Toạ độ địa lý: 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc, 103011’ - 105002’ kinh độ Đông Ở vị trí này, thành phố nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt: một mùa đông lạnh khắc nghiệt có sương mù dày đặc, đặc biệt là sương muối và một mùa khô, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió Tây khô, mùa hè nóng
ẩm mưa nhiều đây là kiểu khí hậu đặc trưng của thành phố Sơn La nó vừa có những điều kiện thuận lợi và bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn gây trở ngại trong hoạt động sản xuất và cuộc sống của con người nơi đây Do địa hình bị chia cắt mạnh và sâu sắc nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú
Trang 30năm khoảng 1200 -1600 mm, độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn khoảng 81%, số ngày có gió Tây khô nóng tăng lên ở Sơn La là 4,3 ngày/năm là một trong những điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và du lịch
Thành phố Sơn La có độ cao trung bình từ 700 - 800 m so với mực nước biển địa hình của tỉnh Sơn La chia cắt tạo thành 3 vùng sinh thái: vùng trục quốc lộ
6, vùng hồ sông Đà và vùng cao biên giới Sơn La là tỉnh nằm trên trục đường quốc
lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, đây là tuyến đường giao thông huyết mạch của vùng Tây Bắc Tỉnh lại có vị trí nằm án ngữ cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, lại có đường ranh giới với Lào dài 250km nên có vị trí địa lý quan trọng về mặt an ninh quốc phòng Ngoài ra còn có quốc lộ 37, quốc lộ 43, quốc lộ 279
Điều kiện tự nhiên của thành phố Sơn La đã đem lại nhiều thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Chẳng hạn với vị trí địa lý của thành phố Sơn La, giao lưu với các huyện của tỉnh, giao lưu với các tỉnh trong nước và với nước láng giềng như là xây dựng mối quan hệ hữu nghị với Lào Chính vì vậy con người nơi đây sống thân thiện, hiếu khách, cởi mở, chan hoà Đó là điều kiện để tiếp thu cái mới, cái hay, cái đẹp trong quá trình giao lưu hội nhập Đồng thời nó cũng chịu tác động của những cái xấu cái lạ và rất dễ thay đổi do những tác động khác nhau
Thành phố Sơn La có địa hình chia cắt phức tạp, núi đá xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo điều đó cũng gây không ít những khó khăn cho các hoạt động của người dân trng đó có hoạt động giáo dục Diện tích canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc 250 chiếm tỷ lệ thấp Một số khu vực có các phiềng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã: Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh
Tóm lại, thiên nhiên thành phố Sơn La đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ tạo cho con người nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, trong đó có giáo dục THPT Nhưng thiên nhiên cũng tạo ra không
ít khó khăn trong quá trình sử dụng cải tạo và chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Trang 31Thành phố Sơn La có tổng số dân là 95,7 nghìn người (2011) với 12 dân tộc anh em sinh sống trong đó thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Thái, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục trên địa bàn thành phố do nhận thức một số vấn đề còn hạn chế, ngôn ngữ, phong tục tập quán cũng có tác động đến chất lượng giáo dục
gồm có 7 phường và 5 xã, ngoài ra thành phố Sơn La còn là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của cả tỉnh, có hệ thống giao thông đường
bộ thuận lợi cho thành phố trong việc trao đổi thông thương hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh Tại thành phố Sơn La có 1 trường Đại học, 3 trường cao đẳng, bệnh viện đa khoa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Thành phố Sơn La nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm của tỉnh, trên địa bàn thành phố Sơn La hiện nay tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty có quy mô sản xuất lớn, hàng năm đóng góp một lượng lớn nguồn ngân sách của tỉnh và giải quyết việc làm cho nhiều lao động Cùng với sự phát triển của đất nước, mặc dù vượt qua những yếu kém về kinh tế, những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực là mặt trái của nền kinh tế thị trường Tuy được thành lập chưa lâu nhưng từ năm 2008 đến nay không chỉ riêng tỉnh Sơn La mà thành phố Sơn La cũng có những thay đổi không ngừng trong lĩnh vực phát triển kinh tế góp phần nâng cao đời sống nhân dân Với những sự thay đổi vượt bậc đó đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nói chung
và cho sự phát triển giáo dục của thành phố nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao cơ sở vật chất, thiết bị đầu tư cho giáo dục, góp phần phát triển nền giáo dục của thành phố
Trong lĩnh vực giáo dục toàn thành phố có 51 đơn vị trường học, trong đó
có 19 trường mầm non, 14 trường tiểu học, 14 trường THCS, 3 trường THPT,
01 trung tâm giáo dục thường xuyên Có 14 trường được công nhận trường chuẩn quốc gia
