1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích các hình thức sở hữu của chế độ kinh tế nước ta theo Hiến pháp 1992

30 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 145,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đều dựa trên nguyên tắc phương pháp luận coi sở hữu như quá trình chiếm hữuvà nhấn mạnh mặt pháp lý khi giải thích nội dung kinh tế của sở hữu khao họckinh tế tư sản chỉ thấy trong sở hữ

Trang 1

cơ bản, phức tạp và hàm xúc của kinh tế - chính trị học, thường được bàn nhiều

và cũng đang tồn tại không ít ý kiến khác nhau và đối lập nhau nhưng tựu trung

Trang 2

đều dựa trên nguyên tắc phương pháp luận coi sở hữu như quá trình chiếm hữu

và nhấn mạnh mặt pháp lý khi giải thích nội dung kinh tế của sở hữu khao họckinh tế tư sản chỉ thấy trong sở hữu các quyền tài sản và sự phân biệt đang tănglên của các quyền này; còn kinh tế - chính trị học truyền thống của CNXH coi

sở hữu như quan hệ "Chủ - khách thể bị chiếm hữu bởi chủ thể" hay "Quan hệgiữa con người về việc chiếm hữu các yếu tố và kết quả sản xuất" do đó thườngcác quan niệm trên quy sở hữu tư bản chủ nghĩa thành sự chiếm hữu tưnhân(chế độ tư hữu) và sở hữu XHCN thành sự chiếm hữu toàn dân về các điềukiện và kết quả sản xuất (chế độ công hữu) Những quan niệm này bộc lộ chỗyếu là đồng nhất các quan hệ pháp lý của kiến trúc thượng tầng với các cơ sởkinh tế của xã hội Lẫn lộn các hiện tượng kinh tế với các quan hệ bên trong, ổnđịnh, đang quy định tính chất và xu thế vận động của các hiện tượng và quátrình này xoá nhoà ranh giới khác nhau giữa các chế độ kinh tế và các hình thức

sở hữu, do đó đã hiển nhiên hạ thấp vai trò lịch sử, đặc biệt của sở hữu trong hệthống sở hữu xã hội Cách tiếp cận trên về sở hữu đã tỏ ra không để để giảithích sở hữu tư sản hiện đại hơn nữa "Nó trở thành công cụ biện hộ cho việcNhà nước hoá toàn bộ nền kinh tế và nảy sinh hệ thống hành chính chỉ huy củakinh doanh trong CNXH Nhà nước" Do vậy, việc tìm hiểu nội dung kinh tế của

sở hữu là cần thiết chẳng những đối với lý luận kinh tế học nói chung mà còn để

có thể đánh giá được các đổi mới và thực chất của sở hữu tư sản hiện đại, vềthực chất của mô hình XHCN kiểu cũ dựa trên chế độ công hữu thuần nhất, và

về con đường tất yếu chuyển đổi nó sang thị trường

Đương nhiên sở hữu như một phạm trù kinh tế, khác sở hữu như một phạmtrù của luật học và các khoa học xã hội khác, không phải là quan hệ chủ thể -khách thể, tuy rằng quan hệ chủ thể - khách thể "Vật liệu xây dựng" cho sở hữukinh tế và là xuất phát điểm cho mọi quá trình kinh tế Hơn nữa, đã có sựchuyển hoá sở hữu thực tế thành sở hữu kinh tế được gây ra bởi quá trình phảnứng kinh tế - xã hội, trong điều kiện phân công lao động xã hội và có sự trao đổi

Trang 3

sản phẩm lao động (Mà điều kiện trao đổi là: chiếm hữu tư nhân về các sảnphẩm khác nhau và sự trao đổi là tương đương).

Vậy các quan hệ kinh tế trong những điều kiện lịch sử nhất định đã bắtbuộc sự chiếm hữu riêng rẽ của những người khác nhau về các điều kiện và kếtquả sản xuất khác nhau, nói cách khác, bắt buộc xuất hiện hình thái đối khángcủa sự thống nhất xã hội, xuất hiện mâu thuẫn kinh tế giữa những đại diện cácyếu tố sản xuất tức là các quan hệ sở hữu Từ đây, có thể rút ra các kết luậnchính về vấn đề sở hữu, trước khi chúng ta đi phân tích cụ thể sự tồn tại, vậnhành của nó trong "Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở ViệtNam":

