Nếu như ở chính thể đại nghị kể cả cộng hoà đại nghị và quân chủ đại nghị có sự hiện diện của một thiết chế chính phủ bao gồm Thủ tướng nhân vật số một và các thành viên hợp thành, với m
Trang 1MÔ HÌNH HÀNH CHÍNH CỦA HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Lê Hương
I Tổng quan về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
1 Giới thiệu chung:
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia theo chế độ cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong tây bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và Mexico ở phía nam Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribbe và Thái Bình Dương
Với 9,83 triệu km² và 305 triệu dân, Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ ba về tổng diện tích và hạng ba về dân số trên thế giới Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới, với tổng sản phẩm nội địa (GDP) được ước tính cho năm 2008
là trên 14,3 ngàn tỉ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh định, và gần 21% sức mua tương đương)
Quốc gia được thành lập ban đầu với mười ba thuộc địa của Vương quốc Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương Sau khi tự tuyên bố trở thành các
"tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử
Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787 Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó
đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất Đạo
Trang 2luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791 Trong thế kỷ 19, Hoa Kỳ đã mua hoặc đã chiếm được thêm lãnh thổ
từ Pháp, Đế quốc Tây Ban Nha, Mexico, và Đế quốc Nga, sáp nhập Cộng hòa Texas và Cộng hòa Hawaii Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ
và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ và Đệ nhất Thế chiến đã xác định vị thế siêu cường quân sự của Hoa Kỳ Năm 1945, Hoa
Kỳ trở thành quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân sau Đệ nhị Thế chiến và là một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Là siêu cường duy nhất còn lại sau thời Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hoá, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới
2 Đảng phái chính trị:
Theo cách xác định của người Mỹ, đảng phái chính trị là các tổ chức tự nguyện được thành lập với mục tiêu giành lấy sự quản lý nhà nước thông qua phổ thông đầu phiếu nhằm thực hiện những chính sách mà họ cho là có hiệu quả trong việc đem lại sự thịnh vượng cho nhân dân, phát triển cộng đồng một cách lâu dài, an ninh và bền vững Tất cả các mục tiêu, phương pháp thực hiện được thể hiện trong cương lĩnh Các thành viên trong một đảng phải nhất quán với mục tiêu chung mà đảng họ đề ra Sau mỗi đợt bầu cử, đảng thắng cử lên cầm quyền điều hành đất nước, đảngkhông thắng cử có thể chiếm thiểu số trong Quốc hội, không nắm quyền hành pháp nhưng là chủ thể quan sát cách làm của đảng cầm quyền Đảng này chỉ trích, phê phán khi đảng cầm quyền làm sai hoặc không thực hiện những gì đã hứa với cử tri lúc tranh cử, điều này khiến nhân dân có thể ý thức được họ đã bỏ phiếu đúng hay sai cho đảng đang nắm quyền
và ảnh hưởng đến lần bỏ phiếu sau, mặt khác nó buộc đảng cầm quyền phải xem lại chính sách của mình, điều chỉnh để thoả mãn nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ sự tín nhiệm đối với đảng của mình
Có nhiều đảng phái chính trị trong xã hội Hoa Kỳ Tuy nhiên, chỉ có hai đảng lớn chiếm đóng vai trò chủ chốt xuyên suốt chiều dài lịch sử, đó là Ðảng Dân chủ (Democratic Party) và Ðảng Cộng hòa (Republican Party) Giữa Ðảng
Trang 3Cộng hòa và Ðảng dân chủ có rất ít khác biệt về ý thức hệ, cả hai Ðảng đều bảo
vệ chế độ tư bản tự do kinh doanh, một chế độ mà hầu hết người Mỹ chấp nhận
và xem như là nền tảng của xã hội Mỹ Không giống những người Cộng hòa, những người Dân chủ có khuynh hướng ủng hộ sự can thiệp của Chính phủ nhưng cả hai Ðảng đều có cánh tự do và cánh bảo thủ Mỗi Ðảng luôn thay đổi cương lĩnh của mình để cố nắm bắt kịp tình hình quốc gia, nắm bắt mối quan tâm chung
