1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tài liệu cho học sinh giỏi môn tiếng việt lớp 5

23 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Việc xây dựngcác nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt phải tuân thủ các nguyên tắc xây dựng chương t

Trang 1

Ý NGHĨA SỰ CẦN THIẾT <> SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT

VỐN SỐNG CHO HỌCSINH GIỎI TIẾNGVIỆT

11 1 PHÁT HIỆN NHỮNG HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ NĂNG KHIẾU TIẾNG VIỆT

11 2 BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP TIẾNG VIỆT CHO HỌC

SINH 13 3 BỒI DƯỠNG VỐN SỐNG CHO HỌC

SINH 16 Chương III: BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH GIỎI 22 1 CÁC TRI THỨC - KĨ NĂNG TIẾNG

VIỆT 22 2.TIẾP NHẬN NGÔN BẢN - RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU, CẢM THỤ VĂN

HỌC 51 THAM

KHẢO 82 1 MỘT SỐ BÀI TẬP TIẾNG VIỆT NÂNG

CAO 82 2 MỘT SỐ BÀI TẬP LUYỆN TỪ & CÂU NÂNG CAO VÀ GỢI Ý HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP 89 TÀI LIỆU THAM

KHẢO 93

Chương I KHÁI QUÁT VỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 1 Ý NGHĨA SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT 1.1 Theo “Chiến lược con người” mà Đảng đã vạch ra

Trang 2

đường hướng rất đúng đắn là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhà trường của chúng ta hướng đến phát triển tối đa những năng lực còn tềm ẩn trong mỗi Học sinh (HS) Ở nhiều trường tểu học, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tểu học, việc chăm lo phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước được xem là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng Các kết quả nghiên cứucho thấy số HS được xem là phát triển (có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống nổi trội hơn các em khác) chiếm từ 5 - 10% trong tổng số HS đến trường Đồng thời, những con số thống kê cũng cho thấy, các tài năng phát triển từ rất sớm, hơn 1/3 những người được xem là có tài năng đã là

những thần đồng khi chưa đầy 10 tuổi Vì vậy, trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng đứa trẻ còn nhỏ tuổi Ở nước ta, từ nhiều năm nay, vấn đề này cũng

đã được quan tâm Bên cạnh bộ sách giáo khoa ở tểu học, chúng ta còn có các bộ sách nâng cao, sách bồi dưỡng HS giỏi và trước đây đồng thời với kì thi tốt nghiệp tểu học còn có những kì thi HS giỏi từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia Các Sở GD - ĐT đều có các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt nói riêng Hiện nay, ở các địaphương,hầu hết các trường Tiểu học, các quận, huyện vẫn duy trì thi học sinh giỏi Tiếng Việt dưới nhiều hình thức khác nhau và có những tỉnh,

thành phố vẫn duy trì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố Các kì thi liên tỉnh cũng đang được khuyến khích tổ chức Gần đây có thêm cả những hình thức thi mới tạo một sân chơi cho HS có năng lực, đó là các hội thi - giao lưu diễn ra trong các trường, quận, huyện, tỉnh, thành phố, giữa các thành phố, các tỉnh như cuộc thi trong chương trình “Em yêu Tiếng Việt”,

"Tuổi thơ khám phá", “Thần đồng đất Việt” 1.2 Bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt là nhiệm vụ nhằm bảo đảm sự công bằng trong giáo dục, thực hiện tư tưởng chiến lược của giáo dục "Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

- đào tạo Tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo và những người thuộc các diện chính sách được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng." 1.3 Bồi dưỡng HS giỏi là một hướng dạy học tự chọn ở tểu học nhằm thực hiện giáo dục phổ thông theo định hướng phân hóa, phát huy cá tính

và sáng tạo của học sinh Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo không có chủ trương thi học sinh giỏi toàn quốc ở tểu học nhưng việc phát hiện và bồi