Thứ nhất, Bản chất sở hữu như một phạm trù kinh tế bộc lộ ra ở chỗ nó

chứa đựng các chất lượng xã hội đặc biệt, gây ra bởi sự phân cực kinh tế giữacác vật khác nhau và những người khác đại diện cho vật, do đó bắt buộc phảicần đến nhau

Thứ hai, sở hữu luôn giả định (bắt buộc) các cơ sở tư nhân của mình, nó

đảm bảo sự quan tâm kinh tế của người sản xuất hàng hoá - động lực thực sựcủa sản xuất, đảm bảo hoạt động bình thường và hiệu quả của phân công laođộng xã hội D Ricado nói đại ý: Sở hữu tư nhân như là kết quả của phân cônglao động xã hội

Thứ ba, nhưng sở hữu tư nhân như là hình thái lịch sử chung, là điều kiện

xã hội chung của sản xuất, luôn tồn tại dưới những hình thái cụ thể, đặc thù của

sở hữu

Thứ tư, quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trìu tượng, chỉ bộc lộ khi ta phân

tích các chất lượng kinh tế

Thứ năm, bộc lộc các cơ sở chung thống nhất giữa sở hữu và giá trị Đó là

nhờ giá trị phát triển trên cơ sở quan hệ sở hữu; Nói cách khác sở hữu là quan

hệ định tính của quan hệ kinh tế, còn giá trị là quan hệ định lượng của các quan

hệ này

Trang 4

Với lý luận trên, nhiều công trình khoa học nghiên cứu lịch sử, xã hội, triếthọc đều thống nhất rằng: sở hữu - một phạm trù kinh tế mang yếu tố kháchquan - xuất hiện, phát triển song sung trung với sự xuất hiện, tồn tại và pháttriển của xã hội loài người Mặt khác, quan hệ sở hữu và chế độ sở hữu cònmang bản chất giai cấp Chúng ta đứng trên lập trường tư tưởng là chủ nghĩaMác - Lênin để nghiên cứu vấn đề sở hữu qua các hình thái kinh tế - xã hội và

đặc biệt quan trọng là " Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay"

Hơn thế nữa, ngày nay "Vấn đề sở hữu" còn là đối tượng nghiên cứu củanhiều môn khoa học xã hội khác với các góc độ tiếp cận khác nhau, như: Lýluận chung về nhà nước và pháp luật; Luật dân sự; Luật hôn nhân và gia đình;Luật doanh nghiệp; Luật đất đai; Kinh tế môi trường vv

Đây còn là vấn đề quan tâm có tính chất sống còn của mọi giai cấp, mọi tổchức và cá nhân: Sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế đầu tiên quyết địnhđịa vị thống trị xã hội của giai cấp cầm quyền; Sở hữu là cơ sở kinh tế và là cơ

sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các quyền năng pháp lý trên đó

Đối với nước ta hiện nay, thực hiện việc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hộikhông qua giai đoạn phát triển TBCN là một mô thức không có tiền lệ thì việcđòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện một hệ thống lý luận khoa học sắc bén, trong

đó có lý luận về vấn đề sở hữu" là tất yếu khách quan Nó không chỉ là kim chỉnam cho hành động kinh tế của đất nước, mà còn góp phần giải quyết, tháo gỡvướng mắc, khắc phục sai lầm lệch lạc của thực tiễn quản lý điều hành phát sinh

vì sự hoàn thiện của chế độ sở hữu XHCN, từ đây tạo ra cái nền vật chất pháp lýcho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu cho mục tiêudân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Trang 5

2 Sở hữu là gì?

Trang 6

Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là "Sự chiếm hữu".Theo đó: Sở hữu là hình thức xã hội - lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, chonên có thể nói: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính chất lịch sử cụ thểcủa con người, những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi sản xuất Sởhữu luôn luôn gắn liền với vật dụng - đối tượng của sự chiếm hữu Đồng thời sởhữu không chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa con người vớinhau về vật dụng.

