Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về XHHGD được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
NGUYỄN VĂN HIỂN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HOÀ BÌNH NHẰM
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2009
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
NGUYỄN VĂN HIỂN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HOÀ BÌNH NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN- 2009
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN BÁ DƯƠNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2009
Có thể tìm đọc luận văn tại:
- Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên
- Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
- Thư viện tỉnh Hoà Bình
UNIVERSITY OF THAI NGUYEN
COLLEGE OF TEACHER TRAINING
-
NGUYEN VAN HIEN
MANAGING EDUCATION SOCIALICATION IN LOWER SECONDARY SCHOOLS IN HOA BINH TO SOLVE THE PROBLEM OF STUDENTS DROPPING OUT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự thành kính và tình cảm chân thành của người học trò, tác
giả xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; trường Đại học Sư phạm Hà
Nội Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm chỉ dạy, sự giúp đỡ
tận tình, thân thiện của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương, người thầy
đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này
Tác giả xin được trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND
tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo, chuyên viên
phòng Giáo dục Trung học Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT các huyện, thành
phố; cán bộ, giáo viên các trường Trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình cùng gia
đình, bạn bè, người thân, đã tạo điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và
giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, mặc dù bản thân đã có nhiều cố
gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung trình bày luận
văn Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhà
nghiên cứu khoa học, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hoà Bình, ngày 20 tháng 9 năm 2009
Những xu thế này là cơ hội lớn cần nắm bắt để con đường công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CMH, HĐH) nước ta, bên cạnh những bước tuần tự phải có những bước nhảy vọt bằng cách vận dụng sáng tạo nhiều ý tưởng, tri thức và công nghệ hiện đại, nâng cao nội lực, đi thẳng vào một số ngành công nghệ cao, một số ngành kinh tế tri thức, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn hơn,
nhanh hơn Những xu thế này đồng thời là những thách thức lớn cần vượt
qua Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn mạnh, nước ta vẫn còn là một nước kinh tế kém phát triển, mức sống nhân dân còn thấp, trong khi đó cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên, sẽ càng tụt hậu xa về kinh tế Cơ hội và thách thức đan xen nhau không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về văn hoá, xã hội Thực chất đó là cơ hội và thách thức về yếu tố con người, về nguồn nhân lực, đặc biệt là năng lực trí tuệ sáng tạo và ý chí vươn lên bền vững của con người, của cộng đồng và của toàn xã hội
Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về XHHGD được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị trung ương II (khoá VIII), Đại
hội lần IX, lần X là: Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc;xây dựng
nền giáo dục hiện đại của dân, do dân và vì dân; giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững
Trang 4Nội dung cơ bản của XHHGD bao gồm hai khía cạnh song hành quan
hệ mật thiết và tác động lẫn nhau một cách biện chứng, đó là:
Thứ nhất, mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của
mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng
Thứ hai, mọi người dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để
có cơ hội học tập và tham gia phát triển GD, học để lập thân, lập nghiệp, nâng
cao chất lượng cuộc sống
Xã hội hoá giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng
để thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát
huy lợi thế cạnh tranh về nguồn lực con người trong quá trình toàn cầu hoá và
phát triển nền kinh tế tri thức
Nghiên cứu XHHGD và việc tăng cường quản lý XHHGD đối với
ngành giáo dục tỉnh Hoà Bình nói chung và đối với cấp Trung học cơ sở tỉnh
Hoà Bình nói riêng, không chỉ tìm kiếm những lời giải phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội khách quan, đáp ứng nhu cầu nhận thức, mà còn có ý nghĩa
thực tiễn quan trọng: Cung cấp cơ sở cho dự đoán và định hướng sự phát triển
XHHGD và tăng cường quản lý XHHGD trong giai đoạn hiện nay Trong
những năm qua, dưới sự Lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND
tỉnh Hoà Bình, công tác XHHGD đã được tiến hành dưới nhiều hình thức
phong phú, cùng với cuộc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực,
huy động các nguồn đầu tư cho GD Đặc biệt là cấp học THCS, thực hiện đa
dạng hoá các loại hình trường lớp, gắn kết giáo dục nhà trường với cộng đồng
xã hội Do vậy, sự nghiệp giáo dục của tỉnh Hoà Bình đã thu được những
thành tựu đáng tự hào về sự phát triển quy mô, số lượng và chất lượng giáo
dục và Đào tạo (GD&ĐT)
Tuy nhiên, trong những thành tích đã đạt được, việc thực hiện XHHGD
bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nói chung vẫn còn gặp không ít khó khăn,
trở ngại như: Một số phường, xã, cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, phụ huynh học sinh vẫn chưa nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục trung học cơ sở Mặt trái của nền kinh tế thị đã làm ảnh hưởng đến sự quan tâm của gia đình, của các LLXH đến trẻ em lứa tuổi học sinh THCS Việc xiết chặt kỷ cương, chống bệnh thành tích, đồng thời sự phân luồng lao động xã hội đã làm cho một số gia đình, các em học sinh có tư tưởng chán nản, không chú trọng việc học tập, hoặc bỏ học để tham gia vào kiếm sống ngay ở lứa tuổi học sinh; hơn nữa không ít quan niệm khác nhau cho rằng nội dung chính của công tác xã hội hoá giáo dục chỉ là huy động kinh phí trong nhân dân, hoặc có nơi cho rằng XHHGD là để dân lo là chính dẫn đến việc đầu tư nguồn lực cho phát triển giáo dục chưa được quan tâm đúng mức Mặt khác, việc quản lý nhà nước về công tác XHHGD còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả
Chính từ thực trạng trên, tác giả chọn đề tài: ''Quản lý công tác xã hội hóa giáo
dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học'' Với đề tài này, mong muốn được góp phần đẩy mạnh sự phát triển toàn
diện giáo dục trung học cơ sở tại tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn tiếp theo
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các biện pháp quản lý công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học cơ sở ở tỉnh Hoà Bình, từ đó đề xuất những biện pháp tăng cường quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý giáo dục,
