Nhu cầu năng lượng của thế giới ngày càng tăng mà nhiên liệu hóa thạch ngày nay cung cấp hơn 85% năng lượng của thế giới. Hiện nay, đối với thế giới, chúng ta đang khai thác khoảng 87 triệu thùng dầu mỗi ngày 32 tỷ thùng mỗi năm trên thế giới. Tỷ lệ dự trữ và khai thác trong các mỏ cát kết dự đoán còn khoảng 20 năm nữa. Trong các mỏ carbonate thời gian khai thác có thể là 80 năm (Montaron, 2008). Đối với Việt Nam, nhiều mỏ dầu đang rơi vào tình trạng sụt giảm sản lượng nghiêm trọng hay ngập nước hoàn toàn. Với nhu cầu tiêu thụ năng lượng toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng được dự đoán sẽ tăng lên nhanh chóng trong vòng 20 năm tới, cần một giải pháp thực tế hơn để đáp ứng nhu cầu này nằm trong việc duy trì khai thác từ các mỏ hiện nay cho một số lý do:•Ngành công nghiệp không thể đảm bảo những phát hiện mỏ mới, những mỏ có trữ lượng lớn đến rất lớn khó tìm được.•Những phát hiện mới có nhiều khả năng nằm ở ngoài khơi, vùng sâu, xa bờ, hoặc khu vực khai thác khó khăn.•Việc khai thác các nguồn không thuận lợi sẽ đắt hơn nhiều so với khai thác từ các mỏ hiện có bằng phương pháp tăng cường thu hồi dầu (EOR).Vì vậy rất cần thiết phải nghiên cứu các phương pháp thu hồi dầu khác nhau để tận thu dầu còn trong mỏ nâng cao sản lượng dầu khai thác được.
Trang 1BƠM ÉP
CHẤT HOẠT TÍNH BỀ MẶT
GVHD: Nguyễn Xuân Huy
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BỘ MÔN ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ
Trang 2Thành viên nhóm
Nguyễn Thị Huyền Trang
Đoàn Anh Thư
Nguyễn Hoàng Anh Tuấn
Tạ Thị Phương Thảo
Trang 3NỘI DUNG
Tổng quan nghiên cứu thu hồi dầu tăng cường và thu hồi dầu bằng chất hoạt tính bề mặt
Tổng quan lý thuyết về bơm ép chất hoạt tính bề mặt
Áp dụng thử nghiệm bơm ép chất hoạt tính bề mặt tại vỉa cát kết tầng Oligocen mỏ Bạch Hổ
Trang 4Tổng quan
Trang 5Cơ chế thu hồi
Nguồn : Adapted from the Oil & Gas Journal, Apr 23, 1990
Trang 6Lƣợng dầu thu hồi tăng lên
Nguồn:Ph.D Do Hoon Kim
Trang 7Mục tiêu EOR đối với các loại hydrocarbon khác nhau
From:S.Thomas,2008
Trang 9Những phương pháp thu hồi dầu tăng cường hóa học
Chất hoạt tính bề mặt: Thay đổi sức căng bề mặt và tính dính ướt của đá
Polymer: Tăng độ nhớt của nước
Kiềm: Tăng độ pH và tạo ra xà phòng
Chất đồng dung môi: Thỉnh thoảng cần thêm vào chất hoạt tính bề mặt để chống lại độ nhớt của các pha
Có thể kết hợp các phương pháp với nhau tùy điều kiện vỉa để cho hệ số thu hồi dầu là cao nhất
Trang 10Tổng thị trường thu hồi dầu bằng bơm ép chất hóa học của Mỹ và Châu Âu
Nguồn: Frost và Sullivan analysis
polymers 48%
surfactants 17%
alkaline chemicals 1%
polymer 18%
surfactant- surfactant- polymer 16%
alkaline-2012
Trang 11Lý thuyết
Trang 12Chất hoạt tính bề mặt là gì ???
