Vận dụng mô hình này vào thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta hiện nay: Có thể hiểu, hành chính phát triển thường được sử dụng khi nói đến “Mô hình hành chính công theo các tiêu chí h
Trang 11. 1 Nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện nay theo hình thái cấu trúc nào? Anh(chị) hãy phân tích các đặc điểm của hình thái cấu trúc đó.
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực, là phương thức
chuyển đổi ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí nhà nước Hình thức nhà nước gồm 2 yếu tố: hình thức chính thể và hình thức cấu trúc.
1 Hình thức chính thể nhà nước CHXHCN Việt Nam
- Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này
- Chính thể nhà nước CHXHCN Việt Nam, thông qua nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín, nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại diện của mình (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp)
Quyền lực nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội Quốc hội được bầu theo nhiệm
kỳ 5 năm, có quyền lập pháp, quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các
cơ quan nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
- Chính thể cộng hòa dân chủ của nhà nước CHXHCN Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng khác với cộng hòa dân chủ tư sản
a Chính thể CHXHCN Việt Nam qua Hiến pháp khẳng định việc tổ chức quyền lực nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
- Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị có vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội
- Điều 4 HP 92: ĐCSVN đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trungthành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật
+ Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, định hướng cho sự phát triển của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ
+ Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc nhằm xây dựng nhà nước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân Nhà nước có bộ máy nhà nước chính quy, quy chế làm việc khoa học, đội ngũ cán bộ nhân viên nhà nước làm việc tận tụy vì lợi ích nhân dân
+ Đảng phát hiện bồi dưỡng đảng viên ưu tú và người ngoài đảng, giới thiệu giữ chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước thông qua bầu cử, bổ nhiệm.+ Đảng giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, tập hợp quần chúng động viên họ tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thực hiện đường lối của Đảng và chấp hành pháp luật của nhà nước
+ Đảng kiểm tra tổ chức của Đảng trong tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết Đảng Đảng kiểm tra cơ quan NN, phát hiện sailầm, hạn chế để từ đó có biện pháp khắc phục, tổng kết, rút kinh nghiệm để
Trang 2không ngừng bổ sung đường lối của mình.
b Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền XHCN nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan
- Theo nguyên tắc này, quyền lực nhà nước tập trung trong tay Quốc hội – cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra nhưng có sự phân công phối hợp giữa Quốc hội và những cơ quan nhà nước khác trong thực hiện quyền lực nhànước tạo thành cơ chế đồng bộ góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
+ Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện tốt các chức năng lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp
+ Chính phủ là cơ quan quản lý mọi mặt của đời sống xã hội
+ Tòa án tuân theo pháp luật, phụ thuộc vào pháp luật để thực hiện chức năng xét xử
+ Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
- Sự tập quyền thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thể hiện:
+ Nhân dân là chủ sở hữu tối cao của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước
là của nhân dân, không thuộc tổ chức nào, giai cấp nào
+ Nhân dân là chủ sở hữu tài sản vật chất và tinh thần của nhà nước
+ Nhân dân giải quyết mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
+ Nhân dân quản lý mọi công việc của xã hội
- Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bỏ phiếu, thông qua cơ quan đại diện – Quốc hội, HĐND do nhân dân bầu ra
c Chính thể nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở sự thống nhất giữa chế độ tập trung lợi ích nhà nước với sự trực thuộc, phục tùng của cơ quan nhà nước cấp dưới trước cơ quan nhà nước cấp trên, chế độ dân chủ tạo điều kiện cho sựsáng tạo, chủ động trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình
- Nội dung:
+ Các cơ quan nhà nước được thành lập bằng con đường bầu cử, bổ nhiệm.+ Làm việc theo chế độ tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm với phần việc được giao theo chế độ thủ trưởng
+ Cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước cấp trên
+ Khi ra quyết định, cơ quan nhà nước cấp trên phải tính đến lợi ích cơ quan nhà nước cấp dưới
+ Trong phạm vi quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước được chủ động và phát huy sáng tạo trong giải quyết mọi công việc, cơ quan nhà nước cấp trên không được cấp trên
d Chính thể CHXHCN Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu xây dựng CNXH
- Nhà nước VN là nhà nước dân chủ, lợi ích giai cấp công nhân gắn liền với lợi
Trang 3ích giai cấp khác và nhân dân lao động.
- Nhà nước VN thực hiện dân chủ với nhân dân, nhưng chuyên chế với kẻ thù,
âm mưu chống phá đất nước
- Hiện nay, bản chất chuyên chính vô sản được thể hiện dưới dạng nhà nước của dân, do dân, vì dân
e Trong chính thể nhà nước CHXHCN Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng
- Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của quyền lực nhà nước
- Mặt trận tổ quốc thống nhất khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện mục tiêu xây dựng CNXH, xây dựng xã hộigiàu mạnh, công bằng, văn minh
- Mặt trận tổ quốc đóng vai trò quan trọng trong thiết lập cơ quan nhà nước, quản lý nhà nước, xây dựng pháp luật Trong phạm vi quyền hạn của mình có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật, có quyền để nghị bãi miễn đại biểu không xứng đáng và tham gia vào tổ chức thực hiện quyền bãi miễn đó
- Các tổ chức xã hội là phương tiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, nhà nước của dân, do dân và vì dân
2 Hình thức cấu trúc nhà nước
- Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước theo đơn vị hành chính lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa các
cơ quan nhà nước trung ương và cơ quan nhà nước địa phương
- Hình thức cấu trúc nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước đơn nhất, được HP 92 quy định tại điều 1: Nước CHXHCN Việt Nam là một nhà nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời
- Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước đơn nhất, có độc lập, chủ quyền,
có hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc
+ Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các tiểu bang hoặc cộng hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc Tương ứng với mỗi đơn vị hành chính là cơ quan hành chính nhà nước Các đơn vị hành chính không có chủ quyền quốc gia và đặc điểm như nhà nước.+ Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ quyền quốc gia, là chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối ngoại, quyết định mọi vấn đề của đất nước
+ Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến pháp
và pháp luật trải rộng trên phạm vi toàn quốc Các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp, pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật
+ Nhà nước Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ
Trang 4Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn và pháthuy phong tục, tập quán của dân tộc.
2 Mô tả và đánh giá ưu nhược điểm của mô hình tổ chức nhân sự theo chức nghiệp và mô hình công vụ theo việc làm Liên hệ với thực tiễn Việt Nam để làm rõ ưu nhược điểm đó.
Trên thế giới hiện nay có hai mô hình cơ bản về tổ chức công vụ là mô hình chức nghiệp hay còn gọi là mô hình ngạch, bậc và mô hình việc làm hay còn gọi là vị trí công việc Ngày nay trong xu thế cải cách công vụ, nhiều nước có nền công vụ chức nghiệp đang dịch chuyển sang nền công vụ việc làm với các mức độ khác nhau ở Việt Nam, Luật cán bộ, công chức mới được ban hành cũng tạo điều kiện cho việc quản lý công chức theo vị trí và chức danh Bài viết này tập trung phân tích những ưu điểm nổi trội của mô hình việc làm trongmối tương quan so sánh với mô hình chức nghiệp và những vấn đề đặt ra khi
áp dụng mô hình việc làm, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ ở Việt Nam
1 Đặc điểm của mô hình công vụ chức nghiệp
Trong mô hình công vụ chức nghiệp, công chức được phân loại theo trình độ đào tạo để làm cơ sở cho việc xếp ngạch Mỗi một ngạch lại bao gồm nhiều bậc khác nhau Mỗi một bậc tương ứng với một chỉ số tiền lương Các chỉ số tiền lương tăng dần theo chiều tăng của bậc và không gắn liền với vị trí hay nội dung công việc mà công chức đảm nhận Vấn đề được quan tâm nhất trong
mô hình này là làm thế nào trả lương một cách “công bằng” dựa trên cơ sở bằng cấp Điều này có nghĩa là trong số những người có thâm niên công tác bằng nhau, thì ai có bằng cấp cao hơn sẽ được trả lương cao hơn Mỗi một ngạch, bậc cho biết chức năng, nhiệm vụ của công chức ở ngạch đó phải thực hiện nhưng không gắn liền với vị trí mà công chức đảm nhiệm Như vậy công chức ở các vị trí công việc khác nhau có thể cùng giữ chung một ngạch và có cùng chức trách chung như nhau nhưng không gắn liền với các công việc mà mỗi công chức được giao Công chức vẫn được giữ ngạch, bậc ngay cả khi vị trí công việc mà mình nắm giữ không còn
Trong mô hình công vụ chức nghiệp, công chức tuyển dụng vào làm việc theo ngành hay lĩnh vực chuyên môn và đây cũng chính là căn cứ để bổ nhiệm côngchức vào ngạch và phân công công việc đối với công chức Nhưng trong quá trình hoạt động công vụ họ có thể được thuyên chuyển từ vị trí công việc này sang vị trí công việc khác hoặc từ cơ quan này sang cơ quan khác
Ở mô hình này, công chức bắt đầu “nghề nghiệp” của mình khi được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước và được bổ nhiệm vào ngạch tuyển dụng (thường dựa trên trình độ đào tạo) và từ đó phát triển “nghề nghiệp” của mình qua
Trang 5những vị trí công việc khác nhau theo quy định rất chặt chẽ của pháp luật (tuyển chọn nội bộ) Chỉ có rất ít trường hợp vào công vụ mà không bắt đầu từ ngạch đầu tiên Các công chức bậc cao trong nền công vụ thông thường phải trải qua một số vị trí thấp hơn trong hệ thống thứ bậc của nền công vụ trước khi được đề bạt lên các vị trí cao hơn Bổ nhiệm công chức cấp cao thường phải tuân theo các quy trình, thủ tục chặt chẽ và mang tính tập trung cao Với những đặc điểm của mô hình chức nghiệp, nhân sự trong cơ quan nhà nước được sử dụng rất linh hoạt, có thể được thuyên chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, bộ phận này sang bộ phận khác hay cơ quan này sang cơ quan khác, vì việc thuyên chuyển đó không ảnh hưởng đến ngạch, bậc cũng như tiền lương của họ Mô hình công vụ chức nghiệp được bắt nguồn từ Pháp, sau đó được ápdụng rộng rãi ở nhiều nước bên ngoài châu Âu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển từng là thuộc địa của Pháp và Bồ Đào Nha như Đức, Tây-Ban-Nha, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni
2 Đặc điểm của mô hình công vụ việc làm
Mô hình này thực chất là một hệ thống tiền lương được thiết lập dựa trên cơ sởđánh giá công việc, do đó coi trọng công việc hơn là đặc điểm cá nhân của người nắm giữ công việc Nền công vụ bao gồm một hệ thống thứ bậc công việc được thiết lập dựa trên việc phân tích một cách hệ thống nội dung các công việc đó Công việc được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc chứ không phải bản thân công chức và trình độ học vấn của họ như trong mô hình chức
nghiệp Đánh giá công việc và phân loại công việc thường được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia mang tính chuyên môn cao Các vị trí công việc khác nhau được xếp vào các mức (level) khác nhau căn cứ vào mức độ phức tạp của côngviệc Vấn đề được quan tâm nhất trong mô hình này là đảm bảo việc trả lương công bằng theo các vị trí công việc Mô hình công vụ việc làm dựa trên khái niệm “chuyên gia” Hay nói cách khác, mỗi công chức được coi là một chuyêngia, bởi mỗi một vị trí công việc nhất định đòi hỏi một công chức cụ thể với những tiêu chuẩn phù hợp để đáp ứng yêu cầu công việc Về nguyên tắc, công chức cũng có thể chuyển từ vị trí này sang vị trí khác nhưng với điều kiện các
vị trí đó phải có nhiệm vụ và mức độ trách nhiệm tương tự, và do đó tiền lương được nhận cũng tương đương
Mô hình công vụ việc làm thường được coi là một mô hình “mở” vì nó tạo điều kiện cho tất cả những ai quan tâm đều có thể tiếp cận đến các vị trí công việc và cho phép dự tuyển vào công vụ bất cứ khi nào có vị trí công việc trống.Trong nền công vụ việc làm, người ta quan tâm đến việc chọn được người phù hợp nhất cho mỗi vị trí, mà không quan tâm đến việc người đó được chọn thông qua tuyển chọn nội bộ hay từ bên ngoài Khi có nhu cầu và cơ hội, người lao động thường chuyển đổi công việc từ khu vực tư sang khu vực công
và ngược lại Muốn đảm nhận các vị trí công việc ở mức cao hơn, các công
Trang 6chức phải thực thi tốt công việc hiện tại để chứng minh mình có thể hoàn thành các công việc phức tạp hơn Không giống như mô hình công vụ chức nghiệp, trong mô hình công vụ việc làm, việc tuyển dụng nói riêng và các hoạtđộng quản lý nguồn nhân lực nói chung thường được phân cấp Theo đó, các nhà quản lý có nhiều quyền hơn trong việc tuyển chọn hay thuê người vào làmviệc, thậm chí được phép trả lương theo cơ chế thị trường và cho phép ký các hợp đồng ngắn hạn để lựa chọn được người giỏi Mô hình việc làm được áp dụng ở Anh, Úc, Niu-di-lân, Ca-na-đa và Mỹ cũng như các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng của Khối thịnh vượng chung.