xã hội hoá giáo dục nói chung và xã hội hoá giáo dục bậc trung học cơ
sở nói riêng
- Phân tích thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở từ năm 2004-2008
Trang 5- Phân tích xu hướng, nguyên nhân tình trạng học sinh bỏ học hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp quản lý tăng cường công tác xã hội hoá giáo
dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình từ nay đến năm 2015, nhằm khắc phục
tình trạng học sinh bỏ học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Các cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và một
số khách thể khác tham gia công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở tỉnh
Hoà Bình
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý tăng cường công tác xã
hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình
trạng học sinh bỏ học
5 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác XHHGD tỉnh Hoà Bình nói chung và đối với
giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nói riêng, trong thời gian qua tuy đã
đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Nếu
đề xuất được những giải pháp quản lý phù hợp, khả thi hơn sẽ đẩy mạnh và
phát huy tốt hơn việc quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở ở tỉnh, góp
phần nâng cao chất lượng GD&ĐT bậc THCS tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn
tới, đồng thời khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề xã hội hoá giáo dục ở bậc trung
học cơ sở trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ
sở trên các mặt cơ bản sau:
- Sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương đối với công tác
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài, làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các giải pháp nhằm tăng cường công tác XHHGD trung học cơ sở trong tỉnh
- Vận dụng các phương pháp xã hội học như: Điều tra, khảo sát, thâm nhập thực tiễn, trao đổi với các khách thể nghiên cứu, tham khảo các văn bản tổng kết của các điển hình tiên tiến trong GD&ĐT; xem xét, đánh giá các báo cáo sơ kết, tổng kết về tình hình quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở trong tỉnh; từ đó phân tích, tổng hợp, rút ra đánh giá và những bài học kinh nghiệm tạo tiền đề cho việc đề xuất các biện pháp quản lý tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong giai đoạn tới
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục trung
học cơ sở và tình trạng học sinh bỏ học từ năm 2004 đến năm 2008 ở tỉnh Hoà Bình
Chương 3: Định hướng và các biện pháp quản lý tăng cường công tác
xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình từ nay đến năm 2015 nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu
GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh
dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử Sự tồn tại và
phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, và
ngược lại với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc
tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm
năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh
tế xã hội Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa GD và cộng đồng
xã hội thường xuyên được diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội
loài người
Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay GD luôn được coi là quốc sách
hàng đầu của nhiều quốc gia Việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực
và mọi điều kiện cho phát triển GD là sách lược lâu dài của nhiều quốc gia
trên thế giới Mặc dù bản chất của GD ở các nước có khác nhau nhưng đều
cho thấy XHH sự nghiệp GD là cách làm phổ biến, kế cả ở những nước có
nền công nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao
XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc lâu đời
và là bước phát triển của một chủ trương phát triển GD được thực hiện từ
nhiều năm qua Với tư tưởng ''lấy dân làm gốc'', ''Sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng'' đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm
tàng cho sự phát triển nền GD nước nhà
Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ
mở rất ít trường học, chủ yếu trường học được mở ra cho con em quý tộc
phong kiến và con nhà giàu Con em lao động không được chính quyền quan
tâm, người dân muốn được học phải tự lo dưới hình thức học ở trường tư do
các thầy đồ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù chữ Cách mạng tháng tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực hiện các quan điểm ''giáo dục là sự nghiệp của quần chúng'' Ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra ''Lời kêu gọi chống nạn thất học'' Trong lời kêu gọi, Người đã nêu rõ phương châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ ''Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm chưa biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học tư gia dạy cho những người chưa biết chữ'' {25} Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ Chủ Tịch, cả nước đã trở thành một xã hội học tập Tiêu biểu, sôi động nhất
đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ hậu phương cho đến nơi tiền tuyến người người đi học, nhà nhà đi học; trường lớp chỉ là những nhà, lán đơn sơ Tư tưởng giáo dục ''ai cũng được học hành'' của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt được những thành quả nhất định Song do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD Thay vì thực hiện sự ''quản lý GD của nhà nước'', chúng ta đã ''nhà nước hoá GD'' làm cho GD rơi vào thế bị động, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động GD Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục xuống cấp, lạc hậu, sự phát triển của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chưa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại
Sự định hướng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển giáo
Trang 7dục Đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng phải đổi mới cách nhìn nhận
về vị trí, vai trò của mình trong công cuộc đổi mới đất nước Bên cạnh đó,
việc đa dạng hoá phát triển GD lại một lần nữa ngày càng phát huy ưu thế của
nó Việc ''huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân
cùng góp sức xây dựng nền GD quốc phòng toàn dân dưới sự quản lý của nhà
nước'' đã trở lên vô cùng bức thiết Đảng ta đã khẳng định ''xã hội hoá'' là một
trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội Nghị
quyết lần 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII (tháng 12-1996) chỉ
rõ: ''Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân''
[4] Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng ta khẳng định: ''Đẩy mạnh xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp
của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục'' [5] Đặc
biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã chỉ rõ:
''Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã
hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo
dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề
nghiệp để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong
xã hội'' [6]
Để thực hiện chủ trương XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
90/CP ngày 21/8/1997 về Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách
XHH, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong
các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban
hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao [20] Bộ GD&ĐT ban hành một số văn
bản hướng dẫn thực hiện công tác XHHGD; xây dựng đề án ''Quy hoạch
phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010'' [14] vv
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về công tác GD; các cơ quan Liên Bộ, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về vấn đề XHHGD Nguyên Bộ trưởng Phạm Minh Hạc đã khẳng định: ''Xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta''[35;16]; tác
giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo tinh thần xã
hội hoá và đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó
là tư tưởng chiến lược của Đảng Tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ
là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý cách mạng của Việt Nam
Vấn đề XHHGD cũng đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD như nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn thanh Bình trong cuốn "Xã hội hoá giáo dục nhận thức và hành động" Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác XHHGD Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập
và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD như: Luận văn của tác giả Phạm Thuý Hiền với đề tài: ''vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự nghiệp phát triển giáo dục''; Luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về ''Biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Ninh'' Sở GD&ĐT Hoà Bình cũng đã tiến hành nghiên cứu
đề tài '' Phát triển các trung tâm học tập Cộng đồng''
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động này ngày càng phát triển trong xã hội Trong quá trình lao động đấu
Trang 8tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con người cần phải hợp sức
nhau lại để tự vệ và lao động kiếm sống Những hoạt động tổ chức, phối hợp,
điều khiển hoạt động của mọi người nhằm thực hiện những mục tiêu chung
là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý
Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của loài người Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, nó có tính
khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính
đặc thù của xã hội Khi đề cập đến cơ sở khoa học của quản lý, Các Mác viết:
''Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất
định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm
một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng'' [28]
Như vậy, có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau
và quản lý là lao động điều khiển lao động chung Khi lao động xã hội đạt đến
một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến
việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt Từ đó trong xã hội hình thành
một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lý,
hình thành nghề quản lý
Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung,
thuật ngữ '' quản lý'', có thể nêu một số định nghĩa như sau:
Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin về quản lý ''Quản lý xã hội một
cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ
hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và
vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo
cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra'' [28]
''Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất'' (Wiliam - Taylor)
Theo giáo trình quản lý của học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thì ''Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra
sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống hướng vào mục tiêu nhất định'' Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà phối hợp các khâu, các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính Quốc gia)
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là
sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Các tác giả còn phân định rõ hơn
về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Các nhà lý luận quản lý trên thế giới như: Frederich Wiliam Taylor (1986-1915), Mỹ; Hemi Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weler (1864-1920),
Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc
đẩy sự phát triển xã hội
Có thể xét theo quan điểm: Quản lý = quản + lý, trong đó quản là coi sóc, cai quản, chăm lo, còn lý là xử lý, biện lý Quản mà không có lý thì sẽ dẫn đến sự trì trệ, lý mà không có quản thì sẽ dẫn đến sự rối ren Như vậy, trong quản có lý, trong lý có quản nhằm tạo cho sự việc, hệ thống tổ chức nào
đó luôn ở trong tình trạng: ổn định, thích ứng, tăng trưởng, phát triển
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên ta có thể hiểu quản lý bao gồm các yếu tố như:
Trang 9+ Phải có chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động ''quản lý'' (chủ
thể chỉ có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức do con người lập nên )
+ ''Quản lý ai?'', ''Quản lý cái gì ?'' quản lý sự việc đó là khách thể quản
lý (hay còn gọi là đối tượng quản lý); đối tượng quản lý là con người, sự vật
hoặc sự việc có thể là một cá thể hoặc một hệ thống, hoặc giới vô sinh hoặc
giới sinh vật
Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mỗi quan hệ, tác động qua lại
tương hỗ cho nhau Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý Khách thể
quản lý thì sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần, trực tiếp đáp ứng thoả
mãn nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích quản lý
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là việc hiện thực hoá các mục tiêu
của tổ chức theo cách có hiệu quả và hiệu suất cao, thông qua việc lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các yêu cầu thực hiện của tổ chức
Sự tác động của quản lý không chỉ bằng thẩm quyền mà còn phải
bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng
lực, trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho nhà nước và cho xã hội
Quản lý là môn khoa học sử dụng nhiều tri thức của nhiều môn khoa học tự
nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như toán học, thống kê, kinh tế, tâm
lý, xã hội học
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người; bản chất của
giáo dục là truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người từ
thế hệ này qua thế hệ khác Vai trò của giáo dục ngày càng tăng lên cùng với
sự phát triển của xã hội loài người
Vì thế ngay từ thời cổ đại các nhà triết học, giáo dục học, sử gia đã sớm
nhận thức được tầm quan trọng của nó
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platon (429-347 TCN), ông đã nêu: ''Muốn kiến thiết một quốc gia phải lấy giáo dục làm nền tảng và phải theo đuổi công trình ấy suốt cả đời'' Khổng Tử (551-479 TCN), nhà giáo lớn thời cổ đại của Trung Quốc, ông coi giáo dục là nằm trong hệ thống ''Thứ - Phú - Giáo'', đòi hỏi những nhà chính trị, những người cầm quyền không được sao nhãng Sử gia nổi tiếng của nước Pháp là Jules Machalet (1789-1874) khẳng định:
Trong sách ''Giáo dục học'' của A.Ilinna, nhà giáo dục học Xô Viết cho
rằng: Giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho
các thế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và bước vào lao động sản xuất
Ở Việt Nam, Giáo sư Hà Thế Ngữ cũng đưa ra khái niệm về giáo dục
tương tự Ông viết: Giáo dục là quá trình đào tạo con người có mục đích,
nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người
Giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch,
có hệ thống, nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần của con người, đáp ứng được những nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Giáo dục còn là quá trình hình thành cho con người những tri thức khoa học về thế
Trang 10giới quan, lý tưởng, đạo đức, thái độ, thẩm mỹ Trên cơ sở đó hình thành nhân
sinh quan, phát triển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ thể Bên cạnh đó,
GD có sứ mệnh cao cả rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân ở từng đối
tượng cụ thể, làm cho mỗi con người trở thành những chủ thể có kỹ năng và
bản lĩnh khi đối diện với những vấn đề đặt ra của thế giới và của bản thân Họ
sẽ hiện diện trong môi trường sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà cả sự
lựa chọn về đạo đức và hệ thống giá trị Như vậy, theo nghĩa chung nhất
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào lao động và
sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển của con người trong xã hội
Trong thời đại ngày nay các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam,
đều ghi nhận và thừa nhận vị trí, vai trò to lớn của GD đối với sự phát triển
của xã hội loài người, đối với việc hình thành phát triển nhân cách và phẩm
giá con người Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định: Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế-xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
phát triển bền vững Do đó QLGD đã trở thành chương trình nghị sự, trở
thành mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta
Quản lý GD là một bộ phận của quản lý xã hội, cùng với sự đi lên của
tổ chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa
quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội Khoa học QLGD đã
hình thành phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao
chất lượng GD
Để phát huy sức mạnh tổng hợp và chức năng đặc biệt của hoạt động
giáo dục, các nhà khoa học đã và đang quan tâm đặc biệt đến vấn đề quản lý
giáo dục, xem quản lý giáo dục là vấn đề quan trọng, tăng cường công tác
quản lý ngành giáo dục- đào tạo, thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục đáp ứng yêu cầu xã hội
Theo M.I.Kônzacôvi: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em
Trong cuốn sách Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn do
Phó Giáo sư-Tiến sĩ Đặng Bá Lãm chủ biên: Quản lý nhà nước về giáo dục là
quản lý theo ngành do một cơ quan trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ GD&ĐT thực hiện Đó là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước, phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội nước nhà và của thời đại cũng như tổ chức thực hiện thành công các vấn đề đó, nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí của dân và tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có trình độ cao, bảo đảm thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
QLGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động
GD nhằm thúc đẩy GD phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định QLGD được thể hiện thông qua quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán
bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng GD&ĐT Do đó có thể nhận
thấy: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục
vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế
Do đó có thể thống nhất quan niệm: Quản lý Giáo dục là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Trang 11Nếu hiểu giáo dục là hoạt động giáo dục diễn ra trong xã hội nói chung
thì quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Hiểu giáo
dục là hoạt động chuyên biệt trong các cơ sở giáo dục thì quản lý giáo dục là
quản lý các hoạt động trong một đơn vị cơ sở giáo dục như trường học, trung
tâm giáo dục thường xuyên
Quản lý giáo dục là: Hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
nguyên lý và đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng
thái mới về chất
Quản lý giáo dục thực chất là quản lý Nhà nước trong giáo dục, đó là
sự sử dụng công quyền trong việc quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực giáo
dục Luật Giáo dục tại điều 14 đã quy định: ''Nhà nước thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo
dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập
trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý
giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
[38; 4]
Quản lý giáo dục bao gồm:
Chủ thể quản lý: Bộ máy giáo dục các cấp
Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
Quan hệ quản lý là những mối quan hệ giữa người dạy - người học;
quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ giữa người dạy
với người dạy; quan hệ giữa giáo giới với cộng đồng v.v Các mối quan hệ đó
có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường,
của toàn bộ hệ thống giáo dục
Xét về mặt khoa học thì quản lý giáo dục là sự điều khiển toàn bộ những hoạt động của cộng đồng, điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho sự phát triển của xã hội
Xét về mặt bản chất, quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, thể hiện ở các mặt:
+ Quản lý giáo dục là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhưng
có ảnh hưởng đến toàn xã hội, mọi quyết định, thay đổi của giáo dục đều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội
+ Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được đông đảo thành viên tham gia
+ Bản thân quản lý giáo dục là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải huy động vào hoạt động này nhân lực, nguồn lực lớn
+ Giáo dục truyền đạt, lĩnh hội những giá trị kinh nghiệm lịch sử xã hội tích luỹ qua các thế hệ nên xã hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển Giáo dục và Đào tạo
Muốn quản lý giáo dục một cách có khoa học thì chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng quản lý, đồng thời thực hiện tốt các chức năng quản lý
Bản chất của giáo dục mang tính xã hội hoá cao nên quản lý giáo dục (QLGD) mang tính xã hội, đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của xã hội Thực tế đã chứng minh không có ngành nào mà có mối quan hệ tác động hai chiều, nhạy cảm và sâu sắc như GD Do đó QLGD có vị trí vai trò cao nhất trong việc tạo điều kiện XHH cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách, giúp con người đảm nhận và gánh vác những yêu cầu phát triển xã hội
Trang 12Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, một mặt tạo ra những nguồn lực mới cho sự phát triển kinh tế; mặt
khác cũng tạo ra điều kiện và nhu cầu mới về đa dạng hoá các hình thức
GD&ĐT của cộng đồng dân cư, các tầng lớp người dân và các thành phần
kinh tế trong xã hội Do vậy các nhà QLGD phải có chủ trương hết sức đúng
đắn và thực thi có hiệu quả cơ chế quản lý mới đối với sự nghiệp giáo dục và
đào tạo; một khi đã xác định, coi GD là ''quốc sách hàng đầu'' , ''đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững'' Trong chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay thì những ưu điểm, những thành tựu,
cũng như những nhược điểm, tiêu cực trong GD&ĐT hiện nay, chủ yếu phụ
thuộc vào việc thực hiện cơ chế QLGD của hệ thống chính quyền Nhà nước
từ cấp trung ương đến cơ sở và năng lực của đội ngũ cán bộ QLGD ở các cấp
học, ngành học, bậc học Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế
QLGD ở nước ta bước vào thế kỷ XXI, có thể được hiểu là phải đẩy nhanh
quá trình xây dựng, hoàn thiện và củng cố bộ máy quản lý nhà nước về
GD&ĐT từ trung ương đến tỉnh, thành phố, quận, huyện Thực hiện phân cấp
QLGD một cách hợp lý Đảm bảo Nhà nước thống nhất quản lý về hệ thống
GD quốc dân, đồng thời nâng cao tính chủ động, tự chủ của các cơ sở
GD&ĐT Để nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ QLGD, Đảng
và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất, phát
triển cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ QLGD
các cấp, các ngành học Hiện nay, chúng ta đã có Học viện quản lý giáo dục,
trường Cán bộ quản lý giáo dục, nhiều trường đại học, cao đẳng và một số
loại hình cơ sở GD khác trên cả nước đã có các khoa, các lớp đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ QLGD Chương trình đào tạo - bồi dưỡng được cụ thể hoá, hiện
đại hoá đối với từng đối tượng cán bộ quản lý các trường: MN, TH, THCS,
THPT, Trung tâm GDTX, ĐH, CĐ, Thanh tra viên giáo dục
1.3.Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
1.3.1 Xã hội hóa giáo dục
* Xã hội:
- Theo nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một loại hệ thống xã hội cụ thể trong lịch sử, một hình thức nhất định của những quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào một trình độ phát triển lịch sử nhất định, là một kiểu loại xã hội nhất định đã hình thành trong lịch sử (Ví dụ: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, vv ) Trong trường hợp này, xã hội trùng hợp với hình thái kinh tế xã hội
- Theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con
người, đã hình thành trong lịch sử Theo T Makiguchi: Xã hội không chỉ là
một quần thể gồm những con người mà còn là sự hoà hợp tinh thần và tâm linh nữa Khái niệm xã hội ít nhất cũng bao gồm:
+ Xã hội gồm nhiều cá nhân khác nhau, tương tự như một cơ thể sống bao gồm nhiều tế bào riêng biệt;
+ Một mục đích chung, dù có được các thành viên ý thức hay không,
mà mọi người đều biết tới;
+ Các thành viên chia sẻ mối liên đới hay tương tác trong một thời gian nào đó, tương tự như các mối quan hệ trong tế bào làm thành một cơ thể sống;
+ Tất cả các cá nhân trong tập thể chia sẻ kinh nghiệm với nhau trong một không gian nhất định;
+ Tất cả các cá nhân liên kết với nhau thành một tổ chức, như những thành phần của một cơ thể sống trọn vẹn;
+ Mỗi thành viên đảm nhận những bổn phận cần thiết cho hoạt động liên tục của cộng đồng, tương tự như hoạt động của cơ quan trong một cơ thể sống1
1
Dẫn theo '' Xã hội học đại cương '' Viện đại học mở Hà Nội (1995;trang 97-98)
Trang 13* Xã hội hoá giáo dục
Trước khi đi vào phân tích khái niệm ''Xã hội hoá giáo dục'', chúng ta
cần làm rõ thuật ngữ xã hội hoá (XHH) XHH - là thuật ngữ đã được các nhà
kinh tế học, xã hội học, giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những
năm đầu của thể kỷ XX sử dụng, nhằm biểu đạt một số vấn đề thuộc các lĩnh
vực nghiên cứu của mình
Xã hội hoá là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học, được hiểu
theo hai nghĩa:
- Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động
mà trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định thực hiện (ví
dụ: Xã hội hoá giáo dục, xã hội hoá y tế )
Ở nghĩa này Côlin Fasen đã chỉ rõ: Xã hội hoá là một quá trình động
viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực
xã hội nào đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của
Nhà nước và của nhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội
- Xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ con người sinh vật
sang con người xã hội Ví dụ quan niệm của G.En Daweit cho rằng: Xã hội
hoá được hiểu chung như là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi người
với tư cách là một thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong
xã hội và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội
Khái niệm XHHGD được hiểu từ ý nghĩa thứ nhất của xã hội hoá Đề
cập đến ý nghĩa này, tháng 10 năm 1998, Hội thảo quốc gia xây dựng chiến
lược vận động xã hội cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường do
Bộ Y tế - Unicef tổ chức, cho rằng: Xã hội hoá là một quá trình tập hợp tất cả
các liên minh xã hội nhằm nâng cao nhận thức và nhu cầu của người dân về
một chương trình phát triển trong một lĩnh vực nhất định để hỗ trợ cho việc
cung ứng các nguồn lực và dịch vụ và để tăng cường sự tham gia của cộng
đồng một cách tự lực và bền vững
GD được coi như là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, nó vừa nằm trong lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội, kiến trúc thượng tầng, vừa nằm trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở Sự tồn tại và phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế-xã hội và ngược lại, với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội
XHHGD thực chất là xã hội hoá các hoạt động GD, XHH sự nghiệp giáo dục XHH sự nghiệp giáo dục là quá trình hướng mọi hoạt động giáo dục tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời xã hội tiếp nhận
GD như là công việc của chính mình và của mọi cá nhân, các tổ chức đoàn thể, các cấp chính quyền đều có trách nhiệm tham gia Có thể nói một cách
khái quát: Xã hội hoá giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội
cùng tham gia vào giáo dục Trong đó mọi tổ chức ,gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn
XHHGD, thuật ngữ này cho dù ở cấp độ nào đó đồng nghĩa với thuật ngữ ''xã hội học tập'' hai thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo của UNESCO có tựa đề ''Học để tồn tại; thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai'' Nội dung của nó bao gồm hai khía cạnh song hành, quan hệ mật thiết với nhau Thứ nhất: Mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cộng đồng Thứ hai: Mọi người dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để có thể có cơ hội học tập và tham gia phát triển giáo dục cộng đồng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân
Trang 14XHHGD không phải là một giải pháp tình thế nhất thời chỉ được tổ
chức thực hiện trong một thời gian nhất định mà là một tư tưởng cách mạng
chiến lược lâu dài Điều 12, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: Phát triển giáo dục,
xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân; thực
hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến
khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục
Bản chất xã hội của XHHGD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền
GD xã chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Giảm bớt được gánh nặng và sự
''khoán trắng'' về đầu tư ngân sách cho GD Bên cạnh đó XHHGD chính là
''giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp GD'', đó là
đưa GD gắn với xã hội, với cộng đồng; GD phục vụ mục tiêu xã hội, phục vụ
cộng đồng Cơ sở tư duy của XHHGD là đặt GD vào đúng vị trí của nó GD
là bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội GD cùng với khoa học
công nghệ là động lực phát triển kinh tế xã hội
Nội dung hoạt động XHHGD được Đảng, Nhà nước đề cập hết sức
phong phú, như từ việc huy động các LLXH đầu tư các nguồn lực bao gồm
vật lực, tài lực ; tham gia vào quá trình đa dạng hoá các loại hình trường,
lớp, các loại hình học tập; tạo lập và đẩy mạnh phong trào học tập rộng khắp
trong xã hội, mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, nghề
nghiệp, chỗ đứng trong xã hội đều được học, học thường xuyên, học suốt đời;
huy động các LLXH tham gia xây dựng môi trường GD lành mạnh và QLGD
có hiệu quả Quá trình này thể hiện tính chất dân chủ và bình đẳng của nền
GD nước ta Sự gắn kết giữa 3 môi trường trong GD: Nhà trường - gia đình -
xã hội, làm cho mọi người, mọi tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế,
các doanh nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện
đầy đủ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển GD và QLGD Xây
dựng môi trường GD lành mạnh, đổi mới cơ chế QLGD sẽ là những biện pháp hữu hiệu để chống lại 4 tiêu cực trong ngành GD hiện nay, bao gồm: Tiêu cực trong thi cử; bệnh thành tích trong giáo dục; học sinh ngồi ''nhầm lớp'' và vi phạm đạo đức nhà giáo
Chủ trương XHHGD của Đảng và Nhà nước đã và đang thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của các Vụ, Viện, các Ban ngành của Bộ GD&ĐT và các ban ngành có liên quan Nhiều chuyên gia có tâm huyết đã có những bài viết, công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề XHHGD; Nguyên Bộ trưởng Phạm Minh Hạc trong cuốn Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
đã khẳng định: Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà là của
toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt trong bài ''Xã hội hoá giáo dục'', sau khi nêu rõ: XHHGD là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, bảo đảm sự thành công của cải cách giáo dục, tác giả đã khẳng định:
XHHGD có nghĩa là Nhà nước tạo ra không gian xã hội, pháp luật và chính trị cho việc hình thành một khu vực GD mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp cho sự nghiệp GD, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng GD, tức là GD phải thuộc về xã hội Tác giả còn đề cập và nhấn mạnh: XHHGD không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho GD&ĐT, mà quan trọng nhất là
đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá, hiện đại hoá chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã hội
Như vậy, XHHGD là một tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước, bản thân tư tưởng đó qua mỗi giai đoạn được phát triển, mở rộng phong phú
cả về hình thức và nội dung XHHGD là một nhân tố mới đã và đang phát huy sức mạnh đối với sự nghiệp phát triển GD, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Chính XHH công tác GD lại tạo ra
Trang 15những điều kiện, những tác nhân làm xuất hiện những nhân tố mới trong quá
trình đi lên của phong trào GD Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn
thực hiện XHHGD, trên cơ sở đó nâng cao sự đổi mới tư duy GD, giải quyết
kịp thời những vấn đề đặt ra của sự nghiệp phát triển GD&ĐT
Trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng ở Việt Nam mà nhiều nước
trên thế giới, kể cả những nước đang phát triển cũng như các nước có nền kinh
tế phát triển đều nhấn mạnh chính sách phát triển dựa vào GD&ĐT, dựa vào
khoa học và công nghệ Có thể nói, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội và truyền thống văn hoá giáo dục mà mỗi nước có những đặc điểm về
cơ cấu hệ thống, loại hình đào tạo, phân chia thời gian các bậc học, yêu cầu
chất lượng của người học ở các cấp học khác nhau Nhưng nhìn chung, hệ
thống GD các nước đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hoá và xu hướng
hội nhập GD&ĐT và kinh tế xã hội giữa các nước, khu vực và toàn thế giới
Ở Indonexia: Ngoài hệ thống GD nhà trường, họ còn coi trọng các loại
hình GD ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh nghiệp; các trường
Đại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng và
mọi tầng lớp xã hội
Thái Lan: Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính
sách đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ
chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng
nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình CNH đất nước
Đối với Trung quốc: Chính phủ Trung Quốc đặt ra chiến lược: Làm cho
đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và GD Với phương châm GD phải
thực hiện ba điều hướng tới đó là: Giáo dục phải hướng tới hiện đại hoá,
hướng tới thế giới, hướng tới tương lai Chính sách phát triển GD của Trung
Quốc hiện nay có thể khái quát: Đầu tư chi phí cao cho GD phải được coi là
chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD phải được xem như đầu tư phát
triển cho sản xuất Phát triển GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu
nhân lực đủ chuẩn, phát triển GD theo hoàn cảnh địa phương Đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc QLGD và đầu tư cho GD
Nhật Bản: Đã đạt được những thành tựu ''khổng lồ'' về mặt kinh tế - khoa học công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lực của toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT Từ năm 1971, Nhật Bản đã thành lập Bộ Giáo dục và thành lập hệ thống GD mới, hệ thống GD đã đề ra chính sách: Đối với các trường Tiểu học bắt buộc thì sự ''bình đẳng'' là nguyên tắc tối cao Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng
là cao nhất Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội
về GD, mà còn tạo ra sự phát triển tiềm năng của con người
Điểm qua tình hình GD một số nước trong khu vực để thấy rằng, các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới đã có sự nhận thức tương đồng
về giáo dục, coi giáo dục là con đường để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ
1.3.2.Những vấn đề chung về trường THCS ở Việt nam
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường THCS được thu nhận trẻ từ
11 đến 15 tuổi và có từ lớp 6 đến lớp 9 THCS là cấp học nối liền bậc Tiểu học và bậc trung học phổ thông Học sinh ở lứa tuổi THCS với đặc điểm tâm
lý cơ bản là đang vươn lên làm người lớn Đây là đặc điểm khiến cho những người làm công tác giáo dục ở bậc THCS phải có những phẩm chất năng lực riêng biệt Trường THCS gắn liền với địa bàn dân cư xã (thị trấn) và được sự giúp đỡ tạo điều kiện của chính quyền địa phương
Sơ đồ : Vị trí trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 16Quản lý trường THCS phải nhằm đạt mục tiêu của giáo dục THCS
quy định trong Luật giáo dục (2005) là: Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh
củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ
thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng
nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động
Nội dung giáo dục THCS là: Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển
những nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh những hiểu biết phổ
thông cơ bản về tiếng việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học
xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết tối
thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
Nhiệm vụ của giáo dục THCS là:
+ Thực hiện các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình, kế
hoạch giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành
+ Tổ chức giáo dục lao động hướng nghiệp và chuẩn bị nghề cho học sinh
+ Tổ chức cho giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động văn hoá,
văn nghệ, thể dục thể thao, phổ biến khoa học, bảo vệ môi trường, tuyên
truyền pháp luật, vận động nhân dân xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Thực hiện dạy chữ, dạy người,
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Phương pháp giáo dục ở trường THCS: Phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm;
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
1.3.3 Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Xã hội hoá là nền tảng quan trọng của loài người, không như các sinh
vật khác, con người cần có hiểu biết xã hội để sống Ngoài sự tồn tại mang
tính chất sinh học đơn thuần, kinh nghiệm xã hội tạo ra nhân cách mỗi con người Hiểu theo nghĩa đơn giản, nhân cách chính là hệ thống tư duy, cảm xúc
và hành vi có tổ chức, trong đó con người suy nghĩ, nhận thức về thế giới, về bản thân mình, cũng như phản ứng, hành động trong tương tác xã hội Chỉ có thông qua sự hình thành và phát triển nhân cách, loài người mới trở nên khác biệt với tất cả các loài động vật khác, chỉ có loài người mới tạo ra được văn hoá và mỗi con người với tư cách là một thành viên của xã hội tiếp thu văn hoá vào nhân cách của mình Những trường hợp bị cách ly hoàn toàn với đời sống xã hội, cho thấy cá thể rơi vào hoàn cảnh đó hầu như chỉ tồn tại sinh học, hoàn toàn vô cảm và không có biểu hiện phẩm chất xã hội nào thường gặp ở con người Đã từng có những tranh biện và bất đồng về tầm quan trọng tương đối của yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong sự phát triển của con người, hay nói ngắn gọn là cái gì hình thành nên nhân cách, bản chất hay dưỡng dục Ngày nay, hầu hết các nhà khoa học xã hội đều vượt ra khỏi tranh biện đó, bởi hiểu rõ sự tương tác của các biến đổi đó trong việc định hình sự phát triển con người Các yếu tố sinh học, di truyền có ảnh hưởng đến đời sống con người như di truyền trí thông minh, khả năng thiên bẩm nhưng sự phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của yếu tố dưỡng dục nhiều hơn là sinh học tự nhiên Bản tính con người là sáng tạo, học hỏi và bổ sung văn hoá Vì thế, đúng ra đang ở vị thế đối lập, bản tính con người và giáo dục không thể bị chia cắt XHH không chỉ quan trọng đối với đời sống cá nhân, nó giúp cho xã hội phát triển được liên tục, có lịch sử, có hiện tại và có tương lai Kinh nghiệm xã hội luôn luôn tồn tại trong xã hội, mọi xã hội đều dạy cho các thành viên mới về nó và quá trình này diễn ra liên tục từ thế hệ này sang thế
hệ khác, vượt qua đời sống của một cá nhân
* Tác nhân xã hội hoá
Gia đình: Gia đình là tác nhân XHH đầu tiên và quan trọng Khi mới
sinh ra, con người hoàn toàn phụ thuộc vào người khác trong việc đáp ứng
Trang 17các nhu cầu của mình Đối với hầu hết các cá nhân, gia đình là tập thể cơ bản
đầu tiên, dạy cho trẻ em những kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn
hoá và dần dần, trẻ em kết hợp được nó vào ý thức của cá nhân Thông qua
quá trình đó, gia đình không chỉ đưa trẻ em đến thế giới hữu hình mà còn đặt
chúng vào trong xã hội Nhiều nhà xã hội học cho rằng các đặc điểm như
chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, đẳng cấp xã hội đều được gia đình truyền thụ
trực tiếp cho trẻ em và trở thành một trong những khái niệm cái tôi của trẻ
Trước khi đứa trẻ đủ lớn khôn để thực sự hiểu vấn đề thì nó đã có thể nắm bắt
được vị trí của mình trong cấu trúc xã hội do gia đình xác lập Trong quá trình
trưởng thành, vị trí nắm bắt này có thể được cá nhân tìm cách thay đổi nhưng dù
sao chăng nữa, cá nhân đó phải giải quyết nó Gia đình cũng là nơi đầu tiên
truyền cho những thành viên mới của xã hội những ý niệm về giống phái, giới
tính; trên lĩnh vực này, phần lớn những gì chúng ta xem là bẩm sinh ở bản thân
thực ra đều là sản phẩm của văn hoá, kết hợp vào nhân cách của chúng ta thông
qua XHH Cũng chính tại gia đình, trong hầu hết các nền văn hoá, trẻ nhỏ được
dạy rằng con trai phải mạnh mẽ, dũng cảm con gái phải dịu dàng Xã hội hoá
giới tính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình Tuy
vậy cần lưu ý rằng không phải tất cả những gì gia đình truyền thụ cho trẻ em đều
là có chủ ý, trẻ em còn bị ảnh hưởng và học hỏi ở chính môi trường được tạo ra
trong gia đình Những gì trẻ dần nhận thức về bản thân mình như mạnh mẽ hay
yếu ớt, thông minh hay tối dạ, được yêu thương và tha thứ hay bị ghét bỏ cũng
như về thế giới, thế giới này đáng tin cậy hay đầy rủi ro, nguy hiểm có vai trò
rất quan trọng của XHH trong gia đình
Giáo dục ở nhà trường: Trường học - tác nhân xã hội hoá quan trọng
Nhà trường là nơi con người bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội,
tương tác với những thành viên không phải trong tập thể cơ bản là gia đình
mình, được dạy dỗ nhiều điều khác với nền tảng gia đình Nhà trường cung
cấp cho trẻ em những kiến thức và kỹ năng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, có những thứ không phải những thành viên lớn tuổi trong gia đình của chúng đã được hấp thụ Tính đa dạng xã hội ở nhà trường tạo ra nhận thức
rõ ràng hơn về vị trí của chúng trong cấu trúc xã hội đã hình thành trong quá trình xã hội hoá ở gia đình Thông qua tương tác với các thành viên khác, trẻ nhận biết thêm được những khía cạnh của chủng tộc, giới tính, đẳng cấp giầu nghèo Trường học cũng là bộ máy hành chính đầu tiên mà hầu hết trẻ em được tiếp xúc, những thời khoá biểu, nội quy cho chúng có ý niệm đầu tiên
về một nhóm, tổ chức lớn cũng như vai trò là một bộ phận trong đó Ngoài những gì được in thành sách giáo khoa, giáo dục ở nhà trường còn có một thứ
mà các nhà xã hội học, giáo dục học gọi là chương trình giảng dạy ẩn hay
giáo dục ẩn Nó cũng góp phần hình thành nên những giá trị, tiêu chuẩn văn
hoá quan trọng Các môn thể thao ngoài rèn luyện thể chất còn dạy cho trẻ tinh thần thi đua; nam và nữ được hưởng những gì cho là phù hợp với giới tính theo quy ước: nữ sinh được khuyến khích nhiều hơn đến các môn khoa học xã hội và nhân văn còn nam sinh thì đến các môn khoa học tự nhiên Một khía cạnh khá quan trọng của giáo dục ẩn là việc đánh giá kết quả học tập về cơ bản được dựa trên các tiêu chuẩn phổ biến chứ không phải các quan
hệ cá nhân cụ thể như trong gia đình, điều này tác động mạnh đến sự tự nhận thức bản thân của trẻ em Theo các lý thuyết gia thì giáo dục chịu ảnh hưởng của văn hoá thống trị xét trên góc độ những giá trị được đưa vào để giảng dạy, cũng như trên tổng thể, nó có xu hướng khuyến khích duy trì nguyên trạng
Bạn bè: Theo George Hebert Mead, nhóm bạn cùng lứa tuổi là những
người khác quan trọng Hầu hết trẻ em đã có nhóm bạn, thường là cùng lứa
tuổi, cùng mối quan tâm và quan điểm xã hội ở trường học hay gần nơi cư trú Đây là bối cảnh khác với gia đình, trường học khi mà trẻ có thể tham gia các hoạt động không hoặc ít có sự giám sát trực tiếp của người lớn Trong nhóm
Trang 18bạn, vai trò độc lập của các nhân góp phần hình thành các kinh nghiệm trong
quan hệ xã hội cũng như ý thức về bản thân khác với những gì có trong gia
đình Nhóm bạn cũng tạo cơ hội cho các thành viên chia sẻ, thảo luận về các
mối quan tâm mà trong đó có những cái thường không làm được điều tương
tự đối với cha mẹ hay các thầy cô giáo Vai trò của nhóm bạn quan trọng nhất
là ở lứa tuổi thiếu niên và thanh niên, đặc biệt là khi các thành viên sống xa
gia đình và trong quá trình XHH thường phát sinh mâu thuẫn giữa gia đình
với nhóm bạn Mâu thuẫn này được tạo ra do sự khác biệt về thế hệ trong khi
các mẫu văn hoá luôn thay đổi, hoặc do mối quan tâm của gia đình thường có
tính chất định hướng, mục tiêu dài hạn trong khi nhóm bạn lại tạo ra những sở
thích nhất thời, ngắn hạn Tuy nhiên, trong khi tham gia nhóm bạn, các
thành viên dễ có xu hướng tuân thủ và đánh giá tích cực về nhóm của mình
đồng thời nhận dạng một cách đối lập thậm chí tiêu cực với nhiều nhóm khác
Trên một khía cạnh khác, nhóm bạn cũng có khi tạo ra tác động rất tiêu cực
đến thành viên của nhóm đó hoặc nhóm khác bằng cách cùng hành động để
ruồng bỏ, làm xấu hổ, thậm chí hành hạ người khác
Phương tiện thông tin đại chúng: Ngày nay, nhiều trẻ em tiếp xúc với
truyền hình trước khi được đi học và hằng ngày các phương tiện thông tin đại
chúng cung cấp cho một số lượng đông đảo các thành viên xã hội những
thông tin đa dạng và có tác động lớn đến suy nghĩ cũng như hành vi của họ
Truyền thông mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội, những mẫu
văn hoá mang tính tiêu chuẩn dưới cách nhìn phổ biến Các thành viên của xã
hội đều chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau do những gì mà phương tiện
thông tin đại chúng coi trọng hoặc xem nhẹ, đánh giá tích cực hay tiêu cực
Nó cũng là một kênh quan trọng để phổ biến văn hoá, giúp con người có thể
hiểu được các mẫu văn hoá, những nền văn hoá khác Truyền thông cũng làm
cho các thành viên trong xã hội gắn kết với nhau hơn thông qua những mối
quan tâm chung, những giá trị chung, đặc biệt là khi có những sự kiện nổi bật như một thảm hoạ, một vinh quang mà đội tuyển quốc gia giành được hay là một cuộc chiến tranh bùng nổ Tuy vậy, các phương tiện truyền thông cũng
có những vấn đề của nó Truyền thông rất ít hoặc không mang tính tương tác, khán thính giả không thể thảo luận hay bày tỏ thái độ trực tiếp với những người làm ra chương trình truyền thông Chính vì thế, vượt xa những điều mà
truyền thông đưa đến như một nguồn giải trí, nó là một phương tiện lập trình
thái độ và niềm tin của chúng ta Vì lý do đó, các vấn đề như quảng cáo, bạo
lực, lối sống trên các phương tiện thông tin đại chúng thường là các chủ đề gây tranh cãi Thông qua thời lượng cũng như cách thức của những gì được chuyển tải qua các phương tiện truyền thông, xã hội bị ảnh hưởng bởi những khuôn mẫu, giá trị mà nó thể hiện cũng như quyền lợi của những nhóm thứ yếu bị xem nhẹ vì họ không nắm giữ các phương tiện truyền thông
Các tác nhân khác: Một số tác nhân khác tham gia vào quá trình xã
hội hoá Chỗ làm việc là một tác nhân quan trọng vì nếu đang ở trong độ tuổi lao động và không thất nghiệp thì thời gian ở chỗ làm việc chiếm một phần lớn Với những kiến thức, kỹ năng đã thu nhận được ở chỗ làm việc, con người tiếp tục được xã hội hoá thành nghề nghiệp và ứng xử phù hợp với nghề nghiệp đó Dấu ấn của nghề nghiệp trong xã hội hoá có thể thấy rõ qua bệnh nghề nghiệp Ngoài tập thể chính, con người cũng chịu tác động của dư luận- thái độ của những người trong xã hội về những vấn đề đang tranh cãi và
cá nhân thường hành động theo hướng thích ứng với thái độ của người khác
để tránh bị xem là khác biệt hoặc gán nhãn hiệu lệch lạc Tôn giáo, nhà nước cũng là những tác nhân xã hội hoá Những nghi lễ tôn giáo và những quy định của nhà nước (như độ tuổi được phép lái xe, độ tuổi kết hôn ) cũng định hình nhận thức, hành vi của cá nhân
Trang 19Xã hội hoá liên tục diễn ra trong suốt chu kỳ đời sống của một con
người, mặc dù không phải là yếu tố quyết định, những thay đổi về sinh học
tạo ra khuôn hành vi của từng cá nhân Các nhà xã hội học thường phân đoạn
chu kỳ đời sống thành bốn giai đoạn: Thơ ấu, thanh niên, trưởng thành, tuổi
già Tuổi ấu thơ, sự xã hội hoá diễn ra trong sự quan tâm, bảo vệ của người
lớn; đến thời thanh niên, những nhận thức, hành vi thường bị xáo trộn; nhân
cách cơ bản đã định hình ở tuổi trưởng thành và cá nhân thường đạt được
những thành tựu chủ yếu; khi về già lại phải đối mặt với sức khoẻ Mỗi giai
đoạn trong chu kỳ đời sống là sự thể hiện của kết cấu kinh nghiệm xã hội
đồng thời cho thấy những gì con người tiếp thu được những điều gì mới lạ
trong quá trình xã hội hoá không ngừng
Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