Một hệ quả kháccủa việc giảm sức khỏe đường ruột do thức ăn, nước uống, stress, môi trường,..gây ra vấn đề viêm ruột tiêu chảy dẫn đến hiện tượng phân ướt, không tiêu hóatriệt để thức ăn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận tốt nghiệp hoàn toàn do tôi trực tiếp theo dõi, thu thập với thái độ khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.
Tôi cam đoan các thông tin trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc,các tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất kỳ tài liệu nào mà không có trích dẫn.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
đã được cảm ơn.
Hà Nội , ngày 25 tháng 8 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thu Thảo
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gủi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Giảng viên hướng dẫn TS Phạm Kim Đăng - Cán bộ giảng dạy bộ môn Sinh lý tập tính động vật - Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, đào tạo tôi cũng như các bạn sinh viên trong khoa.
Tôi cũng xin cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ của ông Hoàng Ngọc Đoàn và toàn thể công nhân trang trại chăn nuôi gà đẻ thương phẩm của ông Hoàng Ngọc Đoàn –
Xã Tàm Xá – Huyện Đông Anh – Thành Phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình, bố mẹ, anh chị, bạn bè,… đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thu Thảo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
PHẦN I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt trạng thái Eubiosis và Dysbiosis cùng các đặc điểm đặc trưng của
chúng Error: Reference source not found Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm Error: Reference source not found Bảng 3.2 Công thức phối trộn và giá trị dinh dưỡng thức ăn áp dụng tại trang trại
Error: Reference source not found Bảng 4.1 Chương trình sử dụng vacxin cho gà hướng trứng .Error: Reference source
Reference source not found
Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn qua các tuần thí nghiệm Error: Reference source
not found
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn qua các tuần tuổi (kg TĂ/10 quả trứng) Error: Reference
source not found
Bảng 4.7 Chi phí thức ăn cho 1kg trứng Error: Reference source not found Bảng 4.8 Chi phí thức ăn cho 10 quả trứng Error: Reference source not found Bảng 4.9 Tỷ lệ dập vỡ, dị hình của các lô từ tuần tuổi 36 – 39 (%) Error: Reference
source not found
Bảng 4.10 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm Error: Reference source not found Bảng 4.11 Các chỉ tiêu trong 4 tuần theo dõi Error: Reference source not found
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bào tử Bacillus Error: Reference source not found Hình 4.1 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm Error: Reference source not found Hình 4.2 Năng suất trứng gà qua các tuần tuổi Error: Reference source not found Hình 4.3 Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng qua các tuần thí nghiệm Error: Reference
source not found
Trang 7PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò lớn trong việcphát triển kinh tế ở hầu hết các nước và đặc biệt là những nước đang phát triểntrong đó có Việt Nam Đối với nước ta, ngành chăn nuôi là 1 trong hai lĩnh vựckinh tế then chốt (chăn nuôi & trồng trọt) Trong đó có chăn nuôi gà là nghề sảnxuất truyền thống có từ lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong ngànhchăn nuôi của Việt Nam sau chăn nuôi lợn, hằng năm cung cấp khoảng 700ngàn tấn thịt gà và hơn 5 tỷ quả trứng (Cục Chăn nuôi, 2015)
Tuy nhiên, chăn nuôi gà của nước ta vẫn trong tình trạng lạc hậu, chưaphát triển, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội Bình quân sản lượng thịt xẻ chỉđạt khoảng 9,9 kg/người/năm và 96 trứng/người/năm (Cục Chăn nuôi, 2015).Ngoài ra ngành chăn nuôi của Việt Nam còn đứng trước nhiều vấn đề lớn khivào ngày 4/2/2016 vừa qua, Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên TháiBình Dương (TPP) đã được kí kết đem lại những cơ hội và thách thức khôngnhỏ đối với ngành chăn nuôi trong nước Đến khi TPP chính thức được thựchiện, thuế nhập khẩu nông sản trong đó có sản phẩm gia cầm giảm về mức 0%thì sản phẩm từ gà trong nước sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực lớn cạnh tranh vềgiá
Chính vì những lẽ trên, để ngành chăn nuôi gà thực sự phát triển, hiệu quảchăn nuôi cao bên cạnh các yếu tố con giống, chuồng trại, người chăn nuôiphải ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào xây dựng khẩu phần ăn,nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm chi phí thức ăn để cho lợi nhuận cao
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có
vú Cường độ tiêu hóa mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển củathức ăn qua ống tiêu hóa, khoảng thời gian này thường diễn ra rất nhanh nên đòihỏi gia cầm phải có 1 đường tiêu hóa khỏe mạnh Hệ enzyme nội sinh ở gia cầmthường không đủ để tiêu hóa hấp thu các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn
Trang 8nên chúng ta cần có giải pháp hỗ trợ hệ tiêu hóa cho gia cầm Một hệ quả kháccủa việc giảm sức khỏe đường ruột do thức ăn, nước uống, stress, môi trường, gây ra vấn đề viêm ruột tiêu chảy dẫn đến hiện tượng phân ướt, không tiêu hóatriệt để thức ăn, gia cầm giảm tăng trọng, kéo theo mùi hôi chuồng nuôi và cóthể giảm tỷ lệ đẻ, năng suất chất lượng trứng Bên cạnh đó vấn đề sử dụngkháng sinh thường xuyên trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh và kích thíchtăng trưởng sẽ làm giảm quần thể vi sinh vật có lợi trong đường ruột của giacầm, gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa.
Để giải quyết các vấn đề trên thì hiện nay ở các nước chăn nuôi phát triểntrên thế giới thường sử dụng probiotic vào trong khẩu phần với mục đích ổn địnhsức khỏe đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn, nâng cao tỷ lệ tiêu hóa nănglượng, protein và các thành phần dinh dưỡng khác từ đó cải thiện khả năng tăngtrọng, giảm chi phí thức ăn tăng năng suất và chất lượng sản phẩm và đặc biệt đểnhằm hạn chế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thì chế phẩm sinh học là mộtgiải pháp tối ưu để thực hiện mục đích này Vì thế mà các nhà chăn nuôi đã rất chú
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều các chế phẩm sinh học ra đời phục
vụ cho chăn nuôi và chế phẩm Neoavi Layer của công ty cổ phần Công NghệSinh Học Mùa Xuân là một trong số đó Để có cơ sở khuyến cáo sử dụng, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả của chế phẩm Neoavi
Layer đến một số chỉ tiêu năng suất sinh sản trên gà đẻ ISA Brown từ 36 –
39 tuần tuổi”.