3 Ưu điểm của mô hình công vụ việc làm trong quan hệ so sánh với mô hình chức nghiệp
So sánh hai mô hình có thể nhận thấy những ưu điểm nổi trội của mô hình công vụ việc làm Trong mô hình công vụ việc làm, việc tuyển người vào bộ máy nhà nước thực chất là tuyển vào các vị trí trống của một công việc nhất định chứ không phải tuyển vào “ngạch, bậc” và làm bất cứ công việc gì được giao như trong mô hình chức nghiệp Một người chỉ có thể trở thành công chức sau khi thi đỗ vào một chỗ trống trong nền công vụ đã được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc thông báo công khai này là bắt buộc không chỉ đối với việc tuyển mới vào công vụ mà còn đối với các vị trí cao hơn trong nền công vụ khi thực hiện bổ nhiệm, thăng tiến đối vớicông chức Đối với việc đề bạt, cũng cần phải được thông báo công khai để công chức và những người nộp đơn từ bên ngoài cùng nhau cạnh tranh Như vậy, đối tượng tuyển dụng vào một vị trí nào đó trong nền công vụ được mở rộng và tạo cơ hội cho không chỉ những người bên trong công vụ mà cả nhữngngười làm việc ở các doanh nghiệp và khu vực ngoài nhà nước có thể tham gia Chế độ công vụ này cho phép các cơ quan nhà nước dễ dàng thay đổi vị trícông tác của công chức theo yêu cầu công việc dựa theo thành tích, công trạng
và năng lực thực tế của bản thân công chức
Mô hình chức nghiệp mặc dù tạo được con đường phát triển chức nghiệp rõ ràng cho công chức bởi việc phát triển chức nghiệp chủ yếu được thực hiện thông qua thăng tiến nội bộ bên trong nền công vụ (ví dụ từ bậc thấp lên bậc cao, từ ngạch thấp lên ngạch cao hay bổ nhiệm vào các vị trí quản lý), nhưng tính linh hoạt và khả năng thích ứng với thị trường của mô hình này lại rất thấp Việc công chức được chia theo các lĩnh vực và các nhóm công việc gắn liền với các ngạch, bậc căn cứ vào trình độ đào tạo dễ làm cho công chức thụ động thay vì chủ động rèn luyện, tự tạo ra cho mình những cơ hội thay đổi hoặc khó thích ứng với những thay đổi rất nhanh của môi trường trong giai đoạn hiện nay Việc quá chú trọng đến văn bằng, chứng chỉ và thâm niên công tác làm mất đi tính linh hoạt, năng động của công chức Khi công chức đã có được một trình độ nhất định để được tuyển dụng vào một ngạch, bậc nào đó
Trang 7trong công vụ, việc học tập hay tham gia vào quá trình đào đạo, bồi dưỡng củacông chức trở nên rất thụ động, không thực sự xuất phát từ nhu cầu bản thân công chức để có được kiến thức và kỹ năng cần thiết phục vụ cho công việc
mà chỉ đơn thuần là có “văn bằng, chứng chỉ” để đáp ứng được quy định, hoặctrong trường hợp để chuẩn bị cho thăng tiến Khi đã được vào làm việc trong nền công vụ, công chức cũng dễ có tư tưởng “an phận”, ít phấn đấu vươn lên
vì họ được làm việc suốt đời (trừ những trường hợp vi phạm kỷ luật buộc thôi việc) và vì căn cứ chính để nâng bậc lương là thâm niên công tác
Trong mô hình công vụ chức nghiệp, việc tuyển dụng thông qua hình thức cạnh tranh thi tuyển chỉ được áp dụng đối với những công chức bậc thấp mà không áp dụng cho những công chức bậc cao do việc thăng tiến hay bổ nhiệm chỉ diễn ra bên trong nền công vụ mà không có cạnh tranh với bên ngoài Với
mô hình “đóng” như vậy, khó có thể tiếp thu được những ý tưởng mới, những
kỹ năng mới từ bên ngoài và cũng không thể phát huy được năng lực thực tế của các công chức trẻ Mô hình công vụ việc làm mặc dù không tạo ra tính ổn định cao của đội ngũ công chức nhưng lại có nhiều ưu điểm nổi trội thể hiện ở tính năng động, hiệu quả của công chức trong thực thi công vụ Việc thi tuyển cạnh tranh công khai đối với tất cả các vị trí trong nền công vụ và không giới hạn ở phạm vi đối tượng dự tuyển cho phép thu hút và lựa chọn được người đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công việc, kể cả các tài năng bên ngoài khu vực nhà nước Điều này cũng tạo ra những cơ hội cho việc bổ nhiệm dựa trên thành tích, công trạng hay năng lực thực tế của công chức Thêm nữa, trong
mô hình công vụ việc làm, các yêu cầu công việc, trách nhiệm của từng vị trí rất cụ thể, rõ ràng do xuất phát từ việc phân tích, mô tả các vị trí công việc trong nền công vụ, do đó tạo điều kiện cho việc đánh giá công chức và đảm bảo sự công bằng trong việc trả lương, thưởng và các chế độ khác
4 Nền công vụ Việt Nam và sự cần thiết áp dụng mô hình việc làm
Nghiên cứu nền công vụ ở nước ta có thể thấy rõ những đặc trưng cơ bản của
mô hình công vụ chức nghiệp Trong suốt thời gian dài, do ảnh hưởng của tư duy gắn liền với nền kinh tế nhỏ, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp,
hệ thống công vụ nước ta còn nhiều hạn chế, không theo kịp được nhu cầu phát triển, hiệu lực, hiệu quả không cao Mặc dù trong thời gian gần đây chúng
ta đã ban hành nhiều quy định, nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động công vụ cũng như đội ngũ công chức, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Trong cơ chế quản lý nhân sự chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa những người làm việc trong cơ quan nhà nước và trong cả hệ thống chính trị, do đó khó có thể quản lý hiệu quả cũng như có các chế độ chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng Trong hoạt động quản lý nhân sự, chưa có một sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy nên vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhân sự Cách quản lý nhân sự vẫn còn mang tính chắp vá, xử
Trang 8lý theo sự vụ chứ chưa có một cái nhìn tổng thể, hệ thống
Trong hệ thống công vụ của Việt Nam, công chức được phân loại theo ngạch, bậc Mỗi ngạch có các tiêu chuẩn riêng, nhưng không gắn liền với vị trí công việc cụ thể mà gắn liền với trình độ đào tạo Các quy định về nhiệm vụ của công chức ở các ngạch còn quá chung chung và áp dụng cho tất cả các công chức cùng ngạch nhưng làm việc ở các cơ quan, tổ chức khác nhau, đảm nhận các vị trí công việc khác nhau Cũng không có sự phân biệt giữa những người cùng một ngạch nhưng làm việc ở trung ương và địa phương Đây cũng chính
là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng là người có trình độ chuyên môn cao thì làm việc thấp và ngược lại; hoặc những người làm các công việc phức tạp, trách nhiệm đòi hỏi cao hơn nhưng lương lại được trả thấp hơn những người làm công việc đơn giản hơn, trách nhiệm thấp hơn, do đó tính khách quan, công bằng trong việc trả lương và các chế độ đãi ngộ không được đảm bảo Việc đánh giá công chức cũng chỉ mang tính hình thức vì thực chất các tiêu chíđánh giá chưa “gắn với công việc” Các phương pháp đánh giá thiếu tính khoa học Các yếu tố chủ quan còn chi phối hoạt động đánh giá do các tiêu chí đánh giá không rõ ràng Những hạn chế này cùng với chủ nghĩa bình quân trong chính sách đãi ngộ với công chức đang triệt tiêu dần động lực làm việc của công chức
Khác với nhiều nước theo mô hình công vụ việc làm, ở Việt Nam hoạt động tuyển dụng công chức qua thi tuyển hiện nay mới chỉ áp dụng đối với đầu vào của công chức bậc thấp; nhưng ngay đối với việc tuyển dụng này, các quy trình thủ tục vẫn chưa đảm bảo tính minh bạch Các vấn đề liên quan đến thi tuyển như môn thi, nội dung thi, hình thức thi vẫn chưa đảm bảo để tuyển được người đáp ứng được yêu cầu công việc
Những nhược điểm trên là nguyên nhân chính làm giảm hiệu lực và hiệu quả của nền công vụ, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình cải cách hành chính nhà nước đang được thực hiện Áp dụng mô hình công vụ việc làm sẽ góp phần khắc phục được những hạn chế của nền công vụ, tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong đội ngũ công chức không chỉ về chất lượng mà cả ở tư duy làm việc, cách thức làm việc, và do đó hiệu quả làm việc cũng sẽ được cải thiện Phân tích những đặc điểm của hai mô hình công vụ chức nghiệp và việc làm cho thấy mô hình việc làm có nhiều ưu điểm nổi hơn so với mô hình chức nghiệp, đồng thời khả năng phù hợp của nó với nền kinh tế thị trường cũng cao hơn
Áp dụng mô hình này sẽ tạo điều kiện để xây dựng một nền công vụ hiệu quả, mang tính chuyên môn hóa cao
Ngày nay, ngay cả những nước được coi là có nền công vụ điển hình theo mô hình chức nghiệp như Pháp cũng đang trong quá trình cải cách sâu sắc theo hướng tăng cường các yếu tố của nền công vụ việc làm nhằm khắc phục những
Trang 9hạn chế của nền công vụ chức nghiệp và để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước
5 Một số vấn đề đặt ra khi áp dụng mô hình công vụ việc làm
Đối với mỗi một quốc gia, khi chuyển đổi từ một mô hình cũ sang một mô hình mới cần đảm bảo giải quyết được những tồn tại của mô hình cũ và không tạo ra thêm những khó khăn hay những vấn đề mới cần phải giải quyết Cần nhận thức rằng, việc chuyển đổi sang mô hình việc làm không chỉ đơn giản là chú trọng đến các yếu tố cạnh tranh trong tuyển dụng hay thực hiện trả lương theo công việc mà để đảm bảo mô hình này thực sự hoạt động có hiệu quả Do vậy, cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần phải phân tích, thiết kế công việc một cách hệ thống để có thể sosánh được mức độ khó hay dễ, phức tạp hay đơn giản của từng loại công việc
ở trong cùng một cơ quan, tổ chức hay ở các cơ quan, tổ chức khác nhau Phântích công việc tạo điều kiện để xác định các tiêu chuẩn hay tiêu chí cụ thể đối với từng vị trí công việc Dựa vào đó, việc tuyển dụng hay đánh giá công chức
có thể đảm bảo được yếu tố công bằng và khách quan hơn