Quan hệ sở hữu có thể là những quan hệ về kinh tế và pháp lý Nói cáchkhác, quan hệ sở hữu về kinh tế là hiện diện của bộ mặt pháp lý, theo nghĩa rộngquan hệ sở hữu kinh tế là tổng hoà các quan hệ sản xuất - xã hội, tức là cácquan hệ của các giai đoạn tái sản xuất xã hội Những phương tiện sống, baogồm những quan hệ sản xuất trực tiếp, phân phối, trao đổi, lưu thông và tiêudụng được xét trong tổng thể của chúng Quan hệ sở hữu pháp lý là tổng hoàcác quan hệ sở hữu, sử dụng và quản lý Những quan hệ này tạo ra và ghi nhậncác quan hệ kinh tế qua các nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý Để nêu bật sựthống nhất của các quan hệ sở hữu cả phương diện kinh tế và pháp lý

Sở hữu về mặt pháp lý được xem là quan hệ giữa người với người về đốitượng sở hữu Thông thường về mặt pháp lý, sở hữu được ghi trong hiến pháp,luật của nhà nước, nó khẳng định ai là chủ thể của đối tượng sở hữu

Sở hữu về mặt kinh tế biểu hiện thông qua thu nhập, thu nhập ngày càngcao, sở hữu về mặt kinh tế ngày càng được thực hiện Sở hữu luôn hướng tới lợiích kinh tế, chính nó là động lực cho hoạt động kinh tế

Sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu về hình thức, phạm vi mức độkhông phải là sản phẩm của chủ quan mà là do yêu cầu của quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với tính chấtl trình độ của lực lượng sản xuất Haylà sự vận độngcủa quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên Sự biến động của quan hệ sởhữu xét cả về mặt chủ thể và đối tượng sở hữu

Trang 7

Đối tượng sở hữu: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ là cái sẵn có trong

tự nhiên (hiện vật) Đến xã hội nô lệ, cùng với sở hữu vật là sở hữu người nô lệ

Xã hội phong kiến đối tượng sở hữu là tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ laođộng ) trong xã hội tư bản đối tượng sở hữu không chỉ về mặt hiện vật màquan trọng hơn về mặt giá trị, mặt tiền tệ.Ngày nay, cùng với sở hữu về mặthiện vật và giá trị của tư liệu sản xuất, người ta chú trọng nhiều đến sở hữu côngnghiệp, sở hữu trí tuệ, giáo dục

3 Quan hệ sở hữu là gì?

Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu và sản xuất

ra của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu phản ánh sựchiếm giữ tư liệu sản xuất và các sản phẩm tiêu dùng, nó biểu hiện qua mốiquan hệ vật - vật Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại vàphát triển trong quá trình chiếm hữu, mà khi xem xét dưới góc độ pháp lý

nó bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ thể, khách thể và nội dung

4 Các hình thức sở hữu: Hình thức đầu tiên, là công hữu, sau đó do sự

phát triển của lực lượng sản xuất, có sản phẩm dư thừa, có kẻ chiếm làm củariêng xuất hiện tư hữu Đó là hai hình thức sở hữu cơ bản thể hiện ở nước đó,quy mô và phạm vi sở hữu khác nhau, phụ thuộc vào trình độ lực lượng sảnxuất và lợi ích của chủ sở hữu chi phối Chẳng hạn, công hữu thể hiện thông qua

sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân Ngoài ra còn có hình thức sở hữu hỗn hợp

Nó xuất hiện tất yếu do yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quy trình xãhội hoá nói chung đòi hỏi Sở hữu hỗn hợp hình thành thông qua hợp tác liêndoanh liên kết tự nguyện phát hành mua bán cổ phiếu v.v

Tựu trung lại, khái quát lại thì có hai hình thức cơ bản: Công hữu và tưhữu Còn lại là kết quả của sự kết hợp giữa chúng với nhau

5 Quyền sở hữu là gì?

Vì cơ sở kinh tế đảm bảo cho sự thống trị về chính trị - tư tưởng là cácquan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị Giai cấp thống trị dùng từ một bộ

Trang 8

phận của công cụ pháp luật quy định về chế độ sở hữu để thể chế hoá ý chí củagiai cấp hình thành hệ thống các quy phạm pháp luật các quy phạm pháp luậtnày quy định, củng cố và duy trì dự tính và địa vị thống trị giai cấp Vì vậyquyền sở hữu là một phạm trù pháp lý Nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ quyềncủa chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tượng tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình Với tư cách là một chế định pháp luật, quyền sởhữu chỉ ra đời khi xã hội có phân chia giai cấp và có Nhà nước Còn theo nghĩahẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủthể được thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong những điềukiện nhất định (quyền năng dân sự) Ngoài ra theo một phương diện khác quyền

sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu (có ba yếu tố: Chủ thể, kháchthể, nội dung)

6 Chế độ sở hữu là gì?

Phạm trù sở hữu khi được thể chế hoá thành quyền sở hữu (như trình bày ởtrên), được thực hiện thông qua cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu Chế độ

sở hữu được Nhà nước xác lập và được ghi nhận trong hiến pháp Nó chứa đựng

hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu và cơ chế, kiều kiện, thủ tục pháp lý