Trang 10PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm tiêu hóa thức ăn gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có
vú Cường độ tiêu hóa mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển củathức ăn qua ống tiêu hóa Ở gà con, tốc độ là 30 - 39cm/giờ; ở gà lớn hơn là 32 -40cm/giờ và ở gà trưởng thành là 40 - 42cm/giờ Chiều dài của ống tiêu hóa giacầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá
2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác
Mỏ và khoang miệng
Mỏ chia ra làm ba phần: đầu mỏ, thân mỏ, gốc mỏ Đường vành mỏ trên
có thêm gờ sừng hình răng cưa Mỏ dùng để lấy thức ăn
Phần trên khoang miệng có vòm miệng cứng ngắn, được phủ lớp màngnhầy, phần dưới có lưỡi Lưỡi nhỏ nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kíchthước phù hợp với mỏ Trên bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóasừng hướng về phía sau có tác dụng giữ khối thức ăn và đẩy chúng về thực quản
Tuyến nước bọt không phát triển, nước bọt gà rất ít men, chủ yếu là dịchnhầy để thấm ướt thức ăn thuận lợi cho việc nuốt
để cung cấp xuống dạ dày
Thực quản dưới diều
Là một ống ngắn dẫn thức ăn xuống dạ dày tuyến
Trang 11Dạ dày tuyến
Có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ.Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhày, cơ và mô liên kết Bề mặt của màngnhày có những nếp gấp dễ thấy, đậm và liên tục Ở đáy màng nhày có nhữngtuyến hình túi với các lỗ đổ ra của chất tiết Dịch dạ dày được tiêt vào trongkhoang của dạ dày tuyến gồm HCl, men Pepsin, men và Muxin
Dạ dày cơ
Có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh, nằm ở phía sau thùy trái củagan và lệch về phía trái của khoang bụng Lối vào, lối ra của dạ dày cơ rất gầnnhau, nhờ vậy thức ăn được giữ lại ở đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát cơ học,trộn lẫn với men và được tiêu hóa dưới tàc dụng của các dịch dạ dày cũng nhưenzym và chất tiết của vi khuẩn Dịch tiêu hóa không được tiết ở dạ dày cơ
Niêm mạc của dạ dày cơ rất dày và được cấu tạo từ hai lớp: biểu bì cùngvới lớp màng bằng sừng và một lớp nhầy đặc chắc từ mô liên kết Thành dàygồm các lớp cơ chắc, khỏe Niêm mạc sừng hóa bảo vệ cơ học khi co bópnghiền nát thức ăn
Ruột
Đoạn trước ruột ngắn, giống như ruột non của gia súc, có nhiều tuyến,nhiều lông nhung làm tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng Mặt khác, do tuyếnngoại tiết tương đối phát triển nên khả năng tiêu hóa tốt
Đoạn cuối ruột có hai manh nang, là cơ quan tiêu hóa xơ chính của gà nhờvào sự hoạt động của vi sinh vật Phần cuối ruột đổ ra ổ nhớp, là nơi đi ra củaphân và nước tiểu
2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của gà mái đẻ
2.2.1 Cấu tạo hệ sinh dục cái
Buồng trứng.
Gà có một buồng trứng ở phía trái của khoang bụng, là nơi tạo ra các tếbào trứng ( lòng đỏ trứng) Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào
Trang 12trạng thái chức năng và tuổi gia cầm Ở gà mái con 1 ngày tuổi, buồng trứng códạng phiến mỏng, 4 tháng tuổi phiến hình thoi Gà trong thời kỳ đẻ trứng, buồngtrứng có dạng hình chùm nho Trong buồng trứng có miền vỏ và miền tủy Ỏmiền vỏ của buồng trứng gồm nhiều tế bào trứng ở các giai đoạn khác nhau Ởmiền tủy của buồng trứng được cấu tạo từ mô liên kết, có nhiều mạch máu vàdây thần kinh Trong chất tủy có những khoang được phủ bằng mô dẹt và môthần kinh.
Ống dẫn trứng.
Có hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh và hình thành vỏ trứng Kíchthước ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và tình trạng hoạt động của hệ sinhdục Khi bắt đầu thành thục sinh dục, ống dẫn trứng là một ống trơn, thẳng, cóđường kính như nhau trên toàn bộ ống Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên, ống dẫntrứng của gà có chiều dài khoảng 68 cm, khối lượng 77 g Vào thời kỳ đẻ trứngmạnh chiều dài của nó tăng tới 86 cm, còn đường kính đến 10 cm Ở gà không
đẻ trứng, chiều dài ống dẫn trứng giảm đến 11 - 18cm, đường kính 0,4 - 0,7 cm.Thời kỳ thay lông, chiều dài là 17 cm
Ống dẫn trứng chia làm 5 phần: loa kèn (phễu), phần tạo lòng trắng, cổ,
tử cung và âm đạo
Tế bào sinh dục cái
Tế bào sinh dục cái của gà chính là trứng, kích thước lớn hơn sovới các lớp động vật khác Trứng được bảo vệ bằng lớp vỏ trứng cứng, bao bênngoài
Trong trứng có chứa phôi, chất dinh dưỡng và chất khoáng Chất dinhdưỡng và chất khoáng đủ để đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển mộtcách bình thường của bào thai
Tùy theo giống gà và tuổi đẻ, khối lượng trứng khác nhau, trung bìnhkhoảng 56 - 64 gram Trứng được hình thành và tạo ra từ buồng trứng và ốngdẫn trứng Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2006), trứng gà được cấu tạo bởi các
Trang 13thành phần và tỷ lệ như sau: vỏ trứng: 11,6%; lòng đỏ: 31,6%; lòng trắng:56,8% (lớp ngoài lòng trắng lỏng 23,2%, lớp giữa lòng trắng đặc chiếm 57,3%,lớp trong lòng trắng lỏng 16,8%, lớp trong cùng lòng trắng xoắn đặc 2,7%).