Thứ hai, trong nền công vụ việc làm, việc tuyển chọn nhằm mục đích chọn được người phù hợp nhất cho công việc chứ không phải chọn được người có bằng cấp phù hợp với yêu cầu của ngạch, bậc Vì vậy, ngay cả khi đã xây dựngđược các tiêu chuẩn cho mỗi vị trí công việc thì cũng cần chú trọng tới các công việc khác như môn thi, nội dung thi, hình thức thi tuyển để đảm bảo thông qua thi tuyển sẽ chọn được người phù hợp Trong thi tuyển cũng cần đảm bảo loại bỏ được sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan, đảm bảo sự côngbằng
Thứ ba, năng lực thực thi công vụ của công chức được đề cao trong nền công
vụ việc làm Nhưng muốn đánh giá được năng lực thực tiễn của công chức thì phải có một hệ thống đánh giá một cách khoa học, hợp lý Hệ thống đó đòi hỏi không chỉ chú ý tới các tiêu chí đánh giá gắn liền với các vị trí công việc cụ thể mà còn phải chú trọng tới việc thiết kế các công cụ đo lường kết quả thực hiện các tiêu chí đó để đảm bảo tính chính xác của kết quả đánh giá
Thứ tư, việc trả lương trong mô hình công vụ việc làm hoàn toàn theo vị trí công việc chứ không căn cứ vào kết quả thực thi công việc hay bằng cấp Vì vậy cần có cơ chế giám sát quá trình thực hiện công việc của công chức để đảm bảo họ thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất các yêu cầu công việc đã đặt ra Trong nền công vụ việc làm, quản lý công chức gắn liền với vị trí công việc là nhằm đảm bảo tính công bằng trong hoạt động công vụ Ngoài ra, còn đảm bảomối quan hệ tương xứng giữa năng lực thực thi công vụ của công chức và yêu
Trang 10cầu công việc Các công việc khó, phức tạp sẽ được đảm nhận bởi những người có năng lực cao, do đó họ được trả lương cao và ngược lại, những người
có năng lực hạn chế hơn sẽ thực thi những công việc ít phức tạp hơn gắn với mức lương thấp hơn Giám sát hoạt động thực thi công việc của công chức cũng nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu công bằng đó
Thứ năm, cần thực hiện phân cấp trong quản lý công chức bởi mô hình việc làm đòi hỏi các nhà quản lý phải được trao quyền nhiều hơn trong các hoạt động quản lý nhân sự, từ tuyển dụng, đánh giá đến trả lương
Thứ sáu, ngay chính tư duy, nhận thức và cách làm việc của công chức nói chung và của những người làm công tác quản lý nhân sự cũng cần thay đổi chophù hợp với các “giá trị” của mô hình việc làm Ví dụ, làm thế nào để các hoạt động đánh giá, tuyển dụng công chức hoàn toàn gắn với việc chứ không gắn với người, làm thế nào để đảm bảo “vì việc mà tìm người” chứ không phải “vì người mà tìm việc” Để thay đổi được điều đó đòi hỏi phải có thời gian, có sự chuẩn bị các yếu tố cần thiết, bao gồm cả việc ban hành quy định, thể chế, các
cơ chế giám sát cũng như các biện pháp chế tài đối với hoạt động của công chức trong từng lĩnh vực cụ thể
6 Một số kiến nghị về việc áp dụng mô hình công vụ việc làm ở Việt Nam
Quản lý mô hình công vụ việc làm phức tạp hơn nhiều so với mô hình công vụchức nghiệp Như trên đã phân tích, quản lý công chức theo vị trí công việc đòi hỏi phải có thời gian để mô tả công việc và các nhiệm vụ cần phải thực hiện gắn liền với mỗi công việc cụ thể Để làm được điều này cần rất nhiều thông tin về nhiều khía cạnh của các công việc khác nhau (về kỹ năng, trách nhiệm, nhiệm vụ phải thực hiện, về mức độ giám sát công việc ) Ngoài ra cũng đòi hỏi người đảm nhận công việc này phải có những kỹ năng nhất định
để phân tích, đánh giá và phân loại công việc Ở nước ta, trong một thời gian dài áp dụng mô hình chức nghiệp nên các bản mô tả công việc theo các vị trí
cụ thể không có sẵn; muốn phân tích, phân loại và mô tả công việc cho tất cả các vị trí trong bộ máy nhà nước đòi hỏi phải có thời gian và đây cũng là một thách thức lớn cho các nhà quản lý nhân sự ở Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, khi các điều kiện cần thiết cho việc vận hành nền công vụ việc làm chưa đáp ứng được, chúng ta nên áp dụng kết hợp cả hai mô hình này Mô hình công vụ việc làm có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế nhất định như tính không ổn định của đội ngũ công chức, con đường chức nghiệp của công chức không rõ ràng Ngược lại, mô hình công vụ chức nghiệp cũng có những ưu điểm Trong nhiều trường hợp, nhược điểm của mô hình này sẽ được khắc phục bởi ưu điểm của mô hình kia và ngược lại
Trang 11Thực tế ngày nay không có một quốc gia nào hoàn toàn đi theo mô hình công
vụ việc làm hay chức nghiệp mà luôn có sự kết hợp giữa hai mô hình này để đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhân sự của các cơ quan nhà nước Ví dụ, vừa
sử dụng bằng cấp như một tiêu chí để tuyển dụng công chức ở bậc thấp vừa cho phép tuyển vào công vụ từ các ứng viên bên ngoài đối với vị trí quản lý cấp trung và cấp cao, tạo cơ hội cạnh tranh cho các nguồn nhân lực bên trong
và bên ngoài công vụ Xin-ga-po và Ấn Độ là những nước đi theo mô hình công vụ việc làm nhưng có áp dụng một số yếu tố của công vụ chức nghiệp Ngược lại, Pháp là nước có nền công vụ chức nghiệp nhưng một số yếu tố của
mô hình công vụ việc làm vẫn được áp dụng
Từ những phân tích trên đây chúng tôi đề xuất việc chuyển đổi sang nền công
vụ việc làm ở Việt Nam có thể được thực hiện theo một trong hai hướng sau đây:
Thứ nhất, có thể thay đổi theo hướng vẫn duy trì mô hình công vụ chức nghiệpvới các công chức bậc thấp và áp dụng mô hình công vụ việc làm đối với những công chức bậc cao hơn Có thể áp dụng chế độ hợp đồng có thời hạn và mức tiền lương hấp dẫn cho các vị trí trung và cao cấp trong nền công vụ Điều này có thuận lợi là làm giảm khối lượng công việc phải thực hiện gắn liền với phân tích công việc và đánh giá công việc nếu hoàn toàn đi theo mô hình công vụ việc làm Xây dựng nền công vụ theo hướng gắn liền với các vị trí việc làm ở Việt Nam còn là mới mẻ, nên việc từng bước chuyển đổi từ mô hình chức nghiệp sang mô hình việc làm sẽ không tạo ra những đột biến ảnh hưởng đến tâm lý của công chức, tạo cơ hội cho công chức dễ thích nghi với những thay đổi do việc chuyển đổi này mang lại
Thứ hai, cũng có thể duy trì cơ bản mô hình công vụ chức nghiệp đối với toàn
bộ công chức nhưng tăng cường các đặc điểm của nền công vụ việc làm như tăng tính cạnh tranh trong tuyển dụng và đề bạt, gắn tiền lương với vị trí công việc, gắn việc đánh giá công chức với các công việc mà họ đảm nhận, phân cấp nhiều hơn cho các nhà quản lý đối với các hoạt động quản lý nhân sự Theo cách này, nền công vụ vừa giữ được sự ổn định vừa hạn chế được những nhược điểm của mô hình công vụ chức nghiệp truyền thống
Trang 12+ So sánh nhà nước đơn nhất với nhà nước liên bang.
- Nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang là hai hình thức cấu trúc nhà nước
cơ bản có tính ổn định cao trong xác lập địa giới hành chính lãnh thổ và vận hành quyền lực nhà nước so với các dạng hình thức cấu trúc khác Việc so sánh giống và khác nhau giữa chúng sẽ giúp ta hiểu một cách chi tiết các đặc điểm của từng hình thức cấu trúc đó cũng như các hình thức cấu trúc không cơbản khác
- Nhà nước đơn nhất đặc trưng với một trung tâm quyền lực, một hệ thống các
cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật áp dụng thống nhất từ trung ươngđến địa phương Lãnh thổ nhà nước đơn nhất được phân chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc lẫn nhau, các đơn vị này không có thẩm quyền và thuộc tính như một thực thể có chủ quyền, nhưng được phân cấp những quyền hạn nhất định Trong khi đó, nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước (hay gọi là bang) thành viên hợp lại Nhà nước liên bang có hai hệ thống các cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật: một hệ thống chung cho toàn liênbang và một hệ thống cho từng nhà nước thành viên Thẩm quyền của nhà nước liên bang và của các nước thành viên cũng như mối quan hệ giữa nhà nước liên bang và các nhà nước thành viên được quy định trong Hiến pháp liênbang và hiệp ước thành lập nhà nước liên bang Nhà nước liên bang và nhà nước các nước thành viên đều có chủ quyền riêng
- Về điểm tương đồng, đầu tiên, cấu trúc đơn nhất và cấu trúc liên bang đều xác lập ở nhà nước có chủ quyền quốc gia, tức quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Kế đến, cả hai đều có một hệ thống cơ quan nhà nước và một hệ thốngpháp luật áp dụng chung trên toàn bộ lãnh thổ Cuối cùng, công dân ở mỗi cấu trúc nhà nước đều có quốc tịch chung của nhà nước đó
- Về điểm khác biệt, thứ nhất, nhà nước đơn nhất chỉ gồm một nước duy nhất
so với nhà nước liên bang là sự liên hợp của hai hay nhiều nhà nước thành viên lại với nhau Do đó ngoài hệ thống cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật chúng, thống nhất như ở nhà nước đơn nhất, nhà nước liên bang còn có một hệ thống riêng cho từng nhà nước (hay còn gọi là bang) thành viên Thứ hai, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ về mặt chủ quyền của nhà nước đơn nhất không bị chia cắt bởi các đơn vị hành chính để quản lý trong khi sự thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ về mặt chủ quyền của nhà nước liên bang bị chia cắt bởi các nước hay các bang thành viên Thứ ba, công dân của nhà nước đơn nhất có quốc tịch chung thống nhất, còn công dân của nhà nước liên bang ngoài quốc tịch chung của nhà nước liên bang thì còn có them quốc tịch riêng của từng nhà nước thành viên hoặc từng bang
Trang 13- Ngoài ra, cấu trúc liên bang thường được thiết lập tại một quốc gia đa sắc tộc(Mỹ, Úc, Malaysia, …) hoặc có lãnh thổ rộng lớn (tám trong số mưới nước có diện tích lớn nhất thế giới được tổ chức thành các liên bang) hoặc trong trườnghợp cần thiết (giải quyết các vấn đề chung hoặc để có năng lực phòng thủ chung như Mỹ, Thụy Sỹ hoặc tạo ra một nhà nước dân tộc cho các nhóm rải rác ở các quốc gia khác nhau như Đức), các liêng bang thường được thành lập trên cơ sở một hiệp ước giữa các thành viên có chủ quyền.
