1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN 2016 rèn LUYỆN kĩ NĂNG làm bài văn NGHỊ LUẬN lớp 9

16 469 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 120,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các em học về nghị luận về tác phẩm văn học mà cụ thể là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ… Có thể nói, Nghị luận văn học là một kiểu bài k

Trang 1

1 Phần mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Trong chương trình ngữ văn ở bậc Trung học cơ sở, thể loại văn nghị luận nói chung, nghị luận văn học nói riêng chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Từ lớp 7, các em đã làm quen với khái niệm nghị luận, các phương thức nghị luận

và bước đầu tiếp xúc với nghị luận văn học Lên lớp 8, các em tiếp tục được học khá kĩ về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả Lên lớp 9 tiếp tục sự kế thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận Các

em học về nghị luận về tác phẩm văn học mà cụ thể là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ…

Có thể nói, Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn Tập làm văn nói chung Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về

xã hội, về Văn học, về Lịch sử và đặc biệt là kĩ năng trình bày Thế nhưng, qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy, đối với học sinh THCS, kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế: Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa có sức thuyết phục, vốn từ nghèo nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa, dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả

Từ thực trạng trên, tôi tìm tòi, học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn

áp dụng một số biện pháp trong quá trình giảng dạy phần văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng ở chương trình lớp 9 Giáo viên không chỉ giúp học sinh nắm vững các yêu cầu, cách làm bài nghị luận văn học ở từng kiểu bài, mà còn chú trọng định hướng cho học sinh rèn luyện kĩ năng làm bài tốt nhất nhằm từng bước nâng cao chất lượng của bài viết và hiệu quả của việc giáo dục, đáp ứng yêu cầu của mực tiêu giáo dục hiện nay Xuất phát từ tình hình trên, bản thân xin nêu một vài kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy với mục

đích trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp qua sáng kiến: “Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận lớp 9”.

1.2 Điểm mới của đề tài

Trang 2

- Đề tài đi sâu hướng dẫn cụ thể các kiểu bài văn nghị luận văn chương THCS, không chỉ từng kiểu bài (Nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, Nghị luận một đoạn thơ bài thơ) mà còn cụ thể hóa các dạng : phân tích, cảm nhận, suy nghĩ, … về các khía cạnh của tác phẩm văn học

- Phương pháp làm bài không có tính chung chung mà cụ thể từng khâu, tùng bước trong quá trình hoàn thiện bài văn nghị luận văn chương THCS : từ việc nhận dạng kiểu đề, dạng đề, cách xây dựng đoạn đến cách viết từng phần cho bài văn : mở bài, thân bài, kết bài,…

- Đề tài hướng đến việc chia sẻ cách làm bài văn nghị luận THCS (đặc biệt là lớp 9) đối với giáo viên, học sinh, (kể cả phụ huynh) không chỉ trong công tác nâng cao chất lượng đại trà mà còn dành cho việc ôn thi học sinh giỏi

Vì điều kiện thời gian hạn hẹp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phần nghị luận văn học Đây là kĩ năng cơ bản của học sinh khi tiếp cận văn bản văn học Giải pháp nêu ra trong đề tài được người viết áp dụng có hiệu quả ở lớp 9 ở đơn

vị sở tại Đề tài cũng có thể được áp dụng rộng rãi đối với bộ môn ở trong và ngoài trường đặc biệt đối với học sinh lớp 9

2 Phần nội dung

2.1 Thực trạng của nội dung nghiên cứu

Là một giáo viên nhiều năm dạy lớp 9, tôi nhận thấy, trong quá trình làm bài kiểm tra định kì cũng như ở kiểm tra học kì, thi tuyển vào lớp 10 ở môn ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học còn rất nhiều hạn chế Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung chung, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề Có bài chỉ viết được một mặt giấy là hết,

có nhiều em không biết mở bài, không biết xây dựng luận điểm… Thực trạng ấy làm cho đội ngũ thầy cô giáo chúng ta phải trăn trở, phải suy nghĩ, mà nguyên nhân chính là học sinh không có kĩ năng viết bài, không có định hướng khi làm bài nghị luận văn học Do đó, vấn đề đặt ra cho người giáo viên đứng lớp là cần phải có cách dạy như thế nào, học sinh cần phải có cách học như thế nào để học sinh phát huy được tích tích cực, chủ động, có kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận văn học, để hiệu quả giáo dục ngày một đi lên

