1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam

48 579 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 496 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔNHỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống Dũa Đại Phu xã A

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống Dũa

Đại Phu xã An Đổ huyện Bình Lục – Hà Nam

Tên sinh viên: Trần Thị Hậu Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp

Giảng viên hướng dẫn: CN.Trần Thị Như Ngọc

Hà Nội – 2016

Trang 3

tế Những năm gần đây, khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi lĩnh vực hoạtđộng được khơi dậy đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng của nền kinh tế, trong

đó phải kể đến sự đóng góp của hoạt động ngành nghề ở khu vực nông thôn, nơi cógần 70% dân số đang sinh sống Nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nôngnghiệp, cư dân có nhiều thời gian dảnh rỗi ngoài thời vụ chính Vốn cần cù chịuthương chịu khó và có đôi bàn tay tài hoa, ngay từ xa xưa người việt đã biết tậndụng những nguyên liệu sẵn có ấy để tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị sử dụng cao,mang đậm tính nghệ thuật phục vụ cho đời sống hằng ngày Có nhiều địa phương đãhình thành và phát triển các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với các làngnghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới, cung cấp nhiều sản phẩm cho xãhội Làng nghề chính là nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam khắp mọi miền trên

tổ quốc đâu đâu cũng có làng nghề thủ công, mỗi làng nghề lại sản xuất một mặthàng thủ công truyền thống khác nhau, mang tính đơn nhất Ta có thể kể đến một sólàng nghề nổi tiếng như: Làng Gốm Bát Tràng (Hà Nội), Làng tranh Đồng Hồ, làng

gỗ Đồng Kị (Bắc Ninh)… Làng nghề truyền thống tham gia có hiệu quả vào côngcuộc xóa đói giảm nghèo giúp người dân ở nhiều nơi thoát cảnh đói nghèo và vươnlên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình, sản phẩm từ các làng nghềkhông chỉ đáp ứng nhu cầu troong gia đình, trong vùng, trong nước mà còn lànguồn hàng xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, thu lại nguồn ngoại tệ to lớn chođất nước Hơn nữa làng nghề truyền thống còn là nơi lưu giữ bảo tồn các giá trị vănhóa truyền thống đặc trưng độc đáo của dân tộc

Trang 4

Các làng nghề truyền thống tại Việt Nam nói chung và Hà Nam nói riêng đãđóng góp một phần không nhỏ vào việc giúp kinh tế của các làng quê ngày một pháttriển, giải quyết việc làm và làm tăng thu nhập cho nông dân Hà Nam có hơn 40làng nghề truyền thống, trong đó có nhiều làng lâu năm rất nổi tiếng Tuy nhiên,giống như tình trạng chung của nhiều làng nghề trên cả nước, hiện các làng nghề ở

Hà Nam đang gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm, hàng hóa xuấtkhẩu ngày càng ít dần Đã đến lúc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để đưa cáclàng nghề truyền thống tiếp tục phát triển trong cuộc sống hiện đại

Tuy nhiên, sản xuất tại các làng nghề đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đềnhư: khả năng tổ chức quản lý, thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường,

kỹ năng marketting, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ… Bên cạnh đó, chất lượngsản phẩm của làng nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm chậm đổi mới… từ

đó, làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường, nhất là thị trường quốc tế Vì vậy, cầnphải có những giải pháp đồng bộ để khôi phục, phát triển và tìm hướng đi mới chocác làng nghề

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở xã An Đổ đã dẫn đến những hệ quả tất yếu

về làng nghề truyền thống, đó là sự biến mất của nhiều làng nghề hoặc có nhiềulàng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một, có làng nghề vẫn tồn tại nhưng phảithay đổi cơ bản về quy trình sản xuất, mẫu mã

Làng nghề Dũa Đại Phu cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó Làng Đại Phu cónghề sản xuất Dũa từ năm 1952 Đây là ngôi làng duy nhất ở Việt Nam và cả thếgiới chuyên sản xuất các con dũa, từ dũa cưa đến dũa móng tay theo cách truyềnthống thủ công Tuy nhiên cũng như nhiều làng nghề khác thì Dũa Đại Phu đangđứng trước nguy cơ bị mai một, làm thế nào để làng nghề Dũa Đại Phu tồn tại vàphát triển trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt của thị trường hiện nay mà vẫn giữ đượcnhững nét văn hóa truyền thống lâu đời Từ yêu cầu bức thiết đó tôi đã chọn đề tài

“Thưc trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống Dũa Đại Phu tại xã An Đổ huyện Bình Lục – Hà Nam” với mong muốn góp phần nhỏ bé

cùng duy trì và phát triển nghề truyền thống độc đáo này

Trang 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề Dũa truyền thống trên địa bàn xã

An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, từ đó đưa ra biện pháp bảo tồn và phát triểnlàng nghề

- Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề

- Đề xuất một số giải pháp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyềnthống Dũa Đại Phu xã An Đổ - huyện Bình Lục – tỉnh Hà Nam