Thành phần hóa học của trứng ổn định gồm: nước (66%), vật chất khô(43%), protein (12%), lipit (10%), hydratcacbon (1%) và khoáng (11%) Trên vỏtrứng có nhiều lỗ thông khí, có tới 7600 - 7800 lỗ phôi trôi nổi trên bề mặt lòng
đỏ, đây chính là hợp tử do tinh trùng kết hợp với tế bào trứng tạo nên Ở nhiệt
tạo phôi tiếp tục phát triển, sử dụng chất dinh dưỡng cân đối trong trứng để hìnhthành gà con sau 490 - 528 giờ (khoảng 17,5 - 22 ngày)
2.2.2 Hiện tượng rụng trứng và quá trình hình thành trứng
Hiện tượng rụng trứng và sự hình thành trứng ở gà mái gắn liền với sựhình thành các chất dinh dưỡng để nuôi bào thai Quá trình thoát khỏi buồngtrứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng trứng Tế bào trứng chín rơi vào túilòng đỏ và nằm trên bề mặt lòng đỏ đạt độ chín trong phạm vi 9 - 10 ngày
Theo Melekhin và Niagridin (1989) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994), sựrụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi đẻ trứng.Nếu trứng đẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển đến đầu hôm sau Trứng bịgiữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng rakhỏi ống dẫn trứng thì không làm tăng nhanh sự rụng trứng được
Khối lượng trứng tăng 16 lần trong thời gian 7 ngày ở thời kỳ trước rụngtrứng (Nguyễn Tất Thắng, 2008) Hormon FSH, LH điều chỉnh theo một trình tựchặt chẽ trong quá trình phát triển và vỏ bao noãn Thùy trước tuyến yên tiết rahormon FSH và LH là tác nhân kích thích bao noãn phát triển, vỡ ra và chín đểgiải phóng trứng Trứng sau khi rụng được rơi vào trong phễu (loa kèn) của ốngdẫn trứng và phễu nhu động liên tục Tế bào trứng rơi vào phễu dừng lại ở đây
20 phút, nếu có tinh trùng thì việc thụ tinh tế bào trứng sẽ xảy ra ở trên thànhphễu
Trang 142.2.3 Thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố quyết định năng suất Tuổi đẻtrứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi gà nở đến lúc đẻ quả trứngđầu tiên (với con mái) và khả năng thụ tinh với con trống Trong một đàn gà máichỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể trong đàn, tuổi đẻ quảtrứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩygia cầm đẻ sớm
Theo Siegel (1962) khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể lànhững nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà màu
Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Ninh (2002) cho biết tuổi đẻ quả trứngđầu của gà Ác Thái Hòa 152- 158 ngày; đạt tỷ lệ 50% lúc 195 – 198 ngày PhùngĐức Tiến (2004) chỉ ra rằng tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5% của gà Ai Cập 145 – 160 ngày
Nguyễn Thị Khanh và cs (2001), tuổi thành thục sinh dục của gà TamHoàng dòng 882 và Jaangcun lúc 154 và 157 ngày
Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từngthời điểm đẻ 5% và đẻ đỉnh cao
2.3 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản suất gà isa brown
Gà ISA Brown là giống gà chuyên trứng cao sản của Mỹ, giống gà này làgiống gà lai, hình thành do việc lai tạo giữa giống gà Rohde Đỏ với gà RohdeTrắng do công ty Hubbard - ISA của Mỹ vì thế nó còn có tên gọi là gà Hubbard.Đây là giống gà hướng trứng được nuôi phổ biến trên thế giới Chúng là gà xuấtkhẩu của Hoa Kỳ Ở Việt Nam chúng được xếp vào nhóm gà siêu trứng chonăng suất cao
Gà mái lúc mới bắt đầu đẻ có khối lượng khoảng 1,6 – 1,7kg/con, tỷ lệ đẻcao 93,9% khoảng 144 ngày đạt tỷ lệ đẻ 50%, đến 76 tuần tuổi sản lượng trứngđạt 329 quả/mái, khối lượng trứng trung bình 62,7g/quả, vỏ trứng màu nâu Tiêutốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,5 – 1,6 kg Chu kỳ đẻ kéo dài có thể trên 12tháng, giai đoạn đẻ cao cũng kéo dài từ 32 – 45 tuần tuổi với tỷ lệ đẻ 85 – 90%,
Trang 15là đặc điểm hơn hẳn các giống gà trứng khác Tỷ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20tuần tuổi là 98% và từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần tuổi là 93,3% Sản lượng trứngthay đổi qua các tuần tuổi từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần tuổi là 93,3% Sản lượngtrứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20 – 72 tuần tuổi là 303 quả/năm và từ 20 –
72 tuần tuổi là 320,6 quả/năm
Khối lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ 24 là56g/quả, tuần tuổi thứ 35 là 62g/quả và tuần 72 tuần tuổi là 65g/quả
Gà bắt đầu đẻ bói vào tuần tuổi thứ 19, đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đạtđỉnh cao 93% tuần thứ 26 – 33 và tuần 76 là 73% (Võ Bá Thọ, 1996)
2.4 Probiotic
2.4.1 Khái niệm probiotic
Theo ngôn ngữ Hi Lạp, probiotic có nghĩa là “vì sự sống” Thuật ngữprobiotic được Parker đề nghị sử dụng đầu tiên vào năm 1947 để chỉ “những visinh vật và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột” (Fuller, 1989)
Từ đó đến nay thuật ngữ probiotic đã được cả thế giới sử dụng để chỉ những chếphẩm vi sinh vật sống hữu ích khi được đưa vào cơ thể động vật thông qua thức
ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho vật chủ