Chất hoạt tính bề mặt (surfactant) là những hợp chất làm giảm sức căng bề mặt (hoặc sức căng giữa ranh giới hai lớp của hai chất lỏng không hòa tan trong nhau hoặc giữa một chất lỏng và một chất rắn)
Một chất hoạt tính bề mặt được xem là một “amphiphilic”!
Hydrophilic
Hydrophobic
Trang 13o Những phân tử “amphiphilic” có xu hướng mạnh mẽ di chuyển lên mặt ranh giới giữa hai lớp hay bề mặt lớp và định hướng nhóm phân cực nằm trong nước, nhóm không phân cực nằm bên ngoài
Trang 14NONIONIC ANIONIC
CATIONIC
ZWITTERIONIC
Phân loại các chất hoạt tính bề mặt
• Những chất hoạt tính bề mặt có thể được phân loại theo những ion tự nhiên của đầu ưa nước :
Trang 15Chất hoạt tính bề mặt ion âm (anionic surfactant):
o được sử dụng bơm ép trong vỉa cát kết vì chúng hấp phụ tương đối thấp trên
đá cát kết (bề mặt điện tích âm)
o chứa đựng những nhóm điện tích âm tại đầu ưa nước của chúng ví dụ như
sulfate ( OSO3−Na+ ), sulfonate ( −SO3−Na+ ), phosphate( −OPO32− ), và
carboxylates(−COO−)
oVí dụ :
• ammonium lauryl sulfate
• sodium lauryl sulfate
• sodium dodecyl sulfate
S
O O
Sodium dodecyl sulfate (SDS)
Trang 16Chất hoạt tính bề mặt trung tính
(nonionic surfactant):
oNhững nonionic surfactant được sử dụng cơ bản giống như chất đồng hoạt tính
bề mặt (cosurfactant) để cải thiện ứng xử pha của hệ
oChúng có thể chứa những nhóm không mang điện tích tại đầu ưa nước như :
Trang 17Chất hoạt tính bề mặt ion dương
(cationic surfactant):
o Những chất hoạt tính bề mặt ion dương có thể hấp phụ mạnh trên đá cát kết; vì
vậy chúng được dùng trong vỉa carbonate
o Chứa đựng những nhóm mang điện tích dương tại đầu ưa nước của chúng thường
là gốc amine bậc một, hai ba hoặc ammonium bậc bốn liên kết với chuỗi ankyl dài hoặc các ion Cl−, Br−
Trang 19PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ SURFACTANT
Trang 20Cân bằng kị nước ưa nước (Hydrophile-Lipophile Balance)
Chỉ số này mô tả xu hướng hòa tan trong dầu hay trong nước của surfactant và xu hướng hình thành dạng nhũ tương nước trong dầu hay dầu trong nước
Trang 21 HLB được xác định dựa vào việc tính toán giữa các vùng ưa nước và kị nước trên phân tử surfactant
Năm 1954, Phương trình Griffin được đưa ra để tính toán HLB cho nonionic surfactant
Trong đó : 𝑀𝑊ℎ: Là khối lượng phân tử của phần ưa nước của phân tử
𝑀𝑊: Là khối lượng phân tử của toàn bộ phân tử
:
Cân bằng kị nước ưa nước (Hydrophile-Lipophile Balance)
Trang 22Cân bằng kị nước ưa nước
(Hydrophile-Lipophile Balance)
Trang 23Năm 1957, Phương trình Davies được đưa ra :
𝐻𝐿𝐵 = 7 + 𝑚𝐻ℎ − 𝑛𝐻𝑙
Trong đó:
m: Là số lượng nhóm ưa nước trong phân tử
𝐻ℎ: Là giá trị của nhóm ưa nước
n: Là số lượng nhóm kị nước trong phân tử
𝐻𝑙: Là giá trị của nhóm kị nước
Cân bằng kị nước ưa nước (Hydrophile-Lipophile Balance)
Trang 24Nguồn: J.T.Davies
Trang 25Cân bằng kị nước ưa nước
(Hydrophile-Lipophile Balance)
Trang 26Surfacant làm việc nhƣ thế nào???
