1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN SĨ CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM

120 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn 50 năm qua kể từ Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đến nay, công nghiệp hoá chẳng những vẫn luôn được khẳng định là nhiệm trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở nước ta, mà còn nhiều lần được tái xác định là “đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng”, song lại vẫn chỉ đang ở “giai đoạn đầu” hay “chặng đường đầu tiên”. Điều đó chứng tỏ rằng, công cuộc công nghiệp hoá mà chúng ta đang ra sức thực hiện hết sức khó khăn phức tạp và còn chứa đựng rất nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục làm sáng tỏ, và hơn thế, thậm chí còn cần phải được nhận thức lại, cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, theo như tinh thần đổi mới từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986).

Trang 1

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

VIỆN KINH TẾ HỌC

BÙI TẤT THẮNG

SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA CÁC NỀN KINH TẾ MỚI CÔNG NGHỆP HOÁ

Ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

Mã hiệu: 50201

LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn: PTS VŨ TUẤN ANH

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án:

Hơn 50 năm qua kể từ Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đến nay, công nghiệp hoáchẳng những vẫn luôn được khẳng định là nhiệm trung tâm trong suốt thời kỳ quá độtiến lên CNXH ở nước ta, mà còn nhiều lần được tái xác định là “đã thu được những kếtquả bước đầu quan trọng”, song lại vẫn chỉ đang ở “giai đoạn đầu” hay “chặng đườngđầu tiên” Điều đó chứng tỏ rằng, công cuộc công nghiệp hoá mà chúng ta đang ra sứcthực hiện hết sức khó khăn phức tạp và còn chứa đựng rất nhiều vấn đề cần phải đượctiếp tục làm sáng tỏ, và hơn thế, thậm chí còn cần phải được nhận thức lại, cả về phươngdiện lý luận lẫn thực tiễn, theo như tinh thần đổi mới từ Đại hội lần thứ VI của Đảng(1986)

Một vấn đề cốt lõi nhất trong số ấy là động thái chuyển dịch cơ cấu ngành trong quátrình công nghiệp hoá, bao quát trong đó những điều kiện, xu thế, bước đi, con đường,làm thành quá trình lịch sử thay thế nền sản xuất xã hội dựa trên phương thức truyềnthống, lấy nông nghiệp làm căn bản, bằng phương thức sản xuất công nghiệp hiện đạigiữ vai trò chi phối

Cũng trong khoảng thời gian trên, các nước đang phát triển ở khắp nơi trên thế giớicũng dốc sức thúc đẩy việc thực hiện công nghiệp hoá bằng các hình thức khác nhau Vàtrong số ít nước được coi là thành công, nhóm các nước nằm ở khu vực Đông Bắc vàĐông Nam Châu Á, láng giềng của Việt Nam, bao gồm Hồng Kông, Đài Loan, NamTriều Tiên và Singapo - mà trong sách báo người ta thường gọi tắt là các “nền kinh tếmới công nghiệp hoá (NIEs) Đông Á”- đã nổi bật lên với những thành tựu đặc biệt xuấtsắc, khiến cả thể giới phải ngưỡng mộ và xem như điều “thần kì” kinh tế sau Nhật Bản

Do sự gần gũi về địa lý và nhiều điểm tương đồng có tính chất khu vực khác nữa, việcnghiên cứu những bài học thành công của nhóm NIEs này và so sánh, đối chiếu với tìnhhình thực hiện công nghiệp hóa ở nước ta, chắc rằng sẽ có thể rút ra được những kết luận

bổ ích và cần thiết cho việc hiểu rõ hơn con đường mà chúng ta phải tiếp tục thực hiệnquá trình công nghiếp hoá nước nhà, đặc biệt trên tinh thần “đổi mới tư duy kinh tế” hiệnnay

Vì những lẽ trên mà tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và xác định tên gọi củabản luận án là: “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá của cácnền kinh tế mới công nghiệp hoá ở Đông Á và Việt Nam”

Trang 3

Tình hình ấy tất yếu dẫn đến việc phải xem xét lại quá trình thực hiện công nghiệphoá trong thời kỳ đã qua Đồng thời, phải xem xét xem những nước thành công đã thựcthi quá trình công nghiệp hoá bằng cách tiếp cận nào, những nhân tố thúc đẩy và điềukiện ràng buộc gì đã đem lại cho họ kết quả như vậy.

Từ điểm xuất phát ấy, mục đích nghiên cứu của đề tài sẽ nhằm vào các vấn đề sau:

1 Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan trực tiếp tới cơ cấungành kinh tế đã được trình bày trong một số trường phái lý thuyết kinh tế chủ yếu

2 Phân tích quá trình dịch chuyển cơ cấu ngành trong quá trình côngnghiệp hoá của NIEs Đông Á, xem xét những nguyên nhân chi phối trong qúa trìnhnày và những bài học kinh nghiệm cũng như khả năng vận dụng chúng trong tìnhhình mới ở Việt Nam

3 Phân tích quá trình nhận thức và vận động thực tiễn của quá trìnhcông nghiệp hóa của Việt Nam mấy chục năm qua Kết hợp sự phân tích về mặt lýthuyết với so sánh thực tế giữa NIEs Đông Á và Việt Nam, xem xét lại cách tiếp cận

cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam Trên cơ sở phân tíchnhững điều kiện ràng buộc và chi phối sự thay đổi cơ cấu ngành trong quá trình côngnghiệp hoá, nêu ra một số khuyến nghị về giải pháp cơ cấu ngành trong việc thúc đẩyquá trình cônghiệp hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạ vi nghiên cứu

Đề tài có thể được phân tích trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng ở đây, các

vấn đề được đề cập đến dưới giác độ của kinh tế chính trị học Điều đó hàm nghĩa rằng,

trong quá trình phân tích, việc chỉ ra các xu hướng vận động vĩ mô với các điều kiệnràng buộc và qui định các quá trình kinh tế được nhấn mạnh hơn là việc trình bày nhữngtài liệu phản ánh các sự kiện và tình hình nổi lên bề mặt của quá trình công nghiệp hoá.Phạm vi vấn đề được xác định là sự chuyển dịch cơ cấu ngành – phân biệt với các loại

cơ cấu kinh tế khác

Phạm vi thời gian được xác định là thời kỳ diễn ra quá trình công nghiệp hóa- phânbiệt với các thời kỳ hay giai đoạn phát triển kinh tế khác trong toàn bộ quá trình lịch sửphát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia

Phạm vi không gian cũng được xác định rõ là các nền kinh tế mới công nghiệp hoá(NIEs) Đông Á (bao gồm Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông và Singapo) và ViệtNam

Trong khuôn khổ được xác định ấy, đề tài đặt trọng tâm vào chỗ làm sáng tỏ những cơ

sở khách quan và chủ quan, những điều kiện bên trong và bên ngoài, những nhân tố kinh

tế và chính trị- xã hội của bước chuyển đầu tiên của cơ cấu ngành khi bước vào thời kỳcông nghiệp hoá cùng những tác nhân thúc đẩy chúng trong suốt thời kỳ đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Trước hết, điều cần nhấn mạnh về mặt phương pháp nghiên cứu đối với đề tài nàylà:

Trang 4

- Khía cạnh lịch sử của vấn đề: Tiến trình công nghiệp hoá của bất

cứ quốc gia nào cũng đều bắt nguồn từ sự phát triển lâu dài trong lịch sử và gắn chặtvới những bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá của tình hình trong nước vàquốc tế Không thể lý giải nổi những bước biến thiên của toàn bộ quá trình côngnghệp hoá cũng như những thay đổi cơ cấu bộ phận nếu như không đặt nó trong mốiquan hệ rộng lớn ấy Vì vậy đề tài chú trọng nhiều tới những hoàn cảnh lịch sử quiđịnh quá trình hình thành và làm thay đổi cơ cấu ngành trong qúa trình công nghiệphoá của NIEs Đông Á và Việt Nam

- Dựa trên nền tảng các dữ kiện lịch sử, đề tài đặc biệt chú ý đếnviệc sử dụng phương pháp so sánh, là một trong số những phương pháp rất quantrọng và được dùng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế hiện nay Mặc dù việc tiếnhành nghiên cứu so sánh ở đây gặp nhiều khó khăn do những sai biệt về thể chế, cơ

sở dữ liệu, mức độ hoàn thiện của hệ thống thống kê và cả những tài liệu có thể cóđược, nhưng dẫu sao, đó là vấn đề chung mà hầu như mọi quá trình nghiên cứu sosánh nào cũng gặp phải.Không thể tránh được tất cả mọi sự khập khiễng trong sosánh Và dường như chính bởi sự “khập khiễng” ấy lại càng cần tới sự phân tích sosánh Do vậy, đề tài tập trung vào những điểm giống và khác nhau của cả mô hình lýthuyết và thực tế lẫn quá trình vận động hiện thực cùng những điều kiện khách quan,các nhân tố ràng buộc và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình côngnghiệp hoá giữa NIEs Đông Á và Việt Nam Đồng thời, đề tài cũng quan tâm nhiềuhơn tới giai đoạn đầu tiên tiến hành công nghiệp hoá là giai đoạn được coi là khókhăn hơn cả- (“vạn sự khởi đầu nan”) - mà NIEs Đông Á đã qua, do đó mà có nhữngbài học thực tế, còn ở Việt Nam thì mấy chục năm đã qua, nhưng chưa nhích lên xahơn được bao nhiêu và vẫn còn đang “gặp khó khăn” của buổi “ban đầu” Làm nhưvậy là bởi hy vọng rằng, từ những so sánh đó, có thể có thêm được những căn cứ chonhững kết luận rút ra, góp lời bàn về các giải pháp cơ cấu ngành trong quá trình côngnghiệp hoá trong những năm cuối cùng của thế kỉ XX ở nước ta

Ngoài ra, đề tài cũng chú trọng tới các phương pháp hệ thống, phương pháp lôgic,phương pháp phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch và các phương pháp nghiêncứu khác đang được vận dụng trong khoa học kinh tế

5 Đề tài đã nghiên cứu đến đâu?

Vấn đề chuyển đổi cơ cấu ngành trong thời kì công nghiệp hoá từ lâu đã thu hút sự

chú ý rộng rãi của những nhà kinh tế ở cả các cơ quan làm công tác nghiên cứu lý luậnlẫn các cơ quan chỉ đạo thực tiễn Vì thế, đã có khá nhiều các bài viết đăng tải trên cáctạp chí chuyên ngành (như tạp chí Nghiên cứu kinh tế, tạp chí Kế hoạch hoá, tạp chíThống kê v.v ), đề cập tới khía cạnh này hay khía cạnh khác ở các mức độ khác nhau.Thường thì trong các công trình nghiên cứu về công nghiệp hoá nói chung, các vấn đề

cơ cấu ngành chiếm một nội dung quan trọng

Trong số những công trình đã xuất bản, liên quan trực tiếp tới phần về lý luận và thựctiễn Việt Nam của đề tài phải kể đến các công trình:

Trang 5

1 “Xây dựng cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta” – Tácgiả tập thể, do Viện kinh tế học, UBHKVH Việt Nam xuất bản năm 1986.

2 “Cơ cấu công nông nghiệp hợp lý”- Tác giả tập thể, Nhà xuất bảnThông tin lý luận ấn hành năm 1986

3 “Sự hình thành cơ cấu kinh tế trong chặng đường đầu của thời kìquá độ”- của tác giả Trần Ngọc Hiên- Nhà xuất bản Sự thật, ấn hành năm 1987

Những công trình nghiên cứu về NIEs do các tác giả Việt Nam thực hiện đáng chú ýnhất là:

1. Đỗ Đức Đinh- Lê Hồng Phục: “Các mô hình công nghiệp hoá:Singapo, Nam Triều Tiên, Ấn Độ”- Viện KTTG, Hà Nội 1988

2. Đỗ Đức Định- Hoàng Thanh Nhàn- Minh Phong: “Các nước côngnghiệp mới châu Á”- Nxb KHXH, Hà Nội 1989

Ngoài ra, trong số khá nhiều công trình nghiên cứu, ít nhiều liên quan tới đề tài này docác tác giả nước ngoài thực hiện, và nhất là gần đây, một số đã được dịch sang tiếngViệt, phải kể đến là:

1 “Kinh tế học của sự phát triển” gồm 2 tập do các nhà khoa họccủa Trường Đại học Harvard và Duke biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1983, tái bảnnăm 1987 Được dịch sang tiếng Việt và do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trungương ấn hành năm 1990

2 “Tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa” – gồm 3 tập, Tác giảHarry T.Oshima-University of Tokyo press 1987 Đã được dịch ra tiếng Việt và ViệnChâu Á và Thái Bình Dương- UBKHXH Việt Nam xuất bản năm 1989

Và một số công trình khác

Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh lý luận và thựctiễn của quá trình công nghiệp hoá nói chung và vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trongthời kì công nghiệp hoá ở Việt Nam cũng như NIEs Đông Á nói riêng, vì vậy mà đã cómột số đóng góp cho việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này Mặc dầu vậy, như tất cả mọingười đều biết, cho đến nay (và chắc chắn rằng còn phải nhiều năm tiếp theo nữa) thựctiễn công nghiệp hoá nước ta và nhiều nước khác trên thế giới vẫn tiếp tục đặt ra nhữngvấn đề đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa từ nhiều góc độ tiếp cận khácnhau Và điều quan trọng hơn cả là đối với nước ta, cuộc tranh luận trên phương diệnhọc thuật đang còn tập trung vào giải quyết các vấn đề của “sự khởi đầu” của cuộc hànhtrình công nghiệp hoá trong điều kiện quá độ sang kinh tế thị trường

Đặc biệt là trong số này, chưa có công trình nào trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu sosánh một cách có hệ thống từ cách tiếp cận vấn đề cho đến nội dung của các bướcchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá giữa NIEs Đông Á vàViệt Nam, nhất là lại đặt nó trong khuôn khổ của quá trình thực hiện đổi mới kinh tếhiện nay

6 Đóng góp mới của luận án:

Trang 6

a) Trước hết là đóng góp mới dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu: Chotới nay, trong các công trình nghiên cứu về công nghiệp hoá, vấn đề cơ cấu ngành ởnước ta đều chủ yếu khai thác các yếu tố “đồng tuyến” trong hệ thống các nướcXHCN (cũ) Cũng có những công trình lại thiên về việc giải thích các luận điểmtrong đường lối công nghiệp hóa qua các thời kì đại hội Đảng, coi đó là nhiệm vụchính yếu nhất Nhìn chung, yếu tố ngoài hệ thống và khu vực ít được quan tâm chú

ý Do vậy, việc trực tiếp đặt ra mối tương quan so sánh giữa nhóm NIEs Đông Á vớiViệt Nam vốn thuộc hai hệ thống kinh tế khác nhau, có thể được coi là một đóng gópmới xét trên khía cạnh mở rộng các góc độ tiếp cận một số vấn đề nghiên cứu

b) Trên phương diện lý luận, so sánh các cách tiếp cận vấn đề dịchchuyển cơ cấu ngành trong thời kì công nghiệp hoá giữa một số trường phải lý thuyếtchủ yếu

c) Phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành củaNIEs, chỉ ra những nhân tố thúc đẩy và ràng buộc quá trình này trên cơ sở đó, liên hệtới tình hình hiện tại ở Việt Nam Kết hợp với việc đánh giá những diễn biến của qúatrình công nghiệp hoá mấy chục năm qua, tác giả đề xuất một cách nhìn nhận vấn đềchuyển dịch cơ cấu ngành và đưa ra một hình dung định hướng sơ bộ về kết cấu giữacác ngành trong giai đoạn trước mắt ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án:

Bản luận án gồm 3 chương :

Chương I: Một số vấn đề lý luận về cơ cấu ngành kinh tế quốc dân

Chương II: Sự chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hoá ở các nền kinh tếmới công nghiệp hoá ở Đông Á

Chương III: Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong qúa trình công nghiệp hoá ở ViệtNam

Để tiện cho việc xem xét và tra cứu các nguồn tài liệu đã sử dụng, phần ghi chú đượctác giả sắp xếp theo phương thức hai số trong ngoặc đơn: Số thứ nhất là số thứ tự tài liệutham khảo (ở phần phụ lục), số thứ hai là số trang trong tài liệu tham khảo Trường hợpkhông ghi số trang là tác giả tổng hợp tình hình hay trích ý hoặc giới thiệu tham khảo tàiliệu đó

Sau đây là nội dung các chương của luận án

Trang 7

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1– Khái niệm

Có một vài khái niệm cần được thống nhất để làm việc là:

- Cơ cấu ngành kinh tế:

Cơ cấu ( hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉcách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan

hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tínhcủa sự vật, hiện tượng, và biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng Như vậy, cóthể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệthống (128; tr 269-270)

Cũng như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì

có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách

mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy Đặc biệt, sự vận động và phát triển củanền kinh tết theo thời gian luôn bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũngnhư sự thay đổi bản thân các bộ phận của các kiểu cơ cấu Cho nên, dù có xem xét dướibất kì góc độ nào, cũng có thể thấy rằng “cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thểnhững mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong mộtthời gian và trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định” (4)

Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách màchúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Chẳng hạn, trênbình diện vĩ mô, có một số loại cơ cấu sau:

+ Cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế:

Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người trong quátrình sản xuất xã hội, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ về sở hữu đối với các tưliệu sản xuất Xã hội loài người đã từng phát triển qua các hình thái kinh tế- xã hội lầnlượt từ thấp đến cao và trong mỗi hình thái kinh tế- xã hội đều có các quan hệ sản xuấtkhác nhau Ở một số nước, những hình thức sở hữu cổ xưa không còn nữa; ở một sốnước khác, do những hoàn cảnh lịch sử khác, có sự đan xen của nhiều loại hình sở hữucùng tồn tại Các mối quan hệ này biểu hiện ra bên ngoài bề mặt xã hội với tư cách làcác thành phần kinh tế khác nhau Do vậy, người ta còn gọi cơ cấu các quan hệ sản xuất

là cơ cấu các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu cơ cấucác quan hệ sản xuất của nền kinh tế quốc dân sẽ cho thấy các xu hướng vận động củatừng loại thành phần kinh tế trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội

+ Cơ cấu tái sản xuất xã hội:

Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ của các bộ phận cấu thành quá trình tái sảnxuất xã hội, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều quá trình Đó là các mối quan hệ của:

Trang 8

- Các yếu tố (đầu vào) của sản xuất: sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu laođộng;

- Các khâu trong vòng tuần hoàn: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.Nếu cơ cấu các quan hệ sản xuất phản ánh mặt xã hội, thì cơ cấu tái sản xuất phảnánh mặt vật chất, kĩ thuật của quá trình hoạt động kinh tế Và nếu giả định rằngtrong những điều kiện xã hội về cơ bản là như nhau thì cơ cấu tái sản xuất (vớichất lượng và số lượng của các yếu tố sản xuất hay các khâu của chu trình sảnxuất) sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế

+ Cơ cấu tổ chức- quản lý nền kinh tế quốc dân:

Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ của các hình thức tổ chức quản lý cả ở tầm vĩ

mô lẫn vi mô của các hoạt động kinh tế Nó bao gồm tập hợp các cấp quản lý, các cơ chếvận hành, các biện pháp tổ chức và quản lý nền kinh tế Như vậy, đối tượng của nó trướchết thuộc về bộ môn khoa học quản lý kinh tế Nghiên cứu cơ cấu tổ chức- quản lý nềnkinh tế thường thông qua các chỉ tiêu tổng hợp để vạch ra một hệ thống tổ chức và quản

lý kinh tế một cách hợp lý cho mỗi giai đoạn phát triển

ở những vùng nào đó bị lạc hậu trong mối tương quan với các vùng khác để nâng caohơn mức độ đồng đều và phát triển kinh tế và xã hội của cả nước

+ Cơ cấu ngành kinh tế:

Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên tới kinh tế hàng hoá cũng cónghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất độc lập với nhau, dựa trên những đối tượng sảnxuất khác nhau Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành của nền kinh tế quốc dâncàng trở nên phức tạp và đa dạng Ở đây, cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện ra dưới các hìnhthức ngành lớn ( ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; các phân ngành( ngành cấp II): chăn nuôi, trồng trọt trong nông nghiệp; cơ khí; cơ khí, luyện kim,năng lượng trong công nghiệp ; ngành cấp III (lúa, màu ) trong trồng trọt v.v Sựvận động của các ngành kinh tế và các mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểmchung của sự phát triến sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giaiđoạn và mỗi quốc gia

Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỉ lệhợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốcgia trong mỗi thời kỳ đặng thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân mộtcách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Việc phân chia 5 loại cơ cấu kinh tế này không phải là cách phân chia duy nhất, lạicàng không phải chỉ có từng ấy loại cơ cấu kinh tế Thực tế, như đã nói, tuỳ theo mục

Trang 9

tiêu nghiên cứu mà người ta có thể phân chia theo những cách khác nhau (ít hoặc nhiềuhơn), và trong mỗi loại cơ cấu này, đến lượt nó lại bao hàm nhiều kiểu cơ cấu khác nữa.Song, trong chừng mực cần thiết đối với đề tài này, chúng tôi cho rằng sự phân chia nhưvậy cũng đã đủ để giới hạn vấn đề, rằng ở đây, đối tượng chính của nó sẽ là cơ cấungành kinh tế ở cấp vĩ mô chứ không phải các loại cơ cấu khác Tự nhiên, sự phân tíchkhông loại trừ việc ít nhiều đề cập đến các vấn đề của các loại cơ cấu khác khi chúngliên quan trực tiếp tới các vấn đề cơ cấu ngành Điều đó không những chỉ là sự cần thiếttrong phân tích, mà còn được qui định bởi tính chất phức tạp của các vấn đề, luôn có sựgiao cắt nhau cho dù tiếp cận từ bất cứ cách phân chia nào.

- Công nghiệp hoá:

Từ nhiều năm nay, công nghiệp hoá đã được giới kinh tế trong và ngoài nước hết sứcquan tâm nghiên cứu và tranh luận sôi nổi Nhưng trong khi tính tất yếu của nó đượcthừa nhận một cách phổ biến, thì trên thực tế, bản thân khái niệm “công nghiệp hoá” lạichưa được hiểu một cách thống nhất Chính sự không thống nhất về cách hiểu mà suốtnhiều thập niên qua, ở nhiều nước khác nhau đã có những chính sách thực hiện côngnghiệp hoá rất không giống nhau Nhiều người đã quan niệm công nghiệp hoá đồngnghĩa với sự phát triển công nghiệp, tách biệt hoặc thậm chí đối lập với sự phát triểnnông nghiệp và các ngành kinh tế khác Theo họ, công nghiệp hoá là quá trình làm chocông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo trong kết quả hoạt động của nền kinh tế, còn cơ cấuhay loại hình đó như thế nào thì không phải là vấn hàng đầu Một số người khác lại sửdụng khái niệm “công nghiệp hoá” với ý nghĩa cơ bản là xây dựng và mở rộng lĩnh vựccác ngành công nghiệp chế biến Những người khác nữa lại quan niệm công nghiệp hoá

có nội dung chủ yếu là phát triển nền công nghiệp nặng chứ không phải bất cứ loại côngnghiệp nào Lại có hai cách hiểu về công nghiệp hoá nhìn từ góc độ kinh tế – kỹ thuật vàkinh tế – xã hội Ở cách hiểu thứ nhất, người ta nhấn mạnh sự chuyển biến kỹ thuật củanền sản xuất xã hội từ thủ công lên cơ khí; còn với cách hiểu kia thì khía cạnh chính trị –

xã hội của vấn đề được coi trọng hơn Và ở mọi cách hiểu, việc coi nó là một quá trìnhliên tục không ngừng hay chỉ là một giai đoạn lịch sử nhất định lại phân chia sự khácbiệt trong quan niệm về công nghiệp hoá giữa họ với nhau một lần nữa

Thật ra, các cách hiểu công nghiệp hoá nêu trên không phải hoàn toàn vô lý bởi nóluôn xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhằm giải quyết những mục tiêu

cụ thể khác nhau trước một đối tượng cực kỳ phức tạp và bao quát những phạm vi hếtsức rộng lớn Có lẽ vì vậy mà không phải ngẫu nhiên, Tổ chức phát triển công nghiệpcủa Liên Hiệp Quốc (UNIDO) sau nhiều vòng tranh luận đưa ra một định nghĩa để làm ítnhiều phản ánh sự dung hoà của các loại quan điểm khác nhau về công nghiệp hoá nhưsau: “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồnlực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành vớicông nghệ hiện đại để chế tạo ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảomột nhịp độ tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xãhội” (53; tr 79) Một quan niệm hiểu theo nghĩa rộng như vậy cho phép bao quát trong

Trang 10

đó quá trình hiện đại hoá các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành công nghiệp

và đổi mới quy trình công nghệ sản xuất theo kiểu công nghiệp ở mọi lĩnh vực Nó cũng

không phải bao gồm sự tăng trưởng công nghiệp hay nền kinh tế nói chung mà là sự

phát triển, bao gồm sự chuyển biến cơ cấu kinh tế và xã hội, một sự thay đổi không chỉ

giản đơn về lượng mà còn về chất của đời sống kinh tế Chia sẻ quan điểm này, chúngtôi không dám chắc có thể thoả mãn được mọi vấn đề chi tiết đặt ra, song nó định vịđược tính chất của một giai đoạn mang nét đặc thù, phân biệt với các nền sản xuất cổxưa hay hiện đại, ở đó thực hiện bước chuyển từ trạng thái nọ sang trạng thái kia và baohàm trong đó cả sự thay đổi về lượng lẫn về chất mà sự chuyển dịch cơ cấu ngành theohướng công nghiệp hoá là một trong những biểu hiện rõ rệt nhất

Với các khái niệm được xác định một cách sơ bộ như vậy, chúng tôi xin lần lượt đivào các vấn đề mà một số học thuyết kinh tế chủ yếu đề cập tới sự chuyển dịch cơ cấungành trong quá trình công nghiệp hoá

1.2- Vấn đề cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá trong một số

trường phái lý thuyết kinh tế chủ yếu:

Việc sắp xếp và phân loại các lý thuyết kinh tế theo những trường phái nào đó là vấn

đề không đơn giản Một mặt thì do bản chất của khoa học luôn bao hàm sự kế thừa lẫnnhau trong quá trình phát triển, mặt khác thì do sự phát triển đa dạng của hiện thực kinh

tế mà xuất hiện ngày càng nhiều các lý thuyết kinh tế với những sự khác biệt ở các mức

độ nhiều ít vô cùng khác nhau Để giúp cho việc hệ thống hoá và trong chừng mực nào

đó, có thể so sánh những sự khác biệt giữa các trường phái lý thuyết này, chúng tôi chọncách thức phân loại thường gặp trên các sách báo kinh tế hiện hành, cũng như dựa trêntình hình thực tiễn sau đây để phân thành ba loại trường phái chủ yếu khi khảo cứu đề tàinày

- Trường phái kinh tế học Macxít, với ảnh hưởng của nó trong hệ thống kinh tế củacác nước (đã từng là hoặc đang xây dựng) XHCN

- Trường phái kinh tế học theo trào lưu chính hiện đại, với ảnh hưởng của nó đốivới các nước tư bản công nghiệp phát triển

- Kinh tế học của sự phát triển, giành cho việc nghiên cứu những vấn đề phát triểncủa các nước thế giới thứ ba (còn gọi là các nước chậm phát triển, đang phát triểnhay kém phát triển)

Trong phần hệ thống hoá về mặt lý luận của vấn đề cơ cấu ngành giữa các trường phái

lý thuyết này, chúng tôi sẽ đề cập nhiều hơn đến kinh tế học Mác xít vì đây là hệ thống

lý luận kinh điển quen thuộc với chúng ta Hơn nữa có những vấn đề mới bắt nguồn từthực tế như sự khủng hoảng và tan vỡ của hệ thống kinh tế XHCN; quá trình thực hiệnđổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay , mà việc khảo cứu kỹ càng hơn học thuyết này sẽsoi sáng hơn cho một số vấn đề được đề cập đến ở chương III, nói về sự chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế của Việt Nam Các lý thuyết phát triển cũng được quan tâm thích đángbởi đối tượng của NIEs trước đây cũng như ở Việt Nam hiện nay nhất định sẽ gặp phải,cho dù sự hiểu biết về chúng còn rất nhiều hạn chế, do chỗ hầu như mãi đến gần đây,

Trang 11

chúng ta mới bắt đầu làm quen với trường phái lý thuyết này Cũng có những hạn chếtương tự đối với ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, nên chúng tôi không có đủ điềukiện để phân tích chúng một cách cặn kẽ hơn.

1.2.1 – Sự trình bày kinh tế học Mác xít:

Để hiểu được những vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành nói riêng cũng như các vấn đềkhác trong kinh tế học Macxít, điều cần thiết trước tiên là phải đứng vững trên cách tiếpcận đối tượng và phương pháp nghiên cứu của học thuyết kinh tế này

Trong “Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất” của bộ “Tư bản” K.Marx viết rằng:

“đối tượng nghiên cứu của tôi là phương thức sản xuất TBCN và những quan hệ sảnxuất và trao đổi thích ứng với phương thức ấy” (61; tr.13-14)

Như vậy, chỉ có thể hiểu là mọi vấn đề kinh tế Marx phân tích và rút ra kết luận đều

“thích ứng với phương thức ấy”, tức là gắn liền với tính chất TBCN trong quan hệ giữacon người trong quá trình sản xuất

Cũng trong “Lời tựa ” này, Marx chỉ rõ phương pháp nghiên cứu là sự trừu tượnghoá, nghĩa là nói đến cái “phương thức sản xuất TBCN” nói chung, trừu tượng chứkhông phải ở một nước cụ thể nào cả Trường hợp nước Anh chỉ là một ví dụ minh hoạ,bởi nó là nước cổ điển của phương thức sản xuất này mà thôi

Vậy, cần phải lưu ý tới những điều kiện giả định sau:

- Tính chất xã hội của nền sản xuất: ở đây chỉ nghiên cứu nền sản xuất dựa trên cácquan hệ có tính chất TBCN

- Nền sản xuất ấy là trừu tượng, nói chung, nên các quan hệ kinh tế giữa các quốcgia đã bị gạt sang một bên, nghĩa là không có ngoại thương

- Nền sản xuất xã hội chỉ bao gồm có các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất(không tính tới dịch vụ)

Mọi sự xem xét đều trước hết nhằm vào một nền kinh tế được trừu tượng hoá cao độnhư vậy

Trong lý thuyết kinh tế học Macxit, vấn đề cơ cấu ngành có thể nói tập trung chủ yếutrong hai học thuyết: học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sảnxuất tư bản xã hội Vì vậy, chúng ta lần lượt điểm qua các vấn đề được trình bày tronghai học thuyết đó

1.1.1.1 – Phân công lao động xã hội và sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân:

Khi tìm hiểu những điều kiện của sản xuất và trao đổi hàng hoá, Marx đã nhận thấyrằng chính sự phân công lao động đã làm “cơ sở chung” của mọi nền sản xuất hàng hoá.Việc tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu sự phân công lao động đã cho phép Marx phân chiathành ba loại: phân công lao động chung im Allgemeinen thành những ngành lớn nhưnông nghiệp, công nghiệp v.v ; phân công lao động đặc thù im Besondenren (loại vàthứ); và phân công lao động cá biệt im Einzelnen trong xưởng thợ (61; tr.446)

V.I Lênin khi bàn đến vấn đề này trong tác phẩm “Sự phát triển của CNTB ở Nga”(1896-1899) đã xác định thêm rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự

Trang 12

phân công lao động đặc thù còn được “chia ra thành nhiều loại nhỏ và phân loạinhỏ"”(55; tr.21-23).

Từ những điều trình bày trên, ta thấy:

1 Phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hoá là cơ sở của sự hìnhthành nên các ngành kinh tế khác nhau, tách rời nhau và độc lập đối với nhau

2 Nếu như Marx mới đề cập đến hai cấp độ ngành của nền kinh tế quốc dânthông qua việc xác định “sự phân công lao động chung” tạo thành “những ngành lớnnhư nông nghiệp, công nghiệp v.v ” mà nay ta có thể gọi là phân ngành cấp I, và “sựphân công lao động đặc thù” phân chia những ngành lớn thành loại và thứ- phânngành cấp II, chẳng hạn nông nghiệp thì được chia thành trồng trọt, chăn nuôi , còncông nghiệp thì chia thành công nghiệp năng lượng, cơ khí, luyện kim, hoá chất, thựcphẩm ; thì V.I Lênin đã tiếp tục phát triển thêm cái phân ngành cấp II (loại và thứ)thành những phân ngành nhỏ hơ nữa- có thể coi là cấp III, cấp IV v.v do quá trìnhphát triển của kinh tế hàng hoá

3 Sự phân công lao động xã hội theo đúng nghĩa của nó chỉ có thể diễn ra trongquá trình hình thành và phát triển của sản xuất hàng hoá, rằng sự phân công lao động

xã hội mà trong đó diễn ra quá trình tách rời công nghiệp khỏi nông nghiệp phải gắnliền với việc bản thân ngành nông nghiệp phải phát triển thành một “ngành côngnghiệp” trên phương diện sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa chuyên để bán Nhưvậy, ngành nông nghiệp được xem đạt tới trình độ của sản xuất công nghiệp khi nó làmột ngành sản xuất hàng hoá

Chúng tôi cho rằng, việc lưu ý tới điểm này sẽ hết sức quan trọng khi ta phân tích sựchuyển dịch cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân, bởi chỗ ở trình độ sản xuất hànghoá, khi công nghiệp và nông nghiệp tách rời nhau để tạo nên mối tương quan mới vềchất, đã đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển của sản xuất xã hội đượcthực hiện vào thời kì công nghiệp TBCN Ý nghĩa này càng đặc biệt rõ ràng khi so sánhvới thời kì tiền công nghiệp hoá, như V.I Lênin đã nhận xét: “Một nước mà kinh tếhàng hoá ít phát triển (hoặc hoàn toàn không phát triển) thì hầu như toàn chỉ là nhânkhẩu nông nghiệp; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là dân cư chỉ chuyên làm nghềnông, mà chỉ có nghĩa là dân cư làm nghề nông đã tự mình chế biến lấy nông sản; làtrong dân cư đó, sự trao đổi và phân công hầu như không có” (55; tr.25)

Sau những dòng mô tả có tính chất nhận diện các ngành khác nhau của nền kinh tếquốc dân cùng cơ sở của sự xuất hiện các ngành đó trong quá trình phát triển của sảnxuất hàng hoá, các nhà kinh điển của kinh tế học Macxít đã đi vào giải thích chính cái