Kể từ khi xuất hiện khái niệm probiotic vẫn chưa có một định nghĩa thốngnhất Tuy nhiên, hiện có hai định nghĩa được cho là phản ánh khá đầy đủ bảnchất của probiotic và được sử dụng nhiều trong các ấn phẩm khoa học: theoFuller (1989), probiotic là :“chất bổ sung vi sinh vật sống vào thức ăn giúp cảithiên cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa theo hướng có lợi cho vật chủ”;theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 2001), probiotic là “các vi sinh vật sống khiđưa vào cơ thể theo đường tiêu hóa với một số lượng đủ sẽ đem lại sức khỏe tốtcho vật chủ”
Trang 162.4.2 Hệ vi sinh vật đường ruột và tác động của hệ vi sinh vật đến sức khỏe của vật nuôi
Bên cạnh sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, đường tiêu hóa còn đóng vai tròquan trọng như là cơ quan miễn dịch lớn nhất trong cơ thể Do đó, nó là hệthống bảo vệ và là hàng rào quan trọng chống lại các tác nhân gây bệnh xâmnhiễm Thêm vào các cơ chế bảo vệ nói chung, hệ thống miễn dịch, với các phảnứng đặc hiệu và không đặc hiệu, giúp chống lại các vi sinh vật gây bệnh Hệ visinh vật đường ruột cũng được coi là một trong các yếu tố chống lại các tác nhângây bệnh
Khi còn ở trong bào thai, đường tiêu hoá của vật nuôi ở trạng thái vôtrùng, nhưng chỉ vài giờ sau khi sinh các vi sinh vật đã bắt đầu cư trú và trởthành những “cư dân” bình thường trong đường tiêu hoá (WHO, 2001) Theothời gian, do tiếp xúc trực tiếp với môi trường, đặc biệt là qua thức ăn và nướcuống, số lượng và tính đa dạng sinh học của các vi sinh vật cộng sinh khôngngừng tăng lên Số lượng tế bào vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa của vậtnuôi có thể cao gấp mười lần số lượng tế bào cấu tạo nên cơ thể chúng (Fonty,1995) Số lượng loài có thể lên tới từ 400-500 (Tannock, 1999) Tuy nhiên, mật
độ vi sinh vật ở các phân đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (dạ dày; tá tràng;
101-104; 105-108 và 109-1012 cfu/ml chất chứa tương ứng) (Jans, 2005)
Sức khỏe của vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: trạng thái sinh lý củavật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật Các yếu tố này chịu tác động củamôi trường, của các stress và tác động qua lại lẫn nhau Trong số các nhân tố trên,
hệ vi sinh vật đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm, chỉ một biến động bất lợicủa một trong hai yếu tố còn lại cũng ảnh hưởng xấu tới hệ vi sinh vật (Conway,1994) Sự cộng sinh của các loài vi sinh vật trong đường tiêu hoá của vật nuôi(chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và mối cân bằng của quần thể
vi sinh vật được xác lập chỉ một thời gian rất ngắn sau khi sinh (Jans, 2005)
Trang 17Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ vi sinh
vật ruột Theo Jans (2005), để đánh giá trạng thái cân bằng, các vi sinh vật ruột
được chia thành 3 nhóm (1) nhóm chủ yếu (main flora) gồm các loài vi khuẩn kị
khí (Clostridium; Lactobacillus; Bifidobacteria; Bacteroides, Eubacteria); (2) nhóm vệ tinh (Satellite flora), gồm chủ yếu là Enterococcus và E coli, và (3) nhóm còn lại (Residual flora) gồm các vi sinh vật có hại như Proteus,
Staphylococcus và Pseudomonas… Một quần thể vi sinh vật được coi là cân
bằng khi tỷ lệ của các nhóm dao động trong khoảng 90; 1,0 và 0,01% tươngứng Trạng thái mà các nhóm này hình thành một tỷ lệ 90:1:0,01 được gọi làtrạng thái “eubiosis” (tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự chung sống có lợi giữa các vikhuẩn với nhau và với vật chủ) Ở trạng thái “eubiosis”, vật chủ cung cấp cácđiều kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định, pH trung tính, dinh dưỡng và sựđào thải các chất chuyển hóa Đổi lại, hệ vi sinh vật sẽ mang lại lợi ích cho vậtchủ thông qua tăng cường tiêu hóa các chất dinh dưỡng, giải độc, tổng hợp cácvitamin nhóm B và vitamin K, loại trừ các vi sinh vật có hại, tăng cường đápứng miễn dịch của vật chủ Sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa
bị tác động bởi một số nhân tố vô sinh và hữu sinh như: sinh lý vật chủ, khẩuphần thức ăn và cơ cấu nội tại của bản thân hệ vi sinh vật Thức ăn là nền dinhdưỡng cơ bản của vi sinh vật, bởi vậy sự thay đổi thành phần khẩu phần, thức ănkhông đảm bảo vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lý đều làm tổn hại đếntrạng thái cân bằng hệ vi sinh vật ruột Tương tự như vậy, các chất bài tiết của
hệ tiêu hóa (dịch mật, các enzym, chất đệm và chất nhầy ) cũng như kiểu và tần
số nhu động ruột cũng tác động trực tiếp đến hệ vi sinh vật Kiểu và tần số nhuđộng ruột bị tác động rất lớn bởi các stress (sinh đẻ, cai sữa, dồn chuồng, vậnchuyển ) Khi quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật ruột bị phá vỡ sẽ tạo nêntrạng thái “dysbiosis” (trạng thái “chung sống có hại”) Biểu hiện của trạng thái
“dysbiosis” ở vật chủ thường là thể tạng kém, sinh trưởng chậm và mắc các
Trang 18bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm ruột hoại tử (tóm tắt trạng thái
eubiosis và dysbiosis có trong bảng 2.1).