Trang 32Trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, con người mới, tuy thành phố là nơi tập trung khá nhiều nhà máy xí nghiệp nhưng thành phố Sơn La chỉ mới phát triển vào những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao so với các thành phố trong khu vực, dẫn đến đời sống của nhân dân còn gặp khó khăn
Là mảnh đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên trình độ dân trí chưa đồng đều làm cho công tác triển khai và thực hiện các kế hoạch chưa đạt kết quả cao, thực hiện việc xây dựng và phát triển giáo dục THPT đòi hỏi Đảng uỷ, UBND các ban ngành có liên quan phải chú ý đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố
1.2.2 Thực trạng phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Sơn
La trước năm 2005
Thực trạng:
Trong những năm 2000 toàn thị xã đã thi đua phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, kinh tế, chính trị, xã hội và tiếp tục thực hiện nghị quyết số 40 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Sở giáo dục đã phối hợp đồng bộ với các ban nghành, đoàn thể cũng như có nhiều biện pháp tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông của toàn tỉnh nói chung và giáo dục phổ thông thành phố Sơn La nói riêng và đạt được
một số thành tựu đáng khích lệ như:
Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
Về thành tựu:
Trong giai đoạn 2000 – 2004 Đảng bộ và nhân dân các dân tộc thị xã Sơn
La đã ra sức thực hiện Nghị quyết trung ương khoá VII về giáo dục - đào tạo; Nghị quyết Đại hội Đảng Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001); Nghị quyết số 40 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
và nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XI
Căn cứ vào nhiệm vụ, ngành giáo dục thị xã đã tổ chức triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch, tiếp tục làm tốt công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo, có
sự phối hợp đồng bộ với các ban ngành, đoàn thể, có nhiều biện pháp tích cực để chỉ đạo trong toàn ngành, cũng như với từng cơ sở trường học, đồng thời yêu
Trang 33cầu từng đơn vị phát triển kế hoạch cho các năm học, đó là cơ sở giúp ngành
hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm qua
Với truyền thống hiếu học, ham học hỏi, cần cù, chịu khó, thông minh, trước năm 2005 giáo dục THPT đã đạt được nhiều thành quả như: số lượng trường học THCS ổn định qua các năm học là 3 trường, tỷ lệ học sinh nữ được đến trường nhiều hơn, tỷ lệ học sinh là người dân tộc được đến trường cũng tăng lên
Chất lượng giáo dục của thị xã thể hiện qua các năm trước năm 2005 cho thấy số lượng học sinh khá, giỏi có chiều hướng tăng lên còn số lượng HS yếu, kém có xu hướng giảm hơn các năm học trước đó Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ giáo viên cũng không ngừng được nâng cao, cải thiện Nhiều giáo viên đã tự trau dồi, nâng cao vốn kiến thức của bản thân để bản thân người dạy không chỉ ngày càng hoàn thiện hơn mà còn làm cho nền giáo dục tỉnh nhà ngày
càng hoàn thiện hơn
Trong những năm qua, ngành đã tiếp tục tham mưu với UBND Thị xã, các cấp xin đầu tư kinh phí để tăng cường xây dựng CSVC cho các trường học, nhất là các trường mới tách Chương trình kiên cố hoá trường học đang tiếp tục tiến hành
Sở giáo dục tiếp tục chỉ đạo các trường sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí trên cấp, kết hợp với số tiền trích từ nguồn thu học phí, công lao động của thầy và trò, tích cực tham mưu với các địa phương, vận động các ban ngành, hội cha mẹ học sinh… để từng bước tu sửa, bổ sung, xây dựng trường lớp, bàn ghế… Bộ phận tài vụ, sách thiết bị đã chú ý đáp ứng, đảm bảo đúng chế độ chính sách, cấp văn phòng phẩm, sách giáo khoa, đồ dùng dạy học cho các trường, cấp đủ số sách mới và các bộ đồ dùng, trang bị phục vụ dạy học; các đơn
vị trường đã học đã quản lý và sử dụng đúng quy định đối với tiền xây dựng và
học phí do học sinh đóng
Về hạn chế và nguyên nhân:
Trong những năm 2005 trở về trước giáo dục THPT thành phố Sơn La đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ, đã thực hiện được chủ trương, Nghị quyết của Đảng đề ra góp phần thực hiện mục tiêu chung của xã hội Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục THPT thành phố Sơn La còn
Trang 34nhiều hạn chế Mặc dù đã hết sức cố gắng song chất lượng giáo dục của thành phố vẫn còn nhiều bất cập; chất lượng đội ngũ vẫn chưa đồng đều giữa các trường, chất lượng giáo dục học sinh giữa các trường còn thể hiện sự chênh lệch khá rõ
Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, đoàn thể về công tác phát triển và đổi mới giáo dục chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa thấy được tác dụng to lớn của vấn đề này Các cơ quan, đơn vị, trường học chưa quan tâm đúng mức đến công tác Cùng với đó ban chỉ đạo công tác giáo dục còn chậm, bộ máy hoạt động chưa đồng đều nên hiệu quả chưa cao, cán bộ nghiệp vụ chưa thực sự năng động, linh hoạt trong công tác triển khai thực hiện, chưa chủ động đề xuất công việc Một số thành viên ban chỉ đạo chưa thúc đẩy được công tác mình phụ trách Bệnh hình thức, chạy theo thành tích còn khá phổ biến trong các hoạt động và báo cáo kết quả công tác phát triển giáo dục