“cơ sở chung” của sự hình thành các ngành- là sự phân công lao động xã hội với nhữngtiền đề khách quan như sau: “ Sự phân công lao động xã hội và việc hạn chế một cáchtương ứng những cá nhân vào một lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù, cũng giống như sựphân công lao động trong công trường thủ công, đều phát triển từ những điểm xuất phátđối lập”; rằng “sự phân công lao động xã hội phát sinh từ sự trao đổi giữa lĩnh vực sảnxuất vốn từ đầu đã khác nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau” (61; tr.446-447)

Trang 13

Một câch cụ thể hơn, những tiền đề ấy lă:

- Sự tâch rời giữa thănh thị vă nông thôn;

- Số lượng dđn cư vă mật độ dđn số;

- Sự phât triển của phđn công lao động trong công trường thủ công, cho phĩp

“nhđn sự phđn công lao động xê hội lín” (K.Marx); vă

- Cuối cùng, có thể xem lă tiền đề tổng quât, có ý nghĩa chi phối vă quyết địnhchung, lă sự phât triển của bản thđn ngănh nông nghiệp, lă sự nđng cao năng suất laođộng trong nghănh nông nghiệp chưa lăm ra đủ (hoặc chỉ vừa đủ) sản phẩm để nuôichính họ thì chưa thể nói đến việc có một lượng dđn cư chuyển sang lăm ngănh khâcđược

Tóm lại, bằng việc phđn tích câc tiền đề níu trín của sự phđn công lao động xê hội,câc nhă kinh điển của kinh tế học Mâc-xít đê chỉ rõ quâ trình hình thănh nín câc ngănhkinh tế khâc nhau của nền kinh tế quốc dđn sản xuất hăng hoâ TBCN Việc nhấn mạnhtính chất TBCN của sản xuất hăng hoâ trong quâ trình hình thănh câc ngănh kinh tế ởđđy hăm ý rằng nó đúng với câi khuôn khổ được Marx giả định Mọi xê hội vận độngngoăi khuôn khổ đó, cho dù có thể chỉ lă một sự phđn định hết sức tương đối, khôngphải lă đối tượng trực tiếp trong nghiín cứu của Marx Vì vậy, cũng dễ hiểu lă ở chỗ năyhay chỗ khâc, việc ông đề cập đến chúng chủ yếu chỉ lă nhằm lăm nổi bật thím điều mẵng định trình băy về nền kinh tế sản xuất hăng hoâ TBCN Một trong những trình băynhư vậy có liín quan đến đề tăi năy lă việc ông đề cập tới hình thức mă sự phđn công laođộng diễn ra trong xê hội cổ xưa- câi xê hội mă sau năy trở thănh một trong những vấn

đề tranh luận gay go vă kĩo dăi dưới tín gọi “phương thức sản xuất chđu ” Ở đđy,chúng tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh đơn giản lă Marx có đem ra so sânh để lăm rõ

sự phđn công lao động trong điều kiện phât triển của nền sản xuất hăng hoâ TBCN, thìcho đến nay, có lẽ dường như vẫn còn lă điều “bảo lưu”

Trín câi ranh giới “tương đối” của nền kinh tế của xê hội cổ xưa với kiểu phđn cônglao động như sự trình băy của Marx vă nền sản xuất hăng hoâ TBCN có một trongnhững điều kiện đặc biệt, mă nếu thiếu nó, sự phđn công lao động xê hội để hình thănhnín nền kinh tế hăng hoâ TBCN không thể có được V.I Línin chỉ ra rằng, đó chính lămột quan hệ mới- quan hệ cạnh tranh với nhau- của những người lao động đê được phđncông “Trong sự phât triển lịch sử của CNTB, có hai nhđn tố quan trọng: 1) Sự chuyểnhoâ nền kinh tế tự nhiín của những người trực tiếp sản xuất thănh nền kinh tế hăng hoâ,

vă 2) Sự chuyển hoâ nền kinh tế hăng hoâ thănh nền kinh tế TBCN Sự chuyển hoâ thứ

nhất xảy ra lă do sự xuất hiện sự phđn công xê hội- nghĩa lă sự chuyín môn hoâ những

người sản xuất câ thể, riíng lẻ, chỉ chuyín về một ngănh công nghiệp mă thôi Sự

chuyển hoâ thứ hai xảy ra lă do những người sản xuất riíng lẻ, trong khi từng người riíng rẽ sản xuất hăng hoâ cho thị trường, thì đê ở văo câc quan hệ cạnh tranh với nhau” ( 54; tr.106).

Có phải chăng một trong những “chìa khoâ để hiểu được sự bí ẩn có tính chất bất dibất dịch của những xê hội chđu ” (K Marx) về vấn đề phđn công lao động khi rời khỏi

Trang 14

lý luận trừu tượng để tiến một bước về phía cụ thể là nằm ở chỗ ranh giới tiếp giáp củahai sự chuyển hoá này? Nếu đúng như vậy thì có thể đó là một hướng gợi ý tốt cho việcnghiên cứu các vấn đề hình thành cơ cấu ngành trên cơ sở phân công lao động xã hội củanhững nước kém phát triển như nước ta.

1.1.1.2Tái sản xuất tư bản xã hội và mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân

Nếu như học thuyết về phân công lao động xã hội đã chỉ ra sự hình thành các ngànhsản xuất ra sao, thì học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội đã trực tiếp đề cập đến cácmối quan hệ giữa các ngành trong quá trình vận động của nền sản xuất hàng hoá TBCN.Trong nghiên cứu qúa trình tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp thành một ngành sảnxuất độc lập, Lênin đã nhận xét rằng; “Sự phát triển của kinh tế hàng hoá eo ipso (cũng

do đó mà) có nghĩa là một bộ phận ngày càng đông dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức lànhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống” (56;tr.25)

Nhưng dẫu sao thì đó mới chỉ là nhận xét về một hiện tượng bề nổi Đằng sau đó, cơchế của sự vận động và các mối quan hệ giữa các ngành đó như thế nào, chính là đốitượng phân tích trong học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội

Ở mức độ trừu tượng rất cao, Marx mở đầu sự phân tích quá trình tái sản xuất tư bản

xã hội bằng việc phân chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực lớn: tư liệu sản xuất vàvật phẩm tiêu dùng

Khác với việc phân chia các ngành kinh tế được tiếp cận từ góc độ phân công laođộng xã hội, ở đây, xét trên phương diện của tái sản xuất tư bản xã hội, khái niệm

“ngành”= “ngành lớn”, được hiểu là “lĩnh vực” hay tập hợp các ngành (theo cách phânchia tiếp cận từ phía phân công lao động xã hội), tuỳ theo vai trò của sản phẩm màchúng sản xuất ra đối với sản xuất hay đời sống trực tiếp của con người Do đó, toàn bộnền sản xuất xã hội được chia thành hai “ngành lớn” hay hai “lĩnh vực”: I) sản xuất racác tư liệu sản xuất; và II) sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng

Ở khu vực I (ngành lớn I), Marx không chia thành các khu vực nhỏ hơn theo logic táisản xuất mà liên hệ trực tiếp sang các ngành được hình thành từ sự phân công lao động

xã hội “Tư bản bất biến của khu vực I là một khối những nhóm tư bản khác nhau, đầu tư

vào những ngành sản xuất tư liệu sản xuất khác nhau: chừng này vào các nhà máy luyện

kim, chừng này vào mỏ than đá v.v ” (63; tr.517)

Còn ở khu vực (ngành lớn) thứ II, không những bao gồm nhiều ngành, mà trong số đóMarx có đi sâu hơn vào mỗi bộ phận của từng khu vực, nhưng nếu không “xét về mặtsản phẩm”, mà chỉ xét về mặt giá trị của chúng, thì nhìn chung, cái cách mà chúng vậnđộng trong mối quan hệ với khu vực I của quá trình tái sản xuất là như nhau

Ở mỗi một khu vực Marx lại phân chia chúng theo khía cạnh cấu thành kĩ thuật và giátrị Giá trị tổng sản phẩm xã hội: (C+V+M) = Giá trị tổng sản phẩm xã hội của nhữngngành thuộc khu vực I; I (c+v+m) + Giá trị tổng sản phẩm xã hội của những ngành thuộckhu vực II: II (c+v+m)

Trang 15

Dựa trên cách phân chia này, Marx tiến hành giải trình các mối quan hệ giữa cácngành thuộc hai khu vực sản xuất của xã hội Cũng lại bằng phương pháp trừu tượnghoá, Marx bắt đầu từ quá trình tái sản xuất giản đơn rồi suy ra những mối quan hệ giữahai khu vực trong quá trình tái sản xuất mở rộng Để có tái sản xuất mở rộng, tiền đề đầutiên là phải có tích luỹ, tức là “một bộ phận m được chi tiêu như là thu nhập, còn một bộphận khác thì chuyển thành tư bản” (K Marx) Bộ phận tích luỹ để mở rộng sản xuấtnày đều nằm ở cả hai khu vực, bởi nó là điều kiện không thể thiếu được cho nhau, dùcho ở mỗi khu vực , nó được dùng dưới hình thức mở rộng thêm cơ sở sản xuất sẵn cóhay xây dựng thêm nhà máy mới thì cũng vậy.

Trong phần trình bày này, ông không hề nhấn mạnh tới “ưu thế” của một khu vực nào

đó trong hai khu vực nói trên của quá trình tái sản xuất mở rộng Tuy nhiên, lại khôngthể chỉ căn cứ vào riêng phần này để kết luận là ông đã cho rằng mối quan hệ giữa haikhu vực chỉ có vậy

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của tư bản, thông qua kháiniệm “cấu tạo kĩ thuật” Marx đã nêu lên “qui luật về sự tăng lên nhanh hơn của bộ phậnbất biến của tư bản so với bộ phận khả biến”, và qui luật đó, “ở mỗi bước đều được xácminh” (62; tr.151)

Nếu đem đối chiếu với sự phân chia của Marx nền sản xuất xã hội theo quan điểm táisản xuất mở rộng thì thấy rằng “bộ phận bất biến của tư bản” Marx nói ở đây sẽ tươngứng với “khu vực I”- sản xuất ra tư liệu sản xuất; còn “bộ phận khả biến” tương ứng với

“khu vực II’- sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, và cũng có thể hiểu được rằng khu vực Iphát triển nhanh hơn khu vực II

Theo chúng tôi, về vấn đề này cần phải lưu ý rằng, dù sao thì đó cũng là sự “đốichiếu” của các phạm trù kinh tế ở mức độ trừu tượng rất cao của kinh tế học Mácxít.Marx không đưa ra thêm một lời giải trình cụ thể nào về việc những ngành cụ thể nàyhay khác ( theo kiểu phân ngành tiếp cận từ góc độ phân công lao động xã hội) sẽ pháttriển nhanh hơn hay chậm hơn Thậm chí ngay cả với khu vực (“ngành lớn”) này haykhác ( theo cách tiếp cận của tái sản xuất tư bản xã hội), ông cũng không lời khẳng định

cụ thể nào Điều kết luận về khu vực I phát triển nhanh hơn khu vực II trong những phântích của ông cũng chỉ được phép hiểu trên tinh thần như vậy Bởi vì, trong khi Mác đánhgiá rất cao sự phát triển của ngành công nghiệp cũng như cuộc cách mạng công nghiệpđương thời, thì ngay cả trong trường hợp ấy, ông cũng luôn đứng trên quan điểm chungvới phương pháp luận trừu tượng của môn kinh tế chính trị để vạch ra những xu hướngvận động chung, những qui luật chung mà không chỉ dẫn cho một ngành công nghiệp cụthể ở mức độ cụ thể nào cả

Cũng như vậy, trong “ Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” (1893), sau khi tóm tắt lạitoàn bộ những điều trình bày về tái sản xuất của Marx và dựa trên công thức trung tâm là

I (v + m) > IIc, Lênin đã nhận xét rằng: “Từ công thức của Marx trình bày ở trên, hoàntoàn không thể rút ra một kết luận nào về ưu thế của khu vực I so với khu vực II: vì theocông thức đó, cả hai khu vực đều phát triển song song” (54; tr 96)

Trang 16

Tuy nhiên, với việc đưa sự thay đổi cấu tạo kĩ thuật (c/v) vào công thức và tính toán

sự thay đổi qua một số năm liên tục và sau khi phân chia khu vực I ra làm hai khu vựcnhỏ (một sự phát triển hơn so với Marx), là khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất

ra tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu tiêu dùng,cũng như sự suy luận logic từ kết luận của Marx về tư bản bất biến tăng lên nhanh hơn

tư bản khả biến (54; tr 92-100), Lênin đi đến nhận xét là: “Sản xuất tư liệu sản xuất để

chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đó đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo

tư liệu tiêu dùng” (54;tr.98).

Lênin còn phát triển thêm lý thuyết tái sản xuất tư bản xã hội của Marx trên mộtphương diện khác nữa- phương diện cụ thể hoá hơn theo hướng kết hợp lại giữa hai kiểuphân ngành theo cách tiếp cận từ tái sản xuất và từ phân công lao động xã hội Đồngthời, ông đã nêu ra những xu hướng tăng lên cụ thể trong các mối quan hệ giữa chúng

“Toàn bộ tinh thần và tất cả ý nghĩa của cái qui luật nói rằng tư liệu sản xuất tăng hết sứcnhanh hơn, tóm lại là ở chỗ: việc lao động bằng máy móc thay thế lao động thủ công, -

nói chung là sự tiến bộ kỹ thuật trong thời đại công nghiệp cơ khí,- đòi hỏi phải phát

triển mạnh ngành khai thác than đá và sắt là những ngành “tư liệu sản xuất” thực sự

“để chế tạo tư liệu sản xuất”” (54;tr.120-121), và theo ông, đó chính là “nội dung thật

sự của quá trình ấy”.

Như vậy, từ những điều trình bày trên cho thấy rằng, nếu như lý thuyết phân công laođộng xã hội đề cập đến những điều kiện để phân chia nền sản xuất xã hội ra thành cácngành kinh tế khác nhau, thì lý thuyết tái sản xuất lại đề cập đến điều kiện của sự kếthợp giữa các ngành đó lại với nhau trong quá trình vận động và phát triển Nói cáchkhác, có thể xem đây là hai mặt của cùng một quá trình phát triển nền sản xuất xã hội.Trong khi điều kiện quan trọng nhất của mặt thứ nhất là sự gia tăng năng suất lao độngnông nghiệp, thì ở mặt thứ hai, đó là sự tăng lên nhanh hơn của những ngành sản xuất ra

tư liệu sản xuất Chính trong quá trình vận động này mà quá trình chuyển dịch cơ cấungành theo hướng công nghiệp hoá đã diễn ra

Vấn đề đặt ra là, nếu trở lại với những điều kiện giả định cần lưu ý đã nêu ở trên thìviệc vận dụng những kết luận rút ra từ phân tích lý thuyết này đối với những nền kinh tế

cụ thể là như thế nào? Có thể nói không quá rằng, đây là một trong số những vấn đề gâytranh cãi nhiều nhất trong giới kinh tế của các nước thuộc hệ thống XHCN (cũ) Chủ đềchính của những cuộc tranh luận là khi thực hiện quá trình công nghiệp hoá XHCN (tức

là tính chất xã hội đã hoàn toàn khác với những điều kiện giả định trong lý thuyết) thìbắt đầu từ đâu, hay nói cách khác là phải ưu tiên cho ngành nào?

Trong quá trình tranh luận, người ta đã cố gắng tìm kiếm xem các nhà kinh điển cónhững chỉ dẫn nào cho vấn đề được nêu ra trên đây hay không? Một công trình nghiêncứu về vấn đề này đã cho thấy rằng: “Trong các tác phẩm của những nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác-Lênin công bố trước đây, vấn đề quan hệ tỉ lệ giữa khu vực I và khu vực

II dưới CNXH không được xem xét riêng K Mác nói chung không đề cập đến vấn đề

Trang 17

này Trong số các tài liệu của V.I Lênin, thì có một số nhận xét của Người đối vớiquyển “Tích luỹ Tư bản” của R Lúcxămbua là có liên quan đến vấn đề nói trên” (78).Đây là “một số nhận xét” của Lê Nin bác bỏ quan điểm của R Lúcxămbua khi bà kếtluận rằng: 1) Lý luận tái sản xuất của Marx là qui luật phổ biến (allgemeines Gesetz)dưới tất cả các hình thái xã hội; và 2) Trong CNXH, mức độ chênh lệch về tốc độ pháttriển tư liệu sản xuất, và tư liệu tiêu dùng tăng hơn so với trong CNTB.