Trang 3

* KẾT QUẢ KHẢO SÁT BÀI VIẾT CỦA HỌC SINH TRƯỚC KHI THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Khối lớp Tổng số

học sinh

KẾT QUẢ XẾP LOẠI

Qua bảng số liệu tôi nhận thấy: Đúng như tình trạng chung của việc học tập bộ môn, học sinh lớp 9A và 9B nắm kiến thức về văn nghị luận nói chung cũng như nghị luận về tác phẩm văn học nói riêng vẫn còn nhiều điểm yếu, kém Nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ điểm yếu, kém cao đó là do các em thiếu kĩ năng viết bài

Trước tình trạng này, tôi rất lo lắng bởi tâm lí chung của các học sinh yếu kém, đã viết bài không được là không thích học, chán học, làm bài qua loa cho xong việc Tôi đã trăn trở, tìm cách để cố gắng khắc phục tình trạng này Trong mỗi giờ lên lớp, tôi cố gắng tìm tòi những giải pháp thích hợp để cuốn hút các

em vào bài giảng, huy động tối đa suy nghĩ, trí tuệ của các em khi tìm hiểu sự việc, nhân vật, chủ đề, nghệ thuật của tác phẩm; đồng thời định hướng cho các

em kĩ năng viết bài đảm bảo yêu cầu đặc trưng thể loại

2.2 Các giải pháp

2.2.1 Các yêu cầu đối với giáo viên và học sinh:

* Đối với học sinh:

Học sinh phải tập thói quen tích cực, chủ động trong học tập, phải có tinh thần tự học, tự tìm tòi; có thói quen chuẩn bị bài, đọc tác phẩm, xem chú thích, trả lời các câu hỏi ở sách giáo khoa, tham khảo tài liệu nhằm nắm chắc, hiểu đúng về các khía cạnh của tác phẩm văn học trong chương trình Đồng thời, biết vận dụng kiến thức, kĩ năng học được trong lý thuyết để viết tốt bài văn nghị luận về tác phẩm văn học

Trang 4

* Đối với giáo viên:

Giáo viên cần có định hướng trong việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh, bắt đầu từ việc viết từng đoạn đoạn văn ở từng phần khi làm bài nghị luận văn học Trong các khâu từ tìm hiểu đề cho đến viết bài, học sinh yếu – kém thường

bỏ qua khâu tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý Khi đọc xong đề là các đối tượng học sinh này bắt tay vào việc làm bài ngay Do đó, giáo viên cần cho học sinh hiểu vai trò của việc tuân thủ đủ các bước trong quá trình viết bài; đồng thời hướng dẫn học sinh cách trình bày sau khi đọc xong đề, tìm hiểu kĩ đề bài

2.2.2 Một số giải pháp rèn kĩ năng viết văn nghị luận theo từng kiểu bài:

a Yêu cầu của kiểu bài:

* Phân tích: Nói tới phân tích tức là nói tới việc mổ xẻ, chia tách đối

tượng ra thành các phương diện, các bộ phận khác nhau để tìm hiểu, khám phá, cắt nghĩa Cái đích cuối cùng là nhằm để tổng hợp, khái quát, chỉ ra được sự thống nhất Như vậy, phân tích là yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu ra nhận xét của nguời viết (người nói)

* Suy nghĩ: Là nhận xét, nhận định, phân tích về tác phẩm của người viết

ở góc nhìn nào đó về chủ đề, đề tài, hình tượng nhân vật, nghệ thuật…

* Cảm nhận: Là cảm thụ của người viết về một hay nhiều ấn tượng mà

tác phẩm để lại sâu sắc trong lòng người đọc về nội dung hay nghệ thuật hoặc cả nội dung và nghệ thuật

Như vậy, từ phân tích chỉ định về phương pháp, từ suy nghĩ nhấn mạnh tới nhận định, phân tích, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người

viết Nếu học sinh không hiểu thì đề bài yêu cầu gì đi nữa thì học sinh đều phân tích hết

b Hướng dẫn học sinh cách làm và viết đoạn văn nghị luận văn học:

Giáo viên luôn nhắc học sinh viết bài văn phải có bố cục đầy đủ gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài Tuy nhiên, để viết được văn bản, trước hết, học sinh phải viết được những đoạn văn hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một luận điểm

Trang 5

* Đối với đoạn thơ, bài thơ, học sinh phải xác định được bố cục Phân

tích theo lối cắt ngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ Từ văn bản thơ, học sinh tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗi đoạn Đối với từng khổ thơ, đoạn thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ý nhỏ được Sau khi tìm được ý chính của mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy thành các luận điểm

Ban đầu tập cho học sinh phân tích một câu, rồi đến hai câu Từ hai câu rồi đến một khổ thơ, từ khổ thơ (đoạn thơ) rồi đến bài thơ

Ví dụ: Khổ thơ đầu của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồn cùng gió khơi.