Để cải thiện quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật ruột ở vật nuôi, mộtphương pháp thường được áp dụng là bổ sung vào khẩu phần thức ăn một sốloại kháng sinh liều thấp như những chất kích thích sinh trưởng Tuy nhiên, việc
sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi một cách không có kiểm soát đã vàđang gây ra những hậu quả đáng lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặcbiệt là gây nên tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng của các vi khuẩn gâybệnh trên người và vật nuôi Hiện nay, khối liên minh châu Âu (EU) đã cấm sửdụng kháng sinh để bổ sung vào thức ăn như chất kích thích sinh trưởng từ ngày
01 tháng 01 năm 2006 Việc cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôicũng đặt ra những thách thức lớn về kỹ thuật, đặc biệt đối với chăn nuôi gia súc,gia cầm non hoặc trong điều kiện vệ sinh kém và vật nuôi chịu nhiều stress Đểvượt qua những thách thức đó, đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm tìm ratác nhân để thay thế kháng sinh nhưng an toàn với vật nuôi Một trong những tácnhân tìm ra đó là probiotic
Bảng 2.1: Tóm tắt trạng thái Eubiosis và Dysbiosis cùng các đặc điểm đặc
trưng của chúng Trạng thái Eubiosis
- Sự cùng tồn tại giữa vật chủ và hệ vi
sinh vật đường ruột – Sự cộng sinh
- Sự bảo vệ bề mặt của đường tiêu
hóa chống lại các vi sinh vật xâm
- Sự không cùng tồn tại giữa vật chủ và
hệ vi sinh vật đường ruột
- Sự phá hủy biểu mô đường ruột, làmcho thành đường ruột mỏng đi dẫn đếngiảm sự hấp thụ các chất dinh dưỡng
Trang 192.4.3 Vai trò và cơ chế tác dụng probiotic
Vai trò của probiotic
Từ khi kháng sinh bị cấm sử dụng như chất kích thích sinh trưởng trongthức ăn chăn nuôi ở một số nước thuộc khối liên minh châu Âu thì probioticđược coi là một trong những nguồn thay thế có triển vọng nhất vì có nhiều đặctính ưu việt Trên cơ sở các kết của nghiên cứu của nhiều tác giả, Patterson(2003) đã tổng kết các ảnh hưởng có lợi của probiotic đối với đời sống động vậtthể hiện ở các khía cạnh sau:
- Thay đổi cấu trúc quần thể vi sinh vật đường ruột theo chiều hướng cólợi cho vật chủ
- Tăng cường khả năng miễn dịch
- Giảm phản ứng viêm
- Ngăn cản sự xâm nhập và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh
- Tăng sản xuất các axit béo bay hơi
- Tăng cường quá trình sinh tổng hợp các vitamin nhóm B
- Tăng hấp thu chất khoáng
- Làm giảm cholesterol huyết thanh
- Làm tăng năng suất vật nuôi
- Làm giảm lượng amoniac và urê trong chất thải
Ngoài ra probiotic còn rất an toàn với động vật và thân thiện với môitrường vì là chất bổ sung vi sinh vật sống hữu ích, việc sử dụng probiotic sẽkhông tạo ra các chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi gây hại cho sức khỏengười tiêu dùng
Cơ chế tác động
Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về cơ chế tác động của probiotic,nhưng phần lớn các tài liệu về probiotic đề câp đến 3 khía cạnh: cạnh tranh loạitrừ; đối kháng vi khuẩn và điều chỉnh miễn dịch
- Cạnh tranh loại trừ: Là đặc tính đấu tranh sinh tồn điển hình của các visinh vật Hình thức cạnh tranh loại trừ thường thấy ở các vi sinh vật ruột là cạnhtranh vị trí bám dính Các vi sinh vật probiotic cư ngụ và nhân lên trong ruột,khóa chặt các vị trí thụ cảm và ngăn chặn sự bám dính của các vi sinh vật khác
như E coli, Salmonella… Một số nấm men probiotic (Saccharomyces cereviese,
S.boulardii) không chỉ cạnh tranh vị trí bám dính của các vi khuẩn khác mà còn
Trang 20gắn kết các vi khuẩn có roi (phần lớn là những vi khuẩn có hại) thông qua các cơquan thụ cảm mannose và đẩy chúng ra vị trí bám dính ở niêm mạc ruột(Czerucka và Rampal, 2002) Tuy nhiên cạnh tranh dinh dưỡng là phương thứccạnh tranh khốc liệt nhất vì sự sinh sôi với số lượng lớn của một loài sinh vậtnào đó là một đe dọa nghiêm trọng đối với các loài khác về nguồn cơ chất chophát triển.
- Đối kháng vi khuẩn: Các vi sinh vật probiotic sản sinh ra các chất kìmhãm vi khuẩn như lactoferrin, lysozym, hydrogen peroxide cũng như một số axithữu cơ khác Các chất này tác động bất lợi lên vi khuẩn có hại chủ yếu là do sựgiảm thấp pH trong ruột (Conway, 1996)
- Điều chỉnh hệ miễn dịch: Ruột là cơ quan miễn dịch lớn nhất ở động vật
có vú Giữa hệ vi sinh vật ruột và hệ thống miễn dịch có mối tương tác đặc thù.Năng lực miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào của hệ thống miễn dịch đườngruột bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự cân bằng của hệ vi sinh vật ruột (Cebra, 1999).Thông qua tương tác với hệ thống miễn dịch ruột các probiotic có thể điều chỉnh
cả miễn dịch thụ động và chủ động hoặc cả hai Tác động điều chỉnh miễn dịchđặc hiệu của probiotic phụ thuộc vào chủng giống hoặc các loài vi khuẩnprobiotic (Dugas và ctv, 1999) Tuy nhiên, cơ chế tác động của probiotic đối vớiviệc nâng cao chức năng miễn dịch vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ
2.4.4 Tiêu chuẩn lựa chọn các chủng probiotic
Việc lựa chọn các chủng vi sinh vật đầu tiên là phải an toàn cho quá trìnhsản xuất và ứng dụng, có khả năng chiếm lĩnh và sống sót trong đường tiêu hóavật chủ Các chủng vi sinh vật probiotic được lựa chọn theo các tiêu chuẩn chủyếu sau:
- Tính bám dính trên bề mặt đường tiêu hóa hoặc các tế bào biểu mô: Cácchủng probiotic phải bám dính được vào thành ruột non, khu chú tốt trongđường tiêu hóa và sinh sôi nảy nở khả năng bám dính được xem là một yêu cầuquan trọng để tăng khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh, bảo vệ biểu mô và tăng
Trang 21khả năng miễn dịch của vật chủ Đặc tính này làm tăng khả năng cạnh tranh củacác chủng probiotic với các vi sinh vật bất lợi khác.