Trái với điểm 1) của R.Lúcxămbua, Lênin không xem là một quy luật phổ biến ở tất

cả mọi hình thái kinh tế xã hội; và trái với điểm 2), ông cho rằng trong CNXH khu vực Ivẫn tăng nhanh hơn khu vực II, nhưng chênh lệch về mức độ tăng giữa khu vực I và khuvực II dưới CNXH giảm đi rất nhiều so với dưới CNTB (78)

Và như mọi người đều biết, thực tế của qúa trình công nghiệp hoá ở các nước XHCN

về sau này (trong đó có Việt Nam) hầu như đều giống nhau ở chỗ đã giành ưu tiên cao

độ cho những ngành sản xuất tư liệu sản xuất (công nghiệp nặng) so với các ngành kinh

tế khác, chỉ có điều mức độ cụ thể của sự ưu tiên không hoàn toàn y hệt nhau mà thôi.Đến đây, có thể tóm tắt lại một cách khái quát một số vấn đề cơ bản nhất mà họcthuyết kinh tế Macxit bàn tới vấn đề cơ cấu ngành và động thái của chúng

1 Kinh tế học Macxit trong khuôn khổ phân tích phương thức sản xuất TBCN đãtiếp cận vấn đề cơ cấu ngành từ hai góc độ:

Thứ nhất: Sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân với tư cách là những ngành kinh

tế độc lập gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá TBCN, dựa trên sự phân cônglao động xã hội Sản xuất hàng hoá TBCN càng phát triển thì các ngành kinh tế càng mởrộng và ngược lại Cơ sở của sự phân công lao động xã hội là sự khác biệt về giới tính,

sự tồn tại một cách tương đối độc lập của thành thị và nông thôn, là mật độ dân số và sốlượng dân cư, và đặc biệt là sự gia tăng năng suất lao động trong nông nghiệp

Thứ hai: Mối quan hệ giữa các ngành là mối quan hệ trao đổi về mặt hiện vật và giá

trị, tuân theo qui luật của tái sản xã hội, trong đó khu vực (những ngành sản xuất) tư liệusản xuất tăng lên nhanh hơn khu vực (những ngành sản xuất) tư liệu tiêu dùng

1- Ở dạng lý luận trừu tượng ( và không coi dịch vụ là một ngành sản xuất trong

cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân như các trường phái lý thuyết khác mà sauđây chúng ta sẽ thấy), phù hợp với những điều kiện giả định, những phân tích củakinh tế học Macxit chỉ ra rằng, những ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất ( khu vực I)

sẽ tăng lên nhanh hơn những ngành sản xuất ra tư liệu tiêu dùng ( khu vực II) Songcũng do phương pháp nghiên cứu trừu tượng hoá (ở mức độ rất cao), mà những kếtluận rút ra từ qui luật của sự hình thành và kiểu thức của mối quan hệ giữa các ngànhkinh tế nêu trên hàm một điều bảo lưu đối với quá trình thực hiện cách mạng côngnghiệp trong những điều kiện thực tế nào đó không giống như những điều kiện đượcgiả định trong phân tích của Marx Và như vậy, việc mở rộng phạm vi của những kếtluận này sang những trường hợp cụ thể khác cần phải có nghiên cứu cụ thể hơn trướckhi rút ra kết luận

Trang 18

2- Với các khái niệm ngành “công nghiệp nặng” (sản xuất ra tư liệu sản xuất, khuvực I), “công nghiệp nhẹ” (và nông nghiệp) (sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng- khu vựcII), quan điểm về ưu tiên phát triển công nghiệp nặng hầu như đã trở thành phươngchâm chung của việc thực hiện công nghiệp hoá ở các nước trong hệ thống XHCN(cũ) trong nhiều thập kỷ qua.

Với các điểm tóm tắt trên đây, rõ ràng là việc vận dụng lý luận kinh tế học Macxit vàothực tiễn với những điều kiện hết sức cụ thể luôn còn một khoảng cách dài và vì thế, đòihỏi phải xem xét một loạt các vấn đề Trong số đó, chúng tôi cho rằng có ít nhất hai loạivấn đề nổi lên đặc biệt rõ nét

1- Vấn đề đầu tiên là nếu một nền kinh tế cụ thể càng khác biệt so với những điềukiện được giả định trong phân tích lý luận của kinh tế học Macxit bao nhiêu thì tínhphổ biến của những kết luận được rút ra và nêu thành qui luật trong lý luận và do đó

là khả năng vận dụng chúng càng trở nên ít hơn Vì thế, loại vấn đề này qui địnhrằng, điều cần làm trước tiên là phải xác định xem một nền kinh tế đã thực sự đạt tớitrình độ sản xuất mà ở đó, qui luật về khu vực I tăng nhanh hơn khu vực II đã có cơ

sở vật chất để hoạt động hay chưa? Nếu chưa thì thay vì việc nghiên cứu những điềukiện và khả năng để giúp cho việc lợi dụng chúng sẽ phải là nghiên cứu những biệnpháp để đẩy nền kinh tế tiến nhanh đến chỗ đạt được trình độ đó Thành ra, vấn đề cơcấu ngành của thời kì tiền công nghiệp, hay thời kì diễn biến của cách mạng côngnghiệp không thể nào tuân theo qui luật của một nền kinh tế đã hoàn thành (hay cănbản hoàn thành) cuộc cách mạng đó

2- Vấn đề thứ hai liên quan trực tiếp đến việc vận dụng những qui luật trên, màchỗ thiếu khuyết ở đây nằm ngay trong sự phân loại các ngành bằng phương phápnghiên cứu trừu tượng hoá Trên thực tế, do các khái niệm “tư liệu sản xuất”, “vậtphẩm tiêu dùng”, “công nghiệp nặng”, “công nghiệp nhẹ”, gắn với những “ngành”sản xuất là mang tính trừu tượng rất cao nên việc lượng hoá chúng lại trở nênnghiêng về sự “qui ước” thiếu chặt chẽ Điều đó khiến cho các nhà thống kê và quản

lý kinh tế thực sự gặp lúng túng và đã dẫn đến chỗ rất khó có được tiếng nói chung

Vả lại, nếu đi sâu thêm, ta đều thấy rằng, sản phẩm của hầu hết mọi ngành sản xuấtvật chất, bất kể là công nghiệp hay nông nghiệp (cùng những phân ngành của nó) đều cóthể chia làm hai loại: “tư liệu sản xuất” và “vật phẩm tiêu dùng”

Thật vậy, chẳng hạn theo quan niệm thông thường, nông nghiệp vẫn được xem làngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng cho xã hội Nhưng, dù cho có chủ yếu là như vậy

đi nữa, thì trong quá trình phát triển, nó đang ngày càng không phải chỉ là ngành sảnxuất vật phẩm tiêu dùng Nó trước hết phải sản xuất ra tư liệu sản xuất cho chính mình(giống cây trồng và vật nuôi, thức ăn gia súc, súc vật cày kéo ) Và nông nghiệp càngphát triển, sự phân công lao động xã hội càng tăng thì tỉ trọng của tư liệu sản xuất trongsản phẩm nông nghiệp càng lớn Đối với các sản phẩm công nghiệp cũng có tình hìnhtương tự như vậy

Trang 19

Vì vậy, hoá ra khó có thể nói một cách hoàn toàn chính xác được rằng việc đổ vốnđầu tư một cách “ưu tiên” cho một ngành cụ thể nào đó (chẳng hạn khai mỏ, luyện kim,hay điện tử chẳng hạn) là trực tiếp vận dụng “đúng đắn” qui luật về tái sản xuất mở rộngtrong học thuyết kinh tế Macxit Và thực tế cũng cho thấy vấn đề không đơn giản đếnmức ấy Có lẽ cũng vì vậy mà trong suốt những năm nhà nước Liên Xô quyết tâm theođuổi đường lối ưu tiên công nghiệp nặng và thực tế cũng đã đem lại cho quá trình côngnghiệp hoá những thành tựu hết sức nổi bật, song vẫn luôn có những cuộc tranh luận gaygắt, thậm chí đôi khi được chính trị hoá trong lĩnh vực học thuật về việc vận dụng quiluật này (86) Từ những năm 1970, khi những dấu hiệu của sự trì trệ và căng thẳng vềcung cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng bắt đầu xuất hiện thì sự điều chỉnh kếhoạch theo hướng tập trung cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng bắt đầu được đặt

ra Tuy nhiên, điều đó vẫn dựa trên cách giải thích là qui luật khu vực I tăng nhanh hơnvẫn đúng, nhưng trong điều kiện của CNXH có thể cho phép có những thời kì khu vực IItăng nhanh hơn Ở một số nước XHCN khác lúc đó cũng có những vấn đề tương tự nhưvậy Đồng thời, với việc hình thành khối SEV, sự phân công lao động quốc tế được đặt

ra một cách tích cực, ít nhiều phá vỡ lối tư duy ưu tiên công nghiệp nặng của đường lốicông nghiệp hoá trong khuôn khổ một nền kinh tế khép kín ở mỗi quốc gia bất chấpnhững điều kiện cụ thể khác biệt Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quátrình công nghiệp hoá ở một chừng mực nhất định đã được xem xét đến ở phạm vi rộnglớn hơn của cả cộng đồng Và như vậy, rõ ràng là thực tế ấy đã khẳng định thêm rằng,giữa những nguyên lý chung đúc rút ra từ sự nghiên cứu một đối tượng được trừu tượnghoá và sự vận dụng chúng trong một nền kinh tế cụ thể là cả một khoảng cách Nếu thiếu

sự phân tích những nhân tố khác với những điều kiện được giả định thì những điều đượccoi là “vận dụng quy luật” trên thực tế chỉ còn thuần tuý mang ý nghĩa câu chữ mà thôi

1.2.2 Sự trình bày trong “Kinh tế học thuộc trào lưu chính”:

“Kinh tế học thuộc trào lưu chính” hay “kinh tế học thuộc trào lưu chính hiện đại”như bản thân cách mà họ tự gọi như vậy, là một trong số những trường phái kinh tế lớnnhất hiện nay,và cũng như điều mà họ tự khẳng định, có cội nguồn từ kinh tế học cổđiển, hiện đang thống trị ở những trung tâm kinh tế TBCN lớn nhất thế giới: Bắc Mĩ,Tây Âu và Nhật Bản Tập hợp dưới ngọn cờ của “kinh tế học thuộc trào lưu chính” lànhững nhà kinh tế học ở các nước tư bản công nghiệp phát triển có nguồn gốc từ nhiềuquốc tịch và lý thuyết của họ xoay quanh các vấn đề của nền kinh tế thị trường hay nềnkinh tế hỗn hợp Vì vậy mặc dù cho sự phân nhánh những quan điểm có khác nhau ởmức độ này hay mức độ khác, họ đều giống nhau ở một điểm: đối lập với trường pháiMacxit

Có lẽ nhận xét quan trọng đầu tiên đối với “kinh tế học thuộc trào lưu chính” là trong

lý thuyết của họ ít bàn một cách trực tiếp tới vấn đề cơ cấu ngành giống như nó đượcgiành cho một vị trí rất quan trọng trong kinh tế học Macxit

Trang 20

Tuy nhiên, lại có thể dễ dàng nhận ra rằng, vấn đề cơ cấu kinh tế luôn được đề cậpđến dưới hình thức này hoặc hình thức khác, và thường là nằm ở phía sau của cơ chế thịtrường trong hầu hết các vấn đề mà trường phái này phân tích.

Ngay từ cách đặt vấn đề đối tượng của kinh tế học, có ít nhất là 2 trong số 3 vấn đề cơbản liên quan trực tiếp tới cơ cấu ngành kinh tế

1- Xã hội nên sản xuất hàng hoá gì và với số lượng bao nhiêu? Hàm ý rằng vớinguồn tài nguyên khan hiếm, xã hội cần phải phát triển những ngành nào để có lợinhất

2- Hàng hoá cần được sản xuất ra như thế nào? Bao hàm việc lựa chọn các cáchthức kết hợp các nguồn lực trong những điều kiện nhất định để đạt hiệu quả cao nhất.Trong cách tiếp cận vấn đề, “kinh tế học thuộc trào lưu chính” không xem xét nềnkinh tế một cách trừu tượng, nói chung, thuần tuý TBCN và không có ngoại thương nhưtrong phân tích của Marx Trái lại, đối tượng nghiên cứu của học phái này là những vấn

đề thực tiễn của các nền kinh tế công nghiệp thị trường phát triển Đối với họ, dườngnhư việc phát hiện ra qui luật nói chung về mối quan hệ giữa các ngành không quantrọng Về cơ bản, thị trường sẽ chỉ cho họ biết phải làm gì và làm như thế nào Và nhưvậy, nói chung, cơ cấu ngành hình thành như thế nào và động thái của nó trong qúa trìnhphát triển nền kinh tế quốc dân ra sao, sẽ do thị trường quyết định Thị trường sẽ đánhtín hiệu cho các nhà sản xuất biết rằng nên sản xuất mặt hàng nào với số lượng bao nhiêutrong điều kiện kinh tế, kỹ thuận hiện có thông qua thước đo giá cả do các lực lượngcung- cầu trên thị trường kết hợp tạo ra Vì vậy thì việc sản xuất ra ngô hay máy bay, thịt

bò hay tàu vũ trụ đều có những khả năng như nhau đứng trước việc nó đem lại lợinhuận như thế nào

Sự khảo sát “kinh trắc” dựa trên cách phân ngành khác với cách phân tích trừu tượngcủa Marx cho thấy rằng:

1- Khu vực thứ nhất- các ngành khai thác (gồm nông nghiệp và khai khoáng) có

xu hướng giảm tỉ trọng so với khu vực thứ hai- công nghiệp chế biến; và hiện nay,hai khu vực này đang giảm dần tỉ trọng tương đối so với khu vực ba dịch vụ, là khuvực đang có xu hướng tăng lên trong nền kinh tế thị trường hiện đại

2- Trong phân tích, họ đã nhận thấy có những ngành công nghiệp “không cótương lai” hay còn được gọi là những ngành công nghiệp “mặt trời lặn” xét trênphương diện nó đang mất đi khả năng đem lại lợi nhuận trong tương lai, không kể nóthuộc “công nghiệp nặng” hay “công nghiệp nhẹ” và mặc dù trước đây nó đã từngđem lại lợi nhuận lớn và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của mộtquốc gia Tương tự như vậy, đối lập với nó là những ngành công nghiệp “mặt trờimọc”, mà hiện này thường gắn liền với kỹ thuật sản xuất hiện đại , mang tính chất trítuệ hay còn gọi là công nghiệp kĩ thuật cao, công nghiệp trí tuệ

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở chỗ phó mặc cho thị trường quyết định và với nhữngquan sát “kinh trắc” từ thực tế thì lý thuyết kinh tế này nói về cơ cấu ngành kinh tế hơi

có phần nghèo nàn, đặc biệt là so với kinh tế học Mac-xit Thế nhưng, có lẽ điều đóng

Trang 21

góp quan trọng nhất của họ lại là ở chỗ tiếp tục phân tích, tuy rằng sự phát triển này theomột hướng khác hẳn kinh tế học Macxit.

Ở tầm kinh tế vĩ mô, các nhà đầu tư sẽ căn cứ vào một loạt các nhân tố (giá vốn, giálao động, giá nguyên vật liệu, giá hàng hoá bán ra , tức là phân tích các nhân tố đầu vào

- đầu ra) để quyết định xem nên đi vào lĩnh vực nào để kinh doanh Giả định rằng cácnhân tố không đổi (hoặc ít ra là một thông số dự liệu được) thì hệ số gia tăng tư bản -đầu ra ( Incremential capital-output ratio- ICOR) sẽ là một căn cứ có ý nghĩa quyết định.Người ta cho rằng, cơ chế kinh tế thị trường có mức độ linh hoạt cần thiết đủ cho việc dichuyển lĩnh vực kinh doanh căn cứ vào sự biến động của tỉ số ICOR Về sau, sự pháttriển của thực tế đã cho thấy tỉ số ICOR là một căn cứ quá đơn giản và phiến diện Vàphái “Tân cổ điển” đã đề nghị thay vào đó là một hàm sản xuất tổng hợp với đầy đủ cácyếu tố sản xuất đầu vào để xem xét quyết định đầu tư vào đâu Nhưng dù sao thì đây vẫn

là những quyết định của các nhà doanh nghiệp mà người hướng dẫn chính là thị trường

“Kinh tế học thuộc trào lưu chính” thừa nhận những thất bại thị trường, trong đó có việckhông thể đảm bảo phân phối các nguồn lực vào các ngành khác nhau sao cho nền kinh

tế đạt mức độ hiệu quả nhất (97; tr.35) Tuy nhiên, một trong số điểm chính yếu đối lậpvới kinh tế học Macxit, là họ không thừa nhận sự thất bại của thị trường cuối cùng sẽdẫn đến những cuộc khủng hoảng làm tiêu diệt CNTB, trong đó, cơ chế thị trường hoạtđộng Họ đã nói một cách không úp mở rằng: “Nếu như những người Macxit chờ choCNTB sụp đổ trong một cuộc khủng hoảng cuối cùng thì họ chờ uổng công” (97;tr.250)

Cơ sở của lời tuyên bố đó được gửi trọn vào những biện pháp nằm trong tay chínhphủ Hễ ở đâu và lúc nào xuất hiện những thất bại thị trường- nền kinh tế hoạt động dướitiềm năng, lạm phát và thất nghiệp nảy sinh v.v là chính phủ nhảy vào can thiệp vớichức năng được xác định rõ ràng là “làm phẳng các chu kì kinh tế” và duy trì sự ổn định.Với các công cụ chủ yếu là chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và chính sách thươngmại, các chính phủ trong nền kinh tế công nghiệp thị trường làm thay đổi các thông số ởđầu vào để sao cho có được đầu ra thích hợp đối với từng ngành, đặng qua đó hướng dẫn

sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào các ngành khác nhau theo ý muốn

Tuy nhiên, trong quá trình can thiệp vào kinh tế, họ cũng luôn dè chừng những khảnăng có “thất bại của Chính phủ”, bởi chỗ bao hàm trong những biện pháp can thiệp làviệc làm xơ cứng cơ chế linh hoạt vốn có của thị trường thông qua việc làm biến dạngcác thông số của các yếu tố sản xuất Và trên thực tế thì quả là cũng có tình trạng nhưvậy Bằng chứng là chính phủ đã không thể lấp đầy những lỗ hổng mà thị trường TBCNtạo ra Những khuyết tật của thị trường có được khắc phục ở một mức độ nào đó, nhưngkhông thể xoá bỏ được, thậm chí đôi khi có những mặt nào đó lại trở nên trầm trọnghơn

Việc can thiệp của chính phủ thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ và thươngmại- còn gọi là các chính sách kinh tế vĩ mô- có thể được thực hiện bằng cách trực tiếphoặc gián tiếp.Ở một số ngành mà tư nhân không đủ khả năng hoặc không muốn kinh

Trang 22

doanh như cơ sở hạ tầng giao thông, cung cấp điện, nước v.v thì chính phủ trực tiếpkinh doanh Những qui định về lợi tức ngân hàng, thuế quan, hạn ngạch, ngoại hối, thuếbảo hiểm, bảo vệ môi trường v.v là danh mục nằm trong các chính sách gián tiếpnhưng rất có ảnh hưởng đối với các công ty kinh doanh khi quyết định đầu tư vào nhữngngành sản xuất nhất định.

Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, vai trò can thiệp của nhà nước TBCN vào lĩnh vực

cơ cấu là một điểm tiến hơn so với thời của Marx và Lênin, và là một sự “xích gần” của

lý thuyết thị trường điều tiết với lý thuyết “kế hoạch hoá” Điều này đặc biệt rõ ràng khixem xét tới những nền kinh tế cụ thể Chẳng hạn, cùng dựa trên nền tảng lý luận của

“kinh tế học thuộc trào lưu chính”, nhưng trong khi nhiều nước thiên về xu hướng “đểmặc thị trường” (Laissez-faire) như Mỹ, thì Nhật bản là một điển hình về sự can thiệpsâu của Nhà nước Có lẽ do tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp muộn hơn so với cácnước TBCN công nghiệp phát triển khác nên chính phủ Nhật dã phải “dẫn dắt nỗ lực

công nghiệp hoá, nghĩa là nó đảm nhiệm những chức năng phát triển”, bằng cách đưa ra

những “chính sách công nghiệp” và “chính sách cơ cấu” cụ thể Ở đây, “chính sách cơcấu công nghiệp dựa trên những tiêu chuẩn như là tính co giãn thu nhập của cầu, chi phísản xuất so sánh, sức thu hút lao động, những mối quan tâm về môi trường, tác dụng củađầu tư đối với các ngành công nghiệp có liên quan và những triển vọng xuất khẩu” Cơ

sở của những chính sách ấy dựa trên một quan niệm “cho rằng chính phủ chỉ cần quantâm tạo ra một môi trường thuận lợi cho các ngành công nghiệp mà không nói cho họbiết cần làm gì, thì đó là một quan điểm hết sức chủ quan (của nhà kinh doanh)”, và “cứbám lấy tự do tuyệt đối sẽ không cứu được giới công nghiệp ra khỏi những sự rối renhiện nay của nó Công nghiệp cần có một kế hoạch phát triển toàn diện và một biện phápkiểm soát” Vì vậy, khi nghiêng về “tính hợp lý kế hoạch” hơn là “tính hợp lý thịtrường” ngay trong khuôn khổ của “kinh tế học thuộc trào lưu chính”, người ta đã chorằng “cái đó khiến Nhật Bản gần gụi hơn với kinh nghiệm của một loạt nước khác-

“những nền kinh tế kế hoạch hoá ở trung ương” (44)

Như vậy, có thể thấy rằng:

1- Với việc giải quyết những vấn đề của nền kinh tế thị trường, kinh tế học thuộctrào lưu chính hiện đại đã không tiếp cận vấn đề cơ cấu ngành như trong kinh tế họcMacxit Họ không đi tìm kiếm những nguyên lý chung trừu tượng mà chủ yếu nhằmvào những vấn đề mà đời sống kinh tế đặt ra

2- Các ngành kinh tế vĩ mô của nền kinh tế quốc dân được phân chia thành: khuvực I với các ngành nông nghiệp và khai khoáng (Primarysectors), khu vực II với cácngành công nghiệp chế tạo (manufacturingsectors) và khu vực III với các ngành dịch

vụ (services) Nhiều khi trong phân tích, ta bắt gặp sự phân chia thành ba ngành lớn:nông nghiệp (agriculture), công nghiệp Industry) và dịch vụ (service); hoặc nữa làcác ngành sản xuất ra sản phẩm đầu tư trong sự phân biệt với các ngành sản xuất rasản phẩm tiêu dùng; các ngành có hàm lượng vốn, lao động hay khoa học-công nghệcao v.v Những mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân được phân tích dựa

Trang 23

trên kiểu phân chia này và do vậy, rõ ràng khác với trong kinh tế học Macxit là họcthuyết trong đó không xếp khu vực dịch vụ vào phạm trù sản xuất xã hội Trái lại,khu vực dịch vụ được họ xem như một bộ phận cấu thành của cơ cấu ngành của nềnsản xuất xã hội giống như những khu vực khác Điều này còn được phản ánh cụ thểtrong các chỉ tiêu về hệ thống thống kê theo hệ SNA (System of National Account),khác với hệ thống thống kê MPS (Material Product System) được dùng trong cácnước XHCN (cũ).

3- Sự vận động của các ngành trong mối quan hệ với nhau qua thời gian chủ yếu

do thị trường quyết định Ở chỗ này, kinh tế học thuộc trào lưu chính có những đónggóp to lớn vào việc phân tích và các phương pháp đánh giá các nhân tố đầu vào- đầu

ra trongkhi quyết định đầu tư Cũng tương tự như vậy là các biện pháp chính sách canthiệp của nhà nước trong việc tác động nhằm hướng cơ cấu ngành chuyển dịch theonhững mục tiêu đã định Tuy nhiên, sự tương tác giữa các lực lượng thị trường và nhànước không dẫn đến một khuôn mẫu chung về thứ tự ưu tiên phát triển của một sốngành nào đó đối với mọi quốc gia công nghiệp thị trường phát triển

4- Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường hiện nay, việc khảo cứu nhữngvấn đề cơ cấu này của lý thuyết kinh tế này trở nên cần thiết và cấp bách hơn trước,song cũng cần ghi nhớ rằng những thành quả mà chúng đạt được luôn gắn liền vớinhững điều kiện của một nền kinh tế công nghiệp thị trường phát triển Vượt ra khỏikhuôn khổ đó, những mặt ưu thế cũng như hạn chế của lý thuyết này sẽ biểu hiện cụthể như thế nào, cho đến nay, vẫn đang còn là vấn đề để ngỏ

1.2.3- Sự trình bày trong “Kinh tế học của sự phát triển”

“Kinh tế học của sự phát triển” bao gồm rất nhiều những lý thuyết kinh tế giành chocác nước chậm phát triển hoặc thế giới thứ ba Trong chừng mực của đề tài này, cácnước chậm phát triển có thể được hiểu là những nước chưa thực hiện xong quá trìnhcông nghiệp hoá Vì vậy, sự phát triển đối với những nước này luôn hàm ý việc thựchiện quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay

Mặc dù những lý thuyết này hết sức đa dạng, nhưng nếu nhìn một cách khái quát, cóthể thấy “kinh tế học của sự phát triển” đi theo hai xu hướng chính: 1- Chủ yếu dựa trênnhững lý thuyết phân tích kinh tế thị trường nói chung để giải quyết các vấn đề của cácnước chậm phát triển mà ít chú ý đến tính đặc thù của chúng; và 2- Chủ yếu xuất phát từnhững đặc điểm đặc thù của các nước thế giới thứ ba để xem xét các vấn đề phát triểncủa họ (110) Song, dù có đi theo hướng nào thì họ cũng chủ yếu sử dụng hệ thống cácphạm trù, khái niệm của kinh tế thị trường trong nghiên cứu qúa trình phát triển của cácnước thế giới thứ ba

Tuy nhiên, so với “kinh tế học thuộc trào lưu chính”, “kinh tế học của sự phát triển”chú ý nhiều hơn tới vấn đề cơ cấu các ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá Họcoi sự thay đổi cơ cấu ngành, đặc biệt là sự chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng tỉtrọng ngành công nghiệp là một trong ba nội dung của phát triển Có thể thấy rõ điều nàyqua một số lý thuyết phát triển thường được nhắc đến sau đây

Trang 24

1.2.3.1 – Lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế :

Người chủ xướng lý thuyết này là Walt Rostow (141; tr.91), rất nổi tiếng với việcphân chia sự phát triển kinh tế ra làm 5 giai đoạn với các đặc trưng cơ bản sau:

1 Xã hội truyền thống cũ với đặc trưng là năng suất lao động thấp, sản xuất nôngnghiệp chiếm vị trí thống trị và kém linh hoạt về mặt xã hội

2 Giai đoạn chuẩn bị cất cánh- đã có một tầng lớp chủ xí nghiệp đủ khả năngthực hiện đổi mới, cơ cấu hạ tầng phát triển, đặc biệt là giao thông Bắt đầu xuất hiệnnhững khu vực có tác động lôi kéo nền kinh tế (leading sectors), tức là hình thành cáccực tăng trưởng

3 Giai đoạn cất cánh (take-off) được xác định là giai đoạn đáp ứng cả ba yêu cầusau: nâng tỷ lệ đầu tư cho sản xuất từ 5% hoặc ít hơn lên hơn 10% thu nhập quốc dân(national income or net national product); phát triển một hoặc nhiều ngành chế biếnvới tốc độ tăng trưởng cao; hình thành cơ cấu chính trị, xã hội và thể chế để thúc đẩymạnh mẽ khu vực hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

4 Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi về kinh tế- tỷ lệ đầu tư lên tới từ 10 đến20% thu nhập quốc dân Xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mới, chẳng hạn điện năng,luyện kim, hoá chất , thay thế vai trò của các ngành đã làm cơ sở cho quá trình cấtcánh

5 Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt- nền sản xuất đa dạng hoá, thị trường linh hoạt

và mức tăng trưởng có hiện tượng suy giảm

Lý thuyết này được rất nhiều người nghiên cứu về công nghiệp hoá biết đến bởi điềukiện tiền đề bắt buộc phải có cho sự “cất cánh” đã nêu ở bước chuyển tiếp từ giai đoạnthứ 2 sang giai đoạn thứ 3 Tuy không trực tiếp đề cập tới bản thân cơ cấu ngành kinh tếcũng như sự chuyển dịch của chúng trong quá trình công nghiệp hoá, song việc xác địnhcác đặc điểm đặc trưng của mỗi giai đoạn quả là rất có ý nghĩa đối với việc khảo cứu vấn

đề này Vấn đề là ở chỗ, đối với các nước chậm phát triển đang mong muốn bước vàogiai đoạn “cất cánh” (đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá) thì đã có đủ những tiền đềcần thiết hay chưa? Nếu chưa thì rõ ràng nhiệm vụ hàng đầu tại thời điểm đó sẽ phải làthúc đẩy việc hình thành những tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn “cất cánh”.Một điều nữa là, việc nhấn mạnh tới các cực tăng trưởng và sự thay đổi vị trí ấy giữa cácngành khác nhau qua mỗi giai đoạn rõ ràng gợi ý về một cơ cấu ngành trong đó thứ tự

ưu tiên của chúng không giống nhau mà mỗi quốc gia phải tính đến Về điểm này nó rấtgần gũi với lý thuyết phát triển “cơ cấu ngành không cân đối” mà sau đây chúng tôi sẽ

đề cập tới

1.2.3.2 – Các lý thuyết nhị nguyên:

Người mở đầu trường phái nhị nguyên khi xem xét các vấn đề của nền kinh tế của cácnước chậm phát triển là W.Arthur Lewis (giải thưởng Nobel năm 1979) Với lý thuyếtnhị nguyên, ông được coi là một trong số những người đi tiên phong trong việc tiếp cậnđời sống kinh tế của các nước thế giới thứ ba từ những đặc điểm đặc thù của chúng Tưtưởng cơ bản của lý thuyết nhị nguyên của Lewis dựa trên những nhận định rằng:

Trang 25

- Trong các nước chậm phát triển có trạng thái nhị nguyên về kinh tế, tức là cóhai khu vực song song tồn tại: khu vực kinh tế truyền thống và khu vực kinh tế dunhập, thường là nền kinh tế công nghiệp TBCN tiên tiến Vì vậy, để phát triển, vấn đềđặt ra ở các nước này là phải chuyển càng nhanh càng tốt khu vực sản xuất truyềnthống sang khu vực hiện đại Con đường cơ bản để thực hiện bước chuyển đó là côngnghiệp hoá, trong đó các ngành công nghiệp hiện đại giữ vai trò đầu tàu, làm khởiđộng quá trình tăng trưởng.

- Trong khu vực sản xuất truyền thống, mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, cótình trạng dư thừa lao động Sự dư thừa lao động ở đây được hiểu là có thể giảm sốlượng lao động mà không làm giảm sản lượng sản xuất ra Vì thế, việc chuyển số laođộng dư thừa này sang khu vực công nghiệp hiện đại sẽ cho phép thực hiện quá trìnhtăng trưởng Ở khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống luôn có một lực lượng laođộng mong muốn có việc làm và hễ ở đâu có được mức thu nhập cao hơn so với hiệntại thì sẽ có ngay sự di chuyển lao động đến đó

- Khu vực công nghiệp hiện đại là hình ảnh đối ngược với khu vực truyền thống,

sử dụng lao động làm công ăn lương Ở khu vực này, theo thông lệ, người lao độngtạo ra giá trị lớn hơn mức lương mà họ được hưởng, và vì vậy, nhà tư bản có điềukiện mở rộng nguồn vốn tích luỹ của mình, nghĩa là có khả năng tự phát triển mộtcách độc lập, không phụ thuộc vào điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế Mứclương thực tế ở khu vực công nghiệp hiện đại có xu hướng ít thay đổi bởi chịu áp lực

từ hai phía: một mặt là mức thu nhập không thể ít hơn mức chi phí cho tái sản xuấtsức lao động; và mặt khác, lại không thể cao hơn nữa do tồn tại đội quân lao động dựtrữ đông đảo ở nông thôn luôn sẵn sàng rời bỏ đồng ruộng để đi tìm việc làm mới

Như vậy, lý thuyết nhị nguyên của Lewis cho rằng giữa hai ngành công nghiệp vànông nghiệp ở nền kinh tế của các nước chậm phát triển có tình trạng hoạt động tươngđối biệt lập, một bên trì trệ, một bên phát triển năng động và không phụ thuộc vào nhau

Sự nghèo nàn của nền kinh tế, do vậy, trực tiếp là hệ quả của sự yếu kém trong khu vựctruyền thống Và con đường đi lên sẽ phải là công nghiệp hoá, phát triển mạnh côngnghiệp mà không cần quan tâm đến nông nghiệp, bởi công nghiệp sẽ hút dần lao động từkhu vực nông nghiệp ra để chuyển sang khu vực công nghiệp hiện đại

Tính chất độc đáo trong lý thuyết nhị nguyên của Lewis đã gây ấn tượng mạnh và cóảnh hưởng lớn đến các nước chậm phát triển đang mong muốn tăng cường quá trìnhcông nghiệp hoá Nó cũng tạo ra cơ sở cho một hướng đi mới mà nhiều nhà kinh tế đã đitheo trong việc nghiên cứu kinh tế ở các nước chậm phát triển

Dựa trên tư tưởng cơ bản của Lewis, John Fei và Gustav Ranis đã phát triển lý thuyếtcủa mình theo hướng phân tích những khả năng tiếp nhận lao động mới của khu vựccông nghiệp Fei va Ranis đã trực tiếp xem xét mối quan hệ giữa công nghiệp và nôngnghiệp, và cho rằng trong khu vực công nghiệp có nhiều khả năng lựa chọn kỹ thuật, đếnmức có thể thu hút được lao động thừa từ khu vực nông nghiệp tới, thông qua việc áp

Trang 26

dụng những loại kỹ thuật có hệ số sử dụng lao động cao Với nhận định này, điều kiệncần cho sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp đã được xác định.Vấn đề chỉ còn là xác định điều kiện đủ cho sự chuyển dịch nữa mà thôi Theo Fei vàRanis, trọng tâm sức hút của công nghiệp đối với lao động thừa từ nông nghiệp là mứcthu nhập Trong khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống, mức thu nhập không phảiđược xác định bởi cơ chế thị trường giống như trong khu vực công nghiệp hiện đại, mà

là do thể chế ấn định Ở đây, luôn có một giới hạn tối thiểu nào đó, cho dù có phải chia

sẻ sự nghèo khổ giữa các thành viên vốn đã nghèo khổ của cộng đồng Do vậy, mức độthất nghiệp ở nông thôn không chỉ xảy ra khi tăng thêm lao động mà sản phẩm sản xuất

ra không tăng thêm, mà còn bao hàm cả trường hợp khi giảm lao động, sản phẩm vẫntăng lên, nhưng số sản phẩm mà mỗi thành viên nhận được thấp hơn mức thu nhập tốithiểu do thể chế qui định Như vậy, mặc dù trong khu vực nông nghiệp truyền thống có

dư thừa lao động,nhưng khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút được lao động từ đó khimức lương được qui định cao hơn, hoặc tối thiểu cũng phải ngang bằng mức thu nhậpkhi họ còn ở nông thôn Với một mức lương công nghiệp được xác định như vậy, khilượng lao động trong khu vực nông nghiệp còn thừa, tức là độ co giãn về nguồn cung laođộng còn lớn, thì có thể rút được lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp mà khôngcần có sự tăng lương trong khu vực công nghiệp Nhưng một khi việc rút lao động từnông nghiệp sang công nghiệp làm cho đầu ra của sản xuất nông nghiệp giảm xuống, thì

ở thời điểm đó, giá cả tương đối của khu vực công nghiệp cũng phải tăng lên tương ứng

Sự tăng lương của khu vực công nghiệp sẽ đặt ra giới hạn mức cầu về lao động của bảnthân nó

Như vậy, lý thuyết của Fei và Ranis gợi ý rằng, xét về điều kiện đủ, việc thúc đẩy tăngtrưởng bằng việc đẩy nhanh khu vực công nghiệp hiện đại là có giới hạn Việc tập trungmọi nguồn lực vào khu vực công nghiệp hiện đại để thúc đẩy tăng trưởng chỉ đạt đượctrong điều kiện lao động trong khu vực nông nghiệp còn dư thừa Một khi nguồn này bịcạn, điểm ngoặt trong mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp sẽ lộ ra, bắt buộcphải có sự điều chỉnh lại chính sách cơ cấu

Một hướng phát triển khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên của Lewis là của Harris vàTodaro Khác với Fei và Rania, lý thuyết này tập trung phân tích khả năng của việc dichuyển lao động từ nông thôn Nếu như lý thuyết của Lewis đã đơn giản hoá khả năngcủa mọi người lao động nông thôn ra thành phố đều có thể tìm được việc làm ngay, tức

là trong mọi trường hợp “tổng cung” về lao động từ nông nghiệp luôn phù hợp với “tổngcầu” ở khu vực công nghiệp, thì trong lý thuyết của Harri- Todaro, chưa hẳn nhữngngười rời bỏ ruộng đất ở nông thôn ra thành phố sẽ nhanh chóng tìm được việc làm, nên

sự chuyển dịch lao động ra khỏi nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào mức chênh lệch

về thu nhập mà còn phụ thuộc vào xác xuất tìm được việc làm

Khả năng tìm được việc làm của những người lao động rời bỏ nông nghiệp, đến lượt

nó, lại phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố: tính năng động của khu vực công nghiệp hiệnđại; mức độ thất nghiệp của lao động ở thành phố và trình độ tay nghề của họ So với

Trang 27

sản xuất công nghiệp của các nước đã phát triển, khu vực công nghiệp ở các nước đangphát triển yếu kém hơn Muốn làm được vai trò đầu tàu lôi kéo tăng trưởng nhanh thìkhu vực công nghiệp phải đặt trọng tâm vào những ngành có trình độ kỹ thuật cao.Nhưng những ngành này lại tỏ ra cần tăng mức vốn đầu tư hơn là tăng hàm lượng laođộng Còn về trình độ thành thạo nghề nghiệp thì những người từ nông thôn chuyển rathành phố hiển nhiên là thậm chí còn chưa quen cả với môi trường lao động côngnghiệp Như vậy, sự phân tích sâu hơn theo hướng này không thừa nhận khả năng luônthiếu lao động ở khu vực công nghiệp hiện đại để có thể thu hút mạnh mẽ nguồn nhânlực dư thừa trong nông nghiệp.

Tóm lại, các lý thuyết nhị nguyên đã đi thẳng vào sự phân tích hiện trạng cụ thể củacác ngành công nghiệp và nông nghiệp ở các nước chậm phát triển Trên cơ sở đó, nêu

ra động thái, nguyên nhân và khả năng chuyển dịch cơ cấu giữa hai ngành sản xuất quantrọng nhất của nền kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển thông qua việc thực hiệncông nghiệp hoá Các lý thuyết nhị nguyên đã chuyển từ chỗ cho rằng không cần chú ýđến nông nghiệp đến chỗ chỉ ra giới hạn của việc quá tập trung vào công nghiệp màkhông quan tâm thích đáng đến nông nghiệp Kết hợp sự phát triển của Fei và Rainis vớicủa Harris- Todaro cho thấy rằng việc phát triển nông nghiệp cũng cần phải tăng nhanhđến mức cần thiết, nhất là khi nguồn lao động thừa từ nông nghiệp đã được công nghiệpthu dụng hết Bởi lẽ lúc đó, việc tiếp tục lấy thêm lao động từ nông nghiệp sẽ dẫn đếnsuy giảm đầu ra của nông nghiệp, và do đó làm giá nông sản tăng lên, kéo theo sự tănglương của công nhân với hậu quả là tốc độ của công nghiệp sẽ chậm lại

1.2.3.3 Các lý thuyết phát triển cân đối liên ngành:

Tập hợp xung quanh quan điểm này là những lý thuyết trên cơ sở phân tích tình hìnhkinh tế của các nước chậm phát triển và điều kiện kinh tée quốc tế hiện đại, đã đi đến kếtluận rằng trong thời kì công nghiệp hoá, để đạt được những kết quả mong muốn về tăngtrưởng kinh tế và cơ cấu ngày càng tiến bộ, cần phải phát triển một cách cân đối tất cảcác ngành trong nền kinh tế quốc dân Điều này đúng với cả quan hệ công nghiệp vànông nghiệp cũng như giữa các ngành công nghiệp với nhau.Ủng hộ quan điểm này làRagnar Nurkse, Paul Rosenstein-Rodan

Những người theo quan điểm này chứng minh rằng, dù có xuất phát từ phía cầu hayphía cung, một sự tăng trưởng ổn định đều đòi hỏi phải có mối liên kết chặt chẽ giữa cácngành như là điều kiện cần thiết không thể thiếu được của nhau Sự liên kết giữa cácngành một cách chặt chẽ sẽ cho phép tránh được tắc nghẽn, làm gián đoạn quá trình vậnhành của toàn bộ nền kinh tế Về mặt lý thuyết, quan điểm này khá gần gũi với nhữngphân tích về một nền kinh tế trừu tượng của học thuyết kinh tế Macxit và lý thuyết quản

lý dựa trên sơ đồ ma trận cân đối liên ngành của Vasili Leontief và Leonid Kantorovich

Về mặt thực tiễn, nó phù hợp với mô hình “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” hay

“hướng nội”

Đúng là, xét về điều kiện của quá trình sản xuất, sự phát triển đồng thời tất cả cácngành sẽ duy trì tính ổn định, giảm thiểu được sự tắc nghẽn, nhất là khi nền ngoại

Trang 28

thương yếu kém Với lẽ đó, nó được xem như là một “giới hạn tối thiếu” ngay từ khi bắtđầu quá trình công nghiệp hoá Thế nhưng, vấn đề đặt ra là liệu có đủ các điều kiện cầnthiết để thực hiện một ý tưởng như vậy không?

Chính câu hỏi này đã chuyển nội dung của những cuộc tranh luận từ chỗ “cần phải”dựa trên những mong muốn chủ quan sang chỗ “như thế nào” và “có thể làm được gì”dựa trên những khả năng thực thế Và nó đã đặt cơ sở cho sự xuất hiện của một quanđiểm khác về cơ cấu ngành- phát triển nền kinh tế theo cơ cấu ngành không cân đối

1.2.3.4- Các lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các “cực tăng trưởng”:

Những người ủng hộ quan điểm này (A.Hirschman, F Prronx, G.DestannedeBernis ) bên cạnh việc cho rằng phát triển đồng thời tất cả các ngành cùng mộtlúc là không thể được bởi sự hạn chế của các nhân tố (vốn, lao động kỹ thuật, kỹthuật và công nghệ, thị trường ), còn dựa trên những lập luận về lợi thế do sự tăngtrưởng không cân đối mang lại

Thứ nhất là việc phát triển không cân đối gây nên áp lực, tạo ra sự kích thích đầu

tư Họ lập luận rằng, nếu như trong tất cả các ngành, cung bằng cầu thì sẽ triệt tiêuđộng lực khuyến khích đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Trong trường hợp nhưvậy, nếu có những dự án đầu tư to lớn vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu tư phái sinh

sẽ xuất hiện bởi cầu lớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một sốlĩnh vực, nên chính những dự án đó sẽ có tác dụng lôi kéo đầu tư theo kiểu ảnhhưởng của lý thuyết số nhân

Thứ hai, với việc đưa ra khái niệm “cực tăng trưởng” với ý nghĩa là những ngành,những lĩnh vực đầu tàu, lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển, trường phái này chorằng, một tác dụng như vậy không phải tất cả mọi ngành là như nhau Cho nên, điềucần thiết là phải biết chọn lọc những lĩnh vực trong mỗi thời điểm nhất định để tậptrung được số nguồn lực khan hiếm sẵn có Tác dụng lan toả của những cực tăngtrưởng có thể hướng mạnh về phía thượng lưu, hoặc cũng có thể ở phía hạ lưu, tạo rathế kết hợp hoặc là phía trước, hoặc là phía sau của quá trình sản xuất Nó cũng cóthể nằm ở cái gọi là “các ngành công nghiệp giai đoạn đầu”, “giai đoạn giữa” hay

“giai đoạn sau” như cách phân chia của Chenery và Taylor (36)

Thứ ba, việc hình thành các cực còn dựa trên cơ sở thực tế như là sự ràng buộccủa điều kiện mà các nước nghèo bước vào giai đoạn công nghiệp hoá rất khó có thểlàm khác được Đó là sự hạn chế ngặt nghèo về tiền vốn, về trình độ kĩ thuật củangười lao động, về tiềm lực khoa học, công nghệ, về dung lượng thị trường, về cơcấu kinh tế lạc hậu v.v Với một nguồn lực hạn chế thì không thể cùng một lúc pháttriển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại một cách có hiệu quả được

Về mặt thực tiễn, lý thuyết về sự phát triển cơ cấu không cân đối gần gũi với môhình “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” hay “hướng ngoại” và gắn liền với nó là

lý thuyết về lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế đối ngoại.Ở khía cạnh này, người

ta cho rằng việc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ cho phép mở rộng khả năngxác định và lựa chọn các cực tăng trưởng đối với nền kinh tế quốc gia riêng biệt

Trang 29

Mỗi một loại lý thuyết phát triển trên đây có những mặt mạnh không thể chối cãi,song cũng luôn tỏ ra không phải có thể áp dụng thành công ở mọi nơi mọi lúc Tuynhiên, có thể tổng hợp lại những điều mà chúng bàn về sự chuyển dịch cơ cấu ngànhtrong quá trình phát triển (hay công nghiệp hoá) như sau:

1- Các lý thuyết phát triển đã giành sự quan tâm nhất định cho việc xác định cáctiền đề cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá Việc khẳng định sự ràng buộc củanhững điều kiện tiền đề này có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ đối với việc xem xét,đánh giá các mức độ phát triển của một quốc gia ở một thời điểm nào đó để địnhhướng những nhiệm vụ cần tập trung giải quyết cho những giai đoạn tiếp theo

2- Các lý thuyết phát triển ngày nay không những chỉ coi vấn đềchuyển đổi cơ cấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển trong thời

kỳ công nghiệp hoá, mà còn chỉ ra nội dung cụ thể của nó là tăng tỉ trọng của ngànhcông nghiệp, đồng thời giảm tỉ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân, tỉ

lệ người dân sống ở thành phố tăng lên lớn hơn tỉ lệ người sống ở nông thôn vànhững người dân của quốc gia phát triển phải là những thành viên chủ yếu của quátrình chuyển đổi cơ cấu đó Cách xác định nội dung chuyển đổi cơ cấu như vậy đãcho phép một mặt, đánh giá mức độ phát triển- ở đây là mức độ thành công của côngnghiệp hoá- của một quốc gia, và mặt khác, tìm hiểu trong số những nguyên nhânqui định tình trạng thoái triển, hay không sao bắt nhịp được vào quá trình côngnghiệp hoá đã xảy ra ở một số nước trên thế giới

3- Đánh giá về sự thành bại của các nước đang công nghiệp hóa, lýthuyết phát triển đã khẳng định rằng có những nguyên nhân thuộc về cơ cấu mà nếukhông giải quyết được thì không hy vọng có câu trả lời lạc quan, Francois Perroux

đã nhận thấy trong những nước không thành công, cơ cấu kinh tế có tình trạngkhông liên kết bên trong Theo ông, ở một số nước kém phát triển, “các hệ thốnggiao thông không đủ hoặc bố trí tồi đến mức chỉ phục vụ cho một số ít dân cư Cácchợ hoạt động cô lập ở từng địa phương và gây ra tình hình không có sự giao lưu vớinhau giữa các nhóm người Cái khác biệt của những xã hội đóng kín, bộ tộc, giốngnòi, cản trở sự trao đổi mua bán trong cảnh yên bình: các thổ âm thổ ngữ đa dạnggây trở ngại Nếu có được một khoản đầu tư mang lại sự đổi mới, nếu có một xínghiệp có vai trò động lực được lập ra ở một điểm trong vùng vốn bị chia cắt, cáchiệu quả nhân lên và bổ sung vẫn không lan toả ra được”

Sau khi dẫn lời này của Francois Perroux, Gerard Grellet nhận xét: “tình trạngkhông liên kết bên trong ấy thể hiện một ma trận về giao lưu liên ngành công nghiệp

và một ma trận về giao lưu liên vùng hầu như hoàn toàn trống rỗng” (29; tr.21-22).Như vậy, “kinh tế học của sự phát triển” đã đặt vấn đề cơ cấu vào một trongnhững vị trí cơ bản trong lý thuyết của mình để xem xét, đánh giá và phân loại cácdạng thức phát triển và thoái triển ở các nước thuộc thế giới thứ ba Việc đề cao vấn

đề cơ cấu được xem là một trong những thành công trong lý thuyết phát triển kinh tếhiện đại, bởi nó khắc phục được sự phiến diện của việc nhìn nhận các vấn đề kinh tế

Trang 30

của các nước chậm phát triển nếu chỉ xoay quanh độc một chỉ tiêu về tăng trưởngkinh tế- tức là mức độ tăng lên của tổng sản phẩm xã hội (GDP) và tổng sản phẩm

xã hội bình quân đầu người

Việc quan tâm đến vấn đề cơ cấu kinh tế thông qua việc chỉ ra tính chất “khôngliên kết bên trong” ở một số nền kinh tế chậm phát triển nào đó đã mang trong mình

nó hàm ý rõ ràng về một giải pháp mang tính nguyên tắc: phải xây dựng một cơ cấukinh tế có sự liên kết, thúc đẩy, lôi kéo lẫn nhau trong qúa trình phát triển Một cơcấu như vậy vừa là điều kiện của sự phát triển hay công nghiệp hoá, đồng thời lạivừa là kết quả, là một chỉ số để xem xét mức độ thành công của công nghiệp hoá vàphát triển

4- Kinh tế học phát triển hiện đại cho rằng hình thức chuyển đổi cơ cấu ngànhkinh tế của các nước chậm phát triển trong thời kì công nghiệp hoá diễn ra rất đadạng Việc nghiên cứu trắc nghiệm kết hợp với những so sánh lý thuyết đã cho phép

mô tả một bức tranh nhiều màu sắc về quá trình chuyển đổi cơ cấu của các nướcchậm phát triển, thuộc các khu vực khác nhau Chính vì vậy mà ngày càng có nhiềungười cho rằng không có một khuôn mẫu chung, duy nhất nào có thể ứng dụng mộtcách thành công cho mọi quốc gia Việc công nghiệp hoá bắt đầu từ đâu: côngnghiệp, nông nghiệp hay dịch vụ vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi Và như tác giảcủa cuốn “Kinh tế học” đã nhận xét rằng: “Các nhà kinh tế học nghiên cứu về vấn đềphát triển ngày nay đang xa rời những lý thuyết đầy đủ có tham vọng là những điềugiải thích tổng quát về lịch sử loài người Mỗi nước có chiều hướng được coi là một

cá nhân với nguồn tài nguyên và nhu cầu đặc biệt, đòi hỏi có những chỉ dẫn phù hợpvới từng trường hợp cụ thể” (98; tr.590)

5- Việc thừa nhận tính đa dạng của các hình thức chuyển đổi cơ cấu trong quátrình công nghiệp hoá của các nước đang phát triển hiện nay cũng đồng thời để lạimột khoảng trống mà người ta cho rằng, sứ mệnh đặc biệt trong việc giải quyết vấn

đề đó được trao vào tay các chính phủ Hơn bao giờ hết, trong các lý thuyết kinh tế,vai trò can thiệp của Nhà nước được xem như một trong những nhân tố có ý nghĩaquyết định mà sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế phụ thuộc chặtchẽ vào đó Các tác giả của cuốn “Kinh tế học của sự phát triển” nhận xét rằng:

“Trên thực tế, hầu như mọi chính phủ trong thế giới đang phát triển đã đấu tranh với

vấn đề về mối quan hệ hợp lý giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp (33;

tr.103)

Khái niệm về mức độ “hợp lý” trong cơ cấu ngành kinh tế giữa các quốc gia làmột khái niệm có mức co giãn lớn, phụ thuộc trước hết vào những đặc điểm đặc thùcủa mỗi quốc gia như dân cư, cơ cấu và trình độ kinh tế kỹ thuật hiện có, tài nguyênthiên nhiên, văn hoá, các mối quan hệ kinh tế quốc tế v.v Điều đó làm cho mọi sựchỉ dẫn chung, mang tính nguyên tắc nào đó, chẳng hạn như quan điểm của G.D de