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng ghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề kinh tế có liênquan đến tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề Dũa trênđịa bàn Xã An Đổ

Thời gian thu thập thông tin

- Số liệu và thông tin thứ cấp được thu thập trong 3 năm từ 2014- 2016

- Số liệu thông tin sơ cấp thu thập được trong năm 2016

- Thời gian nghiên cứu đề tài

Thời gian đề xuất giải pháp

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tới năm 2020

Trang 6

Sản xuất sản phẩm giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế Sản xuất

là phương thức chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho xã hội, không phải phụ thuộchoàn toàn vào tự nhiên, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội Sản xuất sản phẩmgiúp thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và nhu cầu xa xỉ của con người tạo ra một xãhội đa dạng và ngày càng tiến bộ như ngày nay

Việc nâng cao hiệu quả sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó góp phần chođơn vị sản xuất tạo ra được nhiều sản phẩm hơn, chất lượng tốt hơn, tiết kiệm cácyếu tố đầu vào và nâng cao sức cạnh tranh cho đơn vị sản xuất đó Sản xuất sản

- Hoạt động sản xuất

- Hoạt động tài chính

Marketing

Đầu raSản phẩm và dịch vụMáy móc thiết bị

Du lịchGiao dục

Khách hàng

Trang 7

phẩm nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu và những nhu cầu xa xỉ của conngười, tạo nên tiến bộ xã hội.

b) Tiêu thụ hàng hóa

Tiêu thụ hàng hóa là việc chuyển giao hàng hóa từ người sản xuất đến ngườitiêu dùng và nhận tiền từ họ Khi hai bên đạt được sự thống nhất về nội dung vàđiều kiện mua bán, việc chuyển đổi quyền sở hữu và sử dụng tài sản sẽ diễn ra, vàquá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ kết thúc

Xét trên góc độ sở hữu thì tiêu thụ sản phẩm là sự chuyển giao quyền sở hữugiữa người sở hữu và người tiêu dùng

Xét trên góc độ kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là khâ cuối cùng của hoạtđộng sản xuất kinh doanh

 Các phương thức tiêu thụ hàng hóa

Để tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, hiện nay các doanh nghiệp thường vận dụngcác phương thức tiêu thụ sau:

- Phương thức giao hàng trực tiếp: theo cách này bên khách hàng ủy quyềncho cán bộ nghiệm vụ để nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán Người nhậnhàng sau khi ký vào chúng từ bán hàng của doanh nghiệp thì hàng hóa được xácđịnh là tiêu thụ

- Phương thức bán hàng qua đại lý, gửi hàng: theo phương pháp này, định kỳdoanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng trên cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồngmua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm đã quy ước trong hợp đồng Khixuất kho gửi đi hàng vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào kháchhàng đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì khi ấy hàng mới chuyển quyền sởhữu và được ghi nhận là doanh thu bán hàng

- Phương thức trả chậm, trả góp: Theo phương thức này, người mua thanhtoán cho doanh nghiệp thành nhiều lần với tổng giá trị là một khoản tiền lớn hơn giábản sản phẩm trong trường hợp trả tiền ngay Phần chênh lệch giữa giá bán trảchậm, trả góp là lãi mà mà người mua phải trả cho doanh nghiệp do chiếm dụngvốn của doanh nghiệp Phần lãi này doanh nghiệp doanh thu chưa thực hiện, sau đó

Trang 8

kết chuyển dần số lãi này vào doanh thu hoạt động tài chính từng kỳ tương ứng vơ

số lãi mà doanh nghiệp được hưởng kỳ đó

- Phương thức hàng đổi hàng: Đây là trường hợp doanh nghiệp đem sảnphẩm của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa về, doanh thu được ghi nhận trên cơ sởgiá trao đỏi giữa doanh nghiệp và khách hàng

Tùy theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp cũng như sự thuận tiệntrong từng chuyển khoản

 Vai trò của tiêu thụ hàng hóa

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu kỳ sản xuất và mởđầu cho một chu kỳ tiếp theo Chỉ có thông qua tiêu thụ sản phẩm, vốn của doanhnghiệp mới được quay vòng và sinh lời Với số tiền thu được sau khi bán hàngdoanh nghiệp có thể trang trải các chi phí nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả tiềnlương cho công nhân… có như vậy quá trình tái sản xuất kỳ sau mới được tiếp tụcthực hiện một cách thường xuyên liên tục

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm phản ánh quy mô quá trình tái sản xuất củadoanh nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức công tácthanh toán Nó là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoảnchi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuấtkinh doanh, có tiên để thanh toán tiền lương, tiền công tiền thưởng cho người laođộng, trích BHYT, BHXH, àm nghiax vụ đối với nhà nước như nộp các khoản thuếtheo luật định

Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sản xuất ra các sản phẩmđem ra tiêu thụ cho bên ngoài thị trường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội chứkhông phải là tiêu dùng trong doanh nghiệp Qua tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệpmới có thể tồn tại và phát triển được

Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thực hiện doanh thu bán hàng đầy đủ và kịpthời góp phần làm tăng tốc độ luân chuyển vốn, rút ngắn kỳ thu tiền trung bình,giảm lượng tồn kho, tăng khả năng sinh lời của đồng vốn, là điều kiện để doanhnghiệp thực hiện tái sản xuất, đầu tư đổi mới dây truyền công nghệ, mở rộng quy

mô sản xuất, tạo nguồn tài chính tiềm năng cho doanh nghiệp để bù đắp chi phí và

Trang 9

thực hiện nghĩa vụ tài chính vơi nhà nước, đảm bảo tình hình tài chính của công tylanh mạnh, vững chắc đồng thời làm tăng uy tín cho công ty trên thị trường.

Tiêu thụ là khâu cuối cùng để đồng vốn quay về giá trị ban đầu tiêu sảnphẩm nhanh chóng, kịp thời góp phần tiết kiệm các khoản chi phí bán hàng, chi phíkho bãi, bảo quản… góp phần giám giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận Ngược lại,nếu công tác tiêu thụ sản phẩm diễn ra chậm chạp, yếu kém sẽ kéo dài chu kỳ sảnxuất làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả và gây ra những thiệt hai to lớn như:mất thời cơ, cơ hội kinh doanh… thậm chí làm toàn bộ quá trình đầu tư sản xuất trởnên vô ích, lãng phí

Tổ chức tiêu thụ sản phẩm là rất quan trong đối với việc xây dựng, thực hiện

kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để từ đó để ra những biện pháp có hiệu quả nhằmthực hiện kế họach tài chính và những kế hoạch khác Trong quá trình này tính chủđộng sáng tạo của doanh nghiệp ngày một nâng cao, nó gắn với việc tính toán thờigian, mức sản lượng cần cung cấp với số tiền bỏ ra trong kinh doanh của doanhnghiệp và sự nhay cảm của khách hàng

c) Kênh phân phối

Kênh phân phối là hệ thống trung gian được hình thành được hình thành từnhững thành viên trung gian mua bán và các đại lý có liên hệ phụ thuộc lẫn nhaunhằm thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm

Xây dựng kênh phân phối tốt và hiệu quả sẽ đẩy nhanh quá trình tiêu thụhàng hóa Đối với từng mặt hàng khác nhau thì đặc trưng của kênh phân phối cũngkhác nhau Đối với các sản phẩm làng nghề, kênh phân phối đóng vai trò vô cùngquan trọng trong tiêu thụ Thế nên muốn đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho các làngnghề, việc nghiên cứu kênh phân phối là rất cần thiết

Cấu trúc kênh phân phối

Hệ thống kênh phân phối rất đa dạng và có cấu trúc rất khác nhau; trực tiếp,gian tiếp, kênh dài kênh ngắn

Cấu trúc kênh phân phối được xác định dựa trên các chức năng markettingkhac nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như thời gian vận chuyển, địa bàn phân phối

xa hay gần, rộng hay hẹp, đặc tính của sản phẩm được phân phối

Trang 10

Hệ thống phân phối sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêuthụ có thể là trực tiếp hay gian tiếp, có thể đi qua các kênh dài hay ngắn như sau:

Hình 2: Sơ đồ kênh phân phối từ snr xuất đến tiêu thụ sản phẩm

Kênh trực tiếp: Được các hộ làng nghề áp dụng trong trường hợp:

- Giới thiệu sản phẩm mới mặt hàng tinh xảo, có tính chất thương phẩm đặcbiệt

- Bán theo đơn đặt hàng từ trước với khách hàng cá nhân: chất lượng tincậy, tiêu chuẩn rõ ràng, giao hàng tại nhà

+ Ưu điểm: đẩy mạnh tốc độ lưu thông, giao tiếp, tương tác tốt đố với kháchhàng, chủ động tiếp cận với ngừo mua, không chia sẻ lợi nhuận cho các bên trunggian

Người sản xuất

Người sản xuất

Người sản xuất

Người sản xuất

Người tiêu dùng

Người tiêu dùng

Người tiêu dùng

Người tiêu dùng

Đại lý mô

Người bán buôn

Người bán lẻ

Người bán lẻ

Trang 11

+ Nhược điểm: cần nhiều lao động, phương tiện vận chuyển trong việc phânphối sản phẩm làng nghề.