Trang 3

dưỡng học sinh giỏi trong các môn học ở tểu học vẫn rất quan trọng,

nhằm thực hiện chủ trương dạy - học phân hoá từ cấp tểu học Việc làm này còn góp phần khắc phục một trong những hạn chế trong giáo dục hiện nay là dạy học sinh theo một khuôn, một mẫu nhất định, thủ têu tính tích cực và cá tính sáng tạo của học sinh Chúng ta đang tến hành đổi mới toàn diện nền giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng Một trong số các mục têu đổi mới là giáo dục - đào tạo lớp người ngày càng đáp ứng được tốt hơn yêu cầu về dân trí, nhân lực và nhân tài của xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và

hứng thú của người học Để đạt được những mục têu nêu trên, giáo dục phổ thông cần phải đề xuất những định hướng mới về chương trình,

phương pháp dạy học (PPDH), học liệu, cơ chế đảm bảo chất lượng dạy học ; mặt khác, cần phải đề xuất chiến lược dạy học đáp ứng với nhu cầu rất đa dạng của người học nhằm phát triển từng cá thể HS Tiếng Việt là một môn học có vị trí quan trọng trong chương trình tểu học Đây là môn học vừa có vai trò trang bị cho HS công cụ ngôn ngữ, vừa là môn học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhiệm vụ trang bị cho HS những kiến thức khoa học về tếng Việt, những kĩ năng sử dụng tếng Việt để HS tự hoàn thiện nhân cách của mình ở phương diện ngôn ngữ và văn hóa Với nhiệm

vụ của môn học công cụ, HS cần học tốt môn học này để có cơ sở học tốt những môn học khác Mặt khác, với nhiệm vụ của một môn khoa học, HS theo nguyện vọng và khả năng riêng, có thể chọn để học sâu nhằm học giỏi môn học này Do đó cần bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt nhằm hiện thực hóa chiến lược giáo dục phổ thông theo định hướng phân hóa 1.4 Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước,việc bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong tràothi đua học tốt, dạy tốt Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên Để có thể bồi dưỡng học sinh, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải nâng cao lòng yêu nghề, tnh thần tận tâm với công việc Nhìn chung, nhiều năm nay, chúng ta đã chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng chưa tạo cho công việc này những điều kiện đầy đủ Trên thực tế, việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo dục toàn diện

và bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều lúng túng Đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt càng gặp nhiều khó khăn hơn bởi nhiều lí do

Trang 4

Khá nhiều HS không yêu thích môn học tếng Việt Kiến thức tếng Việt và khả năng tư duy nghệ thuật của nhiều giáo viên còn hạn chế Số giáo viên

có kinh nghiệm bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt còn ít Thêm nữa, do đặc trưngmôn học nên kết quả học tập môn tếng Việt, đặc biệt phần cảm thụ văn học và viết văn bản nghệ thuật phụ thuộc rất nhiều vào năng khiếu của cá nhân học sinh Các em lại cần có quá trình bồi dưỡng, tích luỹ lâu dài nên nhiều giáo viên cho rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt

“không chắc ăn” và không có hiệu quả như bồi dưỡng HS giỏi môn Toán Do

đó, nói chung, giáo viên không có hứng thú bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt Ở những nơi có tổ chức bồi dưỡng thì nhiều khi lại tến hành không có kế hoạch, không có nội dung và phương pháp cụ thể Chuyên đề này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ đáp ứng những đòi hỏi trên 2 NHỮNG ĐỊNH