Các đảng phái chính trị Hoa Kỳ được tổ chức rất lỏng lẻo Ðảng Cộng hòa
và Ðảng dân chủ không có một tổ chức ở cấp quốc gia để quản lý hội viên và các hoạt động của hội viên nhưng ở cấp bang thì tổ chức kiểu này có thể tồn tại, tùy từng khu vực Do vậy, một người dân bất kỳ có thể gọi mình là thành viên Đảng Dân chủ hay Đảng Xã hội bất cứ lúc nào họ muốn, và họ cũng không chịu
sự ràng buộc với đảng phái mà họ đang ủng hộ Tư cách đảng viên chỉ được củng cố khi một thành viên quyết định dành một vị trí trong tổ chức của đảng Ở phần lớn các bang, điều này có nghĩa là thành viên đó ghi danh ứng cử vào một
vị trí trong tổ chức của đảng và tham gia cuộc bầu chọn nội bộ đảng để giành vị trí đó
Ở cấp Liên bang, mỗi đảng có một ủy ban quốc gia (Democratic National Committee và Republican National Committee) chịu trách nhiệm về các chiến dịch vận động và kêu gọi xây dựng quỹ ủng hộ Các ủy ban này thường bao gồm đại diện từ các bang, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đặc biệt tới đảng Ủy ban quốc gia không có quyền chỉ thị cho các thành viên của đảng, do vậy người đứng đầu ủy ban (chairman) không phải là người đứng đầu của đảng (party leader) Thường thì người đứng đầu của một đảng là người trong đảng đó có vị trí cao nhất trong chính phủ, chẳng hạn Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện hoặc
Hạ viện
3 Bầu cử.
Quốc hội, các ngành lập pháp của bang, các thống đốc của bang, các cơ quan lập pháp của thành phố và các viên chức đều bầu theo lối phổ thông đầu
Trang 4phiếu Về bầu cử Tổng thống, các công dân bầu cho các đại cử tri trong cử tri đoàn, rồi cử tri đoàn này nhóm đại hội và bầu Tổng thống Mỗi bang bầu một số đại cử tri ngang số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của Quốc hội Nhưng các Thượng nghị sĩ hay Hạ nghĩ sĩ nào đang tại chức thì không được bầu làm đại cử tri Kế đến, các đại cử tri thuộc mỗi chính đảng họp đại hội toàn quốc Mỗi phe chỉ định ứng cử viên của mình Cuối cùng, sau khi các ứng cử viên Tổng thống
đã đi khắp đất nước trong nhiều tuần lễ để vận động giành số cử tri, cuộc tuyển
cử diễn ra vào thứ ba tuần đầu tháng 11 Nhưng chỉ có các đại cử tri bỏ phiếu mà thôi Người được nhiều phiếu nhất sẽ trở thành Tổng thống
Mỗi công dân Hoa Kỳ, nếu không mất quyền công dân, đều có thể đi bầu bằng phiếu kín trong các cuộc bầu cử quốc gia, bang hay địa phương Khi đã kiểm phiếu rồi, ứng cử viên có đa số phiếu thì được tuyên bố là người thắng cử
và đồng thời nhận chức
4 Chính th ể:
Những lý do sinh ra chế độ chính trị Mỹ có ảnh hưởng sâu sắc và chi phối rất lớn đến việc tổ chức ra các thiết chế chính trị của nhà nước Mỹ, đồng thời chúng cũng biến thành những đặc điểm của mô hình tổ chức quyền lực nhà nước
Mỹ, một điển hình của chính thể cộng hoà tổng thống
Hình thức chính thể cộng hoà tổng thống là hình thức tổ chức nhà nước
mà ở đó Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra Hành pháp của chính thể này được gọi là hành pháp một đầu Nếu như ở chính thể đại nghị có câu thành ngữ: “Nhà Vua trị vì, nhưng không cai trị”, thì ở chính thể cộng hoà tổng thống, tổng thống không những trị vì mà còn cả cai trị
Nếu như ở chính thể đại nghị (kể cả cộng hoà đại nghị và quân chủ đại nghị) có sự hiện diện của một thiết chế chính phủ bao gồm Thủ tướng (nhân vật
số một) và các thành viên hợp thành, với một vị trí cực kỳ quan trọng, tạo nên chế định có ý nghĩa sống còn của chế độ này thì ở mô hình cộng hoà tổng thống lại không có Thủ tướng
Trang 5Theo Hiến pháp Mỹ, quyền hành pháp chỉ được giao cho một người - đó
là Tổng thống (“Quyền hành pháp sẽ được giao cho Tổng thống Hoa Kỳ”, Điều 2) Vì hai chức danh nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu hành pháp tập trung vào một người - Tổng thống, cho nên Tổng thống có toàn quyền trong việc quyết định nhân sự chính phủ, trừ quyền phê chuẩn của Thượng viện
Về nguyên tắc, các bộ trưởng không hợp thành một cơ quan bàn bạc chịu trách nhiệm tập thể trước nghị viện, mà chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống Đây là điểm khác biệt căn bản so với chính thể đại nghị (chính phủ được thành lập trên cơ sở nghị viện và phải chịu trách nhiệm trước nghị viện, gây nên sự lật
đổ và giải tán lẫn nhau) Trong chính thể cộng hoà tổng thống, các bộ trưởng chỉ
là những người giúp việc cho Tổng thống, thực hiện những chính sách của Tổng thống, không được mâu thuẫn với đường lối, chính sách của Tổng thống
Tổ chức quyền lực của nhà nước áp dụng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước một cách tuyệt đối, hay còn gọi là phân quyền một cách cứng rắn Sở
dĩ có hiện tượng này là do mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong chính thể cộng hoà tổng thống được phân định một cách rõ ràng hơn so với chính thể đại nghị Vì vậy, ở đây lập pháp không được quyền đứng ra thành lập hành pháp
và hành pháp không phải chịu trách nhiệm trước lập pháp Do đó, nghị viện cũng không được quyền lật đổ chính phủ và chính phủ cũng không có quyền giải tán nghị viện Lập pháp là lập pháp và hành pháp là hành pháp Chúng là hai thiết chế hoàn toàn độc lập, cùng do dân bầu ra và cùng chịu trách nhiệm trước dân
Việc phân chia quyền lực không chỉ dừng ở mặt phân chia chức năng, mà còn đi đến chỗ phân định về mặt nhân sự Người được Tống thống bổ nhiệm vào chức danh trong bộ máy hành pháp phải là nghị sỹ, hoặc ngược lại, muốn làm nghị sỹ thì phải thôi làm bộ trưởng Điểm này khác với chế độ đại nghị: chỉ bổ nhiệm bộ trưởng trong số các thành viên của nghị viện Một trong những nguyên tắc hiến định của chính thể cộng hoà tổng thống là: các thành viên hành pháp và Tổng thống không có quyền trình dự án luật trước Nghị viện Điểm này cũng rất
Trang 6khác so với chế độ đại nghị (các dự án luật của Nghị viện về nguyên tắc chỉ được xuất phát từ Chính phủ - hành pháp)
Chính việc áp dụng nguyên tắc phân quyền chặt chẽ này là cơ sở cho việc
không chịu trách nhiệm lẫn nhau giữa lập pháp và hành pháp Thay vào đó là cơ
chế kìm chế và đối trọng Lập pháp và hành pháp kìm chế và đối trọng lẫn nhau
để không cơ quan nào có thể tiếm quyền Nghị viện không có quyền lật đổ Chính phủ và ngược lại, Tổng thống - nguyên thủ quốc gia - cũng không có quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn Bầu cử
II Tổ chức bộ máy nhà nước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
1 Cơ quan lập pháp:
Cơ quan lập pháp có quyền ban hành pháp luật: Hiến pháp và các bộ luật
Cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ là Quốc hội
Quốc hội có quyền thông qua chính sách công của chính quyền, mọi khoản chi phí của Chính phủ đều phảI thông qua sự phê chuẩn của Quốc hội Quốc hội có quyền buộc tội bất kỳ viên chức nào của chính quyền và toàn án,
kể cả tổng thống, đồng thời có quyền ra lệnh cho cơ quan tư pháp hoặc uỷ ban tư pháp Quốc hội tiến hành điều tra khi có dấu hiệu sai luật của bất cứ cá nhân hoặc cơ quan nào
Quốc hội được chia thành hai cơ quan riêng biệt:
2.1.1 Thượng nghị viện:
Thượng nghị viện gồm có 100 thượng nghị sĩ (mỗi bang hai nghị sĩ) Các vị thượng nghị sĩ do dân chúng trong bang bầu lên để đại diện cho bang đó trong một nhiệm kỳ 6 năm Một thượng nghị sĩ phải trên 30 tuổi tính đến ngày tuyển cử và phải là công dân Hoa Kỳ được 9 năm
Phó Tổng thống Mỹ là chủ tịch Thượng viện về mặt pháp lý nhưng không phải là thành viên chính thức và không được phép bỏ phiếu biểu quyết Ông ta chỉ được yêu cầu bỏ phiếu trong trường hợp tỷ số biểu quyết cân bằng giữa bên phản đối và bên tán thành Do đó, bên cạnh vị chủ tịch này Thượng viện bầu ra một chủ tịch lâm thời với nhiệm kỳ 2 năm Vị chủ tịch này mới là người có ý
Trang 7kiến quan trọng trong việc biểu quyết thành lập và bổ nhiệm nhân sự các tiểu ban và Uỷ ban của Thượng viện.
Thượng viện có khoảng 20 Uỷ ban chính như uỷ ban pháp luật, uỷ ban các vấn đề chính phủ, uỷ ban ngân sách, uỷ ban tài chính, uỷ ban nông lâm nghiệp và dinh dưỡng, uỷ ban dịch vụ quân sự, uỷ ban ngân hàng đô thị và nhà
ở, uỷ ban đối ngoại, uỷ ban tư pháp, uỷ ban chọn lọc thông tin tình báo Mỗi thượng nghị sĩ phục vụ trong nhiếu uỷ ban khác nhau Mỗi Uỷ ban từ 17 đến 22 người, thành viên của các Uỷ ban được bầu bằng cách bỏ phiếu lấy đa số Danh sách phân công được thống nhất trong mỗi đảng trước sau đó được đọc ở cuộc họp toàn viện để thông qua lần cuối
Các hoạt động chính của Thượng viện bao gồm:
- Đề xuất Luật hoặc tu chính luật ra nghị sự: Các thượng nghị sĩ theo dõi quá trình hành pháp cùng với các chuyên gia giúp việc nghiên cứu các vấn đề xã hội phát sinh và cách thức hoàn thiện chúng, đề xuất để biểu quyết thành dự thảo Luật Việc đề xuất, hoàn thiện một vấn đề cũng có thể xuất phát từ phản ánh, chất vấn của cử tri hoặc từ quan điểm khoa học của các chuyên gia Nừu được chấp nhận, quá trình nghiên cứu dự thảo được bắt đầu từ cấp tiểu ban
- Nghiên cứu và biểu quyết Luật, dự luật, dự thảo: Công việc nghiên cứu
để cho ý kiến về một dự luật đã được hạ viện thông qua hoặc uỷ ban khác đề xuất được thực hiện giống như một đề xuất Luật hoàn toàn mới của Thượng nghị sĩ Bao gồm các công việc: các tiểu ban nhận hồ sơ nghiên cứu từ đầu; các tiểu ban cho ý kiến hoặc trình dự thảo; uỷ ban họp, thảo luận để quyết định bãi
bỏ, sửa đổi hoặc chấp thuận đề nghị đưa ra nghị trường biểu quyết; với những
dự luật đã được Thượng viện thông qua những hạ viện hoặc Tổng thống bác bỏ thì nghiên cứu lại các bước trên để có ý kiến cuối cùng
- Thông qua bổ nhiệm: Theo Hiến pháp, Thượng viện có trách nhiệm thông qua các bổ nhiệm cán bộ cao cấp của nhà nước của Tổng thống
Trang 8- Thông qua các hiệp ước: các hiệp ước, thoả thuận với nước ngoài đã được Tổng thống ký phải được sự ưng thuận của Thượng viện với ít nhất 2/3 phiếu mới có hiệu lực.
- Giám sát thương xuyên các hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp: có ý kiến đề nghị ra nghị trường để đưa vào lịch làm việc những vấn đề có khả năng phạm luật
2.1.2 Hạ nghị viện
Hạ nghị viện có tổng số 435 nghị sĩ do dân chúng bầu lên với nhiệm kỳ 2 năm Số nghị sĩ đại diện cho mỗi bang được ấn định theo dân số của bang Một nghị sĩ phải ít nhất 25 tuổi khi được tuyển cử và phải là công dân Mỹ được 7 năm Công việc chính của hạ viện là làm luật Mọi hoạt động của Hạ viện là hệ thống tác nghiệp có tổ chức nhằm tu chính hoặc đưa ra luật mới mà Thượng viện chuyển giao
Chủ tịch hạ viện được bầu từ 435 hạ nghị sĩ, là nhân vật có uy tín và quyền lực nhất hạ viện, ý kiến của ông ta có tính quyết định trong biểu quyết các
dự luật Chủ tịch hạ viện là người sắp xếp chương trình nghị sự cho các Uỷ ban trong viện, tuyển nhân sự và trợ lý, chỉ định chủ tịch các tiểu ban của Uỷ ban và giao việc cho họ Trong Hạ nghị viện, văn phòng phát ngôn viên là đơn vị quan trọng nhất, trên thực tế phát ngôn viên gần như là người chủ trì hầu hết các cuộc họp trong nhiệm kỳ
Các trách nhiệm chính của Hạ viện như làm luật, thông qua dự luật của Thượng viện, thông qua chính sách của Chính phủ được thực hiện bởi các Uỷ ban Thành viên của các Uỷ ban được bầu bằng cách bỏ phiếu lấy đa số trong hạ viện Hoạt động của các Uỷ ban chủ yếu là điều tra, khảo sát, nghiên cứu và đề xuất hay bác bỏ một dự thảo luật được thực hiện bởi các Tiểu ban rồi đưa lên cấp cao hơn Số lượng tiểu ban dưới các uỷ ban không có quy định cụ thể mà tuỳ thuộc vào nhu cầu, tính chất phức tạp của một hiện tượng xã hội hay nhà nước vừa phát sinh Vì vậy, mỗi tiểu ban phụ trách từng mảng việc và sự tồn tại của tiểu ban có thể kết thúc khi tu chính luật nó thực hiện đã được thống nhất và ban hành hoặc bãi bỏ Thành viên của tiểu ban được tuyển theo hợp đồng, không
Trang 9phải là nhà chính trị mà chủ yếu là các nhà khoa học của các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học của các công ty lớn.
Ngoài các Uỷ ban riêng, giữa Hạ viện và Thượng viện có một số Uỷ ban phối hợp để xử lý các công việc chung như Uỷ ban liên kết thực hiện các công việc chung của Quốc hội; Uỷ ban đặc biệt được thành lập khi có những công việc quan trọng cần sự phối hợp của cả hai viện thực hiện cho hợp hiến; Uỷ ban hội thảo nhằm chuẩn bị trước những việc cần thoả thuận giữa hai bên về một vấn đề bất kỳ và thực hiện các thoả thuận trước khi nó được đưa ra thảo luận công khai trước tập thể hai viện
Hai viện có quyền ngang nhau trong công việc lập pháp Viện nào cũng
có thể đưa ra sáng kiến lập pháp, ngoại trừ luật tăng thuế lợi tức thì phải do Hạ nghị viện đưa ra Tuy nhiên, chỉ có Thượng nghị viện mới có thể phê chuẩn hay bác bỏ những hiệp ước với các quốc gia khác do Tổng thống đề nghị, hay bác bỏ các cuộc bổ nhiệm của Tổng thống như bổ nhiệm chánh án Toà án nhân dân tối cao, các tướng lĩnh, các thành viên trong nội các (các Bộ trưởng) các đại sứ và các giám đốc các cơ quan chính quyền
Tuy theo nguyên tắc phân lập các quyền dứt khoát theo chế độ tổng thống nhưng Nghị viện mỹ cũng có quyền kiểm soát rộng đối với Chính phủ Tổng thống bổ nhiệm các công chức cao cấp phải hỏi ý kiến của Thượng viện và có thể bị từ chối Trước khi những dự án luật thành pháp luật, dự án luật đó phải được cả hai nghị viện chấp thuận và được Tổng thống ký Nếu Tổng thống bác
bỏ thì ông có thể dùng quyền phủ quyết, nhưng nếu luật đó lại một lần nữa được
cả hai nghị viện thông qua với 2/3 số phiếu thì dự luật đó trở thành luật pháp mà không cần chữ ký của Tổng thống Tổng thống không có quyền kiểm soát Quốc hội, dẫu rằng đảng của ông chiếm đa số trong cả hai nghị viện Người có quyền lãnh đạo chính trị lớn nhất trong Hạ nghị viện là chủ tịch Hạ nghị viện và lãnh tụ khối đa số Hai người đó có quyền hơn là phe đối lập trong thượng nghị viện
2 Cơ quan hành pháp:
Trang 10Cơ quan hành phỏp cú vai trũ to lớn, trong đời sống chớnh trị của Mỹ Theo Hiến phỏp và cỏc quy định phỏp luật khỏc, ngành hành phỏp cú những vai trũ chủ yếu sau:
Một là, quyền hành phỏp sẽ giao cho Tổng thổng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Như vậy Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành phỏp, thực thi trờn thực tế cỏc đạo luật, chớnh sỏch đó được Quốc hội thụng qua
Hai là, theo nguyờn tắc phõn quyền, ngành hành phỏp vừa nằm trong sự kiềm chế của ngành lập phỏp, ngành tư phỏp; ngược lại, ngành hành phỏp cũng
cú nhiềm vụ kiềm chế hoạt động của cỏc thiết chế chớnh trị đú nhằm mục đớch ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực quyền lực
Ba là, ngành hành phỏp Mỹ cú nhiệm vụ tham gi vào quỏ trỡnh hoạch định chớnh sỏch
(Trỡnh bày cụ thể ở phần sau)
3 Cơ quan tư phỏp:
Cơ quan tư phỏp cú nhiệm vụ bảo vệ quyền tự do và tài sản của người dõn Hoa Kỳ theo Hiến phỏp Ngành tư phỏp của chớnh phủ Hoa Kỳ bao gồm một hệ thống Tũa ỏn Liờn bang, cú cấu trỳc theo quyết định của Quốc hội Quốc hội cú quyền thành lập và bói bỏ cỏc toà ỏn liờn bang, cũng như quyền quy định số lượng thẩm phỏn trong hệ thống xột
xử liờn bang Tuy nhiờn, Quốc hội khụng được phộp bói bỏ Toà ỏn Tối cao
3.1 Tũa ỏn Tối cao.
Toà ỏn Tối cao là toà ỏn cấp cao nhất của Hợp chỳng quốc Hoa Kỳ và là toà ỏn duy nhất do Hiến phỏp đặc biệt lập ra Quyết định của Toà ỏn Tối cao thỡ khụng thể được chuyển lờn phỳc thẩm ở bất kỳ toà ỏn nào khỏc Quốc hội cú quyền ấn định số thẩm phỏn trong Toà ỏn Tối cao, quyết định loại vụ việc nào Toà ỏn Tối cao cú thể xột xử, song Quốc hội khụng thể thay đổi cỏc quyền mà chớnh Hiến phỏp đó trao cho Toà ỏn Tối cao
Tũa ỏn Tối cao bao gồm 1 chỏnh ỏn và 8 thẩm phỏn, được chỉ định bởi Tổng thống và phải được sự chấp nhận của Thượng viện Khi đó được Thượng viện chấp nhận, sự độc lập của các thẩm phán Toà án tối cao là hoàn toàn và không thể bãi miễn, họ được quyền giữ vị trớ suốt đời (để trỏnh thiờn vị khi xử lý những người cú quyền cỏch chức mỡnh) Nếu cú hành vi trỏi phỏp luật, họ cũng sẽ bị xử như dõn thường
Trang 11Tòa án Tối cao có quyền phán quyết hủy bỏ một bộ luật, cho dù bộ luật này được Quốc hội thông qua và Tổng thống chấp nhận Tòa án Tối cao cũng được phép bác bỏ những quyết định khẩn cấp của Tổng thống, đây là biện pháp kiểm tra và cân bằng đối với quyền lực của Tổng thống Tòa án Tối cao cũng có quyền chỉ thị Quốc hội và Tổng thống phải cung cấp thông tin khi cần.
Ngoài quyền xét xử, Toà án tối cao còn có chức năng quản lý hành chính
và kiểm soát toàn bộ bộ máy tư pháp liên bang Điều này khác với một số nước như ở Pháp quyền quản lý các Toà án là thuộc Bộ tư pháp tức là thuộc quyền hành pháp
3.2 Các tòa án Liên bang khác.
Dưới Tòa án Tối cao có 13 toà phúc thẩm, 94 toà các quận và 2 toà xét xử đặc biệt Các tòa án này có nhiệm vụ chia sẻ gánh nặng công việc cho Tòa án Tối cao Các vụ kiện tụng và tranh chấp liên quan đến các sai phạm ở mức độ liên bang như lạm dụng thư từ, trộm cắp tài sản liên bang, vi phạm các luật về vệ sinh thực phẩm, hoạt động ngân hang và các hành vi làm tiền giả… sẽ được xét
xử ở tòa án quận Nếu có yêu cầu phúc thẩm, tòa phúc thẩm sẽ đứng ra xem xét các phán quyết của tòa án quận trong khuôn khổ khu vực mình quản lý
Ngoài ra, các toà phúc thẩm cũng có quyền xem xét lại các quyết định của các cơ quan quản lý độc lập, trong những trường hợp các cơ chế rà soát nội bộ của các cơ quan này đã được sử dụng hết mà vẫn còn sự bất đồng đáng kể trên quan điểm pháp lý Toà phúc thẩm liên bang còn có quyền tài phán trong cả nước - xét xử phúc thẩm những vụ đặc biệt, như những vụ liên quan đến luật cấp bằng sáng chế và những vụ đã được quyết định bởi những toà có quyền tài phán đặc biệt, bởi Toà Thương mại quốc tế và Toà án về Các yêu sách liên bang
Tòa Thương mại Quốc tế và Tòa án về Các yêu sách liên bang là hai tòa xét xử đặc biệt, được thành lập theo yêu cầu của Quốc hội Toà Thương mại Quốc tế sẽ xử những vụ liên quan đến thương mại và thuế quan quốc tế Toà án
về Các yêu sách liên bang có quyền tài phán đối với hầu hết các yêu sách về thiệt hại tiền bạc đối với Hợp chñng quốc Hoa Kỳ, những tranh chấp về các hợp đồng liên bang, những việc chính quyền liên bang "chiếm giữ" tài sản riêng một
Trang 12cách không hợp pháp, và nhiều loại yêu sách khác đối với Hợp chñng quốc Hoa Kỳ.
Sự phân lập quyền lực nói trên bảo đảm tính độc lập của các cơ quan trong đó Tổng thống nắm quyền hành pháp, Nghị viện nắm quyền lập pháp, Toà
án tối cao nắm quyền tư pháp Kèm theo đó có hệ thống kìm hãm và đối trọng lẫn nhau Tổng thống không có quyền sáng kiến lập pháp nhưng lại có quyền phủ quyết trong kỳ họp các đạo luật do Nghị viện biểu quyết Trong kỳ họp đạo luật được trả lại cho Nghị viện và quyền đó bị bác bỏ nếu Nghị viện biểu quyết lại với đa số 2/3 Trường hợp sau kỳ họp, Tổng thống có quyền phủ quyết mà không cần trả lại đạo luật cho Nghị viện(gọi là phủ quyết bỏ túi) Nghị viện muốn quyết định lại thì phải chờ kỳ họp sau và phải bắt đầu lại quy trình lập pháp Quyền sáng kiến lập pháp hoàn toàn thuộc các Nghị sỹ Theo Hiến pháp Tổng thống không có quyền đó nhưng trong thực tế ngày nay thì Tổng thống cũng là động lực thực sự củă quy trình lập pháp ở Mỹ Toà án tối cao có quyền kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật, do đó nó cũng tham dự vào quyền lập pháp
III Tổ chức hành chính của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
1 Tổng thống:
Người đứng đầu hệ thống hành pháp là Tổng thống Hiến pháp giao cho Tổng thống quyền tổ chức, bổ nhiệm, phân công, cách chức tất cả các nhân viên trong bộ máy chính quyền trung ương để thực hiện quyền hành pháp Tổng thống có ảnh hưởng rất lớn đến cơ quan có người được bổ nhiệm như Quốc hội
và Toà án tối cao, ngoài Tổng thống, thượng nghị sỹ và hạ nghị sỹ là do dân bầu còn các chức vụ từ Bộ trưởng đến giám đốc điều hành các bộ phận hành chính của Quốc hội đều do tổng thống bổ nhiệm với sự ưng thuận của Quốc hội Tổng thống có toàn quyền miễn nhiệm khi viên chức tỏ ra không có năng lực, không hợp hoặc có những lý do đúng luật khác Quốc hội không có ý kiến trong những trường hợp này bởi đó là quy định của Hiến pháp