Kênh một giai đoạn: được áp dung trong trường hợp:

- Bán theo đơn đặt hàng của người bán lẻ trung gian

- Số sản phẩm phân phối tại chỗ chưa tiêu thụ hết

+ Ưu điểm: đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ hàng hóa, bán hàng với số lượng

Cùng với trông trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều

có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một sốhàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đình mang tínhchất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có Nhưng qua mộtquá trình phát triển dài do có sự khác nhau về tay nghề và kinh nghiệm tích lũyđược ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn hóa và các sản phẩm làm rabắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng hóa Đó là quá trình chuyênmôn hóa lâu đời và các sản phẩm của địa phương đó không những bền đẹp mà cógiá thành rẻ nên đc xã hội chấp nhận Ở hầu hết các địa phương trên cả nước làngquê nào ngoài sản xuất nông nghiệp đều có làm thêm một vài nghề phụ Song vấn

đề quan tâm ở đây là những hoạt động ngành nghề nào được coi là nghề

Theo quan điểm chung, các hoạt động sản xuất tiểu thủ cộng nghiệp ở địaphương nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng sản phẩmchiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những ngừơi sản xuất hoặc hộ sản xuất đólấy nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được xem là có nghề

Làng nghề

Khái niệm làng nghề Từ xa xưa do đặc thù nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏiphải có nhiều lao động tham gia đã khiến cư dân Việt cổ sống quần tụ lại với nhauthành từng cụm dân cư đông đúc, dần hình thành nên làng xã Trong từng làng xã

Trang 12

đã có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng,xã tạonên những làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác Đề tài làngnghề truyền thống là đề tài rất thú vị, đã có rất nhiều nhà văn hóa nghiên cứu về đềtài này Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống ViệtNam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “làng nghề là một đơn vị hành chính

cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cươngtập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề

mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việclàm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triểnkinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” Xét theo góc độkinh tế, trong cuốn: “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tiến sĩ Dương Bá Phượng cho rằng: “Làngnghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủcông nghiệp và kinh doanh độc lập Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng caotrong tổng giá trị toàn làng.” Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có:làng nghề truyền thống và làng nghề mới khóa luận chỉ đi sâu tìm hiểu định nghĩalàng nghề truyền thống vì có nhiều ý nghĩa trong phát triển du lịch Đề tài : Làngnghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình (Nghiêncứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân) Sinh Viên: Trần Thị KimCúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

Khái niệm làng nghề truyền thống Hiện nay vẫn chưa có một khái niệmthống nhất về làng nghề truyền thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống

là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống Theo Giáo sư Trần Quốc Vượngthì làng nghề là: “Làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chănnuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trộimột nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bánchuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm,

có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhấtthân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, nhữngmặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ

Trang 13

tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiếntới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài.” Làng nghề ở đây khôngnhất thiết là tất cả mọi người dân trong làng đều sản xuất thủ công, người thợ thủcông cũng có thể là người nông dân làm thêm nghề phụ trong lúc nông nhàn Tuynhiên do yêu cầu về tính chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ thủ côngchuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại quê hương củamình Nghiên cứu một làng nghề thủ công truyền thống là phải quan tâm đến nhiềumặt, tính hệ thống, toàn diện của làng nghề thủ công truyền thống đó, trong đó yếu

tố quyết định là nghệ nhân của làng, sản phẩm thủ công, thủ pháp kĩ thuật sản xuất

và nghệ thuật Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủcông, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâuđời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất,bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí làbán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo những hương Đềtài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở NinhBình (Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân) Sinh Viên:Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP 6 ước, chế độ, gia tộc, cùng phườngnghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cưtrú của xóm của họ Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một

số lượng lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủcông hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Sảnphẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độcđáo, ấn tượng, tinh xảo Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội Làngnghề đã thực sự thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tíchcực rất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội

Làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâuđời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề nhưng có ít nhất một ngànhtruyền thống được công nhận thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống

Trang 14

Tiêu chí công nhận làng nghề

- Có một số tương đối các hộ cùng nhau sản xuất mmột nghề ( từ 35 -40 %

số hộ trở lên có tham gia hoatj động làng nghề)

Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thunhập của làng (có thể sinh sống bằng thu nhập từ nghề, thu nhập từ nghề chiếm trên50% tổng thu nhậpcủa các hộ)

Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi lànlàng nghề mà cần có quy đinh một số tiêu chí nhất định

2.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề

a) Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bóchặt chẽ với nông nghiệp

Các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn sau đó các ngànhnghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuấtnông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xenlẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân

b) Công nghệ thô sợ lac hậu

Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là cáclàng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủyếu Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sảnxuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toànphải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khíhoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiềunghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm

c) Nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ

Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn cócủa nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một

số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu,thuốc nhuộm Song không nhiều

Trang 15

d) chủ yếu là lao động thủ công

Phần lớn lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuậtkhéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ,của các nghệ nhân Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thìhầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay,cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệmới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng laođộng thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạntrong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Việcdạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đờinày sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ

sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm chophương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng vàphong phú hơn

e) Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính

mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc

Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trịthẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vậttrang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước Các sản phẩm đều là sự kết giaogiữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Cùng là đồ gốm sứ,nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ bát tràng (hà nội), thổ hà(bắc ninh), đông triều (quảng ninh) Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa,hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phátrên các bức thêu Tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnhhưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dântộc

f) Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địaphương, tại chỗ và nhỏ hẹp

Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, làxuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương Ở

Trang 16

mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi,buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường làng nghề

về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần choxuất khẩu

g) Hình thức tổ chức quy mô nhỏ

Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ giađình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân

Vai trò của làng nghề đối với nền kinh tế vùng

a) Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địaphương

Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phầm, cơ cấucủa làng lối sống, phong tục tập quá của cộng đồng Những sản phẩm thủ côngtruyền thống hầu hết là những sản phẩm hàng hóa mmang tính nghệ thuật, nó là sảnphẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu trước thiênnhiên Từ nguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trởthành những sản phẩm duyên dáng, xinh xắn vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn,tài năng, thể hiện khiếu thẩm mĩ lao động, sự thông minh sự sáng tạo, tinh thần laođộng của ngừoi thợ - nghệ nhân Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa,phản ánh nết nét văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làngnghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mangbản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam Làng nghề là cả một môi trường kinh

tế, văn hóa xã hội làng nghề là nơi cộng đồng dân cư có lối sống văn hóa: yêu laođộng sống cần cù, giản dị tiết kiệm sống đùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện taynghề Làng nghề là nơi không có đất để văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn; ma túy,

cờ bạc rượu chè … Phải chăng chính vì lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề thủcông truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực, thiết thực vào việc xây dựng đờisống văn hóa ở cơ sở

b) Góp phần giả quyết việc làm

Bất chấp sự thừa nhận muộn màng chính thống đối với vai trò, vị trí của nótrong nền kinh tế hàng hóa, làng nghề thủ công truyền thống góp phần giải quyết

Trang 17

việc làm cho hàng chục ngàn, trâm ngàn cư dân, đặc biệt là thanh niên Tại các làngnghề, thanh niên – đa số là nữ thanh niên – có được tay nghề, dù tay nghề cao haythấp thì những ngừoi lao động này cũng thoát khỏi cuộc đời chay tìm việc lao độngphổ thông Để làm nghề thủ công truyền thống, người thợ không cần có nhiều vốn,chỉ cần có một ít công cụ thủ công cùng đôi bàn tay kheo léo và đăc biệt là sự siêngnăng cần mẫn Với điều kiện như thế, khi sản phẩm thủ công có chỗ đứng trongnền kinh tế hàng hóa, thì làng nghề thu hút được nhiều lao động.

Làng nghề Việt Nam hằng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao độngnông thôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỉ lệrất lớn trong tổng số lao động của cả nước Tính mỗi năm có thêm một triệu laođộng ở nông thôn không có việc làm Trong khi đó mỗi năm có 20 vạn đất sản xuấtnông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng nên có thêm hàng ngàn lao động ởnông thôn không có việc làm

Các làng nghề thủ công hoạt động chủ yếu dựa vào lao đọng cá nhân, laođộng sống thường chiếm tỉ lệ lớn (50%-60%) giá thành sản phẩm, cho nên việcphát triển làng nghề truyền thống được xem là cơ sở để giải quyết việc làm chongười lao động Điều này được thể hiện như sau:

- Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho lao động thể hiệnđược chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta là xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội làmgiàu ngay tại địa phương

- Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lao động dôi dư và laođộng thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao động nôngnhàn không những ở gia đình mình làng xóm mình mà còn thu hút lao động ở cácđịa phương khác, do đó góp phần giải quyết lao động dư thừa trên diện rộng

- Làng nghề thủ công truyền thống ngoài việc tạo việc làm cho lao động tạichỗ, còn cung cấp việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu,dịch vụ hoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm

Như vậy làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làmcho người lao động một cách hiệu quả theo phương châm “ ly nông bất ly hương”

Trang 18

c) Góp phần truyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệphóa

Mục tiêu cơ bản của CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơcấu kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vận động và pháttriển các lang nghề đã có vai trò tích cựu trong việc tăng trưởng tỷ trọng của côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp

Sự phát triển lan tỏa của làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hútnhiều lao động đồng thời nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quánsản xuất từ sản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hóa,hoặc tiếp nhận công nghệ mới làng thuần nông

Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã được sự góp phầnthúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấungành nông nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần bốtrí lực lượng lao động hợp lý theo hướng “ly nông bất ly hương” Đặc biệt sự pháttriển của những làng nghề mới đã phá thế thuần nông, tạo đà cho công nghiệp pháttriển, thúc đẩy quá trình CNH – HĐH phát triển kinh tế ở nông thôn

Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệpphi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bước trunggian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên công nghiệp lớn Làngnghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên kếtcông nông nghiệp có hiệu quả

d) Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội

Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa đadạng và phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp chonền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tố quantrọng thúc đẩy hàng hóa ở nông thôn

Sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà cònđáp ứng nhu cầu quốc tế Theo bộ NN- PTNT, hiện nay cả nước đã có hơn 40% sảnphẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường hơn 100 nước trên thếgiới

Trang 19

Trong đó nhiều ngành nghề truyền thống phát triển như thêu, dệt thổ cẩm,gôm sứ, nghề mây tre đan

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ của làng nghề

a) Tác động của chính sách nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghềtruyền thống