HƯỚNG CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Việc xây dựngcác nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt phải tuân thủ các nguyên tắc xây dựng chương trình và tài liệu dạy học (SGK) Tiếng Việt ở tểu học như nguyên tắc giao tếp, nguyên tắc tích hợp,

nguyên tắc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh… Trong quá trình bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt, những nguyên tắc này sẽ được cụ thể hóa, nhấn mạnh thêm Để công việc có hiệu quả, cần xác định những định

hướng tạm gọi là các nguyên tắc sau: 2.1 Nguyên tắc bám sát mục têu, chương trình Tiếng Việt ở tểu học Chương trình tểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định mục têu như sau: “Môn tếng Việt ở trường Tiểu học nhằm: 1) Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) đểhọc tập và giao tếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học tếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy 2) Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài 3) Bồi dưỡng tình yêu tếng Việt và hình thànhthói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Mục têu quan trọng nhất của môn học tếng Việt là trang bị cho HS một công cụ giao tếp bằng tếng Việt Nguyên tắc này nhấn mạnh tính lợi ích của chương trình đào tạo, đòi hỏi việc bồi dưỡng HS giỏi phải rất thiết thực nhằm phát triển

kĩ năng giao tếp cho HS Mục têu giao tếp là cơ sở để đề xuất quan điểm

Trang 5

giao tếp trong dạy học tếng Việt Quan điểm giao tếp được thể hiện ở cả hai cấp độ: nguyên tắc dạy học và phương pháp dạy học Ở cấp độ nguyên tắc dạy học, nguyên tắc giao tếp (còn gọi là nguyên tắc phát triển lời nói, nguyên tắc thực hành) quy định nội dung dạy học và phương pháp dạy học.Với tư cách là một nguyên tắc dạy học, nguyên tắc giao tếp đòi hỏi: - Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tếp làm mụcđích, tức là hướng vào việc hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho

HS - Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn, ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như thế nào, câu ở trong đoạn, trong bài ra sao - Phải tổ chức hoạt động nói năng của HS để dạy học tếng Việt, nghĩa là phải sử dụng giao tếp như mộtphương pháp dạy học chủ đạo ở tểu học Với tư cách là một phương phápdạy học, phương pháp giao tếp (còn gọi là thực hành giao tếp) là phương pháp đặc trưng của môn học tếng Việt bởi "Ngôn ngữ là phương tện giao tếp quan trọng nhất của loài người" Quá trình dạy học tếng Việt ở tất cả các cấp học đều cần phải được tổ chức như một quá trình giao tếp bằng ngôn ngữ Phương pháp giao tếp là phương pháp dạy tếng dựa vào lời nói, vào những thông báo sinh động, vào giao tếp bằng ngôn ngữ Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện theo mẫu Cơ sở của phương pháp giao tếp là chức năng giao tếp của ngôn ngữ Nếu ngôn ngữ được coi là phương tện giao tếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tếp bằng ngôn ngữ Dạy tếng Việt theo hướng giao tếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân HS Phương pháp giao tếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lí thuyết thì được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài khoá Để thực hiện phương pháp giao tếp cần có, môi trường giao tếp, các phương tện ngôn ngữ và các thao tác giao tếp Xét từ góc độ những hạn chế của các tài liệu bồi dưỡng, các

đề thi học sinh giỏi tếng Việt hiện nay, bảo đảm nguyên tắc giao tếp thực chất là thực hiện sự chuyển mình triệt để từ quá trình dạy học tếng mẹ đẻvới mục têu cơ bản nặng về lí thuyết để nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngôn ngữ sang mục têu hành dụng Để làm được việc này, cần

cụ thể hóa quan điểm giao tếp trong việc xây dựng tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt ở Tiểu học như sau: 1) Dạy học tếp nhận ngôn bản (nghe, đọc hiểu) tính đến các nhân tố của hoạt động giao tếp và quá trình giao tếp; 2) Dạy học tạo lập ngôn bản (nói,viết) tính đến các nhân tố của

Trang 6

hoạt động giao tếp; 3) Dạy học các tri thức tếng Việt theo quan điểm giao tếp Bản thân hai quá trình tếp nhận và tạo lập ngôn bản chính là quá trình giao tếp Những vi phạm nguyên tắc giao tếp trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt thể hiện rõ nhất khi triển khai nội dung dạy học các tri thức tếng Việt Chính vì vậy, khi bồi dưỡng học sinh giỏi, cần dành nhiềutâm lực cho việc xây dựng nội dung dạy học các tri thức tếng Việt theo quan điểm giao tếp.