- Tuy nhiên sự khác biệt giữa cấu trúc đơn nhất và cấu trúc liên bang không phải lúc nào cũng rõ rang, một NN đơn nhất có thể rất giống nhà nước liên bang về cấu trúc Từ đó nảy sinh cấu trúc mới – sự kết hợp giữa cấu trúc đơn nhất hoặc liên bang với chế độ ủy trị có điều kiện, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là ví dụ tiêu biểu cho mô hình này Theo hiến pháp, quyền lực của các đặckhu hành chính của nước CH nhân dân Trung Hoa được trao bởi Chính phủ nhân dân Trung ương thông qua nghị quyết của Toàn quốc Nhân dân Đại biểu Đại hội Tuy nhiên, việc hủy bỏ quyền tự trị của các đặc khu hành chính
HongKong và Macao là một thách thức lớn nếu muốn là không thể thực hiện
5 Phân tích các đặc điểm chủ yếu của mô hình quản lí công mới? Theo anh (chị) có thể vận dụng gì ở mô hình này vào thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta hiện nay?
1 Các đặc điểm chủ yếu của mô hình quản lý công mới:
+ Nguyên nhân ra đời
- Mô hình hành chính công truyền thống đã bộc lộ những hạn chế
- Xuất phát từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 dẫn đến cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới
- Từ đó sức ép lên khu vực công buộc phải thay đổi cách thức quản lý
- Sự ra đời của lý thuyết kinh tế gây sức ép, áp lực về cung cách quản lý: lý thuyết sự lựa chọn công; mô hình dáng tạo lại chính phủ; đề ra phương hướng cải cách “chính phủ mang tinh thần kinh doanh”
- Xu hướng toàn cầu hóa dẫn tới việc phải nâng cao năng lực quản lý
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
+ Đặc trưng của mô hình
- Tính hiệu quả
- Phi quy chế hóa
- Đẩy mạnh phân quyền
Trang 14- Áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức không còn hoàn toàn trung lập về chính trị
- Tư nhân hóa một phần các hoạt động của nhà nước đối với các dịch vụ công
- Vận dụng những phương pháp quản lý doanh nghiệp vào quản lý công
- Xu hướng quốc tế hóa các hoạt động hành chính công
+ Điểm khác biệt
- Mô hình hành chính công truyền thống đảm bảo tính hiệu lực
- Mô hình quản lý công mới đảm bảo tính hiệu quả
2 Vận dụng mô hình này vào thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta hiện nay:
Có thể hiểu, hành chính phát triển thường được sử dụng khi nói đến “Mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngàycàng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau” Trong khi đó, hành chính truyền thống là
mô hình hành chính công dựa trên cơ sở là những nguyên tắc, quy tắc nhất định (bao gồm cả nguyên tắc chính trị-xã hội và nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật) với bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị” Phương thức hoạt động của mô hình này dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biện pháp tối ưu
Theo quan điểm mới, vai trò của Chính phủ có sự chuyển từ “chèo thuyền” sang “lái thuyền” Nhà nước không ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà nên dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả quản lý của Nhà nước Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ; xu hướng “thị trường hóa” và “toàn cầu hoá” kinh tế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội … Nhà nước buộc phải xã hội hoá, tư nhân hoá, chấp nhận
sự tham gia của công chúng vào công việc quản lý nhà nước, đồng thời phải can thiệp ngày càng sâu vào các quá trình kinh tế- xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người dân - những “khách hàng” của nền hành chính…
Trong mô hình hành chính công truyền thống, mục tiêu là phải bảo đảm đúng chu trình, đúng quy tắc, thủ tục hành chính (đầu vào) Đánh giá việc quản lý hành chính thông qua xem xét mức độ thực thi các quy tắc, thủ tục hành chính.Trong khi đó, mục tiêu của hành chính phát triển là: bảo đảm kết qua tốt nhất, hiệu quả cao nhất (đầu ra); dùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả quản lýhành chính
Trang 15Đối với công chức của hành chính công truyền thống: trách nhiệm của người công chức; nhà quản lý là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ tục Những quy định, điều kiện để công chức thực thi công vụ theomột hệ thống thứ bậc rất chặt chẽ, cứng nhắc theo quy định Thời gian làm việc của công chức được quy định chặt chẽ Trong khi đó, đối với công chức của hành chính phát triển: Trách nhiệm của người công chức, nhà quản lý chủ yếu là bảo đảm thực hiện mục đích, đạt kết quả tốt, hiệu quả cao Những quy định, điều kiện để công chức thực thi nhiệm vụ có hình thức linh hoạt, mềm dẻo hơn Thời gian làm việc linh hoạt hơn, công chức cam kết về mặt chính trị cao hơn trong các hoạt động của mình, các hoạt động hành chính mang tính chính trị nhiều hơn.
Sự xuất hiện của mô hình hành chính phát triển đã làm cho cách thức hoạt động của khu vực công có nhiều thay đổi đáng kể Với các đặc tính của mô hình mới: chú ý hiệu quả hoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, áp dụng một số yếu tố của cơ chế thi trường, xã hội hoá một phần hoạt động của Nhà nước, vận dụng nhiều phương pháp quản lý doanh nghiệp, xu hướng quốc
tế hoá Có thể nói, mô hình hành chính phát triển xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém không phù hợp của mô hình hành chính truyền thống
Trong bối cảnh vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đã có những sự đổi mới sâu sắc Cùng với sự đổi mới đó, chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thức của thị trường trong nước và thị trường thế giới
Vì vậy, vận dụng những nhân tố hợp lý của mô hình Hành chính phát triển để xây dựng một mô hình phù hợp với Việt Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh tế đang là một yêu cầu cấp thiết
(Còn tiếp)
- Post added at 11:10 AM - Previous post was at 11:04 AM -
6 Phân biệt cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội khác?
Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có đặc điểm chung của cơ quan nhà nước Đặc điểm chung ấy
là cơ sở để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội Đồng thời, cơ quan hành chính nhà nước có những đặc thù so với cơ quan khác của Nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
Trang 161 Những đặc điểm của cơ quan nhà nước
- Cơ quan nhà nước là một tập thể người hoặc một người, có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức bộ máy và quan hệ công tác của
cơ quan do chức năng, nhiệm vụ của nó quy định, có tính độc lập và có quan
hệ về tổ chức và hoạt động với cơ quan khác trong một hệ thống, với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước nói chung, quan hệ đó do vị trí chính trị - pháp lý của nó trong hệ thống cơ quan nhà nước quyết định
- Nhà nước thành lập cơ quan nhà nước để thực hiện những chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước Vì vậy, nhà nước trao cho các cơ quan nhà nước thẩm quyền nhất định Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là phương tiện pháp lý để thực hiện nhiệm vụ và chức năng được trao Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp lý do pháp luật quy định Các quyền là yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền, quyết định tínhchất quyền lực của cơ quan nhà nước, nghĩa là cơ quan nhà nước có quyền ra những mệnh lệnh, chỉ thị buộc đối tượng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải thực hiện Bởi vì khi thực hiện các quyền, cơ quan nhà nước nhân danh nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội, cơ quan xã hội
Quyền ban hành quyết định pháp luật là yếu tố quan trọng nhất trong thẩm quyền của cơ quan NN Trên cơ sở Hiến pháp, luật, quyết định của cơ quan
NN cấp trên, các cơ quan NN ra những quyết định pháp luật buộc đối tượng nhất định phải tuân thủ Ngoài ra, mỗi cơ quan nhà nước có hình thức, phương pháp hoạt động riêng theo quy định của pháp luật, có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định Quyền áp dụng những hình thức và phương pháp hoạt động của cơ quan nhà nước cũng là yếu tố quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan đó
- Các cơ quan nhà NN chỉ hành động trong khuôn khổ thẩm quyền của mình Thẩm quyền của cơ quan NN có giới hạn về không gian (lãnh thổ), về thời gian và về đối tượng nhất định Trong khuôn khổ thẩm quyền của mình, cơ quan NN hành động một cách độc lập, chủ động, sáng tạo và chỉ chịu sự ràng buộc của pháp luật, chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Thẩm quyền của cơ quan NN là hành lang pháp lý cho cơ quan ấy vận động, nhưng việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước không chỉ là quyền mà còn lànghĩa vụ của nó Thẩm quyền của cơ quan nhà nước gồm tổng thể các quyền, nghĩa vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực - pháp lý mà nhà nước trao cho bằng pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, chức năng nhà nước Các quyền hạn đó là yếu tố quan trọng nhất của thẩm quyền
Các quyền, nghĩa vụ, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và các yếu tố
Trang 17pháp lý khác tạo nên địa vị pháp lý của cơ quan.
Để xác định địa vị pháp lý của bất kỳ cơ quan nhà nước nào cần phải xác định được những vấn đề căn bản sau:
- Cơ quan đó ở cấp nào (Trung ương hay địa phương)
- Chức năng cơ bản của cơ quan đó (lập pháp, hành pháp, tư pháp, hỗ trợ tư pháp)
- Cơ quan đó được thành lập như thế nào, bởi cơ quan nào, nó phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước cơ quan nào?
- Cơ quan đó có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản của CQ nào và văn bản do nó ban hành có thể bị cơ quan nào đình chỉ, bãi bỏ, huỷ bỏ v.v
- Cơ quan đó được ban hành văn bản PL có tên gọi như thế nào, hiệu lực pháp
lý của chúng về thời gian, không gian, đối tượng thi hành
- Cơ quan đó được mang biểu tượng nhà nước như thế nào?
- Nguồn tài chính cho hoạt động của nó?
- Cơ quan đó có là pháp nhân công quyền hay không?
Như vậy, xác định vị trí pháp lý của cơ quan nhà nước là xác định vị trí, chỗ đứng của nó trong bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ
sở xác định các mối liên hệ quan hệ của nó với các cơ quan, tổ chức khác và với công dân
2 Những đặc điểm đặc thù của cơ quan hành chính nhà nước
- Các cơ quan hành chính NN được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Hiếnpháp, luật, pháp lệnh và để thực hiện pháp luật
- Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống
- Các cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của một trung tâm thống
là nhất Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
- Thẩm quyền cơ quan hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành Thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước hoặc trong những quy chế
- Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quanquyền lực nhà nước ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó
Trang 18- Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước khác với hoạt động của cơ quan quyền lực, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Toà
án Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước là đối tượng giám sát của các
cơ quan quyền lực nhà nước, của Toà án thông qua hoạt động xét xử những vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế và hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước có nghĩa vụ, trách nhiệm xem xét và trả lời các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Toà án trong những trường hợp nhất định và trong thời hạn do luật định Ngược lại, các văn bản pháp luật của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thể là căn cứ pháp lý để Viện kiểm sát và Toà
án thực hiện hoạt động kiểm sát và xét xử Một số văn bản pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp điều chỉnh một số vấn đề về tổ chức nội bộcủa Viện kiểm sát và Toà án
Các cơ quan hành chính nhà nước có đối tượng quản lý rộng lớn đó là những
cơ quan, tổ chức, xí nghiệp trực thuộc, nhưng Toà án và Viện kiểm sát không
có những đối tượng quản lý loại này
Các cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất là Luật hành chính
3 Phân loại các cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước được phân loại dựa vào những căn cứ khác nhau:
- Căn cứ pháp luật để thành lập;
- Trình tự thành lập;
- Vị trí trong hệ thống bộ máy hành chính;
- Tính chất thẩm quyền của cơ quan hành chính;
- Hình thức tổ chức và chế độ giải quyết công việc, v.v
7 Phân tích các đặc trưng của mô hình hành chính công truyền thống và liên hệ thực tế với nền hành chính nước ta để làm rõ điểm tích cực và hạn chế của mô hình này?