Giáo viên tập cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhất, rồi đến câu thơ thứ hai Phân tích một lượt hai câu (một và hai) Trong khi hướng dẫn học sinh phân tích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thứ 4 cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên khi đoàn thuyền ra khơi Cho nên để tách thành các ý nhỏ chỉ cắt câu thơ 1 và 2

ở khổ thơ trên

Cần tìm được những nét nghệ thuật đặc sắc, để rồi từ đó phân tích nghệ thuật cũng làm nổi bật nội dung Chẳng hạn ở đoạn thơ trên, học sinh phải phát hiện được nghệ thuật so sánh liên tưởng, nhân hóa đặc sắc qua các từ ngữ “như hòn lửa”, “sóng đã cài then”, “đêm sập cửa” từ đó thấy được bức tranh hoàng hôn trên biển đông hùng vĩ, tráng lệ mà gần gũi, ấm áp; hay từ “lại” ở câu thư thứ 3, “câu hát” ở câu thơ thứ 4 thể hiện nhịp điệu tuần hoàn, khẩn trương của đoàn thuyền ra khơi đánh cá không kém phần lãng mạn, tự tin Làm được như vậy sẽ tránh được hiện tượng diễn xuôi các câu thơ thành văn Cứ như thế, xây dựng được một đoạn thì sẽ xây dựng được đoạn khác và thành bài

* Đối với tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), đề cập đến nhiều khía

cạnh như nội dung, nghệ thuật, chủ đề , trong chương trình lớp 9 ưu tiên phần nhân vật Giáo viên cần định hướng cho học sinh nắm được bố cục, tình tiết

Trang 6

truyện một cách đầy đủ để rồi đặt nhân vật của mình vào trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể của truyện Với nhân vật, giáo viên cần giúp học sinh khai thác từ ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói, việc làm từ đó mà bộc lộ tính cách Các chi tiết nghệ thuật cũng góp phần khắc họa rõ hơn chân dung ngoại hình và tính cách của nhân vật

Ví dụ: Khi phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn kim Lân, không thể không nói đến bệnh khoe làng của ông ở đầu truyện; hay ở cuối truyện, chi tiết ông Hai vội vội vàng vàng chạy đi khắp nơi để khoe tin làng mình bị đốt, nhà mình bị cháy; càng không thể bỏ qua các chi tiết độc thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật tất cả đều làm nổi bật tinh thần yêu làng, yêu nước sâu sắc của ông Hai

c Hướng dẫn cụ thể ở từng phần:

c.1/ Mở bài:

Giáo viên trình bày quy trình ở đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học và

về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhận biết qua đối chiếu sau:

Về đoạn thơ, bài thơ Về nhân vật văn học

(a) Giới thiệu tác giả -> (b) Tên tác

phẩm -> (c) Thời diểm, hoàn cảnh sáng

tác -> (d) Đoạn trích ở đâu -> (e) Nêu

nhận xét, đánh giá sơ bộ về nội dung,

nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ

(a) Giới thiệu tác giả -> (b) Tên tác phẩm -> (c) Thời điểm, hoàn cảnh sáng tác -> (d) Nhân vật chính -> (e) Nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của mình về nhân vật

Nhìn vào phần mở bài của hai kiểu bài, học sinh sẽ thấy cả hai đề có thể giống nhau từ (a), (b), (c) nhưng bắt đầu khác nhau từ (d) và (e) Điều này giúp học sinh dễ nhớ

Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng cũng có thể trình bày sáng tạo theo nhiều cách khác nhau, điều bắt buộc về nội dung phải có là (b) và (e) ở mỗi phần

* Ví dụ minh họa phần mở bài:

Đề 1: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.

Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn Ông có nhiều bài thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu Bài thơ “Sang thu” được

Trang 7

Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn nghệ Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất trời từ hạ sang thu.

Đề 2: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa

Pa” của Nguyễn Thành Long

Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên về truyện ngắn Truyện ngắn

“Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác vào mùa hè năm 1970, trong một chuyến đi lên Lào Cai của tác giả Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng người đọc với bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng trân trọng.