Việc dạy học các tri thức tếng Việt theo quan điểm giao tếp đòi hỏi phải thực hiện các công việc sau: 1) Lựa chọn các tri thức tếng Việt theo quan điểm giao tếp (tức là phải chú trọng đến tính lợi ích của các tri thức tếng Việt) 2) Tối giản hóa quá trình dạy học nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngôn ngữ Để thực hiện điều này cần phải: - Giảm số lượng bài tập nhận diện,những bài tập lí thuyết không mang tính lợi ích giao tếp - Khi dạy các nội dung lí thuyết,cần chọn ngữ liệu điển hình, gắn với dấu hiệu hình thức, mang tính trực quan, dễ nhận diện; cần xây dựng các mẹo nhận diện, hình thức hóa (gắn với dấu hiệu hình thức) để giúp HS dễ nhận diện 3) Dạy học các tri thức tếng Việt theo quan điểm giao tếp đòi hỏi phải tối

ưu hóa quá trình sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, kiểu loại ngôn ngữ trong hoạt động giao tếp Để thực hiện điều này cần phải: - Tăng số lượng bài tập dạy sử dụng (bài tập có tính chất tổng hợp, sáng tạo) - Cho thấy lợi ích, chức năng xã hội, chức năng giao tếp của những đơn vị ngôn ngữ, kiểuloại ngôn ngữ Đồng thời chọn ngữ liệu để làm rõ lợi ích của nội dung đượcdạy - Chú trọng dạy nghĩa và dạy cách dùng, thống hợp 3 bình diện kết học, nghĩa học, dụng học trong bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt, triệt để chuyển từ cách dạy phân tích,phân loại các đơn vị ngôn ngữ sang dạy sử dụng ngôn ngữ,chuyển từ việc xem xét ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc hình thức sang bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Nguyên tắc bám sát mục têu, chương trình tếng Việt ở tểu học cũng đòi hỏi việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt nhằm giúp cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn những kiến thức tếng Việt, thực hành thành thục hơn những kĩ năng tếng Việt

mà chương trình đã đề ra chứ không cung cấp, không dạy thêm những kiếnthức mới, không dạy trước những nội dung dạy học của lớp trên Đồng thời việc bảo đảm nguyên tắc bám sát mục têu, chương trình tếng Việt ở tểu học cũng không cho phép nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi lặp lại máy móc những gì được học trong SGK tếng Việt Dựa vào những kiến thức, kĩ

Trang 7

năng tếng Việt mà chương trình, SGK đã cung cấp,nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt sẽ được xây dựng theo 3 mảng lớn: - Các tri thức tếng Việt - Tiếp nhận lời nói (kĩ năng nghe và kĩ năng đọc hiểu mà đích cao nhất

là cảm thụ văn học) - Tạo lập lời nói (kĩ năng nói và kĩ năng viết văn bản (đoạn văn, bài văn) đặc biệt là các văn bản nghệ thuật - miêu tả và kể

chuyện) Ba nội dung trên cũng chính là 3 bộ phận cấu thành của một đề thihọc sinh giỏi tếng Việt có tính chất truyền thống Nguyên tắc bám sát mục têu, chương trình Tiếng Việt ở tểu học cũng đòi hỏi việc bồi dưỡng học sinh giỏi phải chú trọng đến tính toàn diện của chương trình, tránh kiểu dạy học "tủ" để thi "đấu gà chọi" 2.2 Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục, Điều 24.2) Có thểnói, cốt lõi của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt là đào tạo

những con người sáng tạo, chủ động, tích cực Nội dung và phương

pháp dạy học sinh giỏi môn Tiếng Việt phải tạo điều kiện và phát huy được tính năng động và sáng tạo của học sinh, làm cho các em trở thành những người thông minh hơn, năng động, tích cực hơn Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải được xây dựng thành hệ thống việc làm cho học sinh để các em tự chiếm lĩnh kiến thức và hình thành, phát triển được những kĩ năng cần thiết Theo quan điểm của phương pháp dạy học mới,