Trang 9

trọng của thực dân Pháp, của các đế quốc khác, các thế lực phản động và thùnghịch, của giai cấp địa chủ phong kiến Pháp luật giai đoạn 1945 - 1959 đã tạo

ra những tiền đề quan trọng trong việc xác lập quan hệ sở hữu mới dưới chínhquyền dân chủ nhân dân Từ đó xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm cho sự tồn tại

và phát triển của chế độ mới Trong giai đoạn này ta đã dùng chính quyền vôsản làm công cụ cải tạo xã hội thiết lập quan hệ sản xuất XHCN, chúng ta coicông hữu là mục tiêu

b Giai đoạn 1959 - 1960

Miền Bắc tiến lên CNXH, còn miền nam tiếp tục tiến hành cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân trong điều kiện mới để đi đến cuộc tổng tiếncông và nổi dậy ngày 30/4/1975 giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, cảnước đi lên CNXH

Miền Bắc về cơ bản hoàn thành cải tạo XHCN đối với các thành phầnkinh tế phi XHCN Nhiệm vụ chủ yếu thời kỳ này ta xác lập và hoàn thiện chế

độ sở hữu XHCN ở miền Bắc Điều 12, hiến pháp 1959 khẳng định "Kinh tếquốc doanh thuộc sở hữu toàn dân giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân".Trong đó tồn tại các hình thức sở hữu là: Sở hữu nhà nước, sở hữu của các nhà

tư sản dân tộc, sở hữu của tiểu thương, thợ thủ công, hộ nông dân cá thể; sở hữutập thể của các HTX, được quy định tại điều 11 Hiến pháp 1959 thực hiền cácNghị quyết Đại hội Đảng, lần thứ III, IV, là vừa xây dựng vừa cải tạo, trong cảitạo có xây dựng sở hữu thời kỳ này tạo tiền đề quan trọng có ý nghĩa to lớn chothời kỳ tiếp theo

Trang 10

1980 quy định:"Thiết lâp và củng cố chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuấtnhằm thực hiện một nền KTQD chủ yếu có hai thành phần: Thành phần kinh tếquốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế HTX thuộc "sở hữu tậpthể của nông dân lao động".

Tóm lại, trước khi tiến hành đổi mới Đảng và Nhà nước ta chủ trương xâydựng và hoàn thiện chế độ sở hữu XHCN với hai hình thức sở hữu toàn dân và

sở hữu tập thể, hơn nữa còn cho rằng sở hữu tập thể chỉ là một bước quá độ để

đi đến sở hữu toàn dân Đánh giá một cách khách quan thì với hình thức sở hữutoàn dân và tập thể đã đóng góp và phát huy vai trò to lớn nhằm phát huy sứcmạnh tổng hợp kinh tế - xã hội để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chiến thắngtrong đấu tranh giành chính quyền (1945) và trong kháng chiến chống đế quốcPháp, và Mỹ Tuy nhiên, xét về thực tế nước ta quá độ lên CNXH từ một nướcnông nghiệp lạc hậu, trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, năng suất lao độngthấp, dân trí thấp vv Còn về chủ quan, do quá nhiệt tình, cộng với sự thiếuhiểu biết nhận thức không đúng nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,nên đã tuyệt đối hoá tính hơn hẳn của sở hữu XHCN Một thời gian dài chúng ta

đã định kiến với sở hữu cá nhân của người lao động, thậm chí coi nó là hìnhthức đối lập với XHCN, là mầm mống khôi phục chế độ bóc lột Thật ra, sở hữu

cá nhân không biến thành tư bản, không biến thành công cụ để bóc lột người laođộng Sở hữu cá nhân chủ yếu đối với các vật phẩm tiêu dùng, nhằm thỏa mãncác nhu cầu của người lao động phụ thuộc vào trình độ của sở hữu xã hội.Trong "tuyên ngôn Đảng cộng sản" đã chỉ ra "Chúng tôi cần gì phải xoá bỏ sởhữu ấy, sự tiến bộ của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xoá bỏcái đó rồi"

Do nhấn mạnh đề cao, tuyệt đối hoá vai trò và tính ưu việt của kinh tế quốcdoanh và kinh tế tập thể (HTX) nên đến một thực tế: Năng suất lao động thấpkém, hàng hoá khan hiếm thiếu lương thực, khủng hoảng kinh tế - xã hội

Trang 11

Trước tình hình đó Đảng ta đã nhìn nhận lại, nhận thức lại và thừa nhận sailầm khuyết điểm do chủ quan nóng vội muốn có ngay CNXH và vận dụng quyluật kinh tế sai (đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất) Từđây, đường lối đổi mới toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam được tập trungtrong văn kiện Đại hội VI (1986) và tiếp tục sau này được các Đại hội VII, VIIIkhẳng định là: Chúng ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướngXHCN.