Giảm sức căng bề mặt giữa các lớp chất lỏng
Thay đổi tính dính ướt của đá
Trang 27Surfactant làm việc nhƣ thế nào???
Giảm sức căng bề mặt
Trang 28Surfactant làm việc nhƣ thế nào???
Thay đổi tính dính ướt của đá
Trang 29Nồng độ micelle tới hạn và nhiệt
Trang 30Small Micelle
CMC (nồng độ micelle tới hạn)
Nồng độ micelle tới hạn và nhiệt
độ Kraff
Trang 31Inverted hexagonal phase
Các dạng tập hợp của surfactant
Trang 32Nồng độ surfactant nhỏ nhất micelle được hình thành
Trang 35CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM KHI BƠM ÉP SURFACTANT
Hệ số quét, hệ số đẩy ( cơ chế đẩy
Trang 36Áp dụng
Trang 37NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TỔ HỢP SURFACTANT BỀN
NHIỆT CHO TĂNG CƯỜNG THU HỒI DẦU VỈA CÁT KẾT
TẦNG OLIGOCEN MỎ BẠCH HỔ
Thực Trạng
có thể thu được 11 - 17% tổng trữ lượng dầu tại chỗ (OIIP)
thu được 27,8%, 24,4% và 37,6% OIIP tương ứng
tam cấp trên cơ sở thí nghiệm các surfactant bền nhiệt, bền muối, có sức căng bề mặt liên diện thấp
Trang 38a) Tiêu chí lựa chọn surfactant cho tăng cường thu hồi
Giữ nguyên hoặc ít thay đổi đặc tính làm giảm sức căng bề mặt trong điều
kiện vỉa 140 ℃ ở một khoảng thời gian nhất định
Có khả năng hóa nhũ dầu ở điều kiện vỉa
Ít bị hấp phụ vào đất đá trong điều kiện vỉa
Các surfactant cần có nồng độ tới hạn tạo micelle (CMC - critical micelle
concentration) rất thấp
Phải có chỉ số cân bằng dầu nước (HLB - hydrophile lipophile balance) ≥ 8
Trang 39b) Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Polyoxyethylene sorbitan monooleate (Tween 80)
Sodium dodecylbenzene sulfonate (SDBS)
Xác định tỷ lệ tối ưu theo phương pháp quy hoạch
thực nghiệm
Trang 40Nội Dung Thử Nghiệm
Nồng độ tới hạn tạo micelle
Dựa trên định luật Lambert-Beer, được xác định bằng máy quang phổ UV
Sức căng bề mặt của surfactant
Trang 412 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 42
Trang 43
Trang 44
Trang 45
của surfactant,
Nồng độ Ca2+ và Mg2+ có ảnh hưởng lớn nhất
Trang 46Các thí nghiệm được tiến hành để xác định độ đục của surfactant trong nước biển 1.500ppm Ca2+ và Mg2+ ở 140 ℃ (nhiệt độ vỉa tầng Oligocen)
Trang 47
℃
mặt của nước biển sau 50 ngày thử nhiệt
℃
Trang 49 Tổ hợp tối ưu có giá trị sức căng bề mặt nhỏ nhất là σ = 0,679mN/m, có thành phần (AOS:Tween 80:SDBS) = (1498,2:250,9:253,5) = (6:1:1)
Trang 50thể hiện cực trị của tổ hợp tối ưu
Trang 511 Modern Chemical Enhanced Oil Recovery_Theory and Practice_James J Sheng
2 Enhanced oil recovery_Larry W Lake
3 Tạp chí dầu khí số 5/2014
Tài liệu tham khảo
Trang 52THANKS FOR YOUR ATTENTION !!!