- Hoạt tính kháng khuẩn chống lại các vi khuẩn gây bệnh: Lựa chọn cácchủng vi sinh vật có khả năng sản sinh ra các chất kháng khuẩn là đặc tính quantrọng nhất trong phát triển probiotic
- Khả năng tồn tại trong môi trường axit dạ dày: Khoang miệng và dạ dàycủa vật chủ là nơi có môi trường axit pH từ 2-3 và có mặt các enzym tiêu hóa(amylaza, proteaza, lysozym…) Các chủng vi sinh vật probiotic phải tồn tạiđược trong điều kiện này
- Khả năng chịu muối mật: Thông thường, muối mật trong dịch tiêu hóacủa động vật dao động 1-3% Để tồn tại và phát triển, các chủng probiotic phải
có khả năng tồn tại và phát triển với nồng độ muối mật ≥ 2%
2.5 Giới thiệu về chế phẩm Neoavi Layer
bào tử độc quyền từ giáo sư Silmon Culting, ĐH Hoàng Gia - Anh Quốc:
Bào tử Bacillus subtilis HU58… ≥ 3x10 11 CFU/kg
Bào tử Bacillus licheniformis……… ≥ 2x10 11 CFU/kg
Bào tử Bacillus coagulans…… … ≥ 1x10 11 CFU/kg
Bào tử Bacillus indicus.……… ≥ 4x10 11 CFU/kg
Chất mang đặc biệt vừa đủ 1kg
Vi khuẩn Bacillus
Bacillus: Là tên một chi gồm các vi khuẩn hình que, gram dương hiếu khíthuộc họ Bacillacase trong Firmicutes, chúng còn có tên gọi là khuẩn que haytrực khuẩn Trực khuẩn có mọi nơi ở trong tự nhiên và khi điều kiện sống bấtlợi, chúng có khả năng tạo ra bào tử gần như hình cầu, để tồn tại trong trạng thái
“ngủ đông” trong thời gian dài Loại sinh vật này có nhiều loài khác nhau
Trang 22Hình 2.1: Bào tử Bacillus
Bacillus subtilis
Bacillus subtilis, còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô hoặc trực khuẩn cỏ, là
một loại vi khuẩn gram dương, catalase dương tính Thuộc chi Bacillus, Bacillus
subtilis là trực khuẩn hình que, có khả năng tạo bào tử, có khả năng chịu đựng
các điều kiện môi trường khắc nghiệt Mặc dù loài này thường được tìm thấy
trong đất, tuy nhiên nhiều bằng chứng cho thấy B subtilis cũng tồn tại trong
ruột người, động vật Nghiên cứu gần đây cho thấy số lượng bào tử trong đất
tử /g)
Bacillus subtilis có thể phân chia đối xứng để tạo thành hai tế bào con
(nhị phân phân hạch) hoặc không đối xứng, tạo bào tử trong điều kiện môitrường bất lợi như hạn hán, độ mặn, bức xạ cực cao, pH và dung môi, môitrường nghèo dinh dưỡng Trong môi trường sống khắc nghiệt, trước giai đoạnhình thành bào tử, các tế bào vi khuẩn có thể tự tạo ra các chất đề kháng (khángsinh) hoặc giết chết đồng loại để tìm kiếm dinh dưỡng Tính ổn định cao của
B subtilis trong điều kiện môi trường khắc nghiệt làm cho vi sinh vật trở thành
Trang 23một trong những ứng cử viên hoàn hảo cho các ứng dụng chế phẩm sinh họchoặc trong thực phẩm, đồ uống , khử trùng Cụ thể:
- B subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là
amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa
- B.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng
ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vikhuẩn Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh
- B subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi
uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy
Ở ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ visinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụngkháng sinh kéo dài
Bacillus licheniformis
Bacillus licheniformis : là vi khuẩn gram dương , hình que, ưa nhiệt
Nhiệt độ tăng trưởng tối ưu khoảng 30 ° C, tuy nhiên nó có thể tồn tại ở nhiệt độcao hơn nhiều Nhiệt độ tối ưu để sản sinh enzyme là 37 ° C Trong điều kiệnmôi trường khắc nghiệt, nghèo dinh dưỡng, đặc biệt trong đất, nó có khả năngtạo bào tử Những bào tử này có khả năng chịu nhiệt, lạnh, bức xạ và các áp lựcmôi trường khác Dưới những điều kiện tốt, các bào tử nảy mầm trở thành tế bào
vi khuẩn
B licheniformis là nguồn nguyên liệu mà từ đó các Bacitracin kháng sinh
được sản xuất Như một probiotic B licheniformis được sử dụng để thực hiện
các chức năng tương tự như trong Bacitracin để ngăn chặn sự tăng trưởng của vikhuẩn có hại Vi khuẩn tích cực này còn có tác dụng thúc đẩy chức năng miễndịch tốt hơn, và nó sản xuất ra protease, một enzym cần thiết cho sức khỏe
đường ruột thích hợp Enzym protease sản xuất bởi B licheniformis trực khuẩn
rất ổn định và hiệu quả, nó là một enzym cần thiết để phá vỡ đường thành cáchợp chất đơn giản Bằng cách làm này vi khuẩn probiotic có thể dễ dàng hấp thu
và chuyển các chất dinh dưỡng vào để cạnh tranh với vi khuẩn có hại Chính vì
Trang 24vậy mà người ta sử dụng nó để sản xuất các enzym, kháng sinh và các chấtchuyển hóa nhỏ trong công nghiệp.
Bacillus coagulans
Bacillus Coagulans là một loài vi khuẩn sinh axit lactic thuộc
chi Bacillus Sinh vật lần đầu tiên được phân lập và mô tả như là coagulans
Bacillus vào năm 1915 bởi BW Hammer tại Trạm thí nghiệm nông nghiệp Đến
năm 1935, vi khuẩn này được mô tả như Lactobacillus sporogenes trong ấn bản
thứ năm của hướng dẫn sử dụng của Bergey, nó thể hiện đặc điểm điển hình của
chi Lactobacillus, Bacillus
B Coagulans là vi khuẩn Gram dương , dạng que di động, kích thước
3.0μm tới 5.0μm), hình thành bào tử, có thể cử động dễ dàng , tùy ý yếm khí Nhiệt độ phát triển tối ưu từ 35- 50 ° C, pH thích hợp từ 5,5 - 6,5
B Coagulans đã được Cục Quản lý dược và Thực phẩm Hoa Kỳ, Liên
Minh Châu Âu phê duyệt cho các mục đích thú y Nó được sử dụng như là một
vi sinh vật ăn trực tiếp trong sản xuất chăn nuôi, đặc biệt là một probiotic ở lợn,gia súc, gia cầm và tôm, cá
B Coagulans sản sinh ra các axit lactic tạo môi trường pH cho đường ruột
và B Coagulans có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của các vi khuẩn có hại gây thối rữa (Hyronimus và đồng sự, 1998) Ngoài ra, B Coagulans cũng có khả
năng sinh sản các men tiêu hóa như amylase và protease, có tác dụng tăng cườngmiễn dịch, phòng chống lây nhiễm virus (Baron và đồng sự, 2009), phòng ngừa
và phối hợp điều trị rối loạn tiêu hóa cấp và mãn tính ở trẻ em (Mandel và đồng
sự, 2010)
Các nghiên cứu từ trước tới nay chỉ ra rằng B Coagulans là loài vi khuẩn
hiếu khí có khả năng tạo bào tử và sản sinh L (+) – (dextrorotatory) lactic acid
có lợi cho hệ tiêu hóa (Andres và đồng sự, 2009) Dạng bào tử bền vững trongmôi trường acide của dạ dày và vì thế sẽ đi qua dạ dày một cách an toàn đếnruột, nảy mầm thành vi khuẩn có lợi cho hệ tiêu hóa
Bacillus indicus
Trang 25Bào tử bền nhiệt với độ tinh khiết >95% Là chủng lợi khuẩn sản sinhlượng lớn carotenoids tạo nên màu vàng cam bao gồm lycopene, axtaxanthin,beta-carotene, and lutein Nhóm carotenoids có rất nhiều lợi ích về sức khỏe vàthẩm mỹ đối với con người, động vật và thủy sản Carotenoids không bị phânhủy ở dạ dày như hầu hết các caroten có nguồn gốc thực vật khác.