Từ hai đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở từng kiểu bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài Cách mở bài này dành cho đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống Còn học sinh khá giỏi thì cứ trên ý cơ bản như vậy, các em có sự sáng tạo thêm

c.2/ Thân bài

*Ví dụ minh họa phần thân bài:

- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:

Trước hết, giáo viên phải hình thành cho học sinh quy trình xây dựng đoạn khi phân tích một đoạn thơ, khổ thơ như sau:

(1) Nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy (câu này gọi

là câu dẫn) -> (2) Dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ -> (3) Giảng giải, cắt nghĩa (từ, ngữ, câu thơ) -> (4) Liên hệ, mở rộng, so sánh -> (5) Nhận xét cách sử dụng nghệ thuật và phân tích nghệ thuật ấy Cần chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở đó, các ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ Không lấy chi tiết dàn trải -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ Phần này có thể về cảnh, về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trực tiếp hoặc nhân vật trữ tình nhập vai

Các câu (1), (2), (5), (6) thường bắt buộc phải có khi phân tích Câu (3), (4) tùy theo đoạn thơ, khổ thơ mà thực hiện Riêng câu (4) học sinh khá, giỏi thường dùng để mở rộng ý

Trang 8

Ví dụ 1: Phân tích khổ thơ:

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”

(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ) Viết đoạn:

(1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, nhà thơ đã có ước nguyện:

(2) “Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”

(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm một cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời, muốn làm một nốt trầm trong bản hòa ca để làm tăng ý nghĩa cuộc đời (4) Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim để nói lên ước nguyện của mình Những hình ảnh ấy được lặp lại, trở lại mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến có ích cho đời Cũng trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một khúc xuân” những suy ngẫm tưng tự:

Nếu là con chim, chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.

Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn nhân sinh quan – vấn đề ý nghĩa của đời sống cá nhân trong mối quan

hệ với cộng đồng – một cách thiết tha, nhỏ nhẹ, khiêm nhường được thể hiện qua những hình tượng đơn sơ mà chưa đựng nhiều xúc cảm

Trang 9

(4b) Nếu khi bắt đầu vào bài thơ, nhà thơ xưng tôi “Tôi đưa tay tôi hứng” thì giờ đây, tác giả đã chuyển sang ta Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên Với chữ ta vừa là số ít vừa là số nhiều, tác giả có thể nói được cái riêng biệt, cá thể,

đồng thời lại nói được cái khái quát, cái chung (5) Cách sử dụng điệp ngữ “ta làm” láy di láy lại thật tha thiết, chân thành (6) Nhà thơ có một ước nguyện nhỏ

bé, một phương châm sống thật cao đẹp được hòa nhập và cống hiến cho đời

Từ đoạn văn trên, học sinh sẽ nhận thấy như quy trình như đã trình bày : Câu (1) nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy

Câu (2) dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ

Câu (3) giảng giải, cắt nghĩa

Câu (4), (4b) là liên hệ, mở rộng, so sánh

Câu (5) là nhận xét cách sử dụng nghệ thuật

Câu (6) là nhận xét, đánh giá về nội dung

Câu (4), (4b) dành cho học sinh khá, giỏi, không bắt buộc với học sinh trung bình, yếu, nhưng khuyến khích các em cố gắng

Ví dụ 2: Phân tích các câu thơ sau:

Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười.

(Y Phương – Nói với con) Viết đoạn: Những câu thơ mở đầu đã thể hiện tình yêu thương cảu cha mẹ đối với con:

Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười.

Những hình ảnh cụ thể về một em bé đang tập đi, tập nói Lúc thì bước tới níu lấy tay cha, lúc thì sà vào lòng mẹ Điệp ngữ “bước tới” gợi bước chân chập

Trang 10

chững của đưa con, sự mong chờ, vui mừng đón nhận của đôi vợ chồng trẻ Nhà thơ đã tạo một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc

Ví dụ 3: Phân tích khổ thơ :

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

(Nguyễn Duy – Ánh trăng) Viết đoạn: Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

“Tròn vành vạnh” là trăng rằm, tròn đầy, một vẻ đẹp viên mãn “Im phăng phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng

lẽ “kể chi người vo tình” “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn “Ánh trăng im phăng phắc” là hình ảnh nhân hóa, chính là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ (và cả mỗi chúng ta) Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy, bất diệt

- Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:

Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung đoạn văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp Giáo viên cho học sinh nắm cách trình bày nội dung diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhận biết hơn

+ Diễn dịch: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm)

(2) (3) (4) …

Ngày đăng: 24/09/2016, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w