1 Các đặc trưng của mô hình hành chính công truyền thống:
+ Hoàn cảnh ra đời:
- Bắt đầu hình thành từ năm 1900 – 1920 ở một số nước trên thế giới
- Đến những năm giữa thế kỷ 20 thì được áp dụng ở các nước Tây Âu
- Mô hình được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mối quan hệ giữa chính trị và hành chính của Wilson, nguyên tắc thành lập bộ máy quan lieu của Max
Weber và các nguyên tắc quản lý khoa học của Taylor
Trang 19+ Đặc trưng:
- Bộ máy hành chính là một hệ thống thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ trên xuống dưới
- Phân công và chuyên môn hóa lao động sâu sắc
- Nhân sự trong bộ máy hành chính làm việc suốt đời
- Viên chức nhà nước làm việc chuyên nghiệp và phi chính trị
- Người thực thi công vụ làm việc trung lập, thực hiện đúng quy trình, quy tắc định sẵn
- Không thiên vị, đối xử với mọi người là giống nhau
- Quá trình thực hiện công việc đúng đắn (trung lập, vô nhân xưng)
- Quản lý xã hội bằng pháp luật và thực hiện chính sách do các nhà chính trị ban hành
+ Ưu điểm
- Thủ tục làm việc chặt chẽ, chính xác, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của yếu tố đầu vào
- Đảm bảo kiểm soát trước các hoạt động
- Rất đáng tin cậy vì tuân thủ theo pháp luật và các quy định của Nhà nước
- Sự rủi ro, tùy tiện và sai sót của các quyết định hành chính là rất thấp
- Mọi người đều có sự công bằng
+ Nhược điểm:
- Tính quan lieu, bộ máy hành chính nhiều tầng lớp và cồng kềnh
- Kiểm soát thông qua sự phục tùng (cấp dưới phục tùng cấp trên)
- Hoạt động chậm chạp, do phải tuân thủ các quy trình, thủ tục
- Hạn chế tính năng động, sáng tạo trong hoạt động quản lý của bộ máy hành chính nhà nước
- Ít quan tâm tới yếu tố đầu ra
- Hiệu quả quản lý thấp do quan tâm đến quá trình làm việc
2 Liên hệ thực tế với nền hành chính nước ta để làm rõ điểm tích cực và hạn chế của mô hình này:
+ Hạn chế:
- Hệ thống thể chế hành chính vẫn còn nhiều điểm chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, trật tự, kỷ cương chưa nghiêm Nhiều thủ tục hành chính còn rườm
rà, nhiêu khê, đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, phải qua nhiều cửa, nhiều dấu, nhiều tầng nấc trung gian, đồng thời thiếu thống nhất, tùy tiện thay đổi và thiếu công khai đã gây phiền hà cho nhân dân, nhất là những người ít hiểu biết về thủ tục hành chính Hệ thống các thủ tục hành chính đã cản trở, gây phiền hà cho nhândân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, gây trở ngại trong việc giao lưu và hợp tác quốc tế, gây ra tệ cửa quyền, tệ giấy tờ trong guồng máy hành chính và là “miếng đất” thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí, làm giảm long tin của nhân dân vào chính quyền Ý thực chấp hành pháp luật hành
Trang 20chính của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu, quen giải quyết công việc theo “lệ” chứ chưa theo luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa chưa được đảm bảo.
- Bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều cửa, nhiều dấu, chức năng của một số cơ quan còn chồng chéo, chưa rõ rang, nhiều khi cản trở lẫn nhau, hạn chế hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính Có lĩnh vực thì ôm đồm, bao biện Có lĩnh vực thì buôn lỏng quản lý, dẫn đến một số
cá nhân lợi dụng để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân
- Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ, sự phân công, phân cấp giữa các ngành, các cấp chưa thật rành mạch, triệt để, cụ thể và phù hợp Tình trạng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan cùng cấp, cấp trên và cấp dưới còn chồng chéo, nhiều khi hạn chế lẫn nhau, dẫn đến hiệulực và hiệu quả quản lý thấp
- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với dân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lung túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp
- Phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan lieu lại vừa phân tán, chưa thông suốt, chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạtđộng của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công
- Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tình thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm việc chậm đổi mới; tệ quan lieu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêmtrọng trong một bộ phận cán bộ, công chức Nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế
- Về tổ chức nhân sự thì có nơi, có lĩnh vực lại thừa và ngược lại, có nơi có lĩnh vực lại thiếu; thiếu đội ngũ cán bộ, công chức có chuyên môn cao, tận tụy với công việc và nghề nghiệp; tình trạng cán bộ nhiều nhưng chất lượng hoạt động chẳng bao nhiêu, chưa có trình độ ngang tầm nhiệm vụ; bố trí chưa đúng người đúng việc, bằng cấp và năng lực chưa tương ứng với chức danh, …
- Các chế độ, chính sách về tổ chức cán bộ, về tiền lương còn nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách nhằm đem lại hiệu lực và hiệu quả của công việc
- Do bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nhiều lớp nên cải cách hành chính diễn ra chậm, thiếu sự kiểm tra, đánh giá sát sao; nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh
từ ngay đội ngũ cán bộ công chức từ cấp cao, cấp dưới thì không thể trình báo lên cấp cao hơn, còn cấp trên thì cũng không giám sát được cấp dưới Hiện tượng phát sinh tiêu cực trong cả một tập thể, ngay từ chính những cán bộ chủ chốt trong hệ thống Đảng và chính quyền có nơi xảy ra trầm trọng, gây ra bất bình trong dư luận, giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính phủ
8 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi công vụ của công
Trang 21chức nước ta hiện nay?
1 Các yếu tố bên ngoài
- Nhóm các yếu tố chính trị - pháp luật: đó sự ổn định chính trị, môi trường chính sách, bảo mật sở hữu trí tuệ, hỗ trợ giáo dục, mức thuế và các khuyến khích, sự tôn nghiêm của pháp luật Vai trò chức năng của các tổ chức thuộc khu vực công thể hiện mục đích chính trị của hệ thống chính trị Thể chế chínhtrị luôn giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội Hệthống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của hệ thống chính trị Nhà nước được xây dựng nhằm thực hiện sứ mệnh của đảng cầm quyền Nhà nước lại có ảnh hưởng thực sự tới các tổ chức đặc biệt là các tổ chức hành chính
Việc cung ứng dịch vụ và hàng hóa công là nhiệm vụ cơ bản mà pháp luật quy định cho các tổ chức thuộc khu vực công Dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền mang tính quyền lực pháp lý, gắn với quyền lực nhà nước nên loại dịch vụ này chỉ có thể do nhà nước độc quyền nắm giữ và cung cấp ( cấp giấy khai sinh, chứng thực…) Dịch vụ hành chính công phục vụ cho công việc quản lý nhà nước nên càng nhiều người sử dụng dịch vụ hành chính công thì hiệu quả quản lý nhà nước càng cao Các doanh nghiệp nhà nước cung cấp các hàng hóa phục vụ thiết yếu cho đời sống của người dân đảm bảo công bằng xã hội cũng là chủ trương của Đảng, góp phần làm tăng hiệu quả quản lý nhà nước Do đó chất lượng của hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức thuộc khu vực công chịu ảnh hưởng nhiều từ định hướng chính trị và các quy định của pháp luật
- Nhóm các yếu tố kinh tế: Đôi khi người ta nghĩ rằng môi trường kinh tế chỉ liên quan tới các doanh nghiệp nhưng trên thực tế các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến mọi tổ chức và chất lượng sản phẩm dịch vụ của các tổ chức đó Một số yếu tố: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, trình độ tay nghề của lực lượng lao động, chất lượng của cơ sở hạ tầng, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ học sinh
bỏ học, chi phí nhân công, những thay đổi về hệ thống kinh tế, các chính sách kinh tế của nhà nước, các điều kiện và các nhóm tổ chức khác
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên cơ sở nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhưng vẫn phải tuân theo quy luật của thị trường trong nền kinh tế thị trường Chất lượng hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước phụ thuộc nhiều vào các chính sách, sự điều chỉnh của nhà nước nhằm bảo hộ hay thúc đẩy sự tự cạnh tranh, tự tồn tại của các doanh nghiệp này
- Nhóm các yếu tố thị trường: thị trường luôn biến động thay đổi, tác động đòi hỏi thay đổi mẫu mã chất lượng, chủng loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Đối với các tổ chức hành chính nhà nước thường được xem như không có các
Trang 22thị trường cho sản phẩm đầu ra ( xét trên phương diện kinh tế), vì thế, nguồn tài chính cho các tổ chức này thường hẹp hơn trong các khu vực thương mại bởi vì nó trông cậy chính vào nguồn tài chính của chính phủ Những yếu tố này đã có tác động không nhỏ và ảnh hưởng tới các quyết định quản lý Các yếu tố về thị trường có thể bao hàm các yếu tố về khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các yếu tố về nguồn nhân lực.