Chính sách của đảng và nhà nước rất quan trọng đối với sự phát triển của cáclĩnh vực kinh tế nói chung và làng nghề nói riêng Sự thay đổi của chính sách có thểlàm mất đi làng nghề hoặc có khả năng khôi phục hoặc tạo ra những làng nghề mới.Chẳng hạn như nghề làm gạch ở Cẩm Hà – Hội An vì sự ảnh hưởng của nó đến môitrường và chủ trương phát triển làng nghề văn hóa du lịch nên nghề đó đã khôngcòn tồn tại

Trước năm 1996 với quan điểm duy ý chí muốn thiết lập nhanh chóng quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam chỉ chấp nhận hai thành phầnkinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nên các làng nghề vốn là các hộ sản xuất cáthể không có cơ may tồn tại, phai chuyển thành các hợp tác xã, do đó làng nghềkhông phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế tư nhân, các hộgia đình được thừa nhận là những thành phần kinh tế độc lập thì các nghề đã nhanhchóng được khôi phục và phát triển Gần đây một trong những nội dung định hướngphát triển kinh tế nông thôn do đại hội lần thứ IX đề ra là “mở mang các làng nghề,phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuât hàng thủ công mỹnghệ, đưa công nghiệp sơ chế, chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu” tạo tiền

đề cho các làng phát triển nhanh hơn mạnh hơn

Bên cạnh đó chính sách mở của hội nhập kinh tế của nước ta với các nướctrong khu vực và trên thế giới cũng làm cho các sản phẩm làng nghề phát triểnmạnh mẽ, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ Nhưng cũng đồng thời tạo điều kiện chocác hàng hóa các nước tràn vào tạo sự cạnh tranh với các sản phẩm của nước ta

Thông qua việc tìm hiểu các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước ta

về phát triển kinh tế làng nghề ta có thể thấy được vai trò và những định hướng pháttriển của khu vực này cũng như vấn đề liên quan đến sự tồn tại và phát triển làngnghề đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng từ rất nhiều năm trước chứ

Trang 20

không phải những năm gần đây Điều nay cho thấy Đảng và nhà nước ta đã sớmnhận ra vai trò quan trọng của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế ngông nghiệp,nông thôn và có những định hướng cho phát triển làng nghề Cùng với sự phát triểncủa kinh tế xã hội nói chung, vấn đề này càng được nhấn mạnh và khẳng định như

là một khu vực kinh tế độc lập, là động lực góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng CNH – HĐH Xây dựng nề độc lập tự chủ thu hẹp khoảng cách

so với khu vực và thế giới Sự phát triển kinh tế làng nghề cũng được khẳng định

b) Kết cấu cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Một trong những nguyên nhân làm quy mô sản xuất của các làng nghe chậmlại chính là cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Từ xưa, các làng nghề truyền thống thường được hình thành ở những vùng

có giao thông thuận lợi Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được phát triển thịtrường tiêu thụ sản phẩm củ các làng nghề không còn bị bó hẹp tại các điạ phương

mà đã vươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài Bên cạnh

đó nguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làng nghề ngày càng cạnkiệt, bắt buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giaothông càng thuận lợi thì làng nghề càng phát triển Trong công cuộc CNH – HĐH,

sự phát triển của các làng nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điệnnước, xử lý nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Ngoài ra, sự hoạt động củ các làng nghề trong nền kinh tế thị trường chịu tácđộng bởi các hệ thống thông tin nói chung Sự phát triển của hệ thống thông tin liênlạc, nhất là internet giúp cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất nắm bắt kịp thời,nhanh chóng, chính xác những thông tin về nhu cầu thị hiếu giá cả, mẫu mã

c) Sự biến động nhu cầu thị trường

Trong nền kinh tế thị trường nhà sản xuất phải bán cái thị trường cần chứkhông phải cái mình có Do đó, nhu cầu về sản phẩm và khả năng thích ứng củalàng nghề cho phù hợp với những yêu cầu của thị trường quyết định sự tồn taị vàphát triển của làng nghề

Những làng nghề có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của nhu cầuthường có sự thay đổi nhanh chóng Chẳng hạn như làng nghề sản xuất đồ gỗ gia

Trang 21

đình, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gốm sư mĩ nghệ Trong từng thời kìnhu cầu thị trường thay đổi sẽ làm thay đổi sản phẩm làng nghề Như vậy, nhu cầuthị trường ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm của làng nghề ở rất nhiều khía cạnh.