2 Cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay:

Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, tiến hành hoàn thiện quan hệ sảnxuất XHCN, trước hết là điều chỉnh các hình thức sở hữu vốn có, là kết hợpmột cách tối ưu các lợi ích: Lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích của nhànước Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu việc phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần không phải là"thụt lùi" không làm "Mất CNXH" như một sốngười lầm tưởng mà chính là một chủ trương lớn để khai thác, phát huy mọitiềm năng của toàn xã hội cũng như tranh thủ các nước và các tổ chức quốc tế

Cơ sở lý luận của việc xác lập tính đa dạng các hình thức sở hữu thể hiện ở luậnđiểm của C.Mác và Ănghen cho rằng các hình thức sở hữu đựơc xác lập bởitrình độ xã hội hoá sản xuất Vì vậy, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, đa dạng hoá sở hữu là một thành tựu lớn cả về lý luận và thựctiễn của công cuộc đổi mới

Với những thành tựu đáng mừng về kinh tế - xã hội của đất nước ta sauhơn 10 năm đổi mới đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúngđắn, hợp lý Thực tế cũng cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đươngnhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu để phù hợp với tính chất đặc điểmcủa từng thành phần kinh tế và phù hợp cũng như khai thác, thúc đẩy được cácyếu tố của lực lượng sản xuất ở các trình độ khác nhau phát triển Khi thực hiệnchính sách đổi mới của Đảng, Nhà nứơc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật

Trang 12

thể chế hoá về sở hữu phản ánh trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất nước

ta còn thấp không đồng đều Vì thế ứng vói nó là các hình thức sở hữu đa dạng.Bởi vì: phát triển nền kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiệndân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh là mục đích cuối cùng của chế

độ xã hội ta Trong phạm vi hẹp có thể coi sở hữu là một trong những phươngtiện để đạt mục tiêu này và bước đầu thực hiện CNH, HĐH đất nước (văn kiệnhội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII 1/1994) vai trò của mỗi hình thức sởhữu trong một chế độ sở hữu có ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong nền kinh tếquốc dân Điều 15, hiến pháp 1992, quy định"cơ cấu kinh tế nhiều thành phầnvới các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữutoàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu ta nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tậpthể là nền tảng" Ta lần lượt xem xét xu hướng vận động và biến đổi của cáchình thức sở hữu, ở nước ta hiện nay

Chế độ sở hữu của Nhà nước ta.

Chế độ sở hữu là yếu tố căn bản trong chế độ kinh tế của nhà nước hiếnpháp của tất cả các quốc gia trên thế giới đều quy định về chế độ sở hữu tuynhiên, xuất phát từ bản chất Nhà nước cũng như đặc điểm cụ thể của từng giaiđoạn phát triển của Nhà nước, Hiến pháp quy định về chế độ sở hữu có nhữngđặc điểm khác nhau

Ở Việt Nam, trong Hiến pháp 1946, Nhà nước ta chưa xác định các hìnhthức sở hữu trong nền kinh tế quốc dân, mà mới chỉ quy định chung là “quyền

sở hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (điều 12)

Điều 11 – hiến pháp 1959: ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳquá độ, các hình thức sỡ hữu chủ yếu về tư liệu sản suất hiện nay là: hình thức

sỡ hữu của Nhà nước tức là sỡ hữu toàn dân , hình thức sỡ hữu của hợp tác xãtức là hình thức sỡ hữu tập thể của nhận dân lao động, hình thức sở hữu củangười lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc

Trang 13

Điều 18 – hiến pháp 1980: nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sảnxuất, hướng dẫn, sư dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa,thiêt lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằmthực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh

tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sởhữu tập thể của nhân dân lao động Trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủđạo trong nền kinh tế quốc dân và được ưu tiên phát triển

Điều 15 – hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001): nhà nước phát triển nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hìnhthức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên sỡ hữu toàn dân, sỡ hữu tậpthể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và tập thể là nền tảng