Là chủng lợi khuẩn có tác dụng chống oxy hóa hiệu quả nhất, giúp loại bỏcác gốc tự do ở võng mạc nên giúp ngăn ngừa sự tấn công của chúng đối với đôimắt, giúp chống thoái hóa hoàng điểm, là nguyên nhân chính gây mù lòa Tínhchất chống oxy hóa của carotenoids có thể giúp phòng chống ung thư Đối vớicon người, carotenoids làm cho làn da sáng, mịn màng và hồng hào.Đối vớiđộng vật, carotenoids làm cho da hồng, lông mượt, đặc biệt với gia cầm cải thiệnchất lượng trứng và màu sắc lòng đỏ Ngoài ra nó còn kích thích miễn dịch tựnhiên, ổn định hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường chức năng tiêu hóa, hấp thuthức ăn
Trang 262.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
Theo Chamber và cs (1984), hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) đượcđịnh nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm, Từ mức độ tiêutốn thức ăn (TTTA) người ta tính được chi phí thức ăn
Chi phí thức ăn thường chiếm đến 70% giá thành sản phẩm của chăn nuôi.Chính vì vậy, HQSDTA là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nó quyếtđịnh đến giá thành chăn nuôi và là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi.Không những thế, đây còn là chỉ tiêu quan trọng trong công tác giống vật nuôinói chung và gia cầm nói riêng Việc chọn lọc về tốc độ tăng trọng thường kèmtheo sự cải tiến HQSDTA Theo Chamber và cs (1984) xác định hệ số tươngquan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tốc độ tăng trọng với lượng thức ăntiêu thụ là rất cao (0,5 - 0,9) còn hệ số tương quan di truyền giữa tốc độ sinhtrưởng và HQSDTA có giá trị âm và biến động từ - 0,2 đến - 0,8
Theo Phùng đức Tiến (1996), gà broiler Ross 208 nuôi chung trống, máiđến 63 ngày tuổi tiêu tốn là 2,29 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng Nuôi riêng gàtrống tiêu tốn 2,19 kg và gà mái tiêu tốn 2,39 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng.Như vậy, gà trống tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng thấp hơn gà mái, nghĩa là
gà trống có HQSDTA tốt hơn gà mái HQSDTA phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốkhác nhau Đoàn Xuân Trúc và cs (1999) cho biết TTTA cho 1 đơn vị sản phẩmphụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng dòng, giống gia cầm Bùi Đức Lũng,
Lê Hồng Mận (1993) cho biết nuôi gà broiler đến 9 tuần tuổi tiêu tốn 2,39 - 2,41
kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng và
cs (1994), HQSDTA có liên quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng của gà Trongcùng một chế độ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời điểm, những lô gà cótốc độ sinh trưởng cao hơn thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn
Proudman và cs (1970), Pym và cs (1979), cho biết gà có tốc độ tăngtrọng cao thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn, bởi vì ở gà một phần năng lượng
Trang 27cho duy trì, còn một phần cho tăng trọng cá thể nào có tốc độ tăng trọng nhanh
sẽ cần ít năng lượng cho duy trì hơn
hiệu quả sử dụng thức ăn không những phụ thuộc vào đặc điểm di truyềncủa từng dòng, giống gia cầm mà nó còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng.nguyễn Thị Mai (2009) cho biết, các mức năng lượng khác nhau trong thức ăncũng ảnh hưởng đến HQSDTA với P<0,05 Tác giả cho biết cùng hàm lượngprotein, khi tăng mức năng lượng trong 1kg thức ăn từ 2900 đến 3200 kcal đãlàm tăng HQSDTA Nói cách khác đã làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăngkhối lượng cơ thể gà broiler ở 7 tuần tuổi từ 2,41 xuống 2,15 kg
Hàm lượng protein trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến HQSDTA Cùngmức năng lượng, sử dụng hàm lượng protein là 25 - 23 và 21 % tương ứng với 3giai đoạn nuôi thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn mức 23 - 21 và 19%protein giảm tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,4 xuống 2,21
kg, Sự khác nhau là có ý nghĩa nghĩa thống kê với P<0,05 (Nguyễn Thị Mai,2009)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức năng lượng và hàm lượng proteintrong khẩu phần với hQSDTa, Hopf (1973) cho biết khi tăng mức năng lượng từ
2800 đến 3300 kcal, đồng thời tăng tương ứng hàm lượng protein từ 21,0 lên24,8% cho gà broiler đã làm tăng HQSDTA , giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kgtăng khối lượng cơ thể từ 2,0 xuống 1,7 kg, Summer (1974) cho biết cùng mứcnăng lượng là 3050 kcal, sử dụng khẩu phần có 10 và 26% protein đã làm tiêutốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 3,43 xuống 1,67 kg
Nhìn chung, HQSDTA là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quảtrong chăn nuôi Do vậy để nâng cao HQSDTA cần cho gia cầm ăn theo nhu cầu
và phù hợp với đặc điểm sinh lý ở mỗi giai đoạn khác nhau
Trang 282.7 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sức đẻ trứng của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, mỗiyếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng ở mức độ nhất định Một số yếu tố chính ảnhhưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm như các yếu tố di truyền cá thể, giống, dònggia cầm, tuổi, chế độ dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh (Bùi Hữu Đoàn, 2006)
+ Các yếu tố di truyền cá thể:
Sức đẻ trứng: là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng củagia cầm với con người Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng củagia cầm: tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéodài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng
Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố năng suất trứng và có liên quanđến sức đẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm cũng là một tính trạng mongmuốn, tuy nhiên cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kíchthước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng
sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và làm tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổithành thục sinh dục của cá thể được xác định thông qua tuổi đẻ quả trứng đầutiên Tuổi thành thục của một nhóm hay một đàn gia cầm được xác định theotuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%
Thể trạng và độ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng đến khả năng thành thụcsinh dục, những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thì phần lớn bắt đầu đẻ trứngsớm hơn những giống gà có tầm vóc lớn
Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống,loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớmhơn gà hướng thịt Thời gian gà đẻ mạnh là vào những ngày ngắn của mùa thuđông, điều đó cũng nói lên rằng thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đếntuổi thành thục sinh dục Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) cho biết, hệ số ditruyền của tính trạng này là h2 =32 Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trongmột thời gian ngắn Cường độ đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời
Trang 29gian 30 - 60 ngày và 100 ngày Các tác giả này còn cho biết, đối với các giống
gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai
và ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trongmột thời gian ngắn
Theo Card L,E, Nesheim (1970) cho rằng, cường độ đẻ trứng thường đượcxác định theo khoảng thời gian 30 - 60 ngày và 100 ngày Các tác giả này còn chobiết, đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớnnhất vào tháng thứ hai và ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Nguyễn MạnhHùng và cs (1994) cùng nhiều tác giả khác cho biết, sự tương quan rất chặt chẽgiữa cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm Vì vậy,người ta thường dùng cường độ đẻ trứng ở 3 - 4 tháng tuổi đầu tiên để dự đoánsức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đôi và chọn lọc giống Cường độ đẻ trứng cònliên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng
Thời gian nghỉ đẻ: ở gà, thường có hiện tượng nghỉ đẻ trong một thờigian, có thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chíkéo dài 1 - 2 tháng Thời gian nghỉ đẻ thường vào mùa đông, nó có ảnh hưởngtrực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gia cầm thường thay lông vào mùa đôngnên thời gian này gà nghỉ đẻ Trong điều kiện bình thường, lúc thay lông đầutiên là vào thời điểm quan trọng để đánh giá gà đẻ tốt hay xấu Những đàn gàthay lông sớm, thời gian bắt đầu thay lông từ tháng 6 - 7 và quá trình thay lôngdiễn ra chậm, kéo dài 3 - 4 tháng là những đàn gà đẻ kém Ngược lại, có nhữngđàn gà thay lông muộn, thời gian thay lông bắt đầu từ tháng 10 - 11, quá trìnhthay lông diễn ra nhanh là đàn gà đẻ tốt Đặc biệt ở một số đàn gà cao sản, thờigian nghỉ đẻ chỉ 4 - 5 tuần và lại đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lông mới
Có con gà đẻ ngay trong thời kỳ thay lông
Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: chu kỳ đẻ trứng sinh học liênquan đến thời vụ nở của gia cầm non Tuỳ thuộc vào thời gian nở mà sự bắt đầu
và kết thúc của chu kỳ đẻ trứng sinh học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau
Trang 30trong năm Thường ở gà, chu kỳ đẻ trứng kéo dài 1 năm; ở gà tây, vịt, ngỗng chu
kỳ này ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quanthuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ
đẻ trứng Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học cómối tương quan nghịch rõ rệt
Tính ấp bóng hay bản năng đòi ấp trứng: đây là phản xạ không điều kiện
có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong tự nhiên, tính ấp bóng giúp giacầm duy trì nòi giống Bản năng đòi ấp rất khác nhau giữa các giống và cácdòng Các dòng nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng đòi ấp thấp hơn các dòngnặng cân, gà Leghorn và gà Goldline hầu như không còn bản năng đòi ấp Bảnnăng đòi ấp là một đặc điểm di truyền của gia cầm, nó là một phản xạ nhằmhoàn thiện quá trình sinh sản Song với thành công trong lĩnh vực ấp trứng nhântạo, để nâng cao sản lượng trứng của gia cầm cần rút ngắn và làm mất hoàn toànbản năng ấp trứng Bởi vì bản năng ấp trứng là một yếu tố ảnh hưởng đến sứcbền đẻ trứng và sức đẻ trứng
Các yếu tố di truyền cá thể phụ thuộc vào các gen khác nhau và ảnhhưởng ở mức độ khác nhau đến sức đẻ trứng Muốn nâng cao sức đẻ trứng quamột số ít thế hệ phải bắt đầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên
+ Giống, dòng gia cầm:
Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất trứng của giacầm Các giống khác nhau có khả năng đẻ trứng là khác nhau: giống gà Kabirsản lượng trứng trung bình là 195quả/mái/năm, gà Brown nick sản lượng trứngtrung bình là 300 quả/mái/năm Các giống gà được chọn lọc theo hướng chuyêntrứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm dụng và các giống
gà chuyên thịt, các giống gà nội thường có sản lượng trứng thấp hơn so với cácgiống gà nhập ngoại
+ Tuổi gia cầm:
Trang 31Tuổi gia cầm cũng liên quan đến năng suất trứng Sản lượng trứng của gàgiảm dần theo tuổi Thường thì sản lượng năm thứ 2 giảm 15 - 20% so với nămthứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) Một số loại gia cầm như vịt và ngỗngthì sản lượng trứng năm thứ 2 cao hơn năm thứ nhất
+ Chế độ dinh dưỡng:
Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng để trứng Muốngia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo một khẩuphần ăn đầy đủ và cân bằng chất dinh dưỡng theo nhu cầu Quan trọng nhất làcân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit amin, cân bằng các chấtkhoáng và vitamin
Thức ăn có chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còngây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc,các loại thức ăn bị nhiễm độc kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật Thậm chícác loại thức ăn bảo đảm đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảoquản không tốt cũng sẽ không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm(Nguyễn Thị Mai và cs, 2009)
+ Điều kiện ngoài cảnh:
Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mùa vụ ảnhhưởng rất lớn tới sức để trứng của gia cầm
Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gia cầm, ở nước ta, vàomùa hè sức đẻ trứng giảm xuống so với mùa xuân, đến mùa thu thì sức đẻ trứngcủa gà lại tăng lên
Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết tới sản lượngtrứng của gia cầm Nhiệt độ thích hợp cho gà đẻ trứng là 18-240C Nếu nhiệt đọdưới giới hạn thì gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét và nhiệt độ caotrên nhiệt độ giới hạn thì cơ thể gia cầm phải thải nhiệt Nhiệt độ môi trường caolàm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn từ đó làmgiảm năng suất trứng và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) Vỏ