+ Các yếu tố thuộc về khách hàng: khách hàng được hiểu là những con người hay tổ chức mua hay được thụ hưởng, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp hay các tổ chức có thẩm quyền cung cấp
Các tổ chức sẽ không thể tồn tại nếu không có khách hàng Trong xu thế chungcủa thế giới, khách hàng được coi là người dẫn dắt các tổ chức kể cả tổ chức nhà nước Khách hàng mang tính đa dạng, đòi hỏi của khách hang thương hay thay đổi, gia tăng và khó dự đoán Những động thái này của khách hàng luôn
là những áp lực không chỉ với doanh nghiệp mà cả với các tổ chức hành chính ( ví dụ như sự quan tâm mong đợi của công chúng về chất lượng các sản phẩmhàng hóa dịch vụ công được nâng cao, sự công bằng, cởi mở và trách
nhiệm…)
+ Đối thủ cạnh tranh: là các tổ chức hay cá nhân có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Đối thủ cạnh tranh thể hiện ở cả dạng tiềm ẩn Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng Khi khu vực tư và khu vực công cùng cung cấp một sản phẩm hay một loại dịch vụ, việc tạo ra sự cạnh tranh giữa hai khu vực là yếu tố tác động tích cực đến chất lượng và hiệu quả công việc của các tổ chức thuộc khu vực công Bởi lẽ, sự cạnh tranh thúc đẩy các tổ chức thay đổi phương thức sản xuất, cách thức cung cấp để phục vụ tốt hơn khách hàng của mình, để thu lợi nhuận và tồn tại
2 Các yếu tố bên trong
a Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và phương thức quản lý của các tổ chức thuộc khu vực công
- Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ:
Đặc trưng của các tổ chức thuộc khu vực công là mọi sự thành lập, thay đổi cơcấu hay giải thể tổ chức đều phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật Pháp luật quy định mỗi cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước hay các doanh nghiệp nhà nước đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng không chồng chéo, trùng lắp Điều này gây ra tình trạng độc quyền của các cơ quan hành chính nhà nước Bởi khi mà mỗi cơ quan chỉ giải quyết một công việc, công dân không thể có quyền lựa chọn nơi nào chất lượng phục vụ tốt hơn Điều này
Trang 23cũng dễ gây ra sự quan liêu và giảm đi tính cạnh tranh của các tổ chức thuộc khu vực công Bộ máy quan liêu phiền hà làm giảm đi chất lượng các hàng hóa
và dịch vụ công
Thêm vào đó, việc sắp xếp bố trí nhân sự trong các tổ chức công có phù hợp hay không cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng Nhân viên làm việc trong các cơ quan tổ chức có được sắp xếp vào đúng vị trí, đúng ngành nghề, phù hợp với năng lực mà họ có, có phát huy được năng lực làm việc hay không cũng là vấn đề cần chú ý vì nó liên quan đến chất lượng,đến hiệu quả làm việc trong các tổ chức công
- Tiếp nữa là về phương pháp quản lý Đó chính là cách thức mà một tổ chức cần tiến hành để đạt được mục tiêu sao cho hiệu quả Ngoài việc đề ra mục tiêu thì các tổ chức công cần đưa ra các phương pháp thích hợp để thực thi các mục tiêu đó Các phương pháp phải được thiết kế, chọn lựa sao cho thật khoa học và hợp lí vì điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc Không
có phương pháp đúng đắn sẽ đi chệch mục tiêu, không đạt được chất lượng, thậm chí còn gây nhiều tổn thất nghiêm trọng cho khu vực công do sử dụng saiphương pháp Chính vì vậy ,đây là một điều quan trọng mà ta cần chú ý giải quyết khi nói tới chất lượng của khu vực công
Bên cạnh đó mỗi tổ chức cần đưa một hệ thống đo lường chất lượng ,đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để đán giá mức độ chất lượng của cơ quan mình Trongquá trình đánh giá đó, nếu phát hiện có điểm nào yếu kém thì sẽ đưa ra hướng giải quyết ngay Hệ thống chỉ tiêu chuẩn đó phải được đảm bảo tính rõ ràng, đầy đủ, khách quan để có thể đo lường về chất lượng một cách chính xác nhất
Khu vực công hiện đang tồn tại những khuyết tật trong hệ thống và phương thức quản lý, ảnh hưởng đến sự vận hành và chất lượng của hàng hóa và dịch
vụ mà các tổ chức thuộc khu vực công cung cấp Sự phức tạp của các quan hệ công tác, hệ quả của việc áp dụng các phương thức tổ chức và quản lý đặc thù,
đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm tính minh bạch của môi trường công
vụ, gây nhiều rủi ro nghề nghiệp đối với những người hoạt động trong các tổ chức công Trên nguyên tắc, người đứng đầu cơ quan nhà nước theo pháp luật
là người có quyền ra lệnh và phải tự chịu trách nhiệm pháp lý về mệnh lệnh của mình Thế nhưng, cơ chế xin - cho ý kiến và quyết định dựa vào tập thể khiến cho nguyên tắc này hầu như chỉ có ý nghĩa khi người đứng đầu thấy cần thiết Những mệnh lệnh đúng thực sự là sáng kiến của người đứng đầu; còn những mệnh lệnh sai được coi là sự phản ánh ý chí của tập thể, chất lượng công vụ cũng vì đó mà bị ảnh hưởng Quản lý bằng thủ tục hành chính phiền
hà phức tạp, quy trình cung ứng dịch vụ qua nhiều tầng nấc, sự cửa quyền, nhũng nhiễu của những người trực tiếp cung ứng dịch vụ… làm giảm đi sự hàilòng của người dân
Trang 24Sự phân công phân cấp trong cung ứng dịch vụ, sản xuất hàng hóa công khi ápdụng trong thực tiễn có thể giảm được sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ, tạo
sự tin tưởng với cấp dưới đồng thời tránh sự phức tạp với người dân - những khách hàng của khu vực công
b Các nguồn lực trong tổ chức
Nguồn lực trong tổ chức bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật trong tổ chức
Nguồn nhân lực:
Chất lượng trong khu vực công phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người, cụ thể
là các cán bộ, lãnh đạo, công chức, viên chức
Các nhà lãnh đạo đảm nhân vai trò và trách nhiệm về chất lượng các công việc
do họ trực tiếp quản lý và điều hành Năng lực lãnh đạo quản lý thể hiện ở cách thức điều hành; thích ứng nhanh với điều kiện môi trường thay đổi để đưa
ra biện pháp chính sách phù hợp…Việc những người lãnh đạo luôn quan tâm tạo điều kiện, môi trường làm việc để các cán bộ công nhân viên chức tham gia thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách đầy đủ nhất; phân công phối hợp công việc, gắn kết sức mạnh giữa các phòng ban, các cá nhân trong tổ chức tạođiều kiện để đạt hiệu quả công việc cao nhất Người cán bộ, lãnh đạo luôn đóng vai trò chủ chốt trong việc cải tiến nâng cao chất lượng mọi mặt trong khu vực công bởi có đường lối, cách thức quản lý tốt mới có thể đạt hiệu quả công việc cao nhất Nếu một nhà lãnh đạo yếu kém cả về phẩm chất và năng lực thì việc cải thiện chất lượng công việc trong khu vực công khó mà thực hiện được Hơn thế nếu đội ngũ các nhà lãnh đạo yếu kém thì sẽ có thể kéo theo sự yếu kém của cả khu vực công, vì lãnh đạo được coi như bộ phận trung tâm đầu não của cả một hệ thống Vì vậy nói tới chất lượng khu vực công không thể không nhắc tới vai trò của các nhà lãnh đạo cũng như ảnh hưởng của họ tới hiệu quả công việc trong khu vực công
Bên cạnh đó các cán bộ,công chức viên chức cũng có tầm ảnh hưởng nhất địnhtới chất lượng của khu vực công Họ là lực lượng trực tiếp thực thi các nhiệm
vụ, công việc trong khu vực công, sự thành bại của các công việc, các nhiệm
vụ của tổ chức, những gì cần thay đổi hoặc tiến hành sao cho hiệu quả nhất thi không ai hiểu rõ bằng chính những người trong cuộc
Khu vực công có số lượng công chức viên chức rất lớn Họ hoạt động vì mục tiêu chung của tổ chức mình cũng là góp phần làm nên chất lượng của khu vựccông Không trừ một ai trong tổ chức, tất cả mọi người đều tham gia thực hiện làm nên chất lượng và đều có tác động đến nhận thức của khách hàng đối với khu vực công, chất lượng của khu vực công đòi hỏi sự tham gia của mọi thành
Trang 25viên, của tất cả các bộ phận từ lập kế hoạch, thi hành đến đánh giá hiệu quả công việc Nó dựa vào sự phát triển để phân tích, truy tìm nguồn gốc của những nguyên nhân gây ra sai sót trong toàn bộ quá trình hoạt động của tổ chức, để từ đó đề ra các giải pháp đảm bảo, cải tiến chất lượng
Việc thỏa mãn những điều kiện sống cơ bản, tạo môi trường làm việc thoải mái, vui vẻ cho công chức viên chức sẽ thúc đẩy họ làm việc tốt hơn, thân thiện với khách hàng hơn và do đó chất lượng hàng hóa và dịch vụ sẽ có
những cải tiến rõ rệt: giảm chi phí, tăng sự hài lòng của khách hàng…
- Nguồn tài chính: trừ những tổ chức sự nghiệp có nguồn thu riêng thì tài chínhcủa mọi tổ chức thuộc khu vực công đều phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước Do vậy nguồn tài chính mà nhà nước có được là rất hạn hẹp Việc sử dụng nguồn tài chính đó để tiến hành các hoạt động của các tổ chức cần được xem xét hợp lí, tránh việc thâm hụt ngân sách,lãng phí tiền bạc của nhà nước, làm giảm hiệu quả chất lượng khu vực công
- Nguồn lực về cơ sở vật chất kĩ : Cơ sở vật chất có đầy đủ thuận tiện cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ, có tạo sự thoải mái cho người dân khi thụ hưởng dịch vụ hành chính
- Nguồn lực về khoa học kĩ thuật: những tiến bộ khoa học kĩ thuật mà mỗi tổ chức sử dụng sẽ tạo cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ, giải phóng sức lao động đồng thởi tăng nhanh sự hài lòng của khách hàng
Việc kết hợp giữa sử dụng nguồn lực của Chính phủ kết hợp với nguồn lực trong nhân dân và nguồn lực từ nước ngoài giúp vận hành và sử dụng tối ưu các nguồn lực phục vụ phát triển tổ chức
c Hiệu lực của cơ chế quản lý
Cơ chế quản lý ở đây được hiểu là cách thức kết hợp các yếu tố, các quá trình trong khu vực công để tạo ra chất lượng tốt Nó cũng bao gồm cả một hệ thốngnguyên tắc cần tuân theo để hoạt động của cơ quan, tổ chức trong khu vực công đi vào quy củ, theo một trật tự nhất định để khu vực này vận hành một cách hiệu quả
Hệ thống thể chế trong các cơ quan đơn vị thuộc khu vực công cũng là vấn đề cần bàn tới Thể chế có hoàn thiện, có đảm bảo tính nghiêm minh được mọi cá nhân trong tổ chức tuân thủ thì kỉ luật trong khu vực công mới được đảm bảo
Từ đó mọi hoạt động của các tổ chức công diễn ra một cách có hệ thống, theo chuẩn mực đã được đề ra, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng của các
Trang 26cơ quan, đơn vị đó Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, các bộ phận và các tổ chức khác nhau trong khu vực công cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng Các công việc, các nhiệm vụ sẽ được thực hiện một cách suôn
sẻ, đạt mục tiêu khi có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa mọi tổ chức, cơ quan ở mọi lĩnh vực trong cả một hệ thống rộng lớn của các tổ chức trong khu vực công
Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng công việc trong các tổ chức cần được tiến hành thường xuyên và nghiêm túc xử lý các trường hợp vi phạm trong quátrình làm việc, tăng tính nghiêm minh của tổ chức, đồng thời phải có chính sách khuyến khích, khen hưởng các cá nhân, tổ chức có năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có chính sách thu hút người tài vào làm việc Đây đang là vấn đề được quan tâm hiện nay Trên cơ sở đó, chất lượng của tổ chức
sẽ có cơ hội để nâng cao Ngược lại nếu không chăm lo công tác kiểm tra thì các hành vi vi phạm, gây lãng phí, thất thoát nguồn lực của khu vực công sẽ vẫn diễn ra, chất lượng của khu vực công giảm đi đáng kể Còn nếu biết thu hút người tài vào làm việc trong khu vực công thì hiệu quả hoạt động sẽ tăng lên nhiều lần
Tiếp nữa là về phương pháp quản lý Đó chính là cách thức mà một tổ chức cần tiến hành để đạt được mục tiêu sao cho hiệu quả Ngoài việc đề ra mục tiêu thì các tổ chức công cần đưa ra các phương pháp thích hợp để thực thi các mục tiêu đó Các phương pháp phải được thiết kế, chọn lựa sao cho thật khoa học và hợp lí vì điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc Không
có phương pháp đúng đắn sẽ đi chệch mục tiêu, không đạt được chất lượng, thậm chí còn gây nhiều tổn thất nghiêm trọng cho khu vực công do sử dụng saiphương pháp Chính vì vậy ,đây là một điều quan trọng mà ta cần chú ý giải quyết khi nói tới chất lượng của khu vực công
Bên cạnh đó mỗi tổ chức cần đưa một hệ thống đo lường chất lượng ,đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để đán giá mức độ chất lượng của cơ quan mình Trongquá trình đánh giá đó, nếu phát hiện có điểm nào yếu kém thì sẽ đưa ra hướng giải quyết ngay Hệ thống chỉ tiêu chuẩn đó phải được đảm bảo tính rõ ràng, đầy đủ, khách quan để có thể đo lường về chất lượng một cách chính xác nhất
d Yếu tố văn hóa tổ chức
Nền tảng văn hóa của tổ chức là yếu tố ảnh hưởng lớn đến đạo đức, tác phong làm việc của các thành viên trong tổ chức thuộc khu vực công Vấn đề đạo đức
và trách nhiệm của người quản lý và các thành viên trong tổ chức là nhân tố tinh thần, tác động
Văn hóa trong khu vực công là cách ứng xử, giao tiếp, cách phối hợp thực hiện
Trang 27công việc giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các nhân viên với công dân Phải làm sao để nhân viên trong tổ chức thấy rằng họ có cơ hội để làm việc tốt nhất Họ tin rằng ý tưởng của mình được tính đến, họ cảm thấy những đồng nghiệp của họ có cam kết với chất lượng Họ tạo ra một sự liên kết trực tiếp giữa công việc của mình với sứ mệnh của tổ chức Tạo được niềm tin giữacác thành viên trong tổ chức với nhau và giữa khách hàng với tổ chức đặc biệt
là coi trọng vấn đề đạo đức công vụ, nhấn mạnh nền hành chính phục vụ ND thì hiệu quả cũng như chất lượng của khu vực công cũng theo đó mà tăng lên
e Yếu tố thông tin
Thông tin về sản phẩm hàng hóa, thông tin về các văn bản hành chính, thông tin về các loại thủ tục ( các loại giấy tờ biểu mẫu, quy trình thực hiện, thời giangiải quyết, phí và lệ phí…) khi được công khai sẽ tạo điều kiện cho người dân thụ hưởng tốt hơn dịch vụ mà nhà nước cung cấp Trong mọi tổ chức thuộc khu vực công, sự công khai thông tin là điều quan trọng không thể thiếu
Câu hỏi ôn thi môn Hành Chính So Sánh - Chúc các bạn thi tốt
9 So sánh mô hình quản lý công mới (hành chính phát triển) với mô hình hành chính truyền thống
Trang 28Hành chính công là khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệu quả những công việc xã hội của các tổ chức hành chính Nhà nước.