hệ thống bài tập không phải chỉ là phương tện để thực hành lí thuyết như trước đây người ta thường quan niệm mà chính là con đường, cách thức

tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ dạy học tếng Việt Quan niệm này cho rằng cần phải tổ chức toàn bộ quá trình dạy học tếng Việt dưới dạng thực hành như tổ chức hoạt động giao tếp bằng ngôn ngữ Đây chính là mục têu cơ bản của sự vận động chuyển mình từ chương trình dạy học tếng Việt cũ sang chương trình dạy học tếng Việt mới Đây cũng là cái lõi của phương pháp dạy học mới - dạy học tếng Việt theo quan điểm giao tếp Chính vì vậy, để tổ chức hoạt động dạy học tếng Việt, chúng ta phải xây dựng các nhiệm vụ dạy học dưới dạng các bài tập Bài tập là phương tện

để tổ chức các hành động tếng Việt, tích cực hoá các hoạt động của học sinh để hình thành, phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, thực hiện

Trang 8

mục têu dạy học tếng Việt ở trường tểu học Xây dựng được một hệ thống bài tập tếng Việt tốt và tổ chức thực hiện chúng một cách hiệu quả

có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học tếng Việt Như vậy cũng

có nghĩa là nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt mang tính thực hànhcao hơn Nó không có thêm những nội dung kiến thức mới mà chỉ luyện tậpthực hành Chính vì vậy khi nói xây dựng nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt cũng có nghĩa là xây dựng hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi Hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi cũng bao gồm các kiểu dạng bài tập tếng Việt đã có trong SGK theo từng phân môn 2.3 Nguyên tắc tích hợp Tích hợp được hiểu là sự hoà nhập, sự kết hợp, hợp nhất, tích hợp cần được quan niệm là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục têu, mục đích và yêu cầu khác nhau Nguyên tắc tích hợp đòi hỏi nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt phải tổng hợp các mạch kiến thức tếng Việt và các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tích hợp được

"tếng" và "văn", tích hợp được tếng Việt và các kĩ năng sống, tích hợp được tếng Việt và các kiến thức, kĩ năng của các môn học khác Quan điểmtích hợp được thể hiện rất rõ trong việc lựa chọn ngữ liệu Các ngữ liệu như văn bản để dạy đọc, các ví dụ được đưa ra để dạy ngữ pháp, chính tả, tập viết cần được tích hợp với những tri thức văn hóa chung,thống nhất với những mục têu giáo dục khác 2.4 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh tểu học Đến trường Tiểu học, học sinh bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập Đây là một cửa ải rất khó khăn đối với HS nói chung Chính vì vậy việc bảo đảm nguyên tắc tính đến đặc điểm của HS tểu học trước hết đòi hỏi phải có một chiến lược dạy họclạc quan, nhấn mạnh vào mặt thành công của HS và bảo đảm sự thành công của các em trong quá trình dạy học Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải

có sự phân biệt giữa Việt ngữ học và nội dung dạy học tếng Việt ở tểu học

kể cả cho HS giỏi Mặc dù có năng khiếu tếng Việt, HS tểu học vẫn là

những HS nhỏ mà trình độ nhận thức nói chung, trình độ tếng Việt và văn chương nói riêng còn thấp Do đó, khi bồi dưỡng học sinh giỏi vẫn phải chútrọng đến việc chuyển hóa những nội dung của Việt

ngữ học thành nội dung dạy học phù hợp với lứa tuổi các em Ngay cả những sự thú vị của đối tượng tếng Việt được tập trung khai thác nhiều