2.1Sở hữu toàn dân

Trước hết, sở hữu toàn dân là sở hữu trong đó toàn thể nhân dân là chủ sởhữu đối với tài sản Tuy nhiên, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là người đại diện cho nhân dân nên sở hữu ở đây còn được hiểu là sở hữu nhànước Vì bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân lao độngnên những gì thuộc sở hữu nhà nước đều được sử dụng vào mục đích phục vụlợi ích của nhân dân lao động

c ơ cở pháp l ý

Cơ sở pháp lý để hình thành sở hữu nhà nước là:

Những tài sản sở hữu nhà nước được hình thành bằng nhiều cách, trên cơ sởpháp lý khác nhau:

 Thứ nhất, bằng con đường tiếp thu những tài sản của Nhà nước chế độ cũ

để lại

Trang 14

 Thứ hai: bằng con đườn tịch thu, trưng thu những tài sản của bọn Việtgian, tư bản mại bản, của bọn làm ăn phi pháp hoặc những tài sản mà Nhànước quy định thuộc về quyền sỡ hữu của Nhà nước.

 Thứ ba: bằng con đường thu thuế Nhà nước ban hành ra những luật thuế

để quy định các loại thuế, nghĩa vụ phải nộp thuế và mức độ cụ thể đốivới từng đối tượng Thuế là nguồn thu thường xuyên và lớn nhất vàongân sách hàng năm

 Thứ tư: bằng con đường quốc hữu hóa những cơ sở kinh tế của địa chủ,phong kiến, tư sản mại bản và những tư liệu sản xuất chủ yếu

 Thứ năm: trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, các hình thức sở hữu

tư nhân, sở hữu tạp thể có thể chuyển hóa thành sở hữu nhà nước thongqua các hình thức: công ty hợp doanh, công ty lien doanh,…

 Thứ sáu: bằng con đường tích lũy trên cơ sở bảo toàn vốn, nâng cao nawgsuất lao động, chất lượng lao động, làm ăn có lãi, bảo đảm đời sống củacông nhân và có tích lũy cho nhà nước dối với các đơn vị kinh tế nhànước

 Thứ bảy: bằng sự giúp đỡ không hoàn lại của các nước, các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước…

Chủ thể của sở hữu Nhà nước là :

Vì Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện chủ sở hữu đốivới tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên Nhà nước là chủ thể duy nhất của sở hữu toàn dân Ở đây, nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân bao nhiêu thì thẩm quyền đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân càng lớn bấy nhiêu Với tư cách như vậy, chỉ có nhà nước mới có thẩm quyền định đoạt các tài sản của sở hữu toàn dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về tài sản đó

Trang 15

Nhà nước giao vốn, các tư liệu sản xuất, các phương tiện làm việc,… cho các cơquan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân (chủ thể) để quản lý, sử dụng Nhà nước chỉ giao quyền sử dụng chứ không giao quyền sở hữu cho các chủ thể Khi không sử dụng đúng mục đích hoặc trái pháp luật thì Nhà nước có thể thu hồi hoặc chuyển giao quyền sử dụng từ chủ thể này cho chủ thể khác Nhà nước quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể trong việc sử dụng tài sản để tài sản thuộc sở hữu nhà nước được bảo tồn và sử dụng có hiệu quả.

Khách thể của chủ sở hữu Nhà nước là:

Khách thể của sở hữu nhà nước rất đa dạng Theo Điều 17 – Hiến pháp 1992thì:

“Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ởvùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tưvào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xãhội, khoa học, kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác

mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” Như vậy, phạm vi khách thể của sở hữu nhà nước rất đa dạng, có trong tất cảcác lĩnh vực: công nghiệp, nông-lâm-ngư nghiệp, giao thông vận tải,… Do nắmtrong tay phần lớn những tư liệu sản xuất chủ yếu trên tất cả các lĩnh vực củanền kinh tế, Nhà nước có ưu thế đặc biệt để điều hành nền kinh tế Ngoài ra,Nhà nước còn có các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước Sovới Hiến pháp năm 1980, khách thể của sở hữu toàn dân có sự thay đổi, ngàycàng hoàn thiện hơn

Một số vấn đề về sở hữu nhà nước:

Nhà nước ta đã có những quy định cụ thể để bảo vệ sở hữu nhà nước Song, trong những năm qua do chưa phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý rõ rang nên tài sản thuộc sở hữu nhà nước bị xâm phạm nghiêm trọng dưới nhiều hình

Ngày đăng: 25/09/2016, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w