Công tác phát triển giáo dục chưa được nhận thức thật sự sâu sắc và đồng đều ở các đơn vị, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham gia; bình xét khen thưởng chưa thường xuyên và kịp thời
Công tác xây dựng và quản lý đội ngũ còn một số hạn chế như: một số CBQL còn chưa thật sâu sát, năng động; việc phối hợp với các tổ chức xã hội cũng như công tác xã hội hoá giáo dục kết quả chưa cao
Công tác xây dựng CSVC trường học tuy được tăng cường song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản của giáo dục trong điều kiện và nhiệm vụ hiện tại Tiến độ xây dựng trường học còn chậm
Sở dĩ giáo dục THPT thành phố Sơn La còn có những hạn chế trên là do những nguyên nhân:
Việc nắm bắt tư tưởng, kiểm tra uốn nắn khuyết điểm giáo viên của chi bộ
và Ban giám hiệu một số trường học chưa thường xuyên, chưa nghiêm
Năng lực quản lý, điều hành của một số cán bộ quản lý ở một số đơn vị trường học có mặt còn hạn chế, còn mang tư tưởng trung bình chủ nghĩa, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới của công tác quản lý Một bộ phận giáo viên chuyên môn còn hạn chế, chưa tâm huyết với nghề dẫn đến chất lượng chuyên môn chưa cao
Trang 35Chất lượng giáo dục học sinh chưa đồng đều Vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh chưa chuyên cần trong học tâp, tu dưỡng, rèn luyện
Chưa khắc phục triệt để “căn bệnh thành tích” trong Ban giám hiệu một
số trường học
Mối quan hệ giữa nhà trường - gia đình - xã hội chưa thật sự chặt chẽ, sự phối hợp giữa các cấp, các nghành và các đoàn thể chính trị xã hội trong việc chăm lo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện chưa đồng bộ
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được đầu tư, song còn thiếu chưa đáp ứng được cho hoạt động dạy và học, đặc biệt là khi áp dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy, học tập; số phòng học tạm vẫn còn, nhiều phòng học phải sử dụng học 2 ca, các điều kiện phục vụ cho dạy 2 buổi/ngày còn thiếu thốn, trang thiết bị bổ sung còn chậm, cán bộ chuyên trách thư viện, thí nghiệm chưa đáp ứng được so với yêu cầu chung
1.2.3 Bài học kinh nghiệm
Từ thực tế chất lượng giáo dục THPT của thành phố trong thời gian qua cho thấy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác lãnh đạo tổ chức chất lượng giáo dục trên địa bàn thành phố:
Trước hết cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp phải nắm vững, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về chất lượng giáo dục THPT của thành phố để đề ra mục tiêu, phương hướng biện pháp cụ thể
Trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng bộ thành phố phải bám sát vào chương trình, kế hoạch đã đề ra; thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết tổng kết rút kinh nghiệm, chỉ đạo các điểm trường THPT thành phố Sơn La phát huy tính năng động, chủ động, sáng tạo; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, học tập phát huy những thành quả đã đạt được; làm công tác khen thưởng, động viên kịp thời và thực chất các tập thể, cá nhân điển hình
Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thật sự nêu gương trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng nhà trường THPT Coi trọng chất lượng giáo dục THPT trên địa bàn thành phố bởi đó là cái nôi cho sự phát triển tỉnh nhà
Trang 36Giáo dục THPT là cầu nối giữa cấp học THCS với các trường Cao đẳng, Đại học, Trung cấp nghề , đóng vai trò quan trọng trong nền giáo dục chung của thành phố cũng như toàn tỉnh cần phải có những chủ trương chính sách phát triển, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố, khuyến khích học sinh đi học đúng độ tuổi, khuyến khích trẻ em khuyết tật đến trường; tăng cường vốn đầu tư vào giáo dục là chủ đạo để nền giáo dục Sơn La ngày một phát triển hơn, góp phần tạo nên những con người mới cho chính tỉnh nhà
Thành phố Sơn La là khu vực có đặc điểm địa hình khí hậu đa dạng, là mảnh đất có nhiều dân tộc sinh sống, các dân tộc thiểu số chiếm phần lớn nên khá khó khăn trong việc thực hiện nhanh và sớm hoàn thiện chương trình phổ cập giáo dục toàn cấp THCS Sự nghiệp giáo dục của thành phố Sơn La vẫn còn nhiều hạn chế mà cần phải khắc phục cả về chất lượng, số lượng Giáo dục luôn
là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia nói chung và mỗi vùng nói riêng, bởi vậy Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển một hệ thống giáo dục
toàn diện, để có những bước tiến xa hơn