Bernis cho rằng ưu tiên công nghiệp phải giành cho các ngành có sức công nghiệp

hoá, tức là những ngành mà chức năng kinh tế cơ bản là thúc đẩy trong môi trường

Trang 31

của nó, xác định theo vùng và theo thời gian để lấy đầy một cách có hệ thống matrận công nghiệp (33; tr.78); hay như quan điểm khác lại cho rằng cần tập trung

trước hết cho những ngành “công nghiệp lôi kéo”, được định nghĩa là những ngành

sử dụng nhiều nhân công Rõ ràng là cần có sự giải thích cụ thể hơn cho mỗitrường hợp cụ thể cũng như những ngành cụ thể được bao hàm trong khái niệmmang tính tổng hợp đó

6- Để có được một cơ cấu ngành hợp lý, các chính phủ phải đánh giá được cácnguồn lực bên trong, đồng thời phải kết hợp được với các nguồn lực bên ngoài trongđiều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới hiện đại Về điểm này, “kinh tế họccủa sự phát triển” cho rằng, đối với một số quốc gia mà dân số ít, nhỏ bé, chính điềukiện bên ngoài mới là nhân tố chủ yếu quyết định cơ cấu ngành của họ Quan điểmnày phản ánh một trong những cố gắng phân tích tình hình kinh tế của các nướcchậm phát triển xuất phát từ đặc điểm đặc thù của chúng Cách xem xét vấn đề nhưvậy thường gắn liền với chiến lược “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” với cáckiểu chủ yếu hoặc là từ thượng lưu, hoặc là từ hạ lưu, hoặc là cả hai, nhưng cáichung nhất là một nền kinh tế mở cửa Nó cũng không tách rời với những ý tưởng vềmột cơ cấu ngành kinh tế không cân đối xét trên phạm vi mỗi quốc gia riêng biệt.Nhìn chung, vấn đề cơ cấu mà “kinh tế học của sự phát triển” nêu ra đã thu hútđược sự chú ý rộng rãi của các quốc gia chậm phát triển đang mong muốn thúc đẩynhanh chóng công nghiệp hoá Nó cũng phản ánh sự đa dạng về các con đường, hìnhthức của sự chuyển đổi cơ cấu đã và đang diễn ra ở các quốc gia thuộc thế giới thứ

2- Do đứng từ những góc độ khác nhau và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau màgiữa các trường phái lý thuyết này đã có kiểu quan niệm khác nhau đối với vấn đề cơcấu ngành kinh tế Đó là cách thức phân chia các ngành của nền kinh tế quốc dân, làtiêu chí đánh giá vai trò của mỗi ngành trong quá trình vận động của toàn bộ nềnkinh tế nói chung, là các khía cạnh được nhấn mạnh không giống nhau trong các kếtluận rút ra v.v Tình hình đó trên thực tế đã tạo ra một số “ngôn ngữ’ kinh tế khác

Trang 32

nhau và đã gây ra những khó khăn nhất định cho việc khảo cứu so sánh Tuy vậy, có

lẽ cũng nên coi điều đó là lẽ thường tình, bởi chúng chỉ là sự phản ánh trên phươngdiện nghiên cứu học thuật đối với một quá trình cực kỳ phức tạp như quá trình côngnghiệp hoá mà sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế bao hàm trong thời kỳ đó làmột trong những nội dung chủ yếu nhất mà thôi

3- Bởi vậy mà, tuy rằng từ nhiều thập niên qua, mỗi lý thuyết kể trên mặc nhiênđược thừa nhận là có những mảnh đất hoạt động thực tế riêng rẽ và tồn tại một cáchsong hành Song sự phát triển của thực tế và nhận thức cho thấy rằng, sự phê phánlẫn nhau theo kiểu cái này thì đúng, còn cái kia thì sai đã tỏ ra quá đơn giản và đầythiên kiến Thực ra, mỗi lý thuyết này đều bao hàm trong đó những mặt mạnh và mặtyếu nhất định Vấn đề là ở chỗ, khi xem xét chúng, nhất thiết phải đứng trong logic

hệ thống của bản thân mỗi loại lý thuyết đó và không được bỏ qua đối tượng cũngnhư phương pháp được xác định để mổ xẻ vấn đề Ngày nay, chúng ta thực sự ý thứcđược một cách sâu sắc rằng, sự tồn tại của mỗi loại lý thuyết kinh tế đều là nhữngnấc thang của quá trình nhận thức, đều là những tài sản tri thức chung của nhân loại.Kết luận này dựa trên một cơ sở thực tế là, nếu xem xét kỹ lưỡng những chiến lược

và chính sách đó luôn là sự “thoả hiệp” hay kế thừa về mặt tri thức của nhiều loại lýthuyết kinh tế cũng như những kinh nghiệm thực tiễn của bản thân và của các nướckhác Nhận định đó hoàn toàn đúng với giai đoạn hiện nay ở nước ta, khi mà chúng

ta phải giải quyết cùng một lúc vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kì côngnghiệp hóa ở tình trạng kém phát triển, theo cơ chế thị trường và định hướng XHCN(127; tr.6-13) Và trước khi đi vào tìm hiểu các vấn đề thực tế này, chúng ta sẽ điểmqua một kinh nghiệm thực tế rất thành công của các nền kinh tế mới công nghiệphoá (NIEs ) ở Đông Á

Chương II

SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH

TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA CÁC

NỀN KINH TẾ MỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ ĐÔNG Á

2.1 Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá ở Đông Á - Tiền đề tự nhiên và lịch

sử

- Đài Loan: Đảo Đài Loan rộng 36.000 km (tương với diện tích vùng đồng bằng

sông Cửu Long của Việt Nam), nằm ở Nam phần biển Đông Trung Hoa, cách Hoalục 90 hải lý 2/3 diện tích là đồi núi, độ dốc lớn 1/4 diện tích đồng bằng Khí hậukhá ôn hoà, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp 60% diện tích có rừng nhiều tầngbao phủ Tài nguyên khoáng sản không nhiều Dân số 20 triệu người (1989), chủ yếu

là người Trung Quốc (97%)

Năm 1590, Bồ Đào Nha chiếm Đài Loan Năm 1641, Hà Lan thế chân Bồ ĐàoNha và bị đánh đuổi năm 1661 Lúc đầu, Đài Loan thuộc tỉnh Phúc Kiến, đến 1887

Trang 33

tách thành một tỉnh riêng biệt Năm 1895 Nhật xâm chiếm Đài Loan và sáp nhập vàođất Nhật Năm 1945, Đài Loan được trả về Trung Quốc

Cuộc cách mạng năm 1949 thành lập nước CHND Trung Hoa ở lục địa, nhữngngười theo Quốc dân Đảng (chừng 1,2 triệu) từ lục địa chạy ra Đài Loan, lập ra

“Trung Hoa Cộng hoà”, làm dân số Đài Loan lúc đó lên tới hơn 8 triệu người Từ

1949 đến 1971, Trung Hoa Cộng hoà là thành viên chính thức của Liên hợp quốc.Ngay từ thời còn là thuộc địa của Hà Lan, Đài Loan đã trở thành một trung tâmbuôn bán Nhưng chỉ dưới thời Nhật trị thì những tiềm năng về nông nghiệp mớiđược chú ý khai thác Vào thời kỳ đó, Nhật đang bước vào cuộc cách mạng côngnghiệp nên cần nhiều lương thực, thực phẩm Và Đài Loan được Nhật tăng cườngphát triển nông nghiệp, nhất là gạo và mía đường để đáp ứng những nhu cầu củaNhật Sự bóc lột của Nhật ở Đài Loan tỏ ra không thua kém bất cứ xứ thuộc địa nàokhác, nghĩa là người nông dân phải nộp từ 50 - 70% tổng số thu hoạch của mình.Nhưng có lẽ điều khác với nhiều xứ thuộc địa khác thời kì đó là Nhật đã đưa vào ĐàiLoan các loại kĩ thuật và phương pháp canh tác tiên tiến Chẳng hạn, thuỷ lợi đã rấtđược chú trọng Đến năm 1938, 62% diện tích canh tác đã được cung cấp tưới nước.Các giống lúa mới và phân bón hoá học cũng được áp dụng và trở thành phổ biếnrộng rãi sau năm 1920 Ngoài lúa gạo và mía đường, các loại cây lương thực, thựcphẩm khác như khoai lang, chè, rau, cây ăn quả cũng được mở rộng đáng kể

Nhật cũng đã chú ý xây dựng hải cảng, hệ thống đường bộ và đường sắt trên đảo.Trong lĩnh vực công nghiệp, từ sau năm 1930 được tăng cường với tốc độ nhanh

để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương của Nhật Lúc đầu, chỉ có một sốnhà máy thuộc lĩnh vực công nghiệp thực phẩm: sản xuất đường, xay sát gạo, dứahộp Nhưng đến thời kì sắp chiến tranh, đã thành lập các nhà máy sợi, xi măng, chếtạo phân bón, giấy và sau đó là lọc dầu, hoá chất và luyện kim Kết quả là, trong giaiđoạn từ 1923 đến 1937, nhịp độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp đạt 3,7%/năm, gần gấp đôi giai đoạn 10 năm trước đó Tới năm 1939, giá trị của sản lượngcông nghiệp đã vượt qua giá trị của nông nghiệp

- Nam Triều Tiên: Sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc (1953), đất

nước chia đôi, nửa nước Triều Tiên nam phần vĩ tuyến 38 thành lập nên nước Cộnghoà Triều Tiên (Nam Triều Tiên) Diện tích 98,5 nghìn km2 (tương đương với diệntích của vùng núi và trung du miền Bắc của Việt Nam) Dân số sau chiến tranh hơn

20 triệu người, nay: 42,4 triệu(1989), hầu hết là người Triều Tiên Đồng bằng chiếm30% diện tích, khí hậu không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp như ĐàiLoan, đất đai kém phì nhiêu hơn và nguồn nước không điều hoà

Năm 1905, Nhật chiếm Triều Tiên và biến nước này thành xứ bảo hộ, Năm 1910,sáp nhập vào đất Nhật, chấm dứt hơn 100 năm của Nhà nước phong kiến tập quyềnđộc lập của Triều Tiên Cũng giống như Đài Loan, đây là thời kì nền nông nghiệpTriều Tiên có nhiều biến chuyển theo hướng thâm canh để sản xuất ra nhiều lúa gạohơn cung cấp cho Nhật Tuy nhiên, so với Đài Loan, nền công nghiệp nặng ở đây

Trang 34

phát triển mạnh hơn dưới sự bảo trợ của Nhật với mục tiêu trực tiếp là làm hậu cầncho ý đồ xâm chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc và Mãn Châu Lý Các ngành côngnghiệp gồm khai thác vàng và quặng khoáng sản, dệt và sau đó là hoá chất, chế biếnkim loại, máy móc Vào những năm 1930-1940, giá trị sản lượng ngành côngnghiệp đã vượt giá trị sản lượng ngành nông nghiệp Năm 1944, theo một cuộc điềutra dân số thì Triều Tiên có hơn 7 triệu nhà quản lý và 28 triệu thợ thủ công Song,phần lớn công nghiệp nằm ở miền Bắc, nên về sau này, phần đất phía Nam của Cộnghoà Triều Tiên chủ yếu chỉ có nông nghiệp sản xuất lúa gạo, công nghiệp nhẹ vàcông nghiệp thực phẩm Sau chiến tranh, dòng người tị nạn chạy từ phía Bắc sangkhá đông, làm nhất thời căng thẳng tình hình đời sống và xã hội.

- Hồng Kông: Thành phố hải cảng tự do Hồng Kông có diện tích 1066km2 (gần

bằng diện tích thành phố Hà Nội- kể cả ngoại thành), nằm ở bờ biển Nam TrungHoa, dân số 600.000 người (1945), lên 2,6 triệu (1955) và tới 5,76 triệu (1989), chủyếu là người Trung Quốc (98%)

Năm 1842 Anh chiếm Hồng Kông và đến 1898, Anh và Trung Quốc ký công ước

cho phép Anh sử dụng Hồng Kông làm nhượng địa trong vòng 99 năm (tới 1997).Trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật chiếm Hồng Kông(1941) và saucuộc chiến, Anh tiếp quản lại từ tay Nhật, và thiết lập chế độ cai quản của mình Bộmáy hành chính ở Hồng Kông đứng đầu là viên toàn quyền do chính phủ Anh bổnhiệm

Khác với các thuộc địa khác bị xâm chiếm chủ yếu để khai thác bóc bột tàinguyên nông nghiệp, Hồng Kông (và Singapo) được hình thành như một trung tâmthương mại và dịch vụ Tính chất đặc thù này kéo theo mức độ phát triển cao về cơ

sở hạ tầng: nhà xưởng, bến cảng, đường sá và cả việc giáo dục và đào tạo nhân lực

- Singapo: Là nước mới công nghiệp hoá duy nhất thuộc khối ASEAN, Diện

tích:616km2 (chưa bằng 1/3 diện tích thành phố Hà Nội) Dân số năm 1989; 2,7triệu người, bao gồm nhiều dân tộc: Hoa: 77%; Malaixia:15% Ấn Độ: 6% và cácchủng tộc khác:2%

Thế kỉ XVI, Singapo là thuộc địa của Bồ Đào Nha, thế kỉ XVII thuộc Hà Lan, và

từ năm 1842 trở thành thuộc địa Anh Từ 1941 đến 1945, Nhật chiém Singapo Sauchiến tranh, Singapo xây dựng chế độ tự quản và năm 1963 gia nhập Liên bangMalaixia, thành lập nước Cộng hoà Singapo chịu ảnh hưởng mạnh của ché độ thựcdân Anh với việc hình thành một trung tâm buôn bán Từ khi kênh đào Xyê khaithông, Singapo trở thành trạm ăn than lớn trên con đường biển nối liền Đông – Tây

và nhanh chóng hội nhập vào các luồng thương mại quốc tế Singapo còn là kho tậpkết các sản phẩm khai thác được từ các thuộc địa khác trong vùng như cao su,thiếc để vận chuyển về Châu Âu Đảo cũng là nơi trung chuyển các loại hàng hoá

từ Âu-Mĩ để phân phát đi khắp vùng Chức năng trung chuyển các loại hàng xuấtnhập khẩu đã hình thành từ đó

Trang 35

- Các thành viên của NIEs, diện tích tự nhiên nhỏ hẹp, rất ít tài nguyên khoángsản Đài Loan và Nam Triều Tiên có hoạt động sản xuất nông nghiệp, còn HồngKông và Singapo là những “quốc gia” thành phố, diện tích rất nhỏ, mật độ dân sốcao, dung lượng thị trường nhỏ bé do tổng lượng dân cư và mức thu nhập bình quânlúc đó thấp Thành phần dân cư thuần nhất, chỉ trừ Singapo có cơ cấu dân cư đa dântộc.

- Các vùng đất này đều có một hoàn cảnh địa lý- chính trị rất đặc biệt Đài Loan

và Nam Triều tiên là những “nửa nước” còn lại Hồng Kông không tồn tại như mộtquốc gia độc lập Singapo tuy không đối lập về chế độ xã hội với Liên bangMalaixia, nhưng dù sao thì cũng coi như một “mấu đất” cắt rời ra, với một vị thế lịch

sử kinh tế và xã hội độc đáo

Với tư cách là sản phẩm trực tiếp của những cuộc xung đột chính trị quốc tế trongthế chiến hai, một mặt, các chính thể mới tiếp quản đất nước mang nhiều thương tíchchiến tranh, nhưng mặt khác dường như những nhân tố gây khó khăn ban đầu ấy lại

là nguồn lực quan trọng của sự tăng trưởng nhanh ngay sau đó Đó là dòng người di

cư ồ ạt từ các vùng khác của đất nước Triều Tiên và Trung Quốc chạy sang, trướchết vì lý do chính trị, và phần đông trong số đó là những nhà công nghiệp, chủ thầu,nhà kinh doanh , mang theo phần đáng kể nguồn vốn tài chính và đặc biệt là kiếnthức quản lý, kinh doanh Kết cấu xã hội ấy cộng với vị trí địa lý trực tiếp đối đầu vềchính trị đã đẩy NIEs mạnh hơn về phía các nước công nghiệp TBCN phát triển,nhất là Mĩ, với những toan tính có tính chất chiến lược trên qui mô toàn vùng vàtoàn cầu Điều này khiến NIEs gắn chặt với các trung tâm kinh tế phát triển nhất vàđược đảm bảo nhất định về an ninh

-Ở thời kì cận đại, kinh tế nông- công nghiệp của Đài Loan và Nam Triều Tiên đãkhá phát triển dưới sự bảo trợ của Nhật Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển biến lớntheo hướng tăng tỉ trọng của sản xuất công nghiệp Theo René Dumont, “Thời đạiNhật Bản, vậy không phải là một thời kì ban phúc cho những người nghèo, cho đa sốdân chúng Song Đài Loan độc lập đã thừa hưởng được của thời đại Nhật Bản một

cơ sở hạ tầng tốt: một thứ công nghiệp hoá nào đó, một nền giáo dục được gia tăng,

và nhất là một tầng lớp nông dân thâm canh lao động cật lực và được hiện đại hoá,

đã thực hành cuộc cách mạng xanh, và được tổ chức tốt trong một loạt các hiệp hộinông nghiệp và hợp tác xã- trong đó bao gồm cả các hợp tác xã thuỷ lợi rất hữuhiệu” (30; tr.28-29) Còn Hary T.oshima thì nhận xét: “Tất cả các kĩ năng học đượctrong thời kỳ thuộc địa Nhật trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp cùng với cơ

sở hạ tầng vật chất và thể chế đã góp phần vào khả năng của những nước này lợidụng những cơ hội khác nhau mở ra trong thời kỳ sau chiến tranh nhanh hơn và tốthơn các nước Nam và Đông Nam Á mà ở đó, các chế độ thực dân đã không pháttriển được nông nghiệp và công nghiệp hoá tới một chừng mực lớn như vậy”; và

“Trình độ công nghiệp hoá ở cả hai thuộc địa này vào trước lúc nổ ra đại chiến thếgiới thứ II là rất không bình thường” (85)

Trang 36

Hồng Kông và Singapo cũng được kế thừa nhiều về cơ sở vật chất và thiết chế màAnh để lại.Ở đây, “ngành dịch vụ, không chỉ có mậu dịch và tài chính, mà còn có cảdịch vụ công cộng và cá nhân, xuất hiện từ những thập kỉ trước chiến tranh có lẽ làngành có hiệu quả và hiện đại nhất ở tất cả các nước châu Á” (85; tr.152).