Trong điều kiện kính tế - xã hội phát triển nhanh chóng như ngày nay, khi nền hành chính nhà nước có sự phát triển theo xu hướng tiến bộ tích cực (chuyển từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ): trong khoa học hành chính đã xuất hiện thuật ngữ “hành chính phát triển” Từ đó, thuật ngữ “hành chính truyền thống” cũng được quan tâm, nghiên cứu trong mối tương quan với “hành chính phát triển”
Hành chính truyền thống được hiểu là cách thức tổ chức và hoạt đôngj của các
cơ quan nhà nước thuộc các kiểu nhà nước trong lịch sử, cũng như các cơ quan,
tổ chức khác, trên cơ sở những nguyên tắc, quy tắc nhất định (bao gồm cả nguyên tắc chính trị - xã hội và nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật) do nhà nước hoặccác chủ thể đặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị”, phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biện pháp tối ưu mà ít quan tâm đến kết quả hoạt động của nhà nước, của các cơ quan, tổ chức hay của công chức nhà nước
Hành chính phát triển (Quản lý công mới) thường được sử dụng khi nói đến
“Mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”
Chuyển đổi từ Hành chính công truyền thống sang Quản lý công (Hành chính phát triển) là xu hướng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là những nước kinh tế thitrường phát triển Vì sao lại vậy ?
Thứ nhất: Về quy mô của Chính phủ, nhiều quốc gia cho rằng bộ máy của Chính phủ quá lớn, chi phí cho việc duy trì bộ máy đó ngày càng tăng trong khi
đó hiêu quả hoạt động của nó ngày càng giảm đi Do đó cần phải xem xét lại quy mô và vai trò của Chính phủ Theo quan điểm mới, vai trò của Chính phủ chuyển từ “chèo thuyền” sang “lái thuyền” Nhà nước không nên ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà nên dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý của Nhà nước
Thứ hai, chất lượng dịch vụ công chất lượng thấp, loại hình kém đa dạng, phongphú giá cả lại cao hơn khu vực tư Mặt khác, về bối cảnh và xu hướng thời đại tác động đến mô hình hành chính công truyền thống dẫn đến sự xuất hiện mô hình hành chính phát triển Đó là: Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công
Trang 29nghệ đòi hỏi sự đièu chỉnh kinh tế và phát triển nền hành chính; sự phát triển nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế điều chỉnh các mối quan hệ quốc
tế và do đó ảnh hưởng đến nền hành chính công của mỗi nước trong quá trình hội nhập Xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội do trình độ dân trí được nâng cao; tình thế chung buộc NN phải một mặt XH hoá, tư nhân hoá, chấp nhận sự tham gia của công chúng vào công việc quản lý nhà nước, đồng thời phải can thiệp ngày càng sâu vào các quá trình kinh tế- xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người dân - những
Đối với công chức
+ Hành chính công truyền thống: trách nhiệm của người công chức; nhà quản lý
là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ tục Những quy định, điều kiện để công chức thực thi công vụ theo một hệ thống thứ bậc rấtchặt chẽ, cứng nhắc theo quy định Thời gian làm việc của công chức được quy định chặt chẽ, có thời gian công (làm việc ở cơ quan) và thời gian tư (thời gian không làm việc ở cơ quan) Công chức mang tính trung lập, không tham gia chính trị, thực hiện một cách trung lập các chính sách do các nhà chính trị đề
ra
+ Hành chính phát triển: Trách nhiệm của người công chức, nhà quản lý chủ yếu là bảo đảm thực hiện mục đích, đạt kết quả tốt, hiệu quả cao Những quy định, điều kiện để công chức thực thi nhiệm vụ có hình thức linh hoạt, mềm dẻohơn Thời gian làm việc linh hoạt hơn, có thể họ làm việc trong một thời gian nhất định, có thể làm chính thức hoặc hợp đồng (có một phần thời gian làm công vụ tại nhà) Công chức cam kết về mặt chính trị cao hơn trong các hoạt động của mình, các hoạt động hành chính mang tính chính trị nhiều hơn
Đối với Chính phủ
Trang 30+ Hành chính công truyền thống: Mọi công vụ được Chính phủ thực thi, giải quyết theo pháp luật quy định Chức năng của Chính phủ nặng về hành chính xãhội, trực tiếp tham gia các công việc công ích xã hội Chức năng của Chính phủ thuần tuý mang tính hành chính không trực tiếp liên hệ đến thị trường
+ Hành chính phát triển: Các công vụ mang tính chính trị nhiều hơn, ảnh hưởng của chính trị ngày càng lớn trong hành chính Chức năng tham gia trực tiếp các dịch vụ công cộng ngày càng giảm bớt mà thông qua việc xã hội hoá các dịch
vụ đó để quản lý xã hội, nhưng vẫn có sự quản lý của Nhà nước Chức năng của
CP đối mặt với những thách thức của thi trường Nền hành chính phát triển của các nước đều phải quan tâm và gánh vác nghĩa vụ chung đối với những vấn đề của loài người như nghèo đói, dịch bệnh, môi truờng, ma tuý, tội phạm …
Các đặc tính của mô hình hành chính công mới:
- Hiệu quả hoạt động quản lý
- Phi quy chế hoá
- Phân quyền
- Áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường,
- Gắn bó với chính trị,
- Tư nhân hoá một phần hoạt đọng của Nhà nước,
- Vận dụng nhiều phương pháp quản lý doanh nghiệp,
- Xu hướng quốc tế hoá ;
Mô hình hành chính phát triển xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém khôngphù hợp của mô hình hành chính truyền thống
10 Phân tích đặc điểm của nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang Cho
Trong đó, hình thức chính thể và hình thức cấu trúc nhà nước phản ánh cách thức tổ chức quyền lực nhà nước còn chế độ chính trị phản ánh phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước
2 Khái niệm và phân loại
Trang 31a Khái niệm hình thức cấu trúc nhà nước
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chínhlãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau, giữa trung ương với địa phương
Hình thức cấu trúc nhà nước phản ánh việc tổ chức quyền lực nhà nước theo chiều dọc từ trung ương xuống địa phương
Đơn vị hành chính lãnh thổ là bộ phận hợp thành lãnh thổ của nhà nước, có địa giới hành chính riêng, có cơ quan nhà nước tương ứng được thành lập để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
Việc xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước của trung ương và địa phương là việc xác định thẩm quyền giữa chúng với nhau, các thẩm quyền này thể hiện sự tác động giữa các cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương và ngược lại
b Phân loại hình thức cấu trúc nhà nước
Có hai loại hình thức cấu trúc nhà nước là nước đơn nhất và nhà nước liên bang:
Cấu trúc nhà nước đơn nhất
- Là nhà nước mà lãnh thổ của nước đó được hình thành từ một lãnh thổ duy nhất, lãnh thổ này được chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc Nhà nước
có chủ quyền quốc gia chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý chung cho toàn lãnh thổ, công dân chỉ có một quốc tịch đồng thời có một hệ thống pháp luật chung cho toàn lãnh thổ
- Các NN đơn nhất tiêu biểu: Trung Quốc, VN, Triều Tiên, Hàn quốc, Nhật bản,Thái Lan, Pháp, Anh, Brunei Darussalam, Cu ba, Lào
Cấu trúc nhà nước liên bang
- Là nhà nước hợp thành từ hai hay nhiều nước thành viên Lãnh thổ của nhà nước liên bang bao gồm lãnh thổ của các nhà nước khác, những nhà nước này được gọi là các chủ thể liên bang Dấu hiệu tổ chức nhà nước của chủ thể liên bang của nhà nước liên bang thể hiện ở chỗ mỗi chủ thể có quyền thông qua hiến pháp của mình, tuy nhiên không phải chủ thể nào cũng có hiến pháp riêng
- Chế độ liên bang thường được thiết lập tại một quốc gia đa sắc tộc hoặc có lãnh thổ rộng lớn hoặc trong trường hợp cần thiết Các liên bang thường được thành lập trên cơ sở một một hiệp ước giữa các thành viên có chủ quyền
- Các NN liên bang tiêu biểu: CH Ấn Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, LB Xô Viết, Liên bang Malaixia, Liên bang Nam Tư, Mexico, Đức
Ví dụ: Thụy Sỹ theo chế độ cộng hòa với mô hình nhà nước liên bang Cấu trúc nhà nước liên bang được phân thành ba cấp như sau: chính quyền liên bang
Trang 32(confederation), chính quyền bang (canton) và chính quyền xã (commune) Mọi sửa đổi trong Hiến pháp của liên bang hay của các bang phải được thực hiện thông qua trưng cầu dân ý Thụy Sỹ không có Thủ tướng Chính phủ và Tổng thống là 1 trong 7 thành viên của Chính phủ được Quốc hội bầu luân phiên với nhiệm kỳ 1 năm.