Trang 9

trong quá trình bồi dưỡng HS giỏi cũng phải có sự "chuyển hóa" thích hợp, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh tểu học Nguyên tắc tính đến đặc điểm của HS tểu học trong bồi dưỡng tếng Việt còn thể hiện ở việc đòi hỏi dạy học phải mang tính phân hóa,cá thể hóa cao Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi có thể được xây dựng theo sự phân hóa ngoài - có tài liệu riêng dành chổịhc sinh giỏi Tài liệu cũng có thể thực hiện sự phân hóa trong: trong một tài liệu có bài tập dành riêng cho HS khá giỏi và có bài tập cho HS đại trà 2.5 Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn Nằm trong chương trình dạy học tự chọn mà nguyên tắc cơ bản là tự nguyện nên việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt đặc biệt đề cao nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn Nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi phải mang tính thú vị, hấp dẫn Hay nói cách khác nó phải tạo hứng thú học tập cho HS Có nhiều biện pháp để tạo hứng thú học tập Có những biện pháp tác động vào nội dung dạy học, có những biện pháp tác động vào phương pháp dạy học, có nhữngbiện pháp tác động vào phương tện dạy học, có những biện pháp tác độngvào quan hệ tương tác giữa thầy - trò, trò - trò Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải gây được hứng thú học tập cho học sinh bằng cách khai thác triệt để tính hấp dẫn của nội dung dạy học ,cũng chính là sự thú vị của tếng Việt, bằng cách sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, đa dạng, vui và thú vị, bằng cách thiết lập quan hệ tốt đẹp, tích cực giữa thầy - trò, trò - trò 3 NHIỆM VỤ CỦA VIỆC BỒI BƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Mục têu của việc bồi

dưỡng học sinh giỏi tếng Việt không phải để tạo ra các nhà văn, nhà ngôn ngữ học mặc dù trên thực tế trong số học sinh giỏi này, sẽ có những em trởthành những tài năng văn học và ngôn ngữ học Mục têu của công việc này cũng không phải để luyện đội tuyển tham gia các kì thi HS giỏi tếng Việt nhằm lấy giải Mục têu chính của việc bồi dưỡng HS giỏi tếng Việt là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, hứng thú với tếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng lực tư duy và khả năng ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Để đạt được mục têu

đó, việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt đặt ra những nhiệm vụ sau:1) Phát hiện những học sinh có hứng thú học tập và năng khiếu tếng Việt 2) Bồi dưỡng hứng thú tếng Việt cho học sinh 3) Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh 4) Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tếng Việt cho học sinh

Trang 10

H NG D N H C 1 CÁC NHIỆM VỤ CẦN THỰC HIỆN 1.1 Đọc tài liệu, thảo luận nhóm để nêu ý nghĩa của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt 1.2 Đọc tài liệu, thảo luận nhóm để xác lập các nguyên tắc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt 1.3 Thảo luận nhóm nhằm nêu nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt 2 CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ 2.1.Phân tích ý nghĩa, sự cần thiết của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tểu học 2.2 Thử nêu và phân tích các định hướng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tểu học 2.3 Nêu mục têu và nhiệm

vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tểu học 3 GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ LÀM BÀI TẬP, THỰC HÀNH Câu 1: xem mục 1 của chương Ý nghĩa, sự cần thiết của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt: 1) Thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con

người mà Đảng ta đã đề ra 2) Thực hiện tư tưởng chiến lược của giáo dục bảo đảm sự công bằng trong xã hội, bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng 3) Thực hiện tnh thần dạy học phân hóa trong dạy học tự chọn nhằm phát huy cá tính và sự sáng tạo của học sinh, thỏa mãn sự phát triển từng cá thể học sinh 4) Thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt học tốt, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên Câu 2: xem mục 2 của chương Nêu và phân tích các nguyên tắc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt ở tểu học Nêu tên các nguyên tắc và phân tích yêu cầu của mỗi nguyên tắc 1) Nguyên tắc bám sát mục têu, chương trình Tiếng Việt ở tểu học 2) Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh 3) Nguyên tắc bảo đảm tính tích hợp 4) Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh tểu học 5) Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn Câu 3: xem mục 3 của chương Nêu mục têu và nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt Mục têu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi tếng Việt là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, hứng thú với tếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng lực tư duy và khả năng ngôn ngữ, cảm thụ văn chương chohọc sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tếng Việt ở tểu học

1) Phát hiện những học sinh có hứng thú học tập và năng khiếu tếng Việt 2) Bồi dưỡng hứng thú tếng Việt cho học sinh 3) Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh 4) Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tếng Việt cho học sinh

Chương II BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ VỐN SỐNG CHO HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Trước khi đi vào bàn về việc bồi dưỡng hứng thú

Trang 11

học tập tếng Việt và bồi dưỡng vốn sống cho học sinh giỏi, chúng ta cần phải xác định các đối tượng học sinh được bồi dưỡng tức là chúng ta cần phải phát hiện học sinh giỏi tếng Việt Thực ra cách gọi “học sinh giỏi tếng Việt” là cách nói để gọi những học sinh có năng khiếu và hứng thú với tếngViệt 1 PHÁT HIỆN NHỮNG HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ NĂNG KHIẾU TIẾNG VIỆT Chương trình Tiếng Việt không có môn Văn nhưng vẫn hướng đến hình thành năng lực văn Mục đích này được thực hiện tích hợpqua dạy tếng mẹ đẻ (tếng Việt), vì vậy ở tểu học, nói giỏi môn Tiếng Việt cũng có nghĩa là có năng lực tếng Việt và văn học Để phát hiện những học sinh có hứng thú và năng khiếu môn tếng Việt, cần trả lời được câu hỏi thế nào là học sinh có năng khiếu tếng Việt Thuật ngữ "năng khiếu" được dùng ở đây không định chỉ một khả năng gì đặc biệt, mà nhằm chỉ đặc điểmcủa một số HS có thiên hướng và năng lực hơn các em khác về một lĩnh vựcnào đó Những học sinh có năng khiếu tếng Việt có những biểu hiện sau: - Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ, các emyêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện Có những em

có ước mơ trở thành nhà văn còn nói chung, biểu hiện có hứng thú và năngkhiếu tếng Việt ở phần lớn các em là thích thú quan sát, quan tâm đến mọingười và mọi vật ở xung quanh, không hờ hững trước vẻ đẹp của ngôn từ văn chương, thích đọc, ghi nhớ và ghi chép những câu văn, thơ hay - Các

em có những phẩm chất tư duy cần cho sự phát triển năng lực tếng Việt

và văn học Đây là những phẩm chất tư duy có tính thống nhất nhưng

không đồng nhất: tư duy phân loại, phân tích, trừu tượng hoá, khái quát hoá… rất cần có để học tốt tếng Việt và tư duy hình tượng, cụ thể rất cần

để học giỏi văn Năng lực tư duy tếng Việt và văn học thể hiện ở năng lực quan sát, nhận xét ngôn ngữ của mọi người và ngôn ngữ của chính mình Khả năng này xuất hiện từ rất sớm, có những em bé ngay từ những ngày đầu tên đến trường đã có những nhận xét về ngôn ngữ “Người ta nói mặc

áo mà không nói mặc tất, mẹ nhỉ?”; “Nói ăn cơm vã là sai phải không mẹ?”,

“Cô con hay nói “coi như là”, “Bạn Hùng không nói cháu ăn no rồi mà nói cháu ăn lo rồi mẹ ạ”, “Mẹ đừng nói giọng như thế (lên giọng gắt, mắng), con không thích đâu” Ở lớp Một, một số em đã phát hiện ra âm a ngắn, ơ ngắn khi nhận xét: “Đáng lẽ sách phải viết ău, ăi, ớ (ơ có dấu á ở trên) -nờ thì mới đúng là ân” Nhiều em đã biết sử dụng hàm ngôn… Bên cạnh khả năng quan sát ngôn ngữ, những HS có năng khiếu về môn Tiếng Việt còn

Ngày đăng: 24/09/2016, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w