Rõ ràng là, trình độ kinh tế ở điểm xuất phát như vậy tương đối cao (so với cácnước giành được độc lập chính trị sau chiến tranh thế giới thứ II và thậm chí cả vớinhiều nước đang mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện nay).Điều này cải chính lại một nhận thức khá phổ biến rằng, NIEs thành công “thần kì”

và kết thúc công nghiệp hoá của NIEs một cách cụ thể, mà thừa nhận giai đoạn côngnghiệp hoá về cơ bản đã diễn ra và hoàn thành trong những thập niên vừa kể trên

2.2.1- Động thái tăng trưởng và thay đổi cơ cấu ngành kinh tế:

Sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung luôn được biểu hiện cả về mặt sốlượng lẫn chất lượng, hay phản ánh các kết quả cuối cùng của những diễn biến tăngtrưởng và thay đổi kết cấu giữa các ngành hợp thành của nó Vì vậy, trước hết chúng

ta hãy xem qua bức tranh toàn cảnh động thái tăng trưởng của những nền kinh tế nàyqua các số liệu ở bảng sau

bảng 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước(GDP) và GDP/người(%)

bình G

D P

G D P/

n g ư ời

G D P

G D P/

n g ư ời

G D P

G D P/

n g ư ời

G D P

G DP/

n gườ i

3 ,1 4 ,0

8 ,6 9 ,6

6 ,0 6 ,3

9 ,5 8 ,8

8 ,0 6 ,7

7 , 7 8

5 ,7 5 ,7

Trang 37

4 ,5 1 ,3 2 ,3 2 ,2

1 0, 0 8 ,8

6 ,0 3 ,4

7 ,2 6 ,7 3 ,1 1 ,5

9 ,3 8 ,5 7 ,2 3 ,7

6 ,4 7 ,7 4 ,9 1 ,1

, 7 9 , 5 8 , 1 6 , 1

3 , 7

6 ,6 6 ,2 3 ,4 1 ,5

* Gồm: Malaixia, Thái Lan, Indonexia, Philippin.

*Gồm: Ấn Độ, Bangiades, Miến điện, Xrilanca, Nêpan

và nếu trừ Trung Quốc và Ấn Độ ra thì chỉ là 0,7%/năm (34; tr.152)

Cùng góp phần tạo nên vẻ “ngoạn mục” của bức tranh toàn cảnh nêu trên, chúng tacòn thấy những chiều hướng vận động và các quan hệ tỷ lệ của các ngành qua các bảngsau Theo như bảng 2 thì:

- Khu vực nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh và liên tục, nhất là Đài Loan vàNam Triều Tiên là nơi có hoạt động sản xuất nông nghiệp, với

Trang 38

mức thấp nhất là giảm 6% về giá trị sản phẩm và 3,6% về lao động hàng năm, đưa tỉtrọng của giá trị nông nghiệp xuống còn nhiều nhất là 16% và lao động còn 34,2% vàocuối kì.

- Khu vực công nghiệp tăng nhanh tỉ trọng, chiếm từ 1/3 đến hơn cả về giá trịlẫn nguồn lao động

- Tỉ trọng của khu vực dịch vụ cũng tăng lên, tuy chậm hơn so với công nghiệp.Duy có Hồng Kông, khu vực dịch vụ tăng lên thay thế cho công nghiệp giảm chút ít,còn Singapo thì tăng về giá trị nhưng giảm về nhân công.Ở Đài Loan, lao động tăngchút ít nhưng tỉ trọng giá trị lại giảm đi

Tốc độ tăng trưởng hết sức nhanh chóng của sản xuất công nghiệp và sau đó là dịch

vụ (xem bảng 3) đã đóng góp phần quyết định vào sự chuyển dịch cơ cấu nêu trên Vàbảng 4 cho thấy năng suất lao động cao của khu vực công nghiệp (gấp 2 lần nôngnghiệp)đã giải thích phần nào vì sao mà công nghiệp tăng nhanh như vậy

Với vài nét mô tả sơ lược trên đây, có thể thấy rằng đối với NIEs có hoạt động sảnxuất nông nghiệp (Đài Loan và Nam Triều Tiên), sự chuyển dịch cơ cấu ngành về cơbản đã diễn ra gần với mô hình cổ điển ở các nước công nghiệp thị trường trước đây,nhưng khác ở chỗ thay vì phải đi qua hàng trăm năm thì với NIEs, chỉ là 30-40 năm.Tuy tình hình diễn biến qua từng giai đoạn ngắn giữa các thành viên của NIEs khônggiống nhau, nhưng điều chủ yếu mà sau đây chúng tôi quan tâm tới là tại sao, NIEs đãhoàn thành được bước quá độ trong thời gian ngắn như vậy?

2.2.2 – Những nhân tố chi phối quá trình dịch chuyển cơ cấu của NIEs

Mọi người đều biết, công nghiệp hoá trong thời đại ngày nay bao hàm hai quá trìnhdịch chuyển song hành:

- “Giải thể” khu vực sản xuất truyền thống, trước hết là nông nghiệp, để chuyểnsang nền kinh tế dựa trên phương thức sản xuất công nghiệp;

- Sự gia tăng của khu vực sản xuất hiện đại, trước hết là công nghiệp, biến nềnkinh tế hoạt động theo lối công nghiệp (theo nghĩa rộng của từ này)

Vì vậy, khi xem xét những nhân tố chi phối quá trình dịch chuyển cơ cấu, cần xem xétchính những nhân tố chi phối hai xu hướng đồng thời vận động nêu trên

2.2.2.1 – Quá trình “giải thể” khu vực sản xuất “truyền thống”:

Đối với Đài Loan và Nam Triều Tiên, khu vực “truyền thống” chủ yếu là lĩnh vực sảnxuất nông nghiệp Song, như đã giới thiệu sơ lược ở phần trên, sản xuất nông nghiệp ởĐài Loan và Nam Triều Tiên được thừa hưởng một trình độ thâm canh tương đối caodưới thời Nhật trị, ít ra là so với những nước đang phát triển đương thời Do vậy, tuy bịđình đốn trong chiến tranh, cộng thêm lượng người nhập cư đông đảo làm cho việc cungcấp lương thực, thực phẩm trở nên căng thẳng, nhưng thời gian khôi phục diễn ra tươngđối nhanh Chẳng hạn, ở Đài Loan, đến năm 1952 (tức là 3 năm sau khi thành lập TrungHoa Cộng hoà), một số sản phẩm nông nghiệp đã đạt, thậm chí có loại vượt xa mứctrước chiến tranh (xem bảng5), lập lại thế ổn định cho đời sống kinh tế và xã hội Hai

Trang 39

khía cạnh đặc biệt nổi bật mà sự phục hồi nông nghiệp đóng góp vào việc làm ổn địnhtình hình kinh tế lúc đó là:

- Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát: Sau chiến tranh, nạn khan hiếm lương thực, thựcphẩm, hàng tiêu dùng đã trực tiếp đẩy giá lên cao, và mức độ lạm phát trên thực tế làkhông thể kiềm chế được Nhưng nông nghiệp phục hồi đã góp phần làm bình ổn vậtgiá trở lại Ví dụ như Đài Loan, mức tăng vật giá được đẩy lùi với tốc độ nhanh:1949: 3,406%; 1950: 305,5% và 1952 còn 23,1% (95; tr 71)

- Đóng góp phần quan trọng vào tổng giá trị xuất khẩu:Ở Đài Loan, sản phẩmxuất khẩu có gốc từ nông nghiệp chiếm tới 90% tổng giá trị xuất khẩu, đạt gần 100triệu đô la năm 1953 và 49% năm 1962, còn ở Nam Triều Tiên, tới năm 1962, con sốnày là gần 50% (30; tr.43 và 51; tr.92)

Như vậy là trong lúc nền kinh tế còn yếu kém, chính nông nghiệp là lĩnh vực chủ yếutạo ra nguồn ngoại tệ cần thiết (tuy còn ít ỏi) để nhập khẩu vật tư cho việc phục hồi côngnghiệp

B ng 5:- So sánh m c s n xu t m t s s n ph m trức sản xuất một số sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài ất một số sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài ột số sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài ố sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài ẩm trước và sau chiến tranh ở Đài ước và sau chiến tranh ở Đài à sau chiến tranh ở Đàic v sau chi n tranh ến tranh ở Đài ở Đài Đà sau chiến tranh ở Đàii

1,4021,3741201,837539

894868051768410

1,215647801,3621,805

1,5705821222,07913,576

Nguồn: Vương Tác Vinh “Chính sách chống lạm phát” trong “40 năm kinh nghiệm Đài Loan”- Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội và Tạp chí Người đại biểu nhân dân xuất bản, Hà Nội1992, tr.76.

Những phân tích về tình hình kinh tế của Đài Loan và Nam Triều Tiên trong giai đoạnđầu tiên sau chiến tranh cho thấy sự phục hồi nhanh chóng của sản xuất nông nghiệptrực tiếp gắn liền với cải cách ruộng đất Với việc đưa lại ruộng đất cho nông dân vàkhống chế mức sở hữu đất đai, các cuộc cải cách ruộng đất ở Đài Loan và Nam TriềuTiên được xem là rất triệt để, tương tự như ở Nhật Và dựa trên nền tảng vật chất- kĩthuật (bao gồm thuỷ lợi, đường xá, giống, phân bón đã tương đối phát triển), cuộc cảicách ruộng đất đã xoá bỏ đi “cản trở lớn nhất đối với sự tiến bộ nhanh chóng hơn là việcbóc lột nông dân bằng chế độ phát canh thu tô” (30; tr.29) Sự thay đổi chể độ sở hữunày đã kích thích mạnh sản xuất nông nghiệp làm cho nó đạt tốc độ tăng trưởng rất cao,10%/năm giai đoạn 1947-1953 ở Đài Loan, tức là gần gấp 3 lần mức cao nhất trước

Trang 40

chiến tranh Thu nhập của người nông dân đã tăng lên tới 4 lần từ 1950 đến 1955 (30tr.36 và 95; tr.100), đã cải thiện rõ rệt mức sống và góp phần mở rộng dung lượng thịtrường của công nghiệp.

Tóm lại, sau chiến tranh, Đài Loan và Nam Triều Tiên tiến hành một giai đoạn phụchồi kinh tế nông nghiệp Một trong những trọng tâm chủ yếu của giai đoạn này là thựchiện cải cách ruộng đất Kết quả của giai đoạn này là bình ổn trở lại đời sống kinh tế-xãhội xét trên nhiều phương diện, đưa nền kinh tế trở lại qũi đạo hoạt động bình thường

Từ đó về sau, nông nghiệp chuyển dần vào giai đoạn mới trong quá trình “giải thể” bằngchính sự phát triển của nó, nghĩa là trong khi tăng lên về giá trị tuyệt đối thì cũng đồngthời giảm dần tỷ trọng của nó trong GDP Diễn biến của quá trình này ra sao, chúng tôixin trình bày qua thí dụ về nền nông nghiệp Đài Loan, vốn được xem là “mẫu mực” hơn

so với ở Nam Triều Tiên qua các mặt sau đây

- Sự thay đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp:

Nhìn một cách tổng thể, từ năm 1952 đến 1984, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đãtăng lên gấp 3 lần, trong đó ngành trồng trọt tăng gấp đôi, còn chăn nuôi tăng tới 10 lần.Trong ngành trồng trọt, trên một diện tích canh tác từ 876.000 ha năm 1952, đã tănglên mức cao nhất: 923.000 ha năm 1977 rồi sau đó giảm dần, diễn ra sự suy giảm củanhững cây lương thực truyền thống và gia tăng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp vàrau Lúa gạo đã giảm đi hơn 40.000 ha, trong khi các cây trồng khác tăng chừng 16.000

ha Năm 1953, lúa gạo chiếm 12 giá trị sản phẩm nông nghiệp thì đến năm 1985 chỉ còn14 Các loại cây trồng phi lương thực có biến động mạnh qua các thời kì khác nhau.Đay và bông hoàn toàn biến mất do nhập khẩu chúng rẻ hơn sản xuất ra Sản lượngchuối từ 100.000 tấn năm 1952đã tăng lên kỷ lục 650.000 tấn năm 1968 rồi tụt xuốngcòn 200.000 tấn năm 1986 Dứa cũng đạt mức cao nhất trong những năm 1968-1974, rồisau đó giảm đi còn 120.000 tấn những năm 1983-1984, bằng 13 lúc cao nhất Hai loạisản phẩm này chủ yếu xuất khẩu cho Nhật, nhưng dần phải nhường lại địa bàn choASEAN do tác động của cạnh tranh Nấm và măng tây phát triển từ những năm 1963-

1964 với mỗi loại lúc cao nhất là trên 100.000 tấn, sau đó giảm đi do chỗ loại sản phẩmnày cần nhiều sức lao động, khó thay thế bằng cơ giới hoá khi lao động không còn trạngthái dư thừa Các cây công nghiệp truyền thống như mía, chè cũng có tình hình tương

tự Duy các loại ăn quả (cam, quí, bưởi, dưa, táo, lê, đào ) và rau xanh có mức tăngtương đối ổn định về diện tích và sản lượng Các loại cây ăn quả từ

Bảng 6- Sự thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng các ngành nông nghiệp

ở Đài Loan và Nam Triều Tiên(%)

Ngày đăng: 24/09/2016, 23:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 cho thấy mức tăng GDP của NIEs cực kỳ cao trong suốt ba thập kỉ. Thành tựu  này gần bằng Nhật trong hai thập niên đầu và vượt lên trong thập niên 1970 - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 1 cho thấy mức tăng GDP của NIEs cực kỳ cao trong suốt ba thập kỉ. Thành tựu này gần bằng Nhật trong hai thập niên đầu và vượt lên trong thập niên 1970 (Trang 37)
Bảng 5:- So sánh mức sản xuất một số sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài Loan. - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 5 - So sánh mức sản xuất một số sản phẩm trước và sau chiến tranh ở Đài Loan (Trang 39)
Bảng 8: Cơ cấu sản lượng công nghiệp Nam Triều Tiên (%). - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 8 Cơ cấu sản lượng công nghiệp Nam Triều Tiên (%) (Trang 51)
Bảng 9- Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Nam Triều Tiên - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 9 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Nam Triều Tiên (Trang 52)
Bảng 10- Cơ cấu đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 10 Cơ cấu đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất (Trang 53)
Bảng 11- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu trong tổng sản lượng của một số ngành của Đài - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 11 Tỉ trọng giá trị xuất khẩu trong tổng sản lượng của một số ngành của Đài (Trang 54)
Bảng 12- Cơ cấu công ăn việc làm trong ngành công nghiệp chế biến của Singapo - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 12 Cơ cấu công ăn việc làm trong ngành công nghiệp chế biến của Singapo (Trang 55)
Bảng 13 – Tốc độ tăng trưởng hằng năm của hàng chế tạo xuất khẩu - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 13 – Tốc độ tăng trưởng hằng năm của hàng chế tạo xuất khẩu (Trang 56)
Bảng 17- Mức tăng vốn đầu tư hàng năm (%)- (Giá cố định1982) - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 17 Mức tăng vốn đầu tư hàng năm (%)- (Giá cố định1982) (Trang 77)
Bảng 21- Cơ cấu thu nhập quốc dân sử dụng (%) – (Giá hiện hành). - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 21 Cơ cấu thu nhập quốc dân sử dụng (%) – (Giá hiện hành) (Trang 80)
Bảng 22: Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng (giá so sánh năm 1982) (%) - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 22 Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng (giá so sánh năm 1982) (%) (Trang 81)
Bảng 24-Mức tăng bình quân hàng năm của sản lượng công nghiệp - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 24 Mức tăng bình quân hàng năm của sản lượng công nghiệp (Trang 85)
Bảng 26- Mức tăng trưởng GDP hàng năm thời kì 1986-1991 (%) - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 26 Mức tăng trưởng GDP hàng năm thời kì 1986-1991 (%) (Trang 89)
Bảng 29 – Cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm xã hội và - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Bảng 29 – Cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm xã hội và (Trang 93)
Sơ đồ lựa chọn các ngành cần ưu tiên, khuyến khích. - LUẬN án  TIẾN SĨ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM
Sơ đồ l ựa chọn các ngành cần ưu tiên, khuyến khích (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w