11 Các hình thức quan hệ giữa trung ương và địa phương
Nếu vấn đề nhà nước là trung tâm của đấu tranh chính trị thì vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước là trung tâm của các vấn đề nhà nước Có hai vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước: tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo lãnh thổ Tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo lãnh thổ, tức là tìm lời giải cho câu hỏi làm thế nào để giải quyết mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, trong đó câu hỏi được đặt ra là “tập trung để trị”(1) hay “chia để trị”, và “tập trung” như thế nào, “chia” như thế nào Vấn đề này không đơn giản, đã và đang luôn làm đau đầu mọi nhà quân chủ cho đến các nhà chính trị thời đại dân chủ, cũng như mọi vấn đề liên quan đến tổ chức quyền lực nhà nước đều không đơn giản
Lời giải đáp bề ngoài cho câu hỏi này nhìn từ góc độ hình thức cấu trúc của nhà nước, là cách tổ chức thành nhà nước đơn nhất, liên bang, liên minh, hợp bang,
… tùy theo đặc điểm mỗi quốc gia Nhưng lời giải đáp bên trong phức tạp hơn Bởi cùng một hình thức cấu trúc của nhà nước như đơn nhất hay liên bang lại cóthể là các hình thức chính thể quân chủ hoặc cộng hòa với nhiều biến dạng cụ thể mà các biến dạng đó lại khác nhau xa về tính dân chủ
Nhà nước quân chủ không phải lúc nào cũng mất dân chủ như các nhà nước quân chủ lập hiến hiện đại như Anh, Thụy Điển, Nhật Bản… Bên cạnh đó, nhà nước cộng hòa không phải lúc nào cũng có dân chủ như các nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô (chỉ dân chủ với số ít chủ nô), các nước cộng hòa phát xít… Vì vậy, xét về tính dân chủ trong cách cai trị của các quốc gia thì yếu tố quan trọngnhất là chế độ chính trị hiểu với nghĩa là phương pháp cai trị dân chủ hay phản dân chủ Phương pháp cai trị này thể hiện rõ nhất trong quan điểm “tập trung để trị” hay “chia để trị” xét theo vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo lãnh thổ Nhưng ngay cùng một phương pháp cai trị dân chủ trong thời kỳ hiện đại thì mức độ dân chủ trong mỗi quốc gia cũng khác nhau, như hiện nay hầu hết các quốc gia đều đi theo con đường cai trị dân chủ, nhưng không thể nói mức độ dân chủ trong các quốc gia đều giống nhau Mặt khác, ngay trong mỗi quốc gia ở vào các giai đoạn khác nhau của cách cai trị dân chủ thì mức độ dân chủ của cách cai trị dân chủ chung đó cũng không giống nhau
Lời giải đáp cụ thể mang tính khoa học cho câu hỏi này là trong các nước ngoài,trước hết là các nước tư sản, khoa học luật hành chính đưa ra ba nguyên tắc chủ
Trang 33yếu làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương là: tập quyền, tản quyền và phân quyền Lý thuyết về các nguyên tắc đó bắt nguồn từ Pháp.
Hiện nay, thường thấy sự áp dụng kết hợp các nguyên tắc, và từng nguyên tắc cũng được thể hiện dưới những hình thức khác nhau ở mỗi nước Tính đa dạng
đó thể hiện đặc biệt trong chính sách phi tập trung hoá quản lý nhà nước theo lãnh thổ đã và đang diễn ra ở xấp xỉ hơn 80%trong số 116 nước đang phát triển Trong các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ, Trung quốc, Việt Nam) nguyên tắc tổ chức quản lý theo lãnh thổ cũng như nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước nói chung được gọi là nguyên tắc tập trung dân chủ, với
những hình thức thể hiện đa dạng, chủ yếu qua các nguyên tắc tổ chức - kỹ thuậtcủa quản lý nhà nước như trong sách báo vẫn gọi Sau đây chúng ta sẽ xem xét
cụ thể ba nguyên tắc đó
1 Khái niệm tập quyền
1.1 Ý nghĩa khái niệm
Theo tiếng Anh và tiếng Pháp, tập quyền là “centralization” Tập quyền là nguyên tắc tổ chức chính quyền nhà nước có nội dung là sự tập trung mọi quyềnlực vào tay các cơ quan trung ương Các cơ quan này nắm trong tay quyền quyết định mọi vấn đề từ trung ương đến địa phương Cơ quan trung ương điều khiển, kiểm soát mọi hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương, nên các cơ quan chính quyền địa phương không có quyền sáng tạo, chỉ tuân thủ, phục tùng mọi quyết định từ cấp trên đưa xuống Trong trường hợp áp dụng mộtcách triệt để nguyên tắc tập quyền, chỉ có chính quyền trung ương mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tư cách pháp nhân, nghĩa là chỉ cóchính quyền trung ương mới có ngân sách riêng, có năng lực pháp lý để kiện tụng
Việc áp dụng nguyên tắc tập quyền trong tổ chức quản lý nhà nước có những ưuđiểm và hạn chế chủ yếu sau:
Ưu điểm:
- Bộ máy hành chính trung ương tập trung mọi quyền lực trong tay, đại diện và bênh vực cho quyền lợi chung của quốc gia, không bị ảnh hưởng bởi quyền lợi địa phương, không có bè phái, không có mâu thuẫn giữa trung ương và địa phương;
- Phối hợp được hoạt động của các địa phương ở tầm chiến lược, dung hoà quyền lợi trái ngược giữa các địa phương với nhau;
- Pháp luật và do đó quản lý nhà nước được thực hiện thống nhất trên toàn quốc;
- Có đầy đủ phương tiện hoạt động hơn các địa phương về mặt tài chính, kỹ
Trang 34thuật và nhân lực;
- Thích hợp để bảo vệ quyền lợi tối cao của tổ quốc và tránh được các xung đột quyền lợi giữa các địa phương trong những tình huống đặc biệt (chiến tranh, khủng hoảng )
Hạn chế:
- Do xa địa phương, nên các cơ quan trung ương không lưu ý đến và ít hiểu biết đặc điểm của mỗi địa phương, không nắm bắt kịp thời tinh hình, tâm tư nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân địa phương, vì thế một số chính sách của trung ương ban hành hoặc không khả thi ở địa phương hoặc không được dân địa phương ủng hộ;
- Do phải quản lý nhiều công việc nên bộ máy hành chính trung ương cồng kềnh, nhiều tầng, nấc và bận rộn, quá tải Các cơ quan hành chính trung ương không thể theo dõi và giải quyết kịp thời mọi vấn đề của địa phương, làm thiệt hại đến quyền lợi của địa phương và do đó cả quyền lợi của trung ương;
- Không dân chủ, ít tạo điều kiện để phát huy tính tự quản và sáng tạo của địa phương trong việc phát huy thế mạnh của từng địa phương, nhân dân địa
phương không được hoặc rất ít được tham gia vào công việc quốc gia
Tập quyền là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo lãnh thổ của mọi quốc gia từ thưở khai thiên lập địa khi mới xuất hiện những nhà nước đầu tiên trên trái đất cho đến hết thời kỳ thống trị của các nhà nước phong kiến, mặc dù có cả những hình thức nhà nước xem ra có vẻ dân chủ, như cộng hòa dân chủ chủ nô (nhưng đây chỉ là dân chủ đối với tầng lớp chủ nô và chỉ là hình thức chính thể, tức là hình thức quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và phương thức hình thành chúng) Nhà nước tư sản trước khi chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh (những năm 70-80 của thế kỷ 20) cũng vẫn là chế độ tập quyền Nhìn chung, trong những năm sau chiến tranh thếgiới lần thứ hai, loại tổ chức này vẫn còn tồn tại ở khắp các nước Tây Âu Các nước XHCN cũng duy trì chế độ tập quyền, nhưng là chế độ tập quyền XHCN Các nước đang phát triển hiện nay cũng có những nơi, những lúc tồn tại chính quyền địa phương theo kiểu này Nhưng cần lưu ý rằng, chế độ tập quyền có nhiều hình thức
Chế độ tập quyền tuyệt đối tồn tại trong các nhà nước quân chủ chuyên chế, cộng hòa phát xít (chế độ độc tài của) hay chế độ quân quản Chế độ tập quyền
có phân chia trách nhiệm thông qua phân công, phân cấp, ủy quyền phổ biến hơn và đến nay vẫn còn tồn tại, đặc trưng là chế độ tản quyền - là một hình thứccủa tập quyền Mặt khác, ngay trong các chế độ tập quyền cổ xưa, kể cả trong các nhà nước có chế độ quân chủ chuyên chế (dạng phổ biến của tập quyền tuyệt đối) vẫn tồn tại các hình thức tự trị như chế độ tự trị của các giáo phận ở Tây Âu, chế độ tự trị của công xã nông thôn, làng xã ở phương Đông, trong đó
có Việt Nam và tồn tại đến thời cận đại
Trang 351.2 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc tập quyền
Về nguyên tắc chung, chính quyền địa phương theo mô hình nguyên tắc tập quyền hoàn toàn do cơ quan nhà nước trung ương tối cao thành lập và chỉ đạo mọi hoạt động, nhưng theo những cách khác nhau: trực tiếp hoặc gián tiếp Đây
là mô hình cổ xưa nhất vì nó xuất hiện đầu tiên trong lịch sử và phổ biến nhất trong lịch sử cổ trung đại và vẫn còn tồn tại đến ngày nay trong nhiều nước, kể
cả các nước XHCN (chế độ tập quyền XHCN)
1.2.1 Tập quyền tuyệt đối
Đây có thể gọi là hình thức cơ quan nhà nước trung ương tối cao trực tiếp bổ nhiệm và chỉ đạo mọi hoạt động ở địa phương, nguyên thủ quốc gia (hoàng đế, tổng thống) hoặc thủ tướng chính phủ bổ nhiệm/bãi nhiệm tất cả các chức vụ cao cấp (trưởng, cấp phó và các chức vụ cao cấp khác) của các cơ quan đầu não
ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương (thường đến cấp huyện và tương đương, cấp xã, công xã và tương đương thường thực hiện chế độ tự quản) Mọi hoạt động của chính quyền địa phương đều theo mệnh lệnh từ một trung tâm duy nhất ở trung ương Đây là mô hình tập quyền tuyệt đối
Đây là mô hình chính quyền của hầu hết các quốc gia thời cố đại (chủ nô và phong kiến giai đoạn nhà nước trung ương tập quyền) Thời cận đại mô hình này hay gặp vào giai đoạn đất nước có chiến tranh Hiện nay mô hình này vẫn tồn tại ở nhiều nước như: Cô-oét (có đặc thù là quyền lập pháp được phân chia giữa Tiểu vương và Quốc hội), A-rập Xê-út, Brunây
Dạng đặc biệt của mô hình này là “chính quyền quân quản”, đã tồn tại khá phố biến ở nhiều nước khác nhau Xét từ góc độ lịch sử thì những nhà nước “dân chủ quân sự” - loại hình nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người vốn là
“chính quyền quân quản”: đứng đầu nhà nước vốn là các tù trưởng chỉ huy quânđội Toàn bộ hệ thống chính quyền từ trung ương tới địa phương đều là tướng lĩnh Cách tổ chức này giữ mãi đến sau này, như ở các triều đại phong kiến, trong đó có Việt Nam, tuy sau này các chức vụ “quan võ” có kết hợp với các chức vụ “quan văn” Trong lịch sử cận hiện đại, “chính quyền quân quản” thường tồn tại trong buổi giao thời ở những nước mới giải phóng chờ thành lập chính quyền mới Trong những năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, loại tổ chức này tồn tại ở khắp các nước châu Âu, hay ở Miền Nam nước ta vào thời gian sau 30-4-1975 Các nước đang phát triển hiện nay, như ở châu Phi, cũng cónhững lúc tồn tại chính quyền địa phương theo kiểu “quân quản” Ở Myanma
nó đã tồn tại suốt thời gian dài đến tận những năm gần đây Ở Thái Lan, đất nước “sôi động với những cuộc đảo chính quân sự” chính quyền quân quản vẫn
đã tồn tại nay sau cuộc đảo chính, trước khi Chính phủ mới được thành lập