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Giáo dục THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân là một khâu quan trọng trong sự phát triển giáo dục - đào tạo, là một bộ phận hữu cơ của nền giáo dục phổ thông, nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục quốc dân mang tính chỉnh thể thống nhất, đồng bộ, hệ thống và liên thông Giáo dục trung học phổ thông là một bộ phận có ý nghĩa của nền giáo dục nói chung vì nó góp phần thể hiện trình độ của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Việc đánh giá những thành quả của đất nước qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử không chỉ bằng thước đo về điều kiện vật chất, mức sống, mức thu nhập, khả năng đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần, sự tiến bộ về nếp sống, lối sống mà còn thể hiện ở trình
độ dân trí của người dân Trước năm 2005, giáo dục THPT thành phố đã đạt được nhiều thành quả về chất lượng giáo dục, số lượng đội ngũ cán bộ giáo viên không ngừng được nâng cao và cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được thì ngành giáo dục nói chung và giáo dục THPT thành phố nói riêng vẫn tồn tại những hạn chế Để khắc phục những hạn chế đó, Đảng ta phải luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển một hệ thống giáo dục toàn diện, để có những bước tiến xa hơn
Trang 38
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ SƠN LA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY 2.1 Đảng bộ thành phố Sơn La lãnh đạo phát triển giáo dục Trung học phổ thông giai đoạn 2005 - 2010
2.1.1 Quá trình lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La
Hưởng ứng tinh thần Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), Đảng bộ thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã lãnh đạo nhân dân đổi mới, phát triển giáo dục, thực hiện tốt các chính sách, văn bản do Đảng ban hành
Để thực hiện đổi mới giáo dục toàn diện trên địa bàn thành phố và thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ khóa XI, Nghị quyết Thị xã lần thứ XV Tổ chức Đảng các cấp trong toàn tỉnh đều vào cuộc, gánh vác nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông tại các trường học trên địa bàn toàn tỉnh
Tỉnh ủy Sơn La đã căn cứ vào cơ sở pháp luật và khoa học chủ yếu để đề ra các kế hoạch phát triển giáo dục của toàn tỉnh như: Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao; quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/6/2005 của bộ GD&ĐT, về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”; Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 25/4/2007 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La về phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực đến 2010; Nghị quyết số 176/NQ-HĐND ngày 10/12/2007 của HĐND Tỉnh Sơn La phê chuẩn quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo giai đoạn 2008 – 2020
Ngành đã thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cao chỉ thị số 40/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa IX về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
Trang 39nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Gắn kết việc thực hiện nghiêm túc và hiệu quả chỉ thị số 06/CT/TW của Bộ chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với thực hiện chỉ thị 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, toàn ngành tiếp tục triển khai quyết liệt cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”
Ở các Đảng bộ, chi bộ cơ sở dưới sự chỉ đạo của tổ chức Đảng cấp trên đã nhanh chóng tổ chức quán triệt, ra nghị quyết thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm và vận động các tầng lớp, các đoàn thể nhân dân hưởng ứng phong trào Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, các tổ chức Đảng ở cơ sở, thông qua các thành viên trong Ban chỉ đạo đã nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình để triển khai thực hiện
có hiệu quả
Các Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 25/4/2007 của Ban chấp hành Đảng
bộ tỉnh Sơn La về phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực đến 2010; Nghị quyết số 176/NQ-HĐND ngày 10/12/2007 của HĐND Tỉnh Sơn La phê chuẩn quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo giai đoạn 2008 – 2020 của Đảng bộ thành phố đều đã bám sát tình hình thực tế của địa phương để có biện pháp chỉ đạo đúng
2.1.2 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
Thành tựu
Trong giai đoạn 2005 - 2010, phong trào đổi mới chương trình giáo dục phổ thông triển khai thực hiện thông qua các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” do bộ GD&ĐT phát động, nghiêm túc thực hiện công tác tuyên truyền sâu rộng trong toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh toàn ngành về chủ trương, chính sách, những quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước trong việc thực hiện công cuốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… do các cấp, ngành phát động được triển khai sâu rộng trên địa bàn thành phố được sự đồng thuận hưởng ứng của đông đảo nhân dân đã đạt được những thành tựu đáng kể: