Lòng dân mà cốt lõi là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật cường... của cả dân tộc được khơi dậy, quy tụ dưới ngọn cờ của giai cấp tiến bộ, là một yếu tố cơ bản để phát huy cao độ sức mạnh vô địch của Việt Nam trong công cuộc giữ nước.Thực hiện “chúng chí thành thành”, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc, dân tộc ta đã đứng vững trước những kẻ thù xâm lược rất hung hãn, tàn bạo. Có thể khẳng định, TTLD là một bí quyết để giành thắng lợi, là một nét độc đáo của nghệ thuật giữ nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử. Điều này được khẳng định, thể hiện rõ nét trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lòng dân mà cốt lõi là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật cường của cả dân tộc được khơi dậy, quy tụ dưới ngọn cờ của giai cấp tiến bộ, là một yếu tố cơ bản để phát huy cao độ sức mạnh vô địch của Việt Nam trong công cuộc giữ nước.
Thực hiện “chúng chí thành thành”, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc,dân tộc ta đã đứng vững trước những kẻ thù xâm lược rất hung hãn, tàn bạo Có thểkhẳng định, TTLD là một bí quyết để giành thắng lợi, là một nét độc đáo của nghệthuật giữ nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử Điều này được khẳng định, thể hiện
rõ nét trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc từ thế kỷ X đếnthế kỷ XIX
Ngày nay, nhiệm BVTQ Việt Nam XHCN đang đặt ra những yêu cầu rấtmới, rất cao đối với nền QPTD trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, đặc biệt
là trước những đòn đánh hiểm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo loạnlật đổ và răn đe quân sự của chúng đối với cách mạng nước ta Hiện nay, “nạn thamnhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là mộtnguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta” [6, tr 76] gây mất niềm tin trong quầnchúng nhân dân Tình hình và nhiệm vụ BVTQ trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏichúng ta phải không ngừng củng cố, xây dựng TTLD, giữ vững ổn định chính trị - xãhội, đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tập trung mọitinh thần và lực lượng để bảo vệ và xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta
Vì vậy, nghiên cứu TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc, đặc biệttrong mười thế kỷ đấu tranh bảo vệ nền độc lập, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, để vậndụng xây dựng TTLD trong điều kiện hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa to lớn vừa cơbản vừa cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau vềcông cuộc giữ nước của dân tộc từ thế kỷ XIX trở về trước, nhất là những công trìnhnghiên cứu ở trong nước Có thể kể tên một số công trình: “Về tài thao lược của dân tộcViệt Nam”; “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc”; “Tìm hiểu về tổtiên ta đánh giặc”; “Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng” Những công trình này
đề cập khá sâu sắc, toàn diện về sự nghiệp giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, cho đếnnay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cơ bản về TTLD trong côngcuộc giữ nước của dân tộc ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
Trang 23 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.
Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở phân tích quá trình xây dựng TTLD trong
công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX thông qua những
sự kiện lịch sử tiêu biểu nhằm khái quát đặc trưng và một số bài học kinh nghiệm, mangtính quy luật về xây dựng TTLD, từ đó kiến nghị một số vấn đề về xây dựng TTLDtrong sự nghiệp BVTQ Việt Nam XHCN hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài:
- Phân tích quá trình xây dựng TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
- Khái quát đặc trưng của TTLD và một số bài học kinh nghiệm, mang tính quy luật về xây dựng TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam
từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
- Kiến nghị một số vấn đề về xây dựng TTLD trong sự nghiệp BVTQ ViệtNam XHCN hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm về xây dựng TTLD trongcông cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về BVTQ, về chiến tranh quânđội, nhất là về vai trò của nhân tố CT - TT, của quần chúng nhân dân trong công cuộcxây dựng và củng cố quốc phòng, BVTQ
Đề tài dựa vào nguồn sử liệu đã được công bố chính thức trong các tácphẩm, công trình khoa học, bài viết về lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản là: lịch sử và lôgíc, phân tích
và tổng hợp, so sánh, tổng kết, phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ truyền thống giữ nước củadân tộc, làm phong phú thêm tri thức về BVTQ Đây cũng là một vấn đề có ý nghĩaquan trọng cần được kế thừa và phát triển trong việc xây dựng nền QPTD hiện nay
Đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
cả ở trong và ngoài quân đội
Trang 37 Kết cấu của đề tài: Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kiến nghị, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG CÔNG CUỘC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm
là thực hiện CTND, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn Đây là bí quyết giành thắng lợi
từ trước đến nay của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hung bạo có tiềm lực kinh tế, quân sựlớn mạnh hơn Bí quyết giành thắng lợi đó không thể không dựa vào yếu tố cả nướcđồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc cứu nước, được xây dựng trên nềntảng vững chắc là khối đại đoàn kết toàn dân Phải chăng đây là nội dung cốt lõi củaTTLD - một đặc điểm nổi bật trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam? Và,khái niệm TTLD tuy mới xuất hiện, nhưng hình hài và nội dung cơ bản của nó đã từngđược biểu hiện trong lịch sử?
Sức mạnh to lớn cho phép một nước nhỏ đánh thắng mọi kẻ thù lớn mạnhhơn nhất thiết phải là sức mạnh “cử quốc nghênh địch”, “Bách tính giai binh”, sức mạnhcủa cả dân tộc đứng lên đánh giặc Vì vậy, trong công cuộc giữ nước, ông cha ta trướckia cũng như Đảng cộng sản Việt Nam ngày nay không chỉ thuần túy dựa vào LLVT,dựa vào quân đội (tuy rất quan tâm đến xây dựng LLVT, xây dựng quân đội, coi đó làlực lượng nòng cốt của sự nghiệp giữ nước), mà còn dựa vào lực lượng của nhân dân cảnước, dựa vào sự đồng tâm nhất trí của cả dân tộc, dựa vào thế và lực toàn diện, cả vậtchất và tinh thần của đất nước Trong đó, sức mạnh của lòng dân luôn luôn được coi làyếu tố quyết định trong công cuộc giữ nước
Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng của ba lần đánh thắngquân Nguyên ở thế kỷ XIII đã từng đề nghị vua Trần thực hiện “chúng chí thành thành”,coi đó là bức thành vững chắc BVTQ Tư tưởng này đã trở thành luận điểm có tính chấtkinh điển trong kho tàng lý luận quân sự Việt Nam Chính ông đã nhiều lần dùng đếnchữ “lòng dân”, “đồng lòng”, đồng thời nhấn mạnh cần phải “khoan thư sức dân” để cóđược “lòng dân”, tạo nên “đồng lòng”, coi đó là “thượng sách giữ nước”
Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, nhà chính trị quân sự kiệt xuất trongcuộc kháng chiến chống quân Minh ở thế kỷ XV, đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhândân đối với công cuộc giữ nước chống ngoại xâm Ông cho rằng chở thuyền cũng làdân, lật thuyền cũng là dân; đồng thời chỉ ra trong chiến tranh thì phải đoàn kết mộtlòng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” để tụ tập “bốn phương mạnh lệ”; khi hòabình thì phải nuôi dưỡng sức dân “để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hậnsầu than”
Trang 4Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, trên đường đi chống giặc Thanh, trongcuộc duyệt binh lớn tại Nghệ An đã kêu gọi quân dân cả nước “đồng tâm hiệp lực”chống quân thù Do vậy, sức mạnh của quân Tây Sơn tăng lên gấp bội, ngay kẻ thù cũngphải thừa nhận quân Tây Sơn “hợp lại đông như kiến cỏ, thế lực ồ ạt như nước triềudâng” [10, tr 354].
Như vậy là, tư tưởng của ông cha ta về quy tụ lòng dân, thực hiện cả nướcchung sức, chung lòng đánh giặc trên cơ sở đoàn kết toàn dân, đã phác họa nên nội dung
cơ bản của TTLD
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, trên cơ sở nhận thức đúng đắn vai trò củaquần chúng nhân dân trong lịch sử, đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhândân, của cả dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử nước nhà như nhữngmốc son chói lọi nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến “lòng dân”, “lòngngười”, “đại đoàn kết toàn dân” Theo Người, để tạo sự đoàn kết toàn dân, muôn ngườinhư một, “chỉ một ý chí”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, khôngchịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do” thì phải có chính sách hợp lòngdân, vì con người, vì nhân dân, trong thời bình cũng như thời chiến Người nhấn mạnh:
“Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức thành đồng xung quanh Tổ quốc, dùđịch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phảithất bại” [11, tr.150] Hình tượng “bức thành đồng” khi nói về sự đoàn kết, đồng tâmhiệp lực của đồng bào cả nước không những nói lên sức mạnh to lớn và vững chắc của
sự đồng tâm, đoàn kết ấy, mà còn cho ta thấy một cách rõ ràng diện mạo của một thếtrận trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, một thế trận có vẻ nhưtrừu tượng, nhưng thật là sống động, cụ thể trong hiện thực - TTLD
Những năm gần đây trên văn đàn lý luận quân sự, nhiều tướng lĩnh quân đội
ta và nhiều nhà khoa học, trong các công trình và bài viết của mình, đã đề cập đến thuậtngữ TTLD với tư cách là một nội dung cơ bản của nền QPTD, của thế trận quốc phòng -
an ninh BVTQ Việt Nam XHCN
Khi trình bày thế trận quốc phòng - an ninh, Trung tướng, PGS, TS NguyễnHải Bằng đã cho rằng TTLD như là một nội dung cơ bản của thế trận quốc phòng - anninh và nhấn mạnh “thời bình thì có chính sách khoan thư sức dân, quy tụ và động viênphong trào toàn dân tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh Tổquốc” [19, tr 2] Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà nêu rõ “khâu quan trọngnhất cần coi trọng là xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, bao gồm xây dựng cơ sởchính trị - xã hội, xây dựng thế trận lòng dân ” [18, tr 3] Trong bài viết về nhiệm vụquốc phòng - an ninh trước thềm Đại hội IX của Đảng, một lần nữa đồng chí Bộ trưởngnhấn mạnh: “Đặc biệt chú ý xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận lòng dân của nềnquốc phòng toàn dân” [17, tr 17]
Từ những quan điểm trên, có thể thấy mặc dù TTLD là một thuật ngữ mới,nhưng những nội dung cơ bản của nó đã dần dần được hình thành trong lịch sử chống
Trang 5ngoại xâm của dân tộc ta Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đại khác nhau, mức độcủa việc quan tâm đến dân, xây dựng và phát huy sức mạnh lòng dân, phát huy vai tròcủa nhân dân trong sự nghiệp giữ nước có khác nhau Điều đó phụ thuộc vào tính chấttiến bộ và phương pháp của lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm của dân tộc.
TTLD là một thuật ngữ ghép của hai từ “thế trận” và “lòng dân” Thế trận làmột từ dùng trong lĩnh vực quân sự, phản ánh sự tổ chức, bố trí lực lượng để tiến hànhchiến tranh và hoạt động tác chiến Còn lòng dân thực chất là tinh thần của nhân dân, lànhận thức, tư tưởng, niềm tin, thái độ, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của nhân dân.Lòng dân thì bao giờ cũng có, nhưng lòng dân hướng về đâu, bị phân hóa thành các xuhướng khác nhau hay được quy tụ thống nhất vì sự nghiệp chung của quốc gia - dân tộc,
vì lợi ích của chính nhân dân thì lại là vấn đề khác Điều đó phụ thuộc vào bản chất giaicấp và mục đích chính trị của lực lượng đề ra và thực hiện chính sách đối với dân Xâydựng TTLD là quy tụ, xây dựng nhân tố tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân trong côngcuộc giữ nước trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc Đó chính là nhân tố CT - TT củanhân dân được quy tụ và phát huy, tạo thành sức mạnh chiến thắng kẻ thù
Với cách hiểu như vậy, ngày nay TTLD là chỗ dựa vững chắc, nguồn sứcmạnh CT - TT của nền QPTD TTLD là một bộ phận trong thế trận chung của cả nước,gắn kết tất cả các vùng, các lĩnh vực hoạt động của mọi tầng lớp nhân dân hướng vàomục tiêu BVTQ XHCN Vì vậy, ngay những lực lượng hoạt động độc lập tuy “xa dân”(xa nơi dân ở), như hoạt động trên không của bộ đội Không quân, trên biển của bộ độiHải quân, nhưng sức mạnh, chỗ dựa của các chiến sĩ không quân và hải quân vẫn cónguồn gốc không những trực tiếp từ TTLD ở địa bàn đóng quân và nơi hoạt động, màcòn có cội nguồn vững chắc từ thế trận chung của cả nước Họ chiến đấu không đơnđộc, mà đằng sau họ là cả dân tộc, là niềm tin, ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dânđược quy tụ vào nhiệm vụ BVTQ; đồng thời bản thân họ cũng mang ý chí quyết tâmcủa quê hương, đất nước vào trận đánh Nhân dân vừa là nguồn sức mạnh vật chất, vừa lànguồn sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ trực tiếp chiến đấu chống quân thù TTLD làyếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp để BVTQ XHCN TTLD cần được hiểu như thế,thì việc xây dựng TTLD mới trở thành một nhiệm vụ trọng yếu của sự nghiệp xây dựngQPTD, không nơi nào có thể “trắng” TTLD Thật là chính xác khi Đảng ta khẳng định:
“Sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thốngchính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sứcmạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thếtrận an ninh nhân dân” [6, tr 117]
Trên cơ sở những dữ liệu bước đầu về nội dung cơ bản của TTLD, cầnnghiên cứu lịch sử giữ nước của dân tộc ta để tìm ra những biểu hiện của TTLD, từngnội dung của nó được hình thành ra sao, mức độ và tính chất như thế nào Đó là quátrình tái hiện hình hài, nội dung cụ thể của TTLD trong lịch sử Làm được như vậy sẽtrả lời được câu hỏi: trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta có TTLD hay không, nội
Trang 6dung cụ thể của nó như thế nào và nó có vai trò gì trong lịch sử chống ngoại xâm củadân tộc, ông cha ta đã làm như thế nào để xây dựng TTLD, góp phần làm rõ nét đặc sắc,độc đáo trong nghệ thuật giữ nước của dân tộc ta, từ đó vận dụng và phát huy nó trong
sự nghiệp BVTQ Việt Nam XHCN hiện nay
Trong mấy ngàn năm hình thành và phát triển của dân tộc ta, quá trình dựngnước luôn gắn liền với quá trình giữ nước Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và nhữnghạn chế về nguồn sử liệu, Ban đề tài chỉ khảo sát TTLD trong lịch sử giữ nước từ thế kỷ
X đến thế kỷ XIX, lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam ở kỷ nguyên Đại Việt Kỷ nguyên này bao gồm hai giai đoạn lớn: Giai đoạn một từ thế kỷ X đến thế kỷ XV - giaiđoạn đang lên của chế độ phong kiến Việt Nam; giai đoạn hai, từ thế kỷ XVI đến thế kỷXIX - giai đoạn suy vong vủa chế độ phong kiến Việt Nam
1.1 Xây dựng thế trận lòng dân trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV.
Lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua bao thăng trầm biến cố, luôn phảiđương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh và tàn bạo, muốn thôn tính và đồng hóachúng ta Tổ tiên chúng ta đã kiên cường chống giặc giữ nước, nhưng chỉ giành đượcthắng lợi khi lực lượng lãnh đạo dân tộc biết rõ sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân,chăm lo xây dựng các nguồn lực từ dân, tạo nên TTLD
Truyền thuyết kể rằng, vua An Dương, trong cảnh thái bình dựng nước đã chủ quan, không thấy hết âm mưu của kẻ thù, không dựa vào dân mà quá tin vào thành quách, quân đội, tên đồng nỏ liễu, sao nhãng sự cố kết dân tộc, vì vậy đã thất bại khi quân thù tiến đánh Đó là một bài học cay đắng dẫn tới thảm họa cho dân tộc hơn một ngàn năm dưới ách đô hộ của các thế lực phong kiến phương Bắc.
Không chịu cảnh nước mất nhà tan, nhân dân ta liên tục đứng lên dưới ngọn
cờ khởi nghĩa của các vị anh hùng dân tộc mà tiêu biểu là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý
Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền Cóthể nói, các cuộc đấu tranh anh dũng và bền bỉ của dân tộc ta chống lại kẻ thù xâm lược
đã diễn ra dưới mọi hình thức, lúc âm ỷ, khi bùng lên kéo dài suốt mười thế kỷ, hy sinhbao xương máu để tự giải phóng mình, cuối cùng đã giành thắng lợi, mở ra một kỷnguyên mới - kỷ nguyên độc lập của dân tộc Nhưng lịch sử cũng đặt ra những tháchthức mới đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ, đòi hỏi các triều đại phong kiến ViệtNam lúc này phải biết củng cố khối đoàn kết dân tộc, xây dựng TTLD vững chắc, làm
cơ sở chống lại các thế lực xâm lược phương Bắc
Nghiên cứu quá trình xây dựng TTLD trong giai đoạn từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV, căn cứ vào những sự kiện lịch sử tiêu biểu, có thể chia làm 4 thời kỳ dưới đây.
1.1.1 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ X
Đối với dân tộc ta, thế kỷ X là thế kỷ giành được độc lập và đấu tranh để giữvững nền độc lập non trẻ, xây dựng nhà nước thống nhất Thế kỷ này gắn với các cuộckháng chiến chống xâm lược Nam Hán và cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất
Trang 7Thế kỷ X là thế kỷ có rất nhiều biến động lịch sử Đất nước độc lập nhưnglúc đầu chưa thống nhất bởi nạn cát cứ Các triều đại phong kiến (dòng họ) thay nhau trị
vì đất nước, nhưng chỉ trong thời gian ngắn (không quá vài thập kỷ), nên chưa đủ thờigian thực hiện những ý tưởng xây dựng đất nước về mọi mặt Mặc dù vậy, để đáp ứng
yêu cầu củng cố nền độc lập, chống ngoại xâm và thống nhất Tổ quốc, các vương triều phong kiến non trẻ cũng đã ý thức được ở mức độ nhất định vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, bước đầu xây dựng TTLD.
Ngay từ thập kỷ đầu của thế kỷ, khi lên nắm triều chính (907) Khúc Hạo(con Khúc Thừa Dụ) đã thực hiện đường lối “thân dân” với chủ trương: “Chính sự cốtchuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” [13, tr 188] Nghĩa là khôngkhắt khe quá với nhân dân, chống bọn tham quan ô lại - sản phẩm của ngàn năm Bắcthuộc để lại, không làm phiền hà, sách nhiễu nhân dân, tạo ra cuộc sống “an cư lạcnghiệp” cho dân chúng Theo đó, các chủ trương cụ thể về cải cách hành chính, quản lý
xã hội, cải cách điền địa, thuế khóa đều được thực hiện Về sau, Dương Đình Nghệ,Ngô Quyền cũng thực hiện các biện pháp “thân dân” theo đường lối chính trị trên
Đường lối chính sách “thân dân” ở nửa đầu thế kỷ X của các triều đại phongkiến nước ta đã tạo ra cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi để đoàn kết các tầng lớp nhândân, bước đầu xây dựng TTLD Nhờ vậy mà các thế lực phong kiến tiến bộ, được sựủng hộ của nhân dân, đã đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Nam Hán (930 và 938)
Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai do NgôQuyền lãnh đạo, những hình thái biểu hiện của TTLD đã xuất hiện rõ nét và khẳng địnhsức mạnh của nó trong sự nghiệp giữ nước Trước nạn ngoại xâm, thanh niên đã hănghái tham gia vào đội quân đánh giặc, làm cho quân đội của Ngô Quyền từ một đội binhcủa một châu (ái Châu), nhanh chóng trở thành một quân đội dân tộc Nhân dân vùngĐông Bắc còn lưu truyền mãi truyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (An Hải, Hải Phòng)
tự vũ trang theo Ngô Quyền đánh giặc Trai tráng các làng Lâm Đông (Thủy Nguyên,Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Dương) nô nức mang vũ khí, thuyền bè đếnđầu quân Ngô Quyền Toàn dân ở vùng Đông Bắc đều tham gia kháng chiến Ngườikhỏe thì vào các đội dân binh chiến đấu, chặt cây đóng cọc trên sông Bạch Đằng Ngườiyếu thì đóng góp lương thảo, thuyền bè và phục vụ binh sĩ Sự đóng góp sức người, sứccủa và ý chí đánh giặc của nhân dân đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử cuối
938, vĩnh viễn xóa bỏ mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán Nhà sử học LêVăn Hưu đã nhận xét: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt mà pháđược trăm vạn quân của Lưu Bằng Thao, mở nước xưng Vương, làm cho người phươngBắc không dám lại sang nữa” [13, tr.202]
Những thập kỷ cuối của thế kỷ X, vào thời Đinh - Lê, triều đình đã thực hiện nhiều chính sách tiến bộ để động viên, quy tụ nhân dân vào công cuộc giữ nước, làm cho TTLD có sự phát triển hơn so với nửa đầu thế kỷ Sau khi dẹp loạn 12 xứ quân,
thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế và bắt tay vào xây dựng nhànước trung ương tập quyền Ông tiếp tục thực hiện các chính sách “thân dân”, quan tâmđến cày cấy và lo việc “yên dân” Đinh Bộ Lĩnh mất, Lê Hoàn lên ngôi trong lúc nhà
Trang 8Tống đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta Để củng cố đất nước vừa được thốngnhất và đối phó với giặc ngoại xâm, nhà Lê đã đề ra các chính sách nhằm tăng cườngkhối đoàn kết dân tộc, làm cho “trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia”, cả nước hợpsức chống giặc.
Lê Hoàn đã chú trọng phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp bảođảm đời sống nhân dân, tạo cơ sở kinh tế - xã hội quy tụ lòng dân Việc nhà vua đi cày,tịch điền - một nghi lễ của nhà nước phong kiến Việt Nam - thể hiện sự gần dân vàkhuyến khích việc cày cấy, bắt đầu có từ đây (987) Nông nghiệp được mùa kéo theo sựphát triển công thương nghiệp Nhiều con đường lớn, sông đào được xây dựng vào cuốithế kỷ X Lê Hoàn còn cho đúc tiền “Thiên phúc thông bảo” (984) để nhân dân tiện muabán giao lưu, đồng thời khẳng định quyền lực của nhà nước và tính độc lập thống nhấtcủa quốc gia
Về chính trị, Lê Hoàn ra sức xây dựng khối đoàn kết dân tộc Trước hết làloại bỏ các hiềm khích trong nội bộ triều đình, phá tan âm mưu chia rẽ nội bộ ta củagiặc Tống Trên cơ sở đó củng cố quyền lực của nhà nước thống nhất, tuyển dụng ngườihiền tài, động viên trai tráng trong dân chúng tham gia quân đội và các đội vũ trang địaphương Đối với quân đội thường trực, Lê Hoàn cho kiểm điểm dân số để lấy quân.Quân chỉ được gọi khi cần, lúc bình thường thì ở nhà cày cấy Đây là hình thức manhnha của chính sách “ngụ binh ư nông” ở các triều đại sau
Với những chính sách trên, Lê Hoàn đã thu phục được nhân tâm ngay trongnội bộ giai cấp thống trị và dân chúng trăm họ, tạo lập được TTLD trong cuộc chiếntranh chống quân xâm lược Tống năm 981 Vì vậy gần 10 vạn quân Tống hùng hổ, ào ạttiến vào nước ta đã bị quân dân ta đánh cho tan tành
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống là thắng lợi của ý chí tự lập tựcường, của sức mạnh vật chất và tinh thần, sự đoàn kết của nhân dân Đại Cồ Việt trướcmưu đồ bành trướng xâm lược của phương Bắc Sau này (1300), Trần Quốc Tuấn đãnhận xét: “Thời Đinh - Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh màphương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, dựng thànhBình Lỗ, mà phá được quân Tống” [13, tr 236]
Như vậy, trong buổi đầu bảo vệ nền độc lập, nhà nước phong kiến Việt Nam ở thế kỷ X đã thấy được vai trò, sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ nước, thực hiện một số chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội đương thời, đáp ứng được nguyện vọng của dân, tập hợp đoàn kết được dân Đó là cơ sở chính trị - xã hội để thống nhất dân tộc và đánh thắng các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược Hình hài ban đầu của TTLD ở thế kỷ X là điểm xuất phát quan trọng cho việc xây dựng TTLD của các nhà nước phong kiến Đại Việt trong các thế kỷ sau.
1.1.2 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XI - XII.
Trang 9Thế kỷ XI - XII, nước ta bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ của một quốc gia độc lập thống nhất, thời kỳ mở đầu cho nền văn minh Đại Việt Thời kỳ này gắn với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai do triều Lý lãnh đạo.
Tiếp tục những chính sách tiến bộ của các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhà Lý
đã ra sức chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt, thi hành các chính sách thân dân,chăm lo phát triển sản xuất và đời sống của muôn dân, nhằm “cố kết nhân tâm”, củng cốvững chắc TTLD để xây dựng và bảo vệ đất nước Ngay từ khi lên ngôi, rời đô từ Hoa
Lư về Thăng Long, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) đã xuống chiếu lệnh cho những ngườitrốn chạy hoặc phiêu tán (thời Lê Long Đĩnh) trở về quê cũ, ra lệnh đại xá, cấp quần áo,lương thực, thuốc men và cử người đưa về quê đối với những tù nhân bị Ngọa Triềugiam giữ Tất cả những người bị tù tội, phiêu tán trở về đều được cấp ruộng đất để càycấy Để giúp “con dân” khắc phục khó khăn, đói kém, Lý Thái Tổ đã ra lệnh xá thuế 3năm liền cho cả nước (1011 - 1013), xóa nợ cho những người mồ côi, già yếu, góachồng Sau đó, những năm được mùa hay có việc vui, triều đình lại lệnh xóa hoặcgiảm tô, thuế cho thiên hạ
Sức kéo cho nông nghiệp ở thời kỳ này được nhà nước rất quan tâm Năm
1123, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu: “trâu là vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi chongười không ít không được giết trâu ăn thịt, ai làm trái thì sẽ bị trị tội theo pháp luật”[8, tr 204] Nhà nước ban hành luật lệ nghiêm khắc để bảo vệ trâu bò, vừa giữ được trật
tự xã hội, vừa đảm bảo nguồn sức kéo cho nền kinh tế thuần nông, góp phần làm chomùa màng tươi tốt, làng xóm yên vui
Trên cơ sở chế độ nhà nước trung ương tập quyền, các triều đình phong kiến ban hành nhiều chính sách nhằm xác định quyền sở hữu tối cao của nhà nước
về ruộng đất Tuy các chính sách liên quan đến ruộng đất đều thể hiện tính giai cấp rõ rệt, nhưng mặt tích cực của nó là khuyến khích phục hóa, khai hoang mở mang diện tích canh tác, dân chúng được an cư, lạc nghiệp, đáp ứng được một phần nguyện vọng của nhân dân trong điều kiện chế độ phong kiến.
Do điều kiện địa lý, khí hậu nước ta nên sản xuất nông nghiệp, cũng như đờisống nói chung của nhân dân, thường bị thiên tai đe dọa, đặc biệt là nạn lụt hàng năm.Lụt là một nguyên nhân gây ra đói kém và làm cho nhiều người phải tha phương cầuthực Để khắc phục tình trạng trên, từ đầu thế kỷ XI các vua nhà Lý đã chú trọng đến đêđiều và công việc trị thủy Đến đầu thế kỷ XII các địa phương gần sông lớn đều có đêphòng lụt Việc đắp đê trị thủy ở những thế kỷ này cũng như suốt chiều dài lịch sử củadân tộc ta, là yêu cầu tất yếu của công cuộc dựng nước và giữ nước Những gì nhà Lýlàm đã hạn chế được tác hại ghê gớm của lũ lụt, làm cho mùa màng tốt tươi, đời sốngnhân dân no đủ trong thanh bình Vì thế, người dân gắn bó với quê hương, đất nướcmình
Để đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ đất nước, nhà Lý đã thực hiệnchính sách “ngụ binh ư nông” trong tổ chức quản lý quân đội Quân đội Đại Việt từ thế
kỷ XI đến thế kỷ XII được tổ chức tương đối chính quy gồm cấm quân và quân các Lộ,
Trang 10Phủ Quân thường trực khoảng 10 vạn, được chia làm 5 phiên để luân phiên nhau vềcày cấy tự cấp Chính sách “ngụ binh ư nông” một mặt giải quyết được nhân lực chosản xuất, tạo ra vật chất đảm bảo cuộc sống của hậu phương quân đội và đóng góp chonhà nước; mặt khác, làm cho mỗi người lính gắn bó với quê hương đồng ruộng, khi cógiặc thì “trăm họ là binh”, toàn dân đánh giặc.
Sự chăm lo phát triển sản xuất và đời sống dân sinh của các triều đại phongkiến tiến bộ Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, qua một số chính sách nổi bật trên bắtnguồn từ nhận thức của giai cấp thống trị lúc này là: “Xem sự đủ ăn là nguyện của dân,lấy việc cày cấy là gốc của nước” [13, tr 298 ] Khi nhà nước có những chính sách
“thân dân”, lo nâng cao đời sống của dân, thì tinh thần “trung quân”, “ái quốc” của dânchúng được tăng cường, đó là cơ sở để tập hợp, đoàn kết nhân dân, tạo ra TTLD trongcông cuộc giữ nước
Cùng với những chính sách trên, nhà Lý rất coi trọng phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đoàn kết nhân dân Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, dân tộc ta
phải đối mặt với kẻ thù phương Bắc là quân xâm lược Tống Nhà Tống (960 - 1279) làmột trong những triều đại lớn của chế độ phong kiến Trung Quốc Nước Tống là nướclớn, có dân số đông nhất thế giới lúc bấy giờ Sau thất bại của cuộc chiến tranh xâmlược nước ta lần thứ nhất (981), chúng ráo riết chuẩn bị và tiến hành chiến tranh xâmlược nước ta lần thứ hai với quy mô lớn hơn, tàn bạo hơn Thủ đoạn của chúng rất xảoquyệt, trong đó có việc liên kết với nước láng giềng phía Nam nước ta để đánh ta từ haiđầu, mua chuộc lôi kéo các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta làm nộiứng, tạo bàn đạp tấn công v.v Thực chất là giặc Tống tìm cách chia rẽ khối đoàn kếttoàn dân của Đại Việt để dễ bề thôn tính
Nhà Lý đã có gần một thế kỷ xây dựng kinh tế, xã hội với các chính sách
“thân dân”, chăm lo phát triển kinh tế và đời sống của dân, làm cho “thế nước” thêmvững, lòng dân thêm “trung” Ở thời đại phong kiến, nước là vua, trung thành với vua làtrung thành với nước, là yêu nước Giờ đây, trước họa giặc Tống xâm lăng, lòng “trungquân ái quốc” đứng trước thử thách mới, đó là sự chiến đấu hy sinh vì xã tắc Triều đìnhnhà Lý đã bằng nhiều cách để dân chúng biết được âm mưu xâm lược nước ta của giặcTống, khơi dậy trong nhân dân truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên, khẳng định
vị thế, lòng tự hào, tự tin dân tộc Tất cả nội dung trên được thể hiện cô đọng trong bài
“Thơ Thần” của Lý Thường Kiệt cuối thế kỷ XI:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận ở sách trời Cớ sao
lũ giặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).
áng văn trên được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, không
những có tác dụng động viên tinh thần to lớn, cổ vũ nhân dân đứng lên đánh đuổi quân
Trang 11xâm lược Tống, mà còn khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân ta mãimãi về sau.
Để quy tụ được lòng dân, tạo sự đồng lòng trong hành động chống quân thù,triều đình nhà Lý còn làm cho nhân dân ta, cả dân chúng và binh lính đối phương thấyđược sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống giặc Tống xâm lược
Trong cuộc tiến công đánh trước sang đất Tống để tự vệ, với tư tưởng “ngồiyên đợi giặc đến sao bằng đánh trước để bẻ gẫy mũi nhọn của nó”, muốn cho nhân dânhai nước ủng hộ và tin vào sự chính nghĩa của Đại Việt, Lý Thường Kiệt đã cho phânphát bản “Lộ bố” khắp nơi nói rõ sự tàn bạo, hèn kém và mưu đồ xấu xa của vua quannhà Tống “Lộ bố” khẳng định: “Nay bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiếnquân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt; chỉ có ý phân biệt quốc thổ, khôngphân biệt chúng dân Phải quét sạch nhơ bẩn, hôi tanh Ta nay ra quân, cốt để cứumuôn dân khỏi nỗi chìm đắm Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe Ai nấy hãyđắn đo, chớ mang lòng sợ hãi” [13, tr 266]
Nhờ những việc làm trên, nhà Lý đã giành được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, không chỉ dân Đại Việt mà cả dân Tống, “dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng, đem trâu, rượu khao quân ta Từ đó mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Lý Thường Kiệt đằng xa, thì nói là quân của cha họ Lý người nước Nam Nhờ đó mà uy danh quân ta lan khắp nơi” [13, tr 266].
Triều đình nhà Lý luôn chú ý xây dựng khối đoàn kết dân tộc Vấn đề đoàn
kết dân tộc ở vào thời điểm chuẩn bị chống quân xâm lược Tống cuối thế kỷ XI đã đượcgiải quyết tương đối tốt Nhà nước phong kiến Đại Việt thời Lý đang độ đi lên, cácchính sách phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với yêu cầu của đất nước, nên không cómâu thuẫn, đố kỵ lớn trong nội bộ quý tộc phong kiến Mâu thuẫn giữa nhân dân vớigiai cấp thống trị cũng tạm thời lắng xuống Sự khó khăn của vấn đề đoàn kết toàn dânlúc này là các dân tộc thiểu số ở vùng núi biên giới, xa kinh thành, lại luôn bị nhà Tốngmua chuộc lôi kéo với nhiều thủ đoạn thâm độc Nhà nước Đại Việt đã ban chiếu vạch
rõ âm mưu, tội ác của giặc, trấn áp những kẻ ngoan cố tiếp tay cho giặc, các lực lượngchống đối, có ý đồ cát cứ; đồng thời ban phát gạo, muối, vải lên miền núi cho nhân dân;phong chức sắc cho thủ lĩnh dân tộc thiểu số; dùng quan hệ hôn nhân để kết thân vớimột số tù trưởng có uy tín (Lý Thái Tổ gả công chúa cho tù trưởng Giáp Thừa Quý,
Lý Thái Tông gả công chúa cho Thân Thiện Thái Lý Thánh Tông gả công chúa choThân Đạo Nguyên ) Với những biện pháp trên, nhà Lý đã thu phục được đa số nhữngngười đứng đầu các dân tộc thiểu số, không chỉ bằng quan hệ vua - tôi, dân - nước, màbằng cả quan hệ gia đình Trên cơ sở ấy thu phục được nhân tâm, đoàn kết được đồngbào vùng sơn cước, tạo ra TTLD trong cả nước
Quy tụ lòng dân và phát huy TTLD tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù Trong điều kiện chế độ phong kiến trung ương tập quyền đang trên đà phát triển,
thế nước đang lên, các triều đại phong kiến Đại Việt (chủ yếu là nhà Lý) đã thực hiện
Trang 12nhiều chính sách thể hiện sự tích cực, chủ động xây dựng và phát huy TTLD trong côngcuộc giữ nước TTLD thời kỳ này được xây dựng trên quy mô toàn quốc, hình thái biểuhiện tương đối phong phú, thực sự mang lại sức mạnh cho quốc gia Đại Việt, nhất làtrong cuộc kháng chiến chống Tống 1075 - 1077.
Trong cuộc kháng chiến năm 1075 - 1077, những nơi giặc tràn qua, thế giặcđang mạnh, dân chúng đã nhất loạt thực hiện kế “thanh dã”, vườn không nhà trống.Quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết không còn gì để cướp của, bắt người đã lâm vào cảnhkhốn khó, hoang mang Về phía ta, nhân dân hăng hái đóng góp sức người và của cảicho kháng chiến Hàng vạn dân ở khắp các huyện, lộ trung du và đồng bằng châu thổsông Hồng đã cùng với binh sĩ xây dựng chiến tuyến Như Nguyệt dài tới 160 dặm (80km) để chặn đánh quân thù Nhân dân đã tích cực đưa con em vào quân đội trực tiếpđánh giặc Quân đội nhà Lý trước chiến tranh có khoảng 10 vạn, khi quân Tống xâmlược đã nhanh chóng tăng lên 20 vạn Ngoài ra còn có các đội dân binh, các đội quâncủa các thủ lĩnh dân tộc thiểu số Chính các đội quân của đồng bào dân tộc đã dũng cảmđánh chặn, kìm chân quân giặc, quấy nhiễu, đánh tỉa phía sau lưng chúng, làm cho giặckhông lúc nào yên ổn Tiêu biểu là các đội quân của Tôn Đản, phò mã Thân CảnhPhúc
Sự đồng tâm hiệp lực của nhân dân và binh sĩ trên khắp mọi nơi đã chứng tỏ một TTLD vững chắc trong kháng chiến, đây là điều kiện quan trọng để triều đình xác định và thực hiện các ý đồ chiến lược, chiến thuật đánh giặc Vì vậy mà chúng ta đã
nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai với khí thế:
“Rầm rập ruổi quân cự địch, ầm ầm sấm động ra uy Thành Ung châu ức ngàn quân giặctan tành như trận gió cuốn mây Sông Như Nguyệt trăm vạn binh thù vỡ lở như mặt trờiđốt giá” [13, tr 295] Gần 40 vạn quân xâm lược Tống bị tiêu diệt (Kể cả Ung châu)cùng hàng vạn tấn lương thảo, khí giới bị phá hủy Nhà Tống đã tiêu tốn cho cuộc chiếntranh này 5.190.000 lạng vàng, khiến cho sức mạnh quân sự, tiềm lực chiến tranh củachúng suy giảm nghiêm trọng, phải từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai, không những bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền quốc gia mà còn mang lại cho nhân dân Đại Việt gần hai thế kỷ (1077 - 1285) hòa bình để xây dựng đất nước Thắng lợi này do nhiều nguyên nhân Xét về mặt chính trị - xã hội, đây là thắng lợi của TTLD và theo lôgích nó tạo khả năng tốt hơn cho việc xây dựng, củng cố TTLD trong sự nghiệp xây dựng, BVTQ ở những thế kỷ sau.
1.1.3 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XIII - XVI.
Thế kỷ XIII - XIV là thời kỳ phát triển cực thịnh của quốc gia phong kiếnĐại Việt, thời kỳ hùng tráng của lịch sử dân tộc gắn với những chiến công hiển hách balần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông Đây là thời kỳ phát triển cao của TTLDtrong điều kiện chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Trần (1226 - 1400)
Vào những năm cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, triều đại nhà Lý suy vong,nhân dân sống cơ cực và bị các tập đoàn phong kiến lợi dụng sức người, sức của chocác cuộc chinh phạt lẫn nhau Triều Lý không còn đáp ứng được yêu cầu xây dựng, bảo
Trang 13vệ đất nước Nhà Trần thay thế nhà Lý Vương triều Trần được thành lập 1226, đãnhanh chóng củng cố chính quyền trung ương tập quyền và thống nhất quốc gia Tiếp
đó là những nỗ lực tổ chức bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế làm cho quốc gia ĐạiViệt hùng mạnh
Đặc biệt, nhà Trần tiếp thu và thực hiện những biện pháp xây dựng TTLD ởcác thế kỷ trước Song cả về nhận thức và trên thực tế, các chính sách mà Trần đã thựchiện có quy mô rộng lớn hơn và rất mạnh mẽ
Nhà Trần đã nhận thức sâu sắc hơn vai trò của quần chúng nhân dân trong công cuộc giữ nước với luận điểm nổi tiếng “chúng chí thành thành” Kết cấu xã hội
thời Trần bao gồm nhiều đẳng cấp khác nhau, trên cùng là đẳng cấp quý tộc mà quyềnlợi gắn liền với thái ấp Tiếp đó là đẳng cấp quan liêu sống dựa vào bổng lộc Đẳng cấpbình dân gồm những người không có chức tước gì, phần lớn là nông dân và thợ thủcông tự do, đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội Đẳng cấp cuối cùng có thânphận thấp kém nhất là nô tỳ Quần chúng nhân dân ở đây có thể hiểu là tầng lớp bìnhdân và nô tỳ
Xã hội có giai cấp, đẳng cấp, tất nhiên là có mâu thuẫn giữa các giai cấp, đẳng cấp đó Nhưng ở buổi đầu của thời Trần, các mâu thuẫn này còn lắng dịu Giai cấp phong kiến quý tộc nhà Trần qua kinh nghiệm của các thế kỷ trước và qua cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước ở thế kỷ XIII đã dần nhận thức sâu sắc hơn vai trò to lớn của quần chúng nhân dân - những người thuộc đẳng cấp thấp của xã hội.
Họ biết rõ làm ra ngũ cốc nuôi sống thiên hạ là dân, đào sông, đắp đê là dân, xây thành đắp lũy cũng là dân, khi có giặc cũng cần đến dân Dân có giàu thì nước mới thịnh, dân có “trung” thì vương triều mới bền, xã tắc mới vững.
Sự đánh giá vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân được Trần QuốcTuấn khái quát trong câu nói: “Chúng chí thành thành” Nghĩa là ý chí của nhân dân làbức thành Bức thành che chắn mọi phong ba bão tố, bức thành ngăn chặn quân thù xâmlược Do vậy phải luôn chăm lo, giữ gìn bức thành lòng dân
Từ những nhận thức trên, vua Trần và các quý tộc tiến bộ ngoài việc quantâm phát triển kinh tế, chăm lo đời sống dân sinh, còn luôn gần gũi nhân dân Các vuaTrần giữ nhiều lối sống, phong cách của tầng lớp bình dân, thường “vi hành” để hiểu rõdân tình Vào lúc thịnh trị nhất của nhà Trần, bài học về “thượng sách giữ nước” đãđược Trần Quốc Tuấn khái quát, đó là: “khoan dân lực dĩ vi thâm căn cố đế chi kế”.Nghĩa là khoan sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc Đây là biểu hiện của tư tưởng “dân vitrọng”, “dân vi bản” trong hoàn cảnh nước Đại Việt ở giai đoạn này Vì vậy mà nhàTrần thu phục được lòng dân
Nhà Trần đã tích cực xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy cao độ TTLD trong công cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Nhà Trần rất chú trọng thực
hiện các chính sách đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp xã hội, các dân tộc trong quốc gia,các lực lượng trong bộ máy nhà nước để xây dựng và bảo vệ đất nước Trong đó, nhà
Trang 14Trần đặc biệt chú ý tăng cường đoàn kết trong nội bộ giai cấp phong kiến quý tộc, cáchoàng thân quốc thích Bộ phận quý tộc cầm quyền giai đoạn đang lên của nhà Trần đãbiết gạt bỏ những bất đồng, nghi kỵ, thậm chí là hận thù lẫn nhau, đặt lợi ích của nonsông xã tắc lên trên hết Tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết ấy là Quốc Công Tiết ChếHưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Trước sự an nguy của quốc gia, Trần Quốc Tuấn đãđặt chữ “trung” lên trên hết Vì lợi ích của xã tắc, của trăm họ, ông đã chủ động xóa bỏhiềm khích với Trần Quang Khải Mọi sự ngờ vực, bất đồng trong tôn thất được xóa bỏ.Thay vào sự bất hòa là “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận” Đó chính là hạt nhâncủa sự đoàn kết dân tộc, của TTLD trong thời kỳ này.
Đoàn kết tướng sĩ trong quân đội như ruột thịt là nét nổi bật ở thế kỷ XIII, dưới thời Trần Tiếp thu việc xây dựng quân đội nhà Lý, nhà Trần rất chú ý đến xây dựng lực lượng vũ trang, bao gồm quân chính quy và dân binh, quân của các vương hầu, tù trưởng Nhà Trần cũng xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang theo chính sách “ngụ binh ư nông”, nhưng với quy chế chặt chẽ hơn nhà Lý Do vậy ở thời Trần “trăm họ đều là binh” Quân đội thường trực lúc thời bình không nhiều, vì nhà Trần chủ trương: “Quân quý hồ tinh bất quý hồ đa” Binh pháp rất được chú trọng, học tập binh pháp là nghĩa vụ bắt buộc của tướng sĩ Tuy vậy, tướng tài quân khỏe không phải là tất cả của sức mạnh Nhà Trần ý thức rõ: muốn quân đội có sức mạnh vô địch, phải kết hợp được nhiều yếu tố Trong đó, quan trọng nhất là người lính phải có trạng thái tinh thần, tư tưởng thật tốt, phải đoàn kết, thống nhất cao độ Vua quan và các tướng lĩnh nhà Trần rất chú trọng xây dựng quân đội về mặt này, đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các tướng lĩnh và binh sĩ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn - người thống lĩnh quân đội thời Trần ở thế kỷ XIII, đã dạy các tướng lĩnh: “Có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được” [13, tr 335] Nghĩa là người chỉ huy và người lính chiến đấu cho cùng một mục đích phải hiểu nhau, thương yêu nhau, sống chết cùng nhau.
Để làm được việc này, người chỉ huy là người nắm giữ vị trí trung tâm, chủđộng Các tướng lĩnh thời Trần rất nghiêm khắc, nhưng đồng thời lại rất gần gũi, thươngyêu và chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của binh sĩ, tin tưởng và khoan dung đốivới họ như cha đối với con Vì vậy mà người lính gắn bó với chỉ huy, nhất nhất theolệnh chỉ huy trong luyện tập và trong chiến đấu, lúc thắng lợi cũng như lúc gặp nạn.Người lính tự nguyện chiến đấu hy sinh để bảo vệ quân vương, bảo vệ đất nước, coi đó
là nghĩa vụ thiêng liêng của mình
Đội quân do Phạm Ngũ Lão chỉ huy là một trong các đội quân nổi tiếng vềtình “phụ tử” của quân đội Đại Việt thời Trần Những đội quân tinh nhuệ, quả cảm vàgắn bó máu thịt như vậy luôn là nòng cốt, là chỗ dựa cho các đội dân binh, cho toàn dânđánh giặc Ở thế kỷ XIII - XIV, việc tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, quân độithường trực như trên quả là một sáng tạo của ông cha ta
Nhà Trần cũng rất coi trọng việc xây dựng ý chí quyết chiến, dám đánh giặc,
tự tin vào thắng lợi nhằm xây dựng, củng cố TTLD Thời kỳ này, dân tộc ta phải đương
đầu với quân Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất, tàn bạo và thiện chiến nhất
Trang 15lúc đó Quân Mông Cổ đã từng xâm lược, nô dịch các dân tộc từ Á sang Âu, thôn tínhcác quốc gia, tạo thành một đế quốc rộng lớn Sau khi đánh bại nhà Tống (1279) lập nêntriều Nguyên, chủ nghĩa đại Mông kết hợp với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán càng trởnên hung hãn Trong quá trình xâm lược nước ta, quân Nguyên Mông liên tục dụ dỗ, đedọa triều đình nhà Trần Cả ba lần tiến đánh, chúng đều chiếm được thành Thăng Long
và truy kích các vua Trần Sức mạnh ban đầu của chúng đã làm không ít người hoangmang Một số quý tộc do khiếp đảm, lại bị mua chuộc, đã cam tâm làm tay sai cho giặcnhư: Trần Kiện, Trần ích Tắc, Trần Tú Doãn, Trần Văn Lộng Vì vậy, để đánh thắnggiặc phải củng cố được niềm tin và ý chí cho quần chúng nhân dân, trước hết là cho nội
bộ triều đình, quý tộc
Triều đình nhà Trần đã làm cho quần chúng nhân dân thấy được bản chất tàn bạo, ngông cuồng của kẻ thù và những điểm yếu chí mạng của chúng, khích lệ tinh thần dân tộc, ý chí quyết đánh, quyết thắng cho tướng sĩ, cho quý tộc, quan lại và tầng
lớp dân chúng “ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa, ruộtđau như cắt, chỉ giận không được ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù, tuy trămthân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm ” [13,
tr 374] Tinh thần, ý chí của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch Tướng sĩ” đã nhanh chónglan tỏa và biến thành tinh thần chung của cả dân tộc, trước hết là của quân đội
Những tấm gương quả cảm của các tướng lĩnh, những người giữ vị trí trụ cộttrong triều luôn là nguồn khích lệ tinh thần chiến đấu cho binh sĩ và nhân dân Vua TrầnThái Tông không mảy may run sợ trước sự uy hiếp của kẻ thù, đã ra lệnh tống giam các
sứ giả Mông Cổ Rồi sau đó, dấn thân vào mưa tên, xông lên phía trước, tự mình đốcthúc tướng sĩ đánh giặc Trần Thủ Độ, trong lúc cùng triều đình rút lui để tránh sự truyđuổi của quân giặc, đã tâu với vua: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”.Trần Quốc Tuấn khi được nhà vua hỏi “Thế giặc như thế, ta nên hàng chúng chăng”, ông
đã trả lời kiên quyết: “trước hết chém đầu thần rồi sau hãy hàng” Tướng quân Trần BìnhTrọng khi sa vào tay giặc, bị chúng mua chuộc bằng tước vương, đã thét vào mặt chúng:
“Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” Những tấm gương ấy
đã thực sự làm cảm kích lòng người, củng cố ý chí và niềm tin cho mọi tầng lớp nhândân tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi Các chiến sĩ đã tự thích vào tay hai chữ “sát thát”(giết giặc Mông Cổ) để tỏ rõ quyết tâm tiêu diệt giặc
Tổ chức các hội nghị có tính chất dân chủ quyết định đại sự quốc gia là nét nổi
bật trong xây dựng và phát huy TTLD ở thời Trần Sau thất bại lần thứ nhất, quân Nguyênráo riết chuẩn bị mọi mặt để tiến đánh Đại Việt lần thứ hai với quy mô lớn hơn Triều đìnhnhà Trần đã cùng toàn dân gấp rút chuẩn bị kháng chiến Trong đó đã triệu tập các hội nghị
để bàn bạc, thống nhất ý chí và kế hoạch đánh giặc
Hội nghị Bình Than được triều đình triệu tập (1282) Tại đây, vua Trần đãcùng các vương hầu, quý tộc hạ quyết tâm chiến đấu và bàn kế sách công, thủ Đây làhội nghị của giai cấp lãnh đạo lúc đó Chủ trương kháng chiến của triều đình đã được
Trang 16thống nhất trong giới quý tộc và hệ thống quan lại, huy động tối đa khả năng đóng gópcủa tầng lớp này cho kháng chiến.
Sau hội nghị Bình Than, triều đình đã kiện toàn bộ máy cho phù hợp với yêu cầu của chiến tranh Các vương hầu chuẩn bị lương thực, tuyển thêm binh sĩ, các tướng lĩnh khẩn trương luyện quân, tập dượt đánh trận Tinh thần khí thế ấy đã lan tỏa nhanh chóng trong trăm họ, tạo thành không khí sôi nổi kháng chiến của toàn dân tộc Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản vì còn nhỏ không được dự bàn việc nước đã bóp nát quả cảm trong tay lúc nào không biết Về nhà, Trần Quốc Toản lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và người thân, sắm
vũ khí, đóng chiến thuyền, ngày đêm luyện tập để sẵn sàng tham gia đánh giặc cứu nước Trên lá cờ của đội quân này ghi sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh báo ơn vua).
Câu chuyện về Trần Quốc Toản phần nào cho ta hình dung được khí thế náonức chuẩn bị chống quân xâm lược Nguyên ở khắp mọi nơi, từ kinh đô Thăng Long, cácphủ đệ vương hầu đến các hương ấp
Sau hội nghị Bình Than là hội nghị Diên Hồng (1285) Để thống nhất ý chítoàn dân tộc, triều đình nhà Trần đã mời đại biểu phụ lão trong cả nước về kinh đôThăng Long, đặt tiệc ở điện Diên Hồng, bàn kế giữ nước khi quân Nguyên đã tiến đến
bờ cõi Các mái tóc bạc phơ bên nhau, đại biểu cho trăm họ của khắp mọi miền đất nướccùng hô vang một tiếng “đánh” là hình ảnh đẹp nhất, là biểu tượng của ý chí quyết tâm
và tinh thần đoàn kết dân tộc tại hội nghị này
“Đánh” là câu trả lời quyết chiến với quân thù của nhân dân cả nước, thông qua các bậc phụ lão - những đại biểu uy tín của quần chúng nhân dân trước nhà vua và triều đình Sự kiện này đã củng cố ý chí, quyết tâm lãnh đạo kháng chiến cho triều đình Đồng thời “đánh” là thông điệp từ hội nghị Diên Hồng, qua các bô lão về tới con cháu mọi nhà, cổ vũ lòng yêu nước, quyết tâm giết giặc của mọi người.
Những hội nghị thống nhất ý chí quyết tâm, bàn kế sách đánh giặc ở thờiTrần vừa phảng phất truyền thống dân chủ xa xưa của tổ tiên, lại có cái vượt lên trênthời đại Trong chế độ phong kiến việc tổ chức các hội nghị như thế là nét độc đáo đểxây dựng TTLD của quốc gia Đại Việt
Cùng với những nỗ lực xây dựng đất nước về mọi mặt, các biện pháp xâydựng TTLD ở thế kỷ XIII đã làm cho nước ta trở nên giàu mạnh, hùng cường Do đó màluôn bình tĩnh, tự tin, chủ động đối phó với quân thù xâm lược lớn hơn mình Cả ba lầnhùng hổ tiến đánh nước ta, quân Nguyên đều không vượt qua được bức thành lòng dânĐại Việt và chúng đều bị thất bại thảm hại Quân Nguyên đi đến đâu cũng bị quân địaphương, quân của các tù trưởng và dân binh chặn đánh quyết liệt Lương thảo nơi đồngnội được cất giấu Nhân dân nơi địch tràn qua đều thực hiện vườn không, nhà trống, kể
cả thành Thăng Long khi chúng chiếm được, cũng là một đô thành vắng lặng, khôngmột bóng người, không một hạt thóc Địch không cướp bóc được lương thực, lại bị quân
Trang 17dân ta căng ra đánh bằng nhiều hình thức, vì thế mà mệt mỏi, tinh thần suy sụp, thế banmai nhanh chóng lụi tàn, cuối cùng chịu thất bại nhục nhã trước những đòn phản côngquyết định của ta.
Cần thấy rằng, kẻ địch là một đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấygiờ, không dễ gì đánh bại ngay lập tức Cả ba lần tiến đánh nước ta, chúng đều chiếmđược Thăng Long, truy đuổi triều đình, khiến quân ta nhiều phen lao đao Song, ngaynhững lúc khó khăn nhất, đại quân cùng bộ chỉ huy kháng chiến phải rút lui, nhưng lòngdân không hề nao núng, quân địa phương và dân binh không tan rã Thế trận đánh giặccủa toàn dân, từ mọi hương ấp vẫn được giữ vững TTLD trong nguy nan không hề bịrạn nứt, ngược lại càng vững chắc hơn
Nhờ có TTLD ấy mà bộ chỉ huy kháng chiến đã chủ động thực hiện đượcnhững ý đồ chiến lược đánh giặc Cũng nhờ đó mà công cuộc giữ nước của dân tộc ta ởthế kỷ XIII đã mang tính chất nhân dân rộng rãi, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc củaTTLD so với các thế kỷ trước
1.1.4 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XV.
Gần ba mươi năm đầu thế kỷ XV, xã hội Đại Việt chìm đắm trong sự mụcruỗng cuối đời Trần và ách đô hộ của giặc Minh Trong khoảng thời gian này, lịch sử đãchứng kiến thất bại của cuộc chiến tranh giữ nước dưới triều nhà Hồ và sự thắng lợi vẻvang của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo Nghiêncứu TTLD ở thế kỷ XV có hai sự kiện nổi bật sau đây:
Một là, nhà Hồ không xây dựng được TTLD dẫn đến bị mất nước.
Từ nửa cuối thế kỷ XIV, triều đại nhà Trần vào giai đoạn suy thoái, vuaquan, quý tộc sống sa đọa, những kẻ bất tài, giỏi xu nịnh được thăng quan tiến chức,người trung thành bị bức hại Trung thần Chu Văn An (triều vua Dụ Tông) dâng sớ
“thất trảm” không thành đã treo ấn từ quan Lụt lội triền miên, dân tình đói kém Sứcdân bị triều đình lợi dụng vào các cuộc chiến tranh phi nghĩa triền miên với Ai Lao,Chăm Pa Nhân dân cùng khổ đã nổi dậy chống triều đình ở khắp nơi Lòng dân ly tán,TTLD vỡ ra từng mảnh trước khi nhà Hồ lên ngôi
Sự thối nát của triều đình nhà Trần dẫn tới sự lên ngôi của nhà Hồ Hồ Quý
Ly (một đại thần ngoại thích của nhà Trần) đã từng bước tiến quyền, tiến tới cướp ngôiVua, chém giết, thanh trừng hàng loạt quan lại, quý tộc nhà Trần làm cho nội bộ quý tộcchia rẽ sâu sắc, trăm hộ oán thán, hoang mang Việc phế bỏ nhà Trần là yêu cầu của lịch
sử, vì nó không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước, trong khi giặc Minh đang lăm lexâm lược Nhưng cách làm của nhà Hồ rõ ràng không được lòng người, không củng cốđược TTLD Trong lúc xã hội thời Trần rối ren, kinh tế suy sụp, Hồ Quý Ly đã đề ramột loạt cải cách, mong phục hồi nền kinh tế, tạo ra sức mạnh cho đất nước Sau khi lênngôi, những cải cách đó càng được đẩy mạnh Song đáng tiếc, những biện pháp cải cáchkiên quyết mang tính cách tân của nhà Hồ vào thời điểm đó không đáp ứng được yêucầu phát triển đất nước Ngược lại nó làm cho đời sống nhân dân khó khăn thêm Tình
Trang 18hình đó làm cho lòng dân ly tán, hoang mang, không những không được lòng dân,không có tác dụng xây dựng TTLD, mà còn làm rạn nứt sự cố kết dân tộc, phá vỡTTLD, dẫn đến nguy cơ mất nước trước sự xâm lược của nhà Minh.
Trong chiến lược phòng thủ đất nước và chỉ đạo chiến tranh, nhà Hồ chủ trương dựa vào quân đội chính quy và một hệ thống thành lũy kiên cố để đánh giặc theo
kiểu “trường trận” Song quân đội không được xây dựng theo chính sách “ngụ binh ưnông” không có mối quan hệ mật thiết với nhân dân Quan hệ tướng sĩ không còn làquan hệ “phụ tử” và “huynh đệ” như quân đội nhà Trần ở thế kỷ XIII Vì vậy mà quânđội nhà Hồ có tới vài ba chục vạn nhưng “trăm vạn người, trăm vạn lòng” [8, tr 409]
Do kinh nghiệm lịch sử và trải qua thực tế, dưới triều nhà Hồ cũng có ngườinhận thức được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân Một vị đại thần nhà Hồ là
Hồ Nguyên Trừng, trong hội nghị chuẩn bị cho kháng chiến đã nói: “ Thần
không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo” [8, tr 409] Nhưng do nhữngnguyên nhân khách quan và chủ quan kể trên, nhà Hồ đã không quy tụ được lòng dân,không xây dựng được TTLD để tổ chức cuộc chiến tranh giữ nước với sự tham gia đánhgiặc của toàn dân, bằng các biện pháp, hình thức phong phú như nhà Trần tổ chứcchống quân Nguyên
Vì vậy, mặc dù cha con Hồ Quý Ly là những người yêu nước, quyết tâmđánh giặc bảo vệ đất nước, đã tích cực chuẩn bị trong bảy năm (1400 - 1407), nhưng khiquân Minh tiến đánh, nhà Hồ chỉ cầm cự được khoảng nửa năm Vậy là, sau năm thế kỷgiành được độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước, dân tộc ta lại rơi vào sự đô hộ tànbạo của phong kiến phương Bắc Nguyên nhân chính của sự thất bại này là do trongcuộc kháng chiến chống quân Minh, nhà Hồ chỉ lo xây dựng quân đội, thành quách,không tổ chức được một cuộc CTND rộng khắp, không xây dựng được TTLD đểBVTQ
Hai là, xây dựng TTLD trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi.
Việc xây dựng TTLD trong hai mươi năm kháng chiến chống quân Minhtiếp theo có nhiều khó khăn Những người lãnh đạo kháng chiến không có bộ máy nhà
nước trong tay, bản thân họ đang bị chính quyền đô hộ coi là “giặc cỏ” TTLD giữ nước trước đây về cơ bản đã tan vỡ, giờ đây phải vừa đánh giặc vừa xây dựng Mặc dù vậy,
chúng ta vẫn thấy nổi lên những biện pháp xây dựng TTLD rất có hiệu quả
Trước hết, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước, căm thù giặc, quyết chiến đấu giải phóng dân tộc cho mọi
tầng lớp nhân dân Sau khi chiếm được nước ta, quân Minh đã nuốt luôn lời hứa “phùTrần diệt Hồ” - chiêu bài lôi kéo một số quý tộc nhà Trần, chia rẽ nội bộ triều đình ĐạiViệt trước và trong quá trình tiến quân xâm lược Chúng nhanh chóng thiết lập bộ máycai trị, biến nước ta thành một vùng lệ thuộc để tiền hành vơ vét, bóc lột và đồng hóadân tộc ta
Trang 19Chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động trên quy mô rộng lớn là một trong những tội ác lớn nhất của quân Minh đối với nhân dân ta Chúng cướp từng hạt lúa, cân tơ, chúng bắt dân ta lên núi đào vàng, xuống biển mò ngọc trai Chúng cưỡng bức dân ta đi lính, đi phu triền miên Một bộ phận đáng kể lao động nước ta bị đưa về Trung Quốc, thường là những thợ thủ công, thầy thuốc, con hát để phục vụ trong các công xưởng và thỏa mãn cuộc sống xa hoa của vua quan nhà Minh làm cho nền kinh tế nước ta suy sụp, làng xóm tiêu điều, trăm họ điêu linh.
Về văn hóa, quân Minh âm mưu đồng hóa dân tộc ta bằng những thủ đoạnthâm độc như đốt sách vở, phá hủy các bia đá, mở trường học dạy theo cách của chúng,bắt nhân dân ta ăn mặc theo phong tục của người Hán Tố cáo tội ác tầy trời của giặcMinh, Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô đại cáo”:
“ Thui dân đen trên lò bạo ngược
Vùi con đỏ dưới hố tai ương
Tát khô nước Đông Hải khó rửa sạch tanh hôi
Chẻ hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác ”
Tội ác của giặc Minh đè nặng lên mọi tầng lớp nhân dân, người chịu tủinhục, người gánh tai ương, tất cả đều oán hờn quân đô hộ Những cuộc khởi nghĩachống quân Minh xâm lược đã xuất hiện ở nhiều nơi Hiểu được lòng dân, khơi dậy tinhthần yêu nước thương nòi, thống nhất ý chí của nhân dân thành sức mạnh to lớn cứunước, cứu nhà, những người lãnh đạo khởi nghĩa đã truyền đi khắp nơi những “Bố cáo”hay “Hịch” khởi nghĩa Trong đó cáo trạng tội ác của quân thù “thần người đều cămgiận, trời đất lẽ nào dung tha”, kêu gọi dân chúng vùng lên khởi nghĩa giết giặc bảo vệnon sông, giống nòi Sẵn lòng yêu nước, căm thù giặc, nhân dân đã tham gia các cuộckhởi nghĩa rất đông Sử sách của quân Minh cũng phải thừa nhận: “Lúc bấy giờ, từĐông Quan về phía đông, giặc cướp nổi lên như ong” (ý chỉ cuộc khởi nghĩa) và ngườiGiao (chỉ nhân dân ta) “mỗi khi nghe giặc nổi lên là cùng hưởng ứng, tướng giặc đếnđâu là được chúng cung ứng, giấu giếm, cho nên giặc tan rồi lại hợp” [8, tr 427]
Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta bị quân Minh đàn áp đẫm máu, nhiều cuộc vì thế mà tan rã Nhưng kẻ thù càng đàn áp thì tinh thần yêu nước, ý chí giết giặc của nhân dân ta càng cao Hết cuộc khởi nghĩa này đến cuộc khởi nghĩa khác bùng lên, có lúc hàng trăm cuộc khởi nghĩa, với hàng chục vạn người tham gia.
TTLD đã hình thành, nhưng trong thời gian đầu còn phân tán, cục bộ đã làmhạn chế sức mạnh kháng chiến của dân tộc Về sau, các cuộc khởi nghĩa được quy tụ lạidưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi TTLD trên quy mô cả nước hình thành vàngày càng được củng cố, là cơ sở tạo sức mạnh vô địch đánh thắng giặc Minh
Những người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn đã nêu cao tinh thần đoàn kết, chịu đựng gian khổ vừa kháng chiến vừa xây dựng lực lượng, xây dựng TTLD So với
các thế kỷ trước, đây là biện pháp truyền thống để xây dựng TTLD Nhưng ở thế kỷ
XV, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh giải phóng dân tộc, biện pháp trên được
Trang 20tiến hành trong hoàn cảnh đặc thù và có nội dung riêng Lúc này, nghĩa quân bị coi là
“giặc”, lực lượng ban đầu mới như “đốm lửa” Phải biến “đốm lửa” thành “biển lửa”thiêu cháy quân thù, giành lại đất nước Vì vậy, đoàn kết, chịu đựng gian khổ, vừakháng chiến vừa xây dựng lực lượng có vai trò rất quan trọng để xây dựng TTLD
Khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ năm 1418, trong những ngày đầu có khoảng 600 nghĩa quân, so với vài chục vạn quân Minh thì quả là nhỏ bé Song do đoàn kết, chịu đựng hy sinh gian khổ, mưu trí dũng cảm mà vượt qua được mọi hiểm nghèo, càng đánh càng lớn mạnh Nghĩa quân đã bao phen bị giặc truy đuổi, bao vây, ăn đói, mặc rét, có lúc tổn thất rất nặng nề, lâm vào tình trạng “chín phần tử, một phần sinh” Trong hoàn cảnh ấy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ tham mưu nghĩa quân vẫn sắt son ý chí, đồng cam cộng khổ, nếm mật nằm gai với các nghĩa sĩ, làm cho tinh thần quyết tâm và uy tín của nghĩa quân ngày càng lớn Bộ chỉ huy nghĩa quân rất chú trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu và kỷ luật nghiêm minh, coi trọng việc “đánh vào lòng người” Quân đội Lam Sơn nổi tiếng là một
“đạo quân tình thiết cha con, thân cùng cam khổ” [8, tr 460], không xâm hại đến của cải của nhân dân ngay cả lúc thiếu thốn nhất, nên rất được lòng dân, nghĩa quân đi đến đâu cũng được dân chúng tin yêu, bảo vệ, đóng góp lương thảo, khuyến khích con em tham gia nghĩa quân đánh giặc.
Để có thể trường kỳ kháng chiến, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã chủ trương cho nghĩa quân “vừa cày ruộng vừa đánh giặc”, nhằm tự túc một phần lương thực, bớt
sự đóng góp của nhân dân và để tạo thế, tạo lực từng bước đưa cuộc kháng chiến đến toàn thắng Như vậy, quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cũng là quá trình xây dựng TTLD, tạo ta sức mạnh tổng hợp từ nhân dân để đánh giặc, giải phóng đất nước.
Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã nêu cao tính chất nhân đạo, chính nghĩa của cuộc kháng chiến cứu nước, để xây dựng và phát huy TTLD.
Chiến tranh BVTQ hay chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại bang
là những cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự nó đã hàm chứa tính nhân đạo và là một lợithế để tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh Song không phải lúc nào, ở đâu, người tacũng có thể tận dụng được lợi thế này Đối với cuộc chiến tranh giải phóng ở nước tađầu thế kỷ XV, những người lãnh đạo đã phát huy cao độ được lợi thế đó
Với tư tưởng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, Nguyễn Trãi đã khái quátmục đích của cuộc khởi nghĩa là giành cuộc sống ấm no và sự yên bình của dân chúng.Song dưới ách đô hộ của quân Minh, nhân dân bị bóc lột tàn nhẫn, bị dồn đến cùng cực.Nguyên nhân của sự khổ nhục là do mất nước, do vậy sớm hay muộn, cuối cùng nhândân ta đã đi theo cờ khởi nghĩa để cứu nước, cứu mình
Trong kháng chiến lúc đầu địch đông và mạnh hơn ta, buộc nghĩa quân phải “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều” Để vượt qua được thử thách này, không chỉ cần có mưu lược giỏi mà còn phải có một đội quân có tinh thần ý chí tốt Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã rèn luyện được đội quân như thế, đội
Trang 21quân vì đại nghĩa mà chiến đấu, đem “đại nghĩa thắng hung tàn”, lấy “chí nhân thay cường bạo” Các tướng lĩnh, linh hồn của đội quân ấy thì luôn lấy “nhân nghĩa làm gốc”.
Tính chất nhân đạo của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở đây còn thểhiện ở thái độ đối với quân thù Căm thù giặc, không thỏa hiệp, quyết chiến đấu là bảnlĩnh xuyên suốt của nghĩa quân trong cuộc chiến Song lại luôn mở cho kẻ thù lối thoátkhi nghĩa quân đã cầm chắc chiến thắng Đó là những lần quân ta dụ hàng khi quânMinh đã bị bao vây ở giai đoạn cuối và việc phóng thích hai vạn tù binh, cấp lươngthực, phương tiện cho gần chục vạn quân Minh về nước sau khi chúng buộc phải cầuhòa, tuyên bố bãi binh Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô đại cáo”:
“Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa,
ta lấy toàn quân làm cốt, cho dân được yên nghỉ”
Những tư tưởng và hành động đầy nhân nghĩa làm cảm kích lòng người như vậy đã nhanh chóng tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân, cô lập được kẻ thù, lôi kéo được một bộ phận ngụy quân, ngụy quyền về với nghĩa quân, tham gia chiến đấu giải phóng dân tộc TTLD vì vậy mà được củng cố và mở rộng.
Nhờ xây dựng được TTLD vững chắc mà từ “đốm lửa” Lam Sơn, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng trở thành “biển lửa” kháng chiến của cả dân tộc Đại Việt Mọi lực lượng xã hội, từ những người “cùng dân” đến thương nhân, nho sĩ, quan lại, địa chủ, quý tộc đều tham gia kháng chiến bằng sức lực và cách thức của mình Mọi địa phương, mọi dân tộc trên đất nước, đều tổ chức đánh giặc rất linh hoạt, sáng tạo, mọi cuộc khởi nghĩa chống quân Minh khắp đất nước cũng tụ
về Lam Sơn, làm cho nghĩa quân lên đến ba bốn chục vạn, đủ sức đánh những đòn quyết định giải phóng đất nước, khiến cho địch “đã về nước còn ngực đập chân run”.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh là thắng lợi của cuộcCTND giải phóng dân tộc vĩ đại, trong điều kiện chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở mộtTTLD vững chắc Đất nước được giải phóng, chấm dứt hai mươi năm đô hộ tàn bạo củaquân Minh Triều đại nhà Lê được thành lập, dân tộc Đại Việt tiếp tục phát triển đếnđỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền
TTLD còn tiếp tục được duy trì trong các thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XV, cùng với quá trình xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình, độc lập dưới triều Lê.
1.2 Xây dựng thế trận lòng dân trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.
Nghiên cứu TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷXVI đến thế kỷ XIX, có thể chia ra ba thời kỳ với những sự kiện lịch sử tiêu biểu phản ánhnhững bài học thành công và không thành công của sự nghiệp giữ nước và thống nhất Tổquốc Qua đó thấy được nội dung của TTLD và việc xây dựng TTLD trong từng thời kỳlịch sử ấy Xét một cách toàn cục, đây là giai đoạn quốc gia phong kiến Việt Nam đã qua
sự phát triển hưng thịnh và dần dần đi vào suy yếu
Trang 221.2.1 Xây dựng thế trận lòng dân từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII.
Sau khi chiến thắng quân Minh (1427), Lê Lợi chính thức thiết lập vươngtriều nhà Lê Đến đầu thế kỷ XVI những dấu hiệu suy nhược của triều Lê đã xuất hiện
rõ rệt Nạn cát cứ, tranh chấp giữa các phe phái phong kiến diễn ra gay gắt Đất nướcđắm chìm trong một thời kỳ dài bị chia cắt và nội chiến với chiến tranh Lê - Mạc (1543
- 1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672) Đây là một đặc điểm nổi bật củagiai đoạn lịch sử này, đồng thời là một trong những giai đoạn đặc biệt tiêu biểu cho tìnhtrạng cát cứ và nội chiến của lịch sử Việt Nam
Đất nước bị chia cắt, thế trận chung dựa trên cơ sở của sự thống nhất giang sơn đã bị phá vỡ, do đó TTLD không còn thống nhất trên quy mô toàn quốc, nó đã bị chia ra từng mảng, về cơ bản đã trở nên suy yếu, nhân dân đã bị các phe phái phong
kiến lợi dụng tiến hành các cuộc chiến tranh vì lợi ích của chúng Tuy nhiên, để củng cốsức mạnh của mình giành thắng lợi đối với phe phái khác, các thế lực phong kiến khôngthể không tính đến sức mạnh của nhân dân Từ nhận thức, thái độ, quan điểm đến việcthực hiện các chính sách cụ thể đối với nhân dân nhằm động viên sức người, sức củacho chiến tranh, làm cho dân tin theo để phục vụ lợi ích của dòng họ phong kiến thốngtrị, nhưng cũng nói lên được phần nào những khía cạnh khác nhau về nội dung củaTTLD
Các phe phái phong kiến trong giai đoạn này không còn đại diện cho xu thếtiến bộ của xã hội Việt Nam, mà chỉ vì lợi ích riêng của chúng Nhân dân lao động nóichung không thực sự là chỗ dựa, là lực lượng của các phe phái trong các cuộc chiếntranh Sự tranh giành của các phe phái phong kiến chỉ làm tăng thêm nỗi thống khổ đốivới nhân dân Lợi ích của nhân dân lao động mà chủ yếu là nông dân bị đặt ra ngoài và
bị “hy sinh” vì lợi ích của dòng họ phong kiến Ngay lợi ích của quốc gia dân tộc cũng
bị chúng sẵn sàng vùi dập Trước sự đe dọa của nhà Minh, Mạc Đăng Dung đã đầu hàng
và đem dâng phần đất của Tổ quốc cho kẻ thù để được rảnh tay đàn áp nhân dân và đốiphó với các phe phái đối lập trong nước [10, tr 291]
Như vậy, tập đoàn phong kiến thối nát không những không quan tâm đến đờisống nhân dân mà còn có những hành động phản bội lại lợi ích của nhân dân, của dântộc Độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc và thanh danh đất nước lànhững điều thiêng liêng, là nguyện vọng, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam Nhữngđiều đó bị súc phạm làm cho nhân dân phẫn nộ, căm ghét các phe phái phong kiến phảnđộng và nạn cát cứ, nội chiến do chúng gây ra Thật đúng với nội dung của một tờ sớ
dâng Mạc Mậu Hợp năm 1581: “Lòng người nao núng, thế nước nguy ngập ” [9, tr.
72] Như vậy là lòng người đã nao núng, phân ly thì thế nước trở nên nguy ngập, suy
yếu, đó là lôgíc được rút ra từ sự kiện lịch sử trên.
Tuy có nhiều hạn chế, nhưng các tập đoàn phong kiến đương thời vẫn phải thừa nhận vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng đã căn dặn người con của mình là Nguyễn Phúc Nguyên:
“Nếu biết dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh thì gây dựng được cơ nghiệp muôn đời” [9, tr 81] Như vậy, dù dưới nhãn quan thiển cận của
Trang 23một dòng họ phong kiến phản động, hoàn toàn vì lợi ích ích kỷ của mình, Nguyễn Hoàng cũng đã nhận ra được sức mạnh to lớn của nhân dân, và thấy được cần phải
“dạy bảo” nhân dân để mưu đồ sự nghiệp lớn.
Trịnh Cương cũng đã từng dụ rằng, muốn thương dân thì phải thi hành nhânchính, muốn thi hành nhân chính thì phú dịch phải chia đều Dù đứng trên lập trườngphong kiến (nhất là không phải là lực lượng đại diện cho tiến bộ xã hội, cho dân tộc), dùvới lợi ích ích kỷ của dòng họ, nhưng các thế lực phong kiến đương thời, với mức độkhác nhau đã nhìn ra được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân và sự cần thiết phải
có chính sách đối với dân để xây dựng cơ đồ Mặc dù vậy, do hạn chế và tính chất phản
động của nó, các phe phái phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn trên thực tế chỉ coi nhândân như “cỏ rác”, ra sức bóc lột, vơ vét và đàn áp nhân dân, làm cho nhân dân lâm vàotình trạng cơ cực, khốn khổ đúng như câu ca dao: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày làquan”
Các triều đại phong kiến đã thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm bảo
vệ quyền lợi ích kỷ của mình và để chiến thắng các phe phái khác trong các cuộc nộichiến Nhân dân ta lúc đó hầu hết là nông dân, kinh tế đất nước chủ yếu nông nghiệp,bởi vậy chính sách nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Dưới thời chúa Trịnh
“ruộng đất tư của dân nghèo phần nhiều rơi vào tay kẻ hào phú” và “dân nghèo không
có miếng đất cắm dùi” [10, tr 320] Số ruộng đất công còn lại, phần lớn dùng để bancấp cho quan lại và binh lính, phần để cho nông dân lao động “không còn bao nhiêu”.Chế độ quân điền đã trở thành công cụ quan trọng của giai cấp thống trị để trói buộcnông dân vào ruộng đất, giam hãm họ trong làng xã, bắt họ chịu tô thuế, đi phu, đi línhcho chính quyền phong kiến
Người nông dân đã bị tước đoạt phần ruộng đất tư ít ỏi của mình, số ruộng đất của làng xã còn rất ít nên họ bị lệ thuộc nặng nề vào địa chủ Tô thuế, lao dịch, binh dịch của các tập đoàn thống trị phong kiến ngày càng gia tăng, đè nặng lên đầu họ Mặc dù nhà Trịnh ra lệnh “các nhà quyền quý, thế phiệt, các nha lại và các nhà hào phú, không được thừa dịp dân các xã nghèo khổ, phiêu bạt, lấy cớ mua ruộng đất để chiếm làm của tư” [10, tr 320], nhưng người nông dân vẫn bị mất ruộng đất, dẫn đến hàng loạt nông dân phải rời bỏ đồng ruộng, quê hương để phiêu bạt kiếm ăn một cách tuyệt vọng Như vậy, dù nhận thức được vai trò của nhân dân, nhưng với tính chất phản động của tầng lớp phong kiến thống trị, họ không thể thực hiện được những chính sách vì lợi ích của người lao động.
Tình hình đó làm cho lòng dân ly tán, không chỉ người nông dân mới cămphẫn chế độ phong kiến đương thời, mà tất cả các tầng lớp nhân dân lao động đều chánghét chế độ đó, ngay cả binh lính là người trực tiếp cầm vũ khí bảo vệ lợi ích của tậpđoàn phong kiến thống trị cũng không muốn “xông pha trận mạc”
Nhà sử học Phan Huy Chú đã có nhận xét cụ thể về chế độ ruộng đất và tôthuế dưới thời họ Trịnh: “một tấc đất cũng không sót, không chỗ nào là không đánhthuế, cái chính sách vơ vét hết lợi, hình như quá cay nghiệt” [9, tr 202]
Trang 24Dưới triều Nguyễn ở Đàng trong tình hình cũng như vậy Nhân dân Đàngtrong đã mất nhiều công sức để khai hoang, mở mang ruộng đất, làm cho nền kinh tếnông nghiệp ở đây có sự phát triển Song, chính quyền nhà Nguyễn đã nhanh chóng lợidụng, chiếm đoạt những thành tựu khai hoang và phát triển kinh tế ấy nhằm mở rộngảnh hưởng, tăng thêm quyền lực và lực lượng cho dòng họ phong kiến của mình Chính
vì vậy, đời sống nhân dân lao động mà đa số là nông dân ở Đàng trong vẫn trong tìnhtrạng hết sức cơ cực “trăm họ đói khổ, trộm cướp nổi dậy bốn phương” [16, tr 236]
Nhân dân Việt Nam ở Đàng trong cũng như Đàng ngoài đều có tinh thần yêunước, ý thức dân tộc cao, vì thế dù phải sống trong điều kiện chia cắt, cát cứ, vẫn khôngphai nhạt ý thức cố kết cộng đồng và đoàn kết dân tộc Các cuộc nổi dạy của nông dânkhắp mọi miền đất nước chống lại chính sách thống trị và bóc lột, chống lại sự chia cắtđất nước diễn ra ngày càng quyết liệt, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của nông dân TâySơn vào nửa cuối thế kỷ XVIII
Như vậy là, giai đoạn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII của lịch sử Việt Nam,
sự chia cắt đất nước, sự thống trị và chính sách bóc lột của các phe phái phong kiếnphản động đã làm cho lòng dân ly tán, sự cố kết dân tộc bị lung lay, TTLD bị suy yếunghiêm trọng, thế nước nguy ngập, độc lập dân tộc đứng trước sự đe dọa bởi một cuộcxâm lăng của thế lực phong kiến phương Bắc
Trong quá trình tranh chấp quyền lực, để có được sức mạnh, các tập đoànphong kiến trong chừng mực nhất định có quan tâm đến dân, nhất là nông dân và binh
lính Khi tiến hành cai trị, các dòng họ phong kiến cũng đã chú ý đến việc ban hành và
thực hiện những chính sách bảo hộ nguồn bóc lột, ít nhiều mang lại lợi ích cho nhân dânlao động Nhưng với bản chất phản động của các tập đoàn phong kiến, những chínhsách gọi là nhằm vào lợi ích của nhân dân ấy cũng chỉ mang tính mị dân, về cơ bản
không trở thành hiện thực Chúng “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí
vô cùng” [7, tr 369], trong khi đời sống nhân dân ngày càng cơ cực Chính sự thống trị,bóc lột tàn bạo và nặng nề làm cho các tập đoàn phong kiến không thể tập hợp đượcquảng đại quần chúng nhân dân, không thể làm cho người dân “sống chết” vì nó, vàcàng không thể giương ngọn cờ đoàn kết, tập hợp toàn dân đứng lên bảo vệ đất nước khi
có ngoại xâm Không những thế, họ còn sẵn sàng bán rẻ lợi ích của dân tộc cho ngoạibang mà không có một đắn đo gì Việc nhà Mạc cắt đất cho triều Minh là một minhchứng rõ rệt về điều này
Từ đó có thể thấy rằng, TTLD phải là thế trận chung trên quy mô cả nước và được thiết lập trên tất cả mọi vùng của đất nước, quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc để giữ nước Đất nước chia cắt, lòng dân ly tán, thậm chí tầng lớp thống trị đẩy nhân
dân vào cảnh “nồi da, nấu thịt”, chém giết lẫn nhau là dấu hiệu cơ bản của sự suy yếuTTLD và là nguy cơ dẫn đến mất nước trước âm mưu xâm lược của các thế lực ngoạibang
1.2.2 Xây dựng thế trận lòng dân ở cuối thế kỷ XVIII.
Trang 25Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc,Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tổ chức và lãnh đạo, bùng nổ vào mùa xuân năm 1771 Đây làmột cao trào cách mạng của nông dân và sau đó trở thành phong trào dân tộc đánh đuổigiặc Thanh Phong trào Tây Sơn đã làm bùng lên hào khí quật cường, tinh thần vùng lênchống áp bức, ý chí quyết tâm chiến đấu vì sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất giang sơntrong tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ Bắc đến Nam Ý chí, nguyện vọng của nhân dân bịphân ly, vùi dập dưới thời Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh đã được khôiphục, tập hợp lại dưới ngọn cờ đại nghĩa Tây Sơn, hướng vào mục tiêu lật đổ ách thốngtrị của các tập đoàn phong kiến phản động, thống nhất Tổ quốc, đánh thắng giặc ngoạixâm, bảo vệ sự toàn vẹn của non sông gấm vóc.
Đây là một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc Với sự kiệt xuất của ngườianh hùng áo vải Nguyễn Huệ, phong trào Tây Sơn không những tiêu biểu cho sức mạnhđoàn kết, thống nhất dân tộc, ý chí độc lập tự chủ của nhân dân Việt Nam, mà còn là sựkết tinh và nâng nên tầm cao mới, trong điều kiện lịch sử mới, những tư tưởng, quanđiểm và nghệ thuật quân sự của dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật phát huy sức mạnh tổnghợp, nghệ thuật tiến hành CTND chống ngoại xâm Một trong những thành công nổi bậtcủa phong trào Tây Sơn là đã nhanh chóng quy tụ được lòng người, tạo lập được TTLD
và phát huy cao độ sức mạnh của TTLD trong công cuộc thống nhất Tổ quốc và chốngngoại xâm
Đánh giá đúng vai trò của nhân dân, quy tụ được lòng dân, xây dựng TTLD vững chắc làm cơ sở sức mạnh cho phong trào là thành công cơ bản, có ý nghĩa quyết
định của những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn, mà tiêu biểu là người anh hùng
Quang Trung - Nguyễn Huệ
Ngay từ ngày đầu khởi nghĩa, khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dânnghèo” đã được nêu cao như ngọn cờ hiệu triệu và tập hợp quần chúng nhân dân
Khẩu hiệu ấy đã cổ vũ nông dân nghèo và các tầng lớp bị áp bức, bóc lộtvùng lên tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt Ngọn cờ đại nghĩa Tây Sơn đãđánh trúng và làm thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lao động, làchất kết dính mọi tầng lớp nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc trong một mục tiêu thốngnhất vì dân, vì nước Vì thế, nhân dân đã nô nức tham gia khởi nghĩa dưới cờ Tây Sơn.Trong “Hịch Tây Sơn”, lãnh đạo phong trào Tây Sơn đã nêu rõ mục đích “Đánh đổquyền thần Trương Thúc Loan, ủng hộ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương” để tập hợp lựclượng, phân hóa kẻ thù “Hịch Tây Sơn” còn nêu rõ mục đích “Kéo cùng dân ra khỏichốn lầm than”
Những người lãnh đạo phong trào, đặc biệt là Nguyễn Huệ đã hiểu rất rõ tầm quan trọng của lòng người, lòng dân trong quá trình khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng Khi nhận thấy nhân dân chưa hiểu rõ tính chất chính nghĩa của phong trào Tây
Sơn, lòng dân chưa thật sự thuận theo phong trào, thì một mặt tiến hành phương pháp sửdụng lực lượng, tiến hành chiến tranh cho phù hợp; mặt khác, giương cao ngọn cờ chínhnghĩa để tập hợp lực lượng Đây là sự xử lý hết sức tài tình và khéo léo của Nguyễn Huệ
Trang 26trong điều kiện lịch sử lúc đó Nguyễn Huệ đã thuận theo sự phân tích thấu đáo của NgôThì Nhậm khi giặc Thanh sang xâm lược nước ta: “Các bộ thần nhà Lê đâu đâu cũng
có Nghe tin quân Thanh sang viện, họ đều nghển cổ chờ mong Như vậy, quân ta maiphục ở đâu, địa thế hiểm hay không, quân số ít hay nhiều, giặc chưa biết, chúng đã báotrước cho giặc biết”, “Lòng người đã không vững rồi, cái lo bên trong chắc sẽ xảy ra,dẫu đến Tôn, Ngô sống lại cũng phải bó tay” [9, tr 290]
Điều này cho thấy Nguyễn Huệ đã nhận rõ vấn đề lòng dân có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng phương pháp và nghệ thuật tiến hành chiến tranh Ngay bọn xâm lược cũng rất chú trọng đánh vào lòng người Đại Việt trong chiến tranh xâm lược Vua Càn Long nhà Thanh đã từng căn dặn Tôn Sĩ Nghị, viên Thống đốc Lưỡng Quảng chỉ huy 30 vạn quân sang xâm lược nước ta, là cần phải làm cho lòng người không thuận với quân Tây Sơn thì mới giành được thắng lợi, “Nếu lòng người nước Nam còn nhớ đến nhà Lê có quân ta kéo đến thì ai chẳng gắng sức; Nguyễn Huệ phải tháo lui”.
Để thu phục được nhân tâm, tập hợp được lực lượng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc chiến thắng giặc ngoại xâm, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng Đế đảm
nhiệm trọng trách lịch sử trước dân tộc Ý nghĩa đó thể hiện rất rõ trong bài Chiếu lênngôi: “Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làmvua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân,
vì vậy trẫm nghĩ phải tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ, để mở mang núi rừng, cốt ý quét sạch loạn lạc, cứu vớt dân trong vòng nước lửa trẫm hai lần gây dựng họ
Lê, thế mà tự quán họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc hàchỉ trông mong vào trẫm” [10, tr 350]
Chính vì vậy, khi Quang Trung dừng quân tại Nghệ An hơn mười ngày để
bổ sung thêm lực lượng, quân Tây Sơn đã nhanh chóng tăng lên đến hơn mười vạnngười Lá cờ đỏ của quân Tây Sơn lúc này đã trở thành ngọn cờ quật cường và đoàn kếtcủa cả dân tộc; phong trào nông dân Tây Sơn đã nhanh chóng phát triển thành phongtrào dân tộc rộng rãi Trước cảnh nước mất, nhà tan, hàng vạn thanh niên đã hăng háitham gia đội quân cứu nước Lực lượng nòng cốt của đội quân Tây Sơn chủ yếu nôngdân, trải qua gần hai mươi năm trời chinh chiến trong Nam, ngoài Bắc, đã được tôiluyện trong ngọn lửa đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, dày dạn kinh nghiệm chiếnđấu, một lòng một dạ vì Tổ quốc
Khí thế hào hùng đó đã được Quang Trung một lần nữa thổi bùng lên bằngmột cuộc duyệt binh lớn tại trấn doanh Nghệ An trước khi bước vào trận sống mái vớiquân thù, ngay quân Thanh cũng phải thừa nhận quân Tây Sơn “Hợp lại đông như kiến
cỏ, thế lực ồ ạt như nước triều dâng”
Có được “Thế lực ồ ạt như nước triều dâng” ấy là kết quả của một đường lối chiến tranh chính nghĩa và đúng đắn, phù hợp lòng người, đáp ứng khát vọng cháy bỏng của quần chúng nhân dân đã hơn 200 năm sống trong các cuộc nội chiến, mong
muốn đất nước thống nhất, sạch bóng quân thù, được sống trong hạnh phúc, hòa bình
Trang 27Phong trào Tây Sơn đã thức tỉnh ý thức độc lập dân tộc, khơi dạy chủ nghĩa yêu nướctrong mọi tầng lớp nhân dân thành sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù Đồng thời, đócòn là kết quả của nghệ thuật tiến hành CTND, nghệ thuật thu phục nhân tâm của lãnh
tụ Quang Trung - Nguyễn Huệ
Điển hình cho chính sách thu phục lòng người, phải kể đến ba lần QuangTrung - Nguyễn Huệ mời danh sĩ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra phò giúp Không cóngọn cờ đại nghĩa thì không thể chiêu nạp được hiền tài; không có con người đại trí, đạidũng như Nguyễn Huệ thì cũng không thể thâu dụng được nhân tâm cho sự nghiệp lớn
Đó là mối quan hệ giữa sự nghiệp vĩ đại với con người vĩ đại, mà sự hòa quyện giữa conngười và sự nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau càng lan tỏa, hấp dẫn và có sức thu phụcnhân tâm mạnh mẽ
Vừa đánh vừa xây dựng, vừa xây dựng vừa phát huy và nhân lên sức mạnh
để chiến thắng kẻ thù là một nét độc đáo của nghệ thuật xây dựng và phát huy TTLD của phong trào Tây Sơn.
Đầu tiên, phong trào Tây Sơn chỉ là một phong trào nông dân đứng lên chống ách áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị địa chủ phong kiến, ảnh hưởng của phong trào chỉ trong mấy tỉnh miền Trung thuộc phủ Quy Nhơn (Công Tum và Bình Định ngày nay) Nhưng chỉ trong thời gian ngắn, phong trào Tây Sơn liên tiếp giành những thắng lợi quan trọng, hạ thành Quy Nhơn năm 1773, thừa thắng chiếm Quảng Ngãi, giải phóng Phú Yên, tiến công Gia Định đánh đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn Tiến quân ra Bắc, tiễu phạt nhà Trịnh, phong trào Tây Sơn đã biểu thị nguyện vọng, ý chí và tình cảm thống nhất mạnh mẽ của nhân dân cả nước Trong Hịch Tây Sơn đã thể hiện rõ khát vọng này:
“Nam, một dải tâm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần”
“Bắc, mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện” [10, tr 343].
Vì vậy, khí thế cách mạng nhanh chóng lan ra cả nước với mục tiêu thốngnhất Tổ quốc Đến đây thì mọi tầng lớp nhân dân khắp mọi miền đất nước, từ Bắc đếnNam đã chiến đấu dưới một ngọn cờ thống nhất - ngọn cờ Tây Sơn Phong trào Tây Sơn
từ một cuộc khởi nghĩa nông dân ở Quy Nhơn đã trở thành phong trào chống áp bức bótlột, lật đổ giai cấp thống trị trên quy mô cả nước Ý chí, nguyện vọng, tình cảm củanhân dân, sức mạnh vật chất tinh thần của nhân dân cả nước đã được quy tụ về một mối,trong một thế trận chung của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của anh em Tây Sơn Phong tràonông dân đã thực sự trở thành phong trào quật khởi của cả dân tộc Đây là một đặc điểmđộc đáo của phong trào Tây Sơn và là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử dân tộc.Tinh thần dân tộc, ý chí thống nhất của nhân dân ta, mà lực lượng tiêu biểu, nòng cốt lànông dân thực sự trở thành một sức mạnh vô địch và là yếu tố quyết định cho việc xâydựng TTLD
Sau hơn hai thế kỷ bị chia cắt bởi nạn cát cứ, lần đầu tiên sự thống nhất đấtnước được thực hiện trên quy mô rộng lớn suốt từ Bắc đến Nam; và cũng là lần đầu tiênTTLD được xây dựng trên phạm vi cả nước Thế trận đó vừa là cơ sở sức mạnh vừa là
Trang 28kết quả trực tiếp của sự thống nhất Tổ quốc, là nhân tố cơ bản quyết định chiến thắngcủa dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh sau đó.
Trên nền tảng thế trận chung của phong trào Tây Sơn được tạo lập sau khi
thống nhất đất nước, để chiến thắng giặc ngoại xâm, Nguyễn Huệ lại tiếp tục bồi đắp TTLD những nội dung mới, nâng nó lên thành sức mạnh của một phong trào giải phóng dân tộc, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Thanh Để làm được điều đó,
Nguyễn Huệ đã tiến hành một loạt các biện pháp quan trọng: giáo dục cho mọi tầng lớpnhân dân nhận rõ kẻ thù của dân tộc, bộ mặt xâm lược của giặc Thanh; chỉ rõ bộ mặtphản động, bán nước hại dân của tập đoàn phong kiến Lê Chiêu Thống; khơi dậy mạnh
mẽ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quyết tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc trong mọi ngườidân và binh lính; chỉ rõ mục đích chính nghĩa và cao cả của cuộc kháng chiến chốngngoại xâm; không ngừng hun đúc tinh thần và ý chí chiến đấu của binh sĩ Trong lời dụtướng sĩ tại Thanh Hóa, những nội dung trên đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm củamọi binh sĩ và mỗi người dân, Nguyễn Huệ đã thể hiện quyết tâm sắt đá và nêu cao mụcđích chính nghĩa của cuộc kháng chiến:
“Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng tri hữu chủ”
Những lời tuyên bố đanh thép của vị Thống soái trước giờ xuất trận càngnâng cao ý chí chiến đấu và niềm tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc chiến tranh yêunước Lòng dân, mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước, ý thức dân tộc, niềm tin, ý
chí chiến đấu của nhân dân đã được Quang Trung không ngừng vun đắp, khơi dậy và phát huy cao độ trong thế trận tiến công chung của cả dân tộc vì sự nghiệp giải phóng
đất nước Việc Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố trước ba quân khi chuẩn bịtổng công kích giặc Thanh, sẽ làm lễ đón Tết nguyên đán tại kinh thành Thăng Long đãgieo vào binh lính và cả nhân dân niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, làm tăng thêmgấp bội sức mạnh vốn đã to lớn của phong trào Tây Sơn trong trận quyết chiến với kẻthù Đây thực sự là tài năng của Quang Trung trên cơ sở đánh giá đúng địch - ta, nắmchắc chiều hướng vận động của tình hình để kịp thời có biện pháp thổi bùng ngọn lửaquật cường, ý chí chiến đấu cho quân dân cả nước hướng vào tiêu diệt quân xâm lược
Không ngừng tạo thế để tăng thêm sức mạnh, không ngừng tăng thêm lực lượng để tạo thế mới là một phương châm tiến hành chiến tranh được thực hiện trong từng trận đánh mà phong trào Tây Sơn vận dụng rất thành công Thiên tài quân sự của Quang Trung được biểu hiện không chỉ ở tư tưởng đánh tiêu diệt, tinh thần tiến công, chủ động, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, áp đảo kẻ thù; mà còn biểu hiện rõ nét ở nghệ thuật thu phục nhân tâm, phát huy tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí thống nhất Tổ quốc, nâng cao niềm tin và ý chí chiến đấu của mọi tầng lớp nhân dân hướng vào mục tiêu thống nhất đất nước và chống ngoại xâm.
Như vậy, ở phong trào Tây Sơn, quá trình xây dựng lực lượng cũng là quá trình tạo lập, phát huy sức mạnh của TTLD Càng đánh càng mạnh, lòng dân càng
Trang 29dâng cao, thế trận càng vững chắc, đó là vấn đề mang tính quy luật của sự phát triển TTLD của phong trào Tây Sơn.
Khi chiến tranh kết thúc, Quang Trung nhanh chóng thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Việc đầu tiên là Quang Trung ra Chiếu khuyến nông nhằm “khôi phục dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang” tất cả nhân dân đã phá sản và đi phiêu bạt khắp nơi đều được lệnh trở về quê nhận ruộng đất công của làng xã để cày cấy Chính sách quân điền được sửa đổi nhằm đảm bảo cho nhân dân có phần ruộng đủ để sống Ruộng đất tư của bọn phản động, ruộng đất bỏ hoang quá thời hạn quy định, đều bị tịch thu giao cho các làng xã quản lý Với chính sách ấy, sau ba năm khôi phục kinh tế, ruộng đất bỏ hoang đã được thanh toán, nền sản xuất nông nghiệp được phục hồi, đời sống các tầng lớp nhân dân, chủ yếu là nông dân từng bước được cải thiện.
Chính sách khuyến nông là chính sách kinh tế cơ bản mà Quang Trung thựchiện, có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đờisống nhân dân, mà còn khuyếch trương những thành quả của phong trào Tây Sơn, tạonên lòng tin của nhân dân đối với Triều đại Tây Sơn trong điều kiện hòa bình, khôi phụcđất nước sau chiến tranh Thực chất xây dựng lòng tin cho nhân dân lúc đó là xây dựnglòng tin cho nông dân Đối với nông dân, vấn đề ruộng đất là vấn đề cơ bản Chính sáchkhuyến nông chưa phải là chính sách cải cách ruộng đất nhằm tước đoạt ruộng đất củađịa chủ phong kiến chia cho nông dân, nhưng ý nghĩa tích cực của nó là làm cho nôngdân gắn bó hơn với ruộng đất, với sản xuất nông nghiệp, đáp ứng phần nào nhu cầu cơbản của họ Chính sách đó đã tạo ra nền tảng kinh tế để “an dân”, làm cho nhân dâncàng hướng vào và gắn bó hơn với Triều đại Tây Sơn, quyết tâm hơn với sự nghiệp khôiphục kinh tế, xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thời với việc thực hiện chính sáchkhuyến nông, vương triều Quang Trung cũng có nhiều cố gắng phát triển công thươngnghiệp và thực hiện các chính sách giảm nhẹ tô thuế so với trước Mặt khác, chínhquyền Quang Trung ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc Việc học đã
được mở rộng và chế độ thi cử được chấn chỉnh Quang Trung ban bố Chiếu lập học,
khuyến khích các xã, các địa phương mở trường học
Tất cả các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội mà chính quyền Quang Trungthực hiện trong điều kiện lịch sử lúc đó là tiến bộ, vì nhân dân, hợp lòng dân Các chínhsách hợp lòng dân đó vừa có tác dụng mở ra khả năng phát triển mới cho xã hội ViệtNam đương thời, vừa không ngừng cải thiện đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Điều
đó chứng tỏ rằng, ngay trong thời kỳ khôi phục đất nước sau chiến tranh, chính quyền Quang Trung vẫn tiếp tục chú ý xây dựng TTLD, tạo cơ sở, nền tảng cho sức mạnh quốc gia trước những mưu đồ chống phá, lật đổ của kẻ thù bên trong và bên ngoài TTLD được xây dựng vững chắc là tiền đề cơ bản để Quang Trung vào năm
1792 hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn phong kiến Nguyễn ánh đang cấu kết với bọnphong kiến Xiêm và tư bản Pháp Quang Trung coi bọn Nguyễn ánh chỉ là cái “thâyma” và quân Tây Sơn sẽ đập tan “trong nháy mắt” ông cũng không sợ gì bọn tư bản
Trang 30Pháp, ông cho rằng: “bọn người đó nào có tài cán gì có gì đáng lạ để nói với ta vềnhững chiếc tàu đồng và khinh khí cầu của bọn chúng” [10, tr 367].
Không có niềm tin vào sức mạnh của chính mình, sức mạnh của dân tộc, sứcmạnh của nhân dân thống nhất dưới ngọn cờ Tây Sơn thì Quang Trung không thể cóđược quyết tâm như thế Rất tiếc rằng, kế hoạch chưa được thực hiện thì Quang Trung
đã qua đời Dự định một sự nghiệp lớn tự nó chưa thể đi đến thắng lợi Sự nghiệp vĩ đạiđòi hỏi phải có con người vĩ đại Quang Toản lên ngôi không đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp vĩ đại mà người cha để lại Mười năm sau khi Quang Trung mất, phong tràoTây Sơn dần dần suy yếu và thất bại
1.2.3 Thế trận lòng dân ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Phong trào Tây Sơn đã lập nên nhiều chiến công vang dội, thể hiện sứcmạnh quật khởi của quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân và sự vươn lên của cảdân tộc, nhưng chưa tạo ra được điều kiện vật chất cần thiết để đưa xã hội Việt Namthoát khỏi chế độ phong kiến Những cải cách kinh tế - xã hội của chính quyền QuangTrung tuy kiên quyết và tiến bộ, nhưng cũng chưa đủ tạo cho xã hội Việt Nam một nềntảng mới Sau khi Quang Trung mất, Nguyễn ánh chuyển sang phản công và đến tháng
7 năm 1802 chiếm được thành Thăng Long, chính thức khôi phục chế độ phong kiếnphản động trên phạm vi cả nước Đây là giai đoạn lịch sử mà sự phản động của mộttriều đại phong kiến diễn ra đồng thời với sự suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam.Giai cấp phong kiến Việt Nam lúc này về cơ bản không còn tiêu biểu cho xu hướng pháttriển của dân tộc, nó đã trở thành lực cản đối với tiến bộ xã hội Triều đại Nguyễn ánh -triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng, càng bộc lộ rõ tính chất phản động, phản tiến
bộ, phản bội lại lợi ích dân tộc Dưới ách thống trị của tập đoàn phong kiến Nguyễnánh, đời sống mọi tầng lớp nhân dân ngày càng cơ cực, lòng dân ly tán, thế nước trở nênsuy yếu, TTLD được tạo lập và phát triển sau công cuộc thống nhất đất nước và chốngngoại xâm dưới triều Tây Sơn đã bị phá vỡ
Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc, nhân dân lao động không còn là cơ sở, chỗ dựa cho chính quyền đó.
Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng được dựng lên bằng mộtcuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực của bọn xâm lược nước ngoài Bản chấtphản động của chế độ phong kiến nhà Nguyễn bộc lộ ngay từ đầu qua những hành độngkhủng bố, trả thù đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn, đối với chiến sĩ Tây Sơn
và gia quyến của họ, kể cả phụ nữ và trẻ em Hành động trả thù dã man này đã làm chonhân dân lao động càng phẫn nộ, căm ghét tập đoàn phong kiến Nguyễn ánh Các vuanhà Nguyễn, từ Gia Long (1802 - 1819) đến Minh Mệnh (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841
- 1846), Tự Đức (1847 - 1882) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng trước sự nổidậy, chống đối của nhân dân Việc chính quyền nhà Nguyễn lo sợ trước sức mạnh củanhân dân ở Đàng ngoài, phải rời đô vào Huế chứng tỏ tính chất phản động của mộtchính quyền phong kiến thối nát, tất yếu sẽ dẫn đến hành động mượn tay ngoại bang đểchống lại nhân dân Trên thực tế, nhà Nguyễn củng cố sự thống trị của mình bằng cách
Trang 31dựa vào các thế lực bên ngoài và tăng cường chế độ chuyên chế Các vua của nhàNguyễn thâu tóm trong tay tất cả mọi quyền hành, cả quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp Gia Long đã đặt ra lệ “bốn không” là không đặt tể tướng, không lấy đỗ trạngnguyên, không lập hoàng hậu và không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộcnhằm duy trì sự chuyên chế của dòng họ mình [10, tr 370].
Giành được chính quyền, nhà Nguyễn đã thực hiện các chính sách lạc hậu, phản động nhằm tăng cường ách thống trị, bóc lột nhân dân Gia Long ra lệnh tịch thu
ruộng đất của những người theo phong trào Tây Sơn và bắt nhân dân trả lại cho chủ cũnhững ruộng đất mà trước kia Tây Sơn đã chia cho họ Đó là sự tước đoạt thành quả đấutranh của nông dân và là biện pháp phục hồi, củng cố chế độ sở hữu ruộng đất của giaicấp địa chủ - cơ sở xã hội, chỗ dựa duy nhất của chính quyền nhà Nguyễn Chế độ quânđiền được sửa đổi theo hướng củng cố sự thống trị của chính quyền phong kiến, tăngcường bóc lột nông dân Tình hình đó dẫn đến đời sống nhân dân hết sức cơ cực, “nhândân phiêu bạt, xóm làng sơ xác”, “đồng ruộng bỏ hoang, thôn xóm tiêu điều”
Đến giữa thế kỷ XIX, nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phươngTây đã bao trùm và đè nặng lên đất nước ta Vua quan nhà Nguyễn đã không có biệnpháp tích cực đối phó, trái lại còn say sưa, chìm đắm trong cuộc sống xa hoa hoangphí Làm suy yếu khối thống nhất toàn dân, làm tan vỡ TTLD, làm cho đất nướckhông còn đủ sức đối phó với ngoại bang, triều Nguyễn phải chịu trách nhiệm trướclịch sử về đại họa đang đến với dân tộc Việc nhà Nguyễn phục hồi chế độ phongkiến phản động được các thế lực ngoại bang khuyến khích và giúp sức cũng là bướcdọn đường cho sự xâm lược của chúng Một chính quyền được bọn cướp nước giúpcho tạm thời sống lại thì cũng rất dễ nhanh chóng bị giặc ngoài tiêu diệt, khi mà nhândân là lực lượng quyết định bảo vệ đất nước đã bị chính triều Nguyễn ra sức bócnghẹt và bóc lột, khi mà sức mạnh của khối thống nhất dân tộc, sức mạnh của lòngdân đã bị chính quyền đó làm cho rạn nứt và suy yếu
Sau khi sự thống nhất quốc gia được phong trào Tây Sơn khôi phục, việcnhà Nguyễn chỉ lo củng cố quyền thống trị của dòng họ mình, củng cố quyền lực hoàngtộc, trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó không những không có tác dụng củng cố quốc giathống nhất mà còn dẫn đến hậu quả tai hại làm tổn thương sức mạnh đoàn kết thốngnhất của dân tộc, làm suy yếu tiềm lực của đất nước, lòng dân ngày càng ly tán Mộtchính quyền chỉ lo cho bản thân mình, “sợ” nhân dân, coi nhân dân như “giặc” thìkhông thể tập hợp được nhân dân vào cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, thậm tệ hơn
nó còn làm suy yếu sức mạnh quốc gia, làm rạn nứt nền tảng CT - TT của dân tộc,TTLD trên quy mô toàn quốc về cơ bản đã bị phá vỡ Một chính quyền như thế khôngthể hy vọng cùng nhân dân đứng lên chống ngoại xâm, trái lại nó sẵn sàng đứng về phía
kẻ thù của dân tộc để chống lại nhân dân Hành động “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi
về dày mả tổ” của tập đoàn phong kiến Nguyễn là một minh chứng hùng hồn cho nhậnđịnh trên Tội lỗi “trời không dung, đất không tha” đó của tập đoàn phong kiến phảnđộng này đời đời bị các thế hệ người Việt Nam lên án, nguyền rủa
Trang 32Kết luận chương 1
Lòng dân, cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật cường của nhân dân luôn luôn là cơ sở sức mạnh cho công cuộc thống nhất đất nước và chốngngoại xâm Lòng dân càng gắn bó bền chặt trong mục tiêu độc lập, thống nhất của dântộc thì thế nước càng mạnh, lòng dân ly tán thì thế nước suy yếu Vì vậy, các triều đại,các lực lượng yêu nước, tiến bộ đều dựa vào nhân dân để giữ nước TTLD với nghĩalòng dân được khơi dậy, tổ chức quy tụ vào mục tiêu giữ nước, dưới ngọn cờ của lựclượng lãnh đạo dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn để giữ nước, đã hiện hình rõ nét
Sự phát triển của TTLD liên quan chặt chẽ với sự thống nhất quốc gia dântộc Sự thống nhất quốc gia dân tộc là cơ sở cho việc tạo lập TTLD trên quy mô cảnước; đến lượt mình, sự vững chắc của TTLD lại là yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự thốngnhất quốc gia dân tộc Đó là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, cấu thành sức mạnhquốc gia, đảm bảo thắng lợi cho công cuộc giữ nước
Yếu tố quyết định quy tụ được lòng dân, tạo lập và phát huy TTLD là tínhchất tiến bộ, tiêu biểu cho lợi ích dân tộc cùng với sự nghiệp chính nghĩa, cao cả vànhững chủ trương, chính sách hợp lòng dân của lực lượng lãnh đạo đất nước
Các thế lực phản động có thể làm rạn nứt, suy yếu TTLD, nhưng điều đó chỉ
là tạm thời, tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc của nhân dân nhất định được thổi bùnglên, tạo thành sức mạnh trong một thế trận chung của cả dân tộc khi có một ngọn cờchính nghĩa giương cao
1.1 Xây dựng thế trận lòng dân trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV.
Lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua bao thăng trầm biến cố, luôn phảiđương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh và tàn bạo, muốn thôn tính và đồng hóachúng ta Tổ tiên chúng ta đã kiên cường chống giặc giữ nước, nhưng chỉ giành đượcthắng lợi khi lực lượng lãnh đạo dân tộc biết rõ sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân,chăm lo xây dựng các nguồn lực từ dân, tạo nên TTLD
Truyền thuyết kể rằng, vua An Dương, trong cảnh thái bình dựng nước đã chủ quan, không thấy hết âm mưu của kẻ thù, không dựa vào dân mà quá tin vào thành quách, quân đội, tên đồng nỏ liễu, sao nhãng sự cố kết dân tộc, vì vậy đã thất bại khi quân thù tiến đánh Đó là một bài học cay đắng dẫn tới thảm họa cho dân tộc hơn một ngàn năm dưới ách đô hộ của các thế lực phong kiến phương Bắc.
Không chịu cảnh nước mất nhà tan, nhân dân ta liên tục đứng lên dưới ngọn
cờ khởi nghĩa của các vị anh hùng dân tộc mà tiêu biểu là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý
Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền Cóthể nói, các cuộc đấu tranh anh dũng và bền bỉ của dân tộc ta chống lại kẻ thù xâm lược
đã diễn ra dưới mọi hình thức, lúc âm ỷ, khi bùng lên kéo dài suốt mười thế kỷ, hy sinhbao xương máu để tự giải phóng mình, cuối cùng đã giành thắng lợi, mở ra một kỷ
Trang 33nguyên mới - kỷ nguyên độc lập của dân tộc Nhưng lịch sử cũng đặt ra những tháchthức mới đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ, đòi hỏi các triều đại phong kiến ViệtNam lúc này phải biết củng cố khối đoàn kết dân tộc, xây dựng TTLD vững chắc, làm
cơ sở chống lại các thế lực xâm lược phương Bắc
Nghiên cứu quá trình xây dựng TTLD trong giai đoạn từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV, căn cứ vào những sự kiện lịch sử tiêu biểu, có thể chia làm 4 thời kỳ dưới đây.
1.1.1 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ X
Đối với dân tộc ta, thế kỷ X là thế kỷ giành được độc lập và đấu tranh để giữvững nền độc lập non trẻ, xây dựng nhà nước thống nhất Thế kỷ này gắn với các cuộckháng chiến chống xâm lược Nam Hán và cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất
Thế kỷ X là thế kỷ có rất nhiều biến động lịch sử Đất nước độc lập nhưnglúc đầu chưa thống nhất bởi nạn cát cứ Các triều đại phong kiến (dòng họ) thay nhau trị
vì đất nước, nhưng chỉ trong thời gian ngắn (không quá vài thập kỷ), nên chưa đủ thờigian thực hiện những ý tưởng xây dựng đất nước về mọi mặt Mặc dù vậy, để đáp ứng
yêu cầu củng cố nền độc lập, chống ngoại xâm và thống nhất Tổ quốc, các vương triều phong kiến non trẻ cũng đã ý thức được ở mức độ nhất định vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, bước đầu xây dựng TTLD.
Ngay từ thập kỷ đầu của thế kỷ, khi lên nắm triều chính (907) Khúc Hạo(con Khúc Thừa Dụ) đã thực hiện đường lối “thân dân” với chủ trương: “Chính sự cốtchuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” [13, tr 188] Nghĩa là khôngkhắt khe quá với nhân dân, chống bọn tham quan ô lại - sản phẩm của ngàn năm Bắcthuộc để lại, không làm phiền hà, sách nhiễu nhân dân, tạo ra cuộc sống “an cư lạcnghiệp” cho dân chúng Theo đó, các chủ trương cụ thể về cải cách hành chính, quản lý
xã hội, cải cách điền địa, thuế khóa đều được thực hiện Về sau, Dương Đình Nghệ,Ngô Quyền cũng thực hiện các biện pháp “thân dân” theo đường lối chính trị trên
Đường lối chính sách “thân dân” ở nửa đầu thế kỷ X của các triều đại phongkiến nước ta đã tạo ra cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi để đoàn kết các tầng lớp nhândân, bước đầu xây dựng TTLD Nhờ vậy mà các thế lực phong kiến tiến bộ, được sựủng hộ của nhân dân, đã đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Nam Hán (930 và 938)
Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai do NgôQuyền lãnh đạo, những hình thái biểu hiện của TTLD đã xuất hiện rõ nét và khẳng địnhsức mạnh của nó trong sự nghiệp giữ nước Trước nạn ngoại xâm, thanh niên đã hănghái tham gia vào đội quân đánh giặc, làm cho quân đội của Ngô Quyền từ một đội binhcủa một châu (ái Châu), nhanh chóng trở thành một quân đội dân tộc Nhân dân vùngĐông Bắc còn lưu truyền mãi truyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (An Hải, Hải Phòng)
tự vũ trang theo Ngô Quyền đánh giặc Trai tráng các làng Lâm Đông (Thủy Nguyên,Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Dương) nô nức mang vũ khí, thuyền bè đếnđầu quân Ngô Quyền Toàn dân ở vùng Đông Bắc đều tham gia kháng chiến Ngườikhỏe thì vào các đội dân binh chiến đấu, chặt cây đóng cọc trên sông Bạch Đằng Ngườiyếu thì đóng góp lương thảo, thuyền bè và phục vụ binh sĩ Sự đóng góp sức người, sứccủa và ý chí đánh giặc của nhân dân đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử cuối
Trang 34938, vĩnh viễn xóa bỏ mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán Nhà sử học LêVăn Hưu đã nhận xét: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt mà pháđược trăm vạn quân của Lưu Bằng Thao, mở nước xưng Vương, làm cho người phươngBắc không dám lại sang nữa” [13, tr.202].
Những thập kỷ cuối của thế kỷ X, vào thời Đinh - Lê, triều đình đã thực hiện nhiều chính sách tiến bộ để động viên, quy tụ nhân dân vào công cuộc giữ nước, làm cho TTLD có sự phát triển hơn so với nửa đầu thế kỷ Sau khi dẹp loạn 12 xứ quân,
thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế và bắt tay vào xây dựng nhànước trung ương tập quyền Ông tiếp tục thực hiện các chính sách “thân dân”, quan tâmđến cày cấy và lo việc “yên dân” Đinh Bộ Lĩnh mất, Lê Hoàn lên ngôi trong lúc nhàTống đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta Để củng cố đất nước vừa được thốngnhất và đối phó với giặc ngoại xâm, nhà Lê đã đề ra các chính sách nhằm tăng cườngkhối đoàn kết dân tộc, làm cho “trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia”, cả nước hợpsức chống giặc
Lê Hoàn đã chú trọng phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp bảođảm đời sống nhân dân, tạo cơ sở kinh tế - xã hội quy tụ lòng dân Việc nhà vua đi cày,tịch điền - một nghi lễ của nhà nước phong kiến Việt Nam - thể hiện sự gần dân vàkhuyến khích việc cày cấy, bắt đầu có từ đây (987) Nông nghiệp được mùa kéo theo sựphát triển công thương nghiệp Nhiều con đường lớn, sông đào được xây dựng vào cuốithế kỷ X Lê Hoàn còn cho đúc tiền “Thiên phúc thông bảo” (984) để nhân dân tiện muabán giao lưu, đồng thời khẳng định quyền lực của nhà nước và tính độc lập thống nhấtcủa quốc gia
Về chính trị, Lê Hoàn ra sức xây dựng khối đoàn kết dân tộc Trước hết làloại bỏ các hiềm khích trong nội bộ triều đình, phá tan âm mưu chia rẽ nội bộ ta củagiặc Tống Trên cơ sở đó củng cố quyền lực của nhà nước thống nhất, tuyển dụng ngườihiền tài, động viên trai tráng trong dân chúng tham gia quân đội và các đội vũ trang địaphương Đối với quân đội thường trực, Lê Hoàn cho kiểm điểm dân số để lấy quân.Quân chỉ được gọi khi cần, lúc bình thường thì ở nhà cày cấy Đây là hình thức manhnha của chính sách “ngụ binh ư nông” ở các triều đại sau
Với những chính sách trên, Lê Hoàn đã thu phục được nhân tâm ngay trongnội bộ giai cấp thống trị và dân chúng trăm họ, tạo lập được TTLD trong cuộc chiếntranh chống quân xâm lược Tống năm 981 Vì vậy gần 10 vạn quân Tống hùng hổ, ào ạttiến vào nước ta đã bị quân dân ta đánh cho tan tành
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống là thắng lợi của ý chí tự lập tựcường, của sức mạnh vật chất và tinh thần, sự đoàn kết của nhân dân Đại Cồ Việt trướcmưu đồ bành trướng xâm lược của phương Bắc Sau này (1300), Trần Quốc Tuấn đãnhận xét: “Thời Đinh - Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh màphương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, dựng thànhBình Lỗ, mà phá được quân Tống” [13, tr 236]
Trang 35Như vậy, trong buổi đầu bảo vệ nền độc lập, nhà nước phong kiến Việt Nam ở thế kỷ X đã thấy được vai trò, sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ nước, thực hiện một số chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội đương thời, đáp ứng được nguyện vọng của dân, tập hợp đoàn kết được dân Đó là cơ sở chính trị - xã hội để thống nhất dân tộc và đánh thắng các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược Hình hài ban đầu của TTLD ở thế kỷ X là điểm xuất phát quan trọng cho việc xây dựng TTLD của các nhà nước phong kiến Đại Việt trong các thế kỷ sau.
1.1.2 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XI - XII.
Thế kỷ XI - XII, nước ta bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ của một quốc gia độc lập thống nhất, thời kỳ mở đầu cho nền văn minh Đại Việt Thời kỳ này gắn với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai do triều Lý lãnh đạo.
Tiếp tục những chính sách tiến bộ của các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhà Lý
đã ra sức chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt, thi hành các chính sách thân dân,chăm lo phát triển sản xuất và đời sống của muôn dân, nhằm “cố kết nhân tâm”, củng cốvững chắc TTLD để xây dựng và bảo vệ đất nước Ngay từ khi lên ngôi, rời đô từ Hoa
Lư về Thăng Long, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) đã xuống chiếu lệnh cho những ngườitrốn chạy hoặc phiêu tán (thời Lê Long Đĩnh) trở về quê cũ, ra lệnh đại xá, cấp quần áo,lương thực, thuốc men và cử người đưa về quê đối với những tù nhân bị Ngọa Triềugiam giữ Tất cả những người bị tù tội, phiêu tán trở về đều được cấp ruộng đất để càycấy Để giúp “con dân” khắc phục khó khăn, đói kém, Lý Thái Tổ đã ra lệnh xá thuế 3năm liền cho cả nước (1011 - 1013), xóa nợ cho những người mồ côi, già yếu, góachồng Sau đó, những năm được mùa hay có việc vui, triều đình lại lệnh xóa hoặcgiảm tô, thuế cho thiên hạ
Sức kéo cho nông nghiệp ở thời kỳ này được nhà nước rất quan tâm Năm
1123, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu: “trâu là vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi chongười không ít không được giết trâu ăn thịt, ai làm trái thì sẽ bị trị tội theo pháp luật”[8, tr 204] Nhà nước ban hành luật lệ nghiêm khắc để bảo vệ trâu bò, vừa giữ được trật
tự xã hội, vừa đảm bảo nguồn sức kéo cho nền kinh tế thuần nông, góp phần làm chomùa màng tươi tốt, làng xóm yên vui
Trên cơ sở chế độ nhà nước trung ương tập quyền, các triều đình phong kiến ban hành nhiều chính sách nhằm xác định quyền sở hữu tối cao của nhà nước
về ruộng đất Tuy các chính sách liên quan đến ruộng đất đều thể hiện tính giai cấp rõ rệt, nhưng mặt tích cực của nó là khuyến khích phục hóa, khai hoang mở mang diện tích canh tác, dân chúng được an cư, lạc nghiệp, đáp ứng được một phần nguyện vọng của nhân dân trong điều kiện chế độ phong kiến.
Do điều kiện địa lý, khí hậu nước ta nên sản xuất nông nghiệp, cũng như đờisống nói chung của nhân dân, thường bị thiên tai đe dọa, đặc biệt là nạn lụt hàng năm.Lụt là một nguyên nhân gây ra đói kém và làm cho nhiều người phải tha phương cầuthực Để khắc phục tình trạng trên, từ đầu thế kỷ XI các vua nhà Lý đã chú trọng đến đê
Trang 36điều và công việc trị thủy Đến đầu thế kỷ XII các địa phương gần sông lớn đều có đêphòng lụt Việc đắp đê trị thủy ở những thế kỷ này cũng như suốt chiều dài lịch sử củadân tộc ta, là yêu cầu tất yếu của công cuộc dựng nước và giữ nước Những gì nhà Lýlàm đã hạn chế được tác hại ghê gớm của lũ lụt, làm cho mùa màng tốt tươi, đời sốngnhân dân no đủ trong thanh bình Vì thế, người dân gắn bó với quê hương, đất nướcmình.
Để đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ đất nước, nhà Lý đã thực hiệnchính sách “ngụ binh ư nông” trong tổ chức quản lý quân đội Quân đội Đại Việt từ thế
kỷ XI đến thế kỷ XII được tổ chức tương đối chính quy gồm cấm quân và quân các Lộ,Phủ Quân thường trực khoảng 10 vạn, được chia làm 5 phiên để luân phiên nhau vềcày cấy tự cấp Chính sách “ngụ binh ư nông” một mặt giải quyết được nhân lực chosản xuất, tạo ra vật chất đảm bảo cuộc sống của hậu phương quân đội và đóng góp chonhà nước; mặt khác, làm cho mỗi người lính gắn bó với quê hương đồng ruộng, khi cógiặc thì “trăm họ là binh”, toàn dân đánh giặc
Sự chăm lo phát triển sản xuất và đời sống dân sinh của các triều đại phongkiến tiến bộ Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, qua một số chính sách nổi bật trên bắtnguồn từ nhận thức của giai cấp thống trị lúc này là: “Xem sự đủ ăn là nguyện của dân,lấy việc cày cấy là gốc của nước” [13, tr 298 ] Khi nhà nước có những chính sách
“thân dân”, lo nâng cao đời sống của dân, thì tinh thần “trung quân”, “ái quốc” của dânchúng được tăng cường, đó là cơ sở để tập hợp, đoàn kết nhân dân, tạo ra TTLD trongcông cuộc giữ nước
Cùng với những chính sách trên, nhà Lý rất coi trọng phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đoàn kết nhân dân Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, dân tộc ta
phải đối mặt với kẻ thù phương Bắc là quân xâm lược Tống Nhà Tống (960 - 1279) làmột trong những triều đại lớn của chế độ phong kiến Trung Quốc Nước Tống là nướclớn, có dân số đông nhất thế giới lúc bấy giờ Sau thất bại của cuộc chiến tranh xâmlược nước ta lần thứ nhất (981), chúng ráo riết chuẩn bị và tiến hành chiến tranh xâmlược nước ta lần thứ hai với quy mô lớn hơn, tàn bạo hơn Thủ đoạn của chúng rất xảoquyệt, trong đó có việc liên kết với nước láng giềng phía Nam nước ta để đánh ta từ haiđầu, mua chuộc lôi kéo các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta làm nộiứng, tạo bàn đạp tấn công v.v Thực chất là giặc Tống tìm cách chia rẽ khối đoàn kếttoàn dân của Đại Việt để dễ bề thôn tính
Nhà Lý đã có gần một thế kỷ xây dựng kinh tế, xã hội với các chính sách
“thân dân”, chăm lo phát triển kinh tế và đời sống của dân, làm cho “thế nước” thêmvững, lòng dân thêm “trung” Ở thời đại phong kiến, nước là vua, trung thành với vua làtrung thành với nước, là yêu nước Giờ đây, trước họa giặc Tống xâm lăng, lòng “trungquân ái quốc” đứng trước thử thách mới, đó là sự chiến đấu hy sinh vì xã tắc Triều đìnhnhà Lý đã bằng nhiều cách để dân chúng biết được âm mưu xâm lược nước ta của giặcTống, khơi dậy trong nhân dân truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên, khẳng định
Trang 37vị thế, lòng tự hào, tự tin dân tộc Tất cả nội dung trên được thể hiện cô đọng trong bài
“Thơ Thần” của Lý Thường Kiệt cuối thế kỷ XI:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận ở sách trời Cớ sao
lũ giặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).
áng văn trên được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, không
những có tác dụng động viên tinh thần to lớn, cổ vũ nhân dân đứng lên đánh đuổi quânxâm lược Tống, mà còn khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân ta mãimãi về sau
Để quy tụ được lòng dân, tạo sự đồng lòng trong hành động chống quân thù,triều đình nhà Lý còn làm cho nhân dân ta, cả dân chúng và binh lính đối phương thấyđược sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống giặc Tống xâm lược
Trong cuộc tiến công đánh trước sang đất Tống để tự vệ, với tư tưởng “ngồiyên đợi giặc đến sao bằng đánh trước để bẻ gẫy mũi nhọn của nó”, muốn cho nhân dânhai nước ủng hộ và tin vào sự chính nghĩa của Đại Việt, Lý Thường Kiệt đã cho phânphát bản “Lộ bố” khắp nơi nói rõ sự tàn bạo, hèn kém và mưu đồ xấu xa của vua quannhà Tống “Lộ bố” khẳng định: “Nay bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiếnquân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt; chỉ có ý phân biệt quốc thổ, khôngphân biệt chúng dân Phải quét sạch nhơ bẩn, hôi tanh Ta nay ra quân, cốt để cứumuôn dân khỏi nỗi chìm đắm Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe Ai nấy hãyđắn đo, chớ mang lòng sợ hãi” [13, tr 266]
Nhờ những việc làm trên, nhà Lý đã giành được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, không chỉ dân Đại Việt mà cả dân Tống, “dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng, đem trâu, rượu khao quân ta Từ đó mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Lý Thường Kiệt đằng xa, thì nói là quân của cha họ Lý người nước Nam Nhờ đó mà uy danh quân ta lan khắp nơi” [13, tr 266].
Triều đình nhà Lý luôn chú ý xây dựng khối đoàn kết dân tộc Vấn đề đoàn
kết dân tộc ở vào thời điểm chuẩn bị chống quân xâm lược Tống cuối thế kỷ XI đã đượcgiải quyết tương đối tốt Nhà nước phong kiến Đại Việt thời Lý đang độ đi lên, cácchính sách phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với yêu cầu của đất nước, nên không cómâu thuẫn, đố kỵ lớn trong nội bộ quý tộc phong kiến Mâu thuẫn giữa nhân dân vớigiai cấp thống trị cũng tạm thời lắng xuống Sự khó khăn của vấn đề đoàn kết toàn dânlúc này là các dân tộc thiểu số ở vùng núi biên giới, xa kinh thành, lại luôn bị nhà Tốngmua chuộc lôi kéo với nhiều thủ đoạn thâm độc Nhà nước Đại Việt đã ban chiếu vạch
rõ âm mưu, tội ác của giặc, trấn áp những kẻ ngoan cố tiếp tay cho giặc, các lực lượngchống đối, có ý đồ cát cứ; đồng thời ban phát gạo, muối, vải lên miền núi cho nhân dân;
Trang 38phong chức sắc cho thủ lĩnh dân tộc thiểu số; dùng quan hệ hôn nhân để kết thân vớimột số tù trưởng có uy tín (Lý Thái Tổ gả công chúa cho tù trưởng Giáp Thừa Quý,
Lý Thái Tông gả công chúa cho Thân Thiện Thái Lý Thánh Tông gả công chúa choThân Đạo Nguyên ) Với những biện pháp trên, nhà Lý đã thu phục được đa số nhữngngười đứng đầu các dân tộc thiểu số, không chỉ bằng quan hệ vua - tôi, dân - nước, màbằng cả quan hệ gia đình Trên cơ sở ấy thu phục được nhân tâm, đoàn kết được đồngbào vùng sơn cước, tạo ra TTLD trong cả nước
Quy tụ lòng dân và phát huy TTLD tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù Trong điều kiện chế độ phong kiến trung ương tập quyền đang trên đà phát triển,
thế nước đang lên, các triều đại phong kiến Đại Việt (chủ yếu là nhà Lý) đã thực hiệnnhiều chính sách thể hiện sự tích cực, chủ động xây dựng và phát huy TTLD trong côngcuộc giữ nước TTLD thời kỳ này được xây dựng trên quy mô toàn quốc, hình thái biểuhiện tương đối phong phú, thực sự mang lại sức mạnh cho quốc gia Đại Việt, nhất làtrong cuộc kháng chiến chống Tống 1075 - 1077
Trong cuộc kháng chiến năm 1075 - 1077, những nơi giặc tràn qua, thế giặcđang mạnh, dân chúng đã nhất loạt thực hiện kế “thanh dã”, vườn không nhà trống.Quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết không còn gì để cướp của, bắt người đã lâm vào cảnhkhốn khó, hoang mang Về phía ta, nhân dân hăng hái đóng góp sức người và của cảicho kháng chiến Hàng vạn dân ở khắp các huyện, lộ trung du và đồng bằng châu thổsông Hồng đã cùng với binh sĩ xây dựng chiến tuyến Như Nguyệt dài tới 160 dặm (80km) để chặn đánh quân thù Nhân dân đã tích cực đưa con em vào quân đội trực tiếpđánh giặc Quân đội nhà Lý trước chiến tranh có khoảng 10 vạn, khi quân Tống xâmlược đã nhanh chóng tăng lên 20 vạn Ngoài ra còn có các đội dân binh, các đội quâncủa các thủ lĩnh dân tộc thiểu số Chính các đội quân của đồng bào dân tộc đã dũng cảmđánh chặn, kìm chân quân giặc, quấy nhiễu, đánh tỉa phía sau lưng chúng, làm cho giặckhông lúc nào yên ổn Tiêu biểu là các đội quân của Tôn Đản, phò mã Thân CảnhPhúc
Sự đồng tâm hiệp lực của nhân dân và binh sĩ trên khắp mọi nơi đã chứng tỏ một TTLD vững chắc trong kháng chiến, đây là điều kiện quan trọng để triều đình xác định và thực hiện các ý đồ chiến lược, chiến thuật đánh giặc Vì vậy mà chúng ta đã
nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai với khí thế:
“Rầm rập ruổi quân cự địch, ầm ầm sấm động ra uy Thành Ung châu ức ngàn quân giặctan tành như trận gió cuốn mây Sông Như Nguyệt trăm vạn binh thù vỡ lở như mặt trờiđốt giá” [13, tr 295] Gần 40 vạn quân xâm lược Tống bị tiêu diệt (Kể cả Ung châu)cùng hàng vạn tấn lương thảo, khí giới bị phá hủy Nhà Tống đã tiêu tốn cho cuộc chiếntranh này 5.190.000 lạng vàng, khiến cho sức mạnh quân sự, tiềm lực chiến tranh củachúng suy giảm nghiêm trọng, phải từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai, không những bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền quốc gia mà còn mang lại cho nhân dân Đại Việt gần hai thế kỷ (1077 - 1285) hòa bình để xây dựng đất nước Thắng lợi này do nhiều nguyên nhân Xét về mặt chính trị - xã hội, đây là thắng lợi của TTLD và theo
Trang 39lôgích nó tạo khả năng tốt hơn cho việc xây dựng, củng cố TTLD trong sự nghiệp xây dựng, BVTQ ở những thế kỷ sau.
1.1.3 Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XIII - XVI.
Thế kỷ XIII - XIV là thời kỳ phát triển cực thịnh của quốc gia phong kiếnĐại Việt, thời kỳ hùng tráng của lịch sử dân tộc gắn với những chiến công hiển hách balần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông Đây là thời kỳ phát triển cao của TTLDtrong điều kiện chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Trần (1226 - 1400)
Vào những năm cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, triều đại nhà Lý suy vong,nhân dân sống cơ cực và bị các tập đoàn phong kiến lợi dụng sức người, sức của chocác cuộc chinh phạt lẫn nhau Triều Lý không còn đáp ứng được yêu cầu xây dựng, bảo
vệ đất nước Nhà Trần thay thế nhà Lý Vương triều Trần được thành lập 1226, đãnhanh chóng củng cố chính quyền trung ương tập quyền và thống nhất quốc gia Tiếp
đó là những nỗ lực tổ chức bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế làm cho quốc gia ĐạiViệt hùng mạnh
Đặc biệt, nhà Trần tiếp thu và thực hiện những biện pháp xây dựng TTLD ởcác thế kỷ trước Song cả về nhận thức và trên thực tế, các chính sách mà Trần đã thựchiện có quy mô rộng lớn hơn và rất mạnh mẽ
Nhà Trần đã nhận thức sâu sắc hơn vai trò của quần chúng nhân dân trong công cuộc giữ nước với luận điểm nổi tiếng “chúng chí thành thành” Kết cấu xã hội
thời Trần bao gồm nhiều đẳng cấp khác nhau, trên cùng là đẳng cấp quý tộc mà quyềnlợi gắn liền với thái ấp Tiếp đó là đẳng cấp quan liêu sống dựa vào bổng lộc Đẳng cấpbình dân gồm những người không có chức tước gì, phần lớn là nông dân và thợ thủcông tự do, đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội Đẳng cấp cuối cùng có thânphận thấp kém nhất là nô tỳ Quần chúng nhân dân ở đây có thể hiểu là tầng lớp bìnhdân và nô tỳ
Xã hội có giai cấp, đẳng cấp, tất nhiên là có mâu thuẫn giữa các giai cấp, đẳng cấp đó Nhưng ở buổi đầu của thời Trần, các mâu thuẫn này còn lắng dịu Giai cấp phong kiến quý tộc nhà Trần qua kinh nghiệm của các thế kỷ trước và qua cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước ở thế kỷ XIII đã dần nhận thức sâu sắc hơn vai trò to lớn của quần chúng nhân dân - những người thuộc đẳng cấp thấp của xã hội.
Họ biết rõ làm ra ngũ cốc nuôi sống thiên hạ là dân, đào sông, đắp đê là dân, xây thành đắp lũy cũng là dân, khi có giặc cũng cần đến dân Dân có giàu thì nước mới thịnh, dân có “trung” thì vương triều mới bền, xã tắc mới vững.
Sự đánh giá vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân được Trần QuốcTuấn khái quát trong câu nói: “Chúng chí thành thành” Nghĩa là ý chí của nhân dân làbức thành Bức thành che chắn mọi phong ba bão tố, bức thành ngăn chặn quân thù xâmlược Do vậy phải luôn chăm lo, giữ gìn bức thành lòng dân
Từ những nhận thức trên, vua Trần và các quý tộc tiến bộ ngoài việc quantâm phát triển kinh tế, chăm lo đời sống dân sinh, còn luôn gần gũi nhân dân Các vua
Trang 40Trần giữ nhiều lối sống, phong cách của tầng lớp bình dân, thường “vi hành” để hiểu rõdân tình Vào lúc thịnh trị nhất của nhà Trần, bài học về “thượng sách giữ nước” đãđược Trần Quốc Tuấn khái quát, đó là: “khoan dân lực dĩ vi thâm căn cố đế chi kế”.Nghĩa là khoan sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc Đây là biểu hiện của tư tưởng “dân vitrọng”, “dân vi bản” trong hoàn cảnh nước Đại Việt ở giai đoạn này Vì vậy mà nhàTrần thu phục được lòng dân.
Nhà Trần đã tích cực xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy cao độ TTLD trong công cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Nhà Trần rất chú trọng thực
hiện các chính sách đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp xã hội, các dân tộc trong quốc gia,các lực lượng trong bộ máy nhà nước để xây dựng và bảo vệ đất nước Trong đó, nhàTrần đặc biệt chú ý tăng cường đoàn kết trong nội bộ giai cấp phong kiến quý tộc, cáchoàng thân quốc thích Bộ phận quý tộc cầm quyền giai đoạn đang lên của nhà Trần đãbiết gạt bỏ những bất đồng, nghi kỵ, thậm chí là hận thù lẫn nhau, đặt lợi ích của nonsông xã tắc lên trên hết Tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết ấy là Quốc Công Tiết ChếHưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Trước sự an nguy của quốc gia, Trần Quốc Tuấn đãđặt chữ “trung” lên trên hết Vì lợi ích của xã tắc, của trăm họ, ông đã chủ động xóa bỏhiềm khích với Trần Quang Khải Mọi sự ngờ vực, bất đồng trong tôn thất được xóa bỏ.Thay vào sự bất hòa là “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận” Đó chính là hạt nhâncủa sự đoàn kết dân tộc, của TTLD trong thời kỳ này
Đoàn kết tướng sĩ trong quân đội như ruột thịt là nét nổi bật ở thế kỷ XIII, dưới thời Trần Tiếp thu việc xây dựng quân đội nhà Lý, nhà Trần rất chú ý đến xây dựng lực lượng vũ trang, bao gồm quân chính quy và dân binh, quân của các vương hầu, tù trưởng Nhà Trần cũng xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang theo chính sách “ngụ binh ư nông”, nhưng với quy chế chặt chẽ hơn nhà Lý Do vậy ở thời Trần “trăm họ đều là binh” Quân đội thường trực lúc thời bình không nhiều, vì nhà Trần chủ trương: “Quân quý hồ tinh bất quý hồ đa” Binh pháp rất được chú trọng, học tập binh pháp là nghĩa vụ bắt buộc của tướng sĩ Tuy vậy, tướng tài quân khỏe không phải là tất cả của sức mạnh Nhà Trần ý thức rõ: muốn quân đội có sức mạnh vô địch, phải kết hợp được nhiều yếu tố Trong đó, quan trọng nhất là người lính phải có trạng thái tinh thần, tư tưởng thật tốt, phải đoàn kết, thống nhất cao độ Vua quan và các tướng lĩnh nhà Trần rất chú trọng xây dựng quân đội về mặt này, đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các tướng lĩnh và binh sĩ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn - người thống lĩnh quân đội thời Trần ở thế kỷ XIII, đã dạy các tướng lĩnh: “Có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được” [13, tr 335] Nghĩa là người chỉ huy và người lính chiến đấu cho cùng một mục đích phải hiểu nhau, thương yêu nhau, sống chết cùng nhau.
Để làm được việc này, người chỉ huy là người nắm giữ vị trí trung tâm, chủđộng Các tướng lĩnh thời Trần rất nghiêm khắc, nhưng đồng thời lại rất gần gũi, thươngyêu và chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của binh sĩ, tin tưởng và khoan dung đốivới họ như cha đối với con Vì vậy mà người lính gắn bó với chỉ huy, nhất nhất theolệnh chỉ huy trong luyện tập và trong chiến đấu, lúc thắng lợi cũng như lúc gặp nạn