Từ đó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề

Các nhà sản xuất phải tựu chủ , năng động trong sản xuất kinh doanh, tự xácđịnh mặt hàng thị trường cần để có kế hoạch đáp ứng , từ đó phát triển cơ sở sảnxuất của mình

Buộc làng nghề phải nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhất làtrong điều kiện hội nhập quốc tế

Trong nhiều năm qua làng nghề co sản phẩm đáp ứng sự thay đổi nhu cầucủa thị trường thì phát triển tốt Nếu không thích ứng với sự thay đổi của thị trườngthì sản xuất sẽ bị sa sụt, thậm chí không duy trì được làng nghề, bỏ nghề quay lạisản xuất nông nghiệp Trong những năm tới, làng nghề phải đẩy mạnh sản xuấtnhững sản phẩm theo hướng không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà cònphải cố khả năng cạnh tranh cao

Bên cạnh đó việc làng nghề cần nơi tiêu thụ sẽ có lợi nhuận nhất định trongviệc tiêu thụ sản phẩm Nơi tiêu thụ thường là nơi tập trung dân cư với mật độ khácao Thực tế cho thấy rất nhiều làng nghề phát triển tốt do một trong những nguyênnhân ở thị trường chính

Trong hội nhập kinh tế quốc tế làng nghề truyền thống phải cạnh tranh gaygắt với các sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc, Hàn quốc ngay ở thị trường trongnước Nếu không giải quyết thị trường cho sản phẩm làng nghề một cách đồng bộ từkhảo sát nhu cầu thị trường Xác định cơ cấu sản phẩm của làng nghề, giảm thiểuchi phí thì sản xuất của làng nghề rất khó phát triển

Như vậy thị trường là nhân tố chủ yếu tác động đến sự tồn tại và phát triểnlàng nghề truyển thống

d) Các yếu tố đầu vào

- Nguồn nguyên liệu

Trước đây các làng nghề thường hình thành ở những nơi gần nguồn nguyênliệu nhưng qua quá trình khai thác nguồn nguyên liệu đã cạn kiệt dần do đó phải lấy

Trang 22

nguyện liệu từ các địa phương khác Nguyên liệu là một yếu tố đầu vào hết sứcquan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chất lượng sản phẩm.

đã làm càn trở không nhỏ đến việc mở rộng sản xuất kinh doanh của làng nghề

- Lao động

Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao động sáng tạo của nghệ nhân.Các sản phẩm của làng nghề là nới gửi gắm tâm hồn, sự sáng tạo của nghệ nhân.Các sản phẩm thủ công vừa phải đảm bảo có giá trị sử dụng vừa phải có tính nghệthuật cao., chứa đựng phong cách riêng Thực tế tạo ra được những sản phẩm tinhxảo thì ngoài năng khiếu bẩm sinh , ngừoi lao động phải trải qua một thời gian đàotạo lâu dài mà nhiều khi họ không đủ kiên nhẫn để kiên trì đến cùng Bên cạnh đó,với phưng thức đào tạo nghề truyền thống như hiện nay, những kĩ năng bí quyếtnghề nghiệp đôi khi chỉ truyền lại cho gia đình Chính vì vậy đã làm cho số lượngthợ cả, nghệ nhân mới ngày càng hạn chế trong khi đó những nghệ nhân cũ ngàycàng mất đi, như vậy những tinh hoa của làng nghề ngày càng mai một

Ngày nay, khi làng nghề tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì ngoài kỹnăng bí quyết riêng của người thợ, sự phát triển của làng nghề đòi hỏi những ngừoisản xuất nhất là các chủ hộ phải có kiến thức về kinh doanh như quản lý sản xuất, tổchức tiêu thụ sản phẩm

NTT là một yếu tố không thể tách rời với nông nghiệp nông thôn Do đó, laođộng ngành nghề phần lướn là lao động nông dân với quy mô sản xuất hộ gia đình

Do nhu cầu phát triển của NTT ngày càng lớn nên lao động dần mở rộng ra quy mô

Trang 23

phạm vi hộ gia đình và phần thuê ngoài, người lao động sản xuất TTCN ở các làngnghề tuy dồi dào nhưng còn thiếu nhân lực quản lý và lao động kỹ thuật.

Nếu không có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nhà nước và không có sựliên kết giữa các cơ sở sản xuất trong NTT, liên kết với doan nghiệp lớn thì các cơ

sở sản xuất nhỏ, phân tán của các NTT rất khó để có ther nâng cao nội lực củamình

- Vốn cho sản xuất kinh doanh

Vốn là yếu tố đầu quan trọng cho quá trình sản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếpđến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự phát triển của làngnghề cũng không à ngoại lệ

Trong điều kiện ngày nay, nhất là nền kinh tế thi trường đang phát triển nhucầu về vốn để mở rộng sản xuât ngày càng gia tăng

Trước đây, qui mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh của trong các làngnghề rất nhỏ bé thường là vốn tự có của gia đình hoặc vay mượn của bà con họhàng láng giềng, nên khả năng mở rộng quy mô sản xuất cũng bị hạn chế Hầu hếtcác hộ sản xuất đều có quy mô vừa và nhỏ và lại thuộc thành phần kinh tế dândoanh cho nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay là rất khó Đây chính là một trởngại lớn cho sự phát triển của làng nghề

2.1.4 Nội dung nghiên cứu

 Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn nămtrước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam,việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủlàm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính

Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồnglúa nước mà nghề àm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thôngg thường nhữngngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều,vất vả như cày bừa, cấy làm cỏ đầu vụ cho tới khi gặt lúa phơi khô… còn nhữngngày còn lại thì nhà nông khá nhàn hạ, rất ít việc để làm Từ đó rất nhiều người đã

Trang 24

tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn vànhững nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Theo thời gian nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trog to lớn của nó,mang lại lợi ích thiết thực cho dân cư Như việc làm da các dồ dùng bằng mây, tre,lua phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục

vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớncho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lú Từ chỗ một vài nhà tronglàng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó lan rộng ra phát triểntrong cả làng, hay nhiều làng gần nhau

Cũng chính nhờ vào những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại

mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triểnmạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thìdẫn dần bị mai một Từ đó hình thành những làng nghề chuyên sâu vào một nghềduy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu, làng làm lục, làng làm đồ đồng

 Ban hành các văn bản

Việc duy trì và phát triển làng nghề tại các địa phương trong cả nước là mộtchủ trương lớn của Đảng, Nhà nước Thời gian qua, công tác phát triển làng nghềtrên địa bàn tỉnh Hà Nam được quan tâm và khuyến khích phát triển Hoạt động củacác làng nghề này đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc giúp kinh tế của cáclàng quê ngày một phát triển, giải quyết việc làm và làm tăng thu nhập cho nôngdân Tuy nhiên, để làng nghề phát triển bền vững, cần nghiên cứu và có nhữngphương hướng, giải pháp thích hợp

Thời gian qua, để các làng nghề vượt qua khó khăn, phát triển ổn định, bềnvững, các cấp, ngành của Hà Nam đã cố gắng đưa ra nhiều giải pháp như: Ban hành

cơ chế, chính sách bảo tồn, phát triển các sản phẩm làng nghề (Phê duyệt Đề án Bảotồn và phát triển các sản phẩm nổi tiếng tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2015); Thuhút, di chuyển các cơ sở sản xuất trong các làng nghề, khu vực dân cư nông thônhạn chế về mặt bằng sản xuất, hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường vào cáccụm CN - TTCN - làng nghề, khu sản xuất tập trung; Đào tạo nguồn nhân lực đápứng nhu cầu lao động cho các làng nghề, cụm CN - TTCN - làng nghề (Gắn với dạy

Ngày đăng: 24/09/2016, 18:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Quá trình sản xuất hàng hóa – Dịch vụ Vai trò - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Hình 1 Quá trình sản xuất hàng hóa – Dịch vụ Vai trò (Trang 6)
Hình 2: Sơ đồ kênh phân phối từ snr xuất đến tiêu thụ sản phẩm - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Hình 2 Sơ đồ kênh phân phối từ snr xuất đến tiêu thụ sản phẩm (Trang 10)
Bảng 3.1 Tình hình biến động về sử dụng đất đai trên địa bàn thôn Đại Phu - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.1 Tình hình biến động về sử dụng đất đai trên địa bàn thôn Đại Phu (Trang 32)
Bảng 3.2 : Lao động và dân số thôn Đại Phu giai đoạn 2013 – 2015 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.2 Lao động và dân số thôn Đại Phu giai đoạn 2013 – 2015 (Trang 33)
Bảng 3.4: Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thôn Đại Phu giai đoạn 2014 - - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.4 Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thôn Đại Phu giai đoạn 2014 - (Trang 35)
Bảng 3.6 Giá trị sản xuất các loại cây trồng của thôn Giai Đoạn 2014-2016 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.6 Giá trị sản xuất các loại cây trồng của thôn Giai Đoạn 2014-2016 (Trang 36)
Bảng 3.5 : Lao động và giá trị sản xuất thương mại dịch vụ của thôn Đại Phu 2015 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.5 Lao động và giá trị sản xuất thương mại dịch vụ của thôn Đại Phu 2015 (Trang 36)
Bảng 3.7 Tình hình chăn nuôi trên địa bàn thôn qua 3 năm 2014 -2016 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 3.7 Tình hình chăn nuôi trên địa bàn thôn qua 3 năm 2014 -2016 (Trang 37)
Hình sản xuất và tiêu thụ - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Hình s ản xuất và tiêu thụ (Trang 40)
Bảng 4.1 Quy mô các hộ làng nghề Bảng 4.2 Số năm kinh nghiệm của hộ làng nghề - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 4.1 Quy mô các hộ làng nghề Bảng 4.2 Số năm kinh nghiệm của hộ làng nghề (Trang 44)
Bảng 4.4 Nguồn gốc nguyên liệu - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 4.4 Nguồn gốc nguyên liệu (Trang 45)
Hình thức tiêu thụ Kích cỡ - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Hình th ức tiêu thụ Kích cỡ (Trang 46)
Bảng 4.8 Phương thức tiêu thụ sản phẩm của làng nghề - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề truyền thống dũa đại phu xã an đổ huyện bình lục – hà nam
Bảng 4.8 Phương thức tiêu thụ sản phẩm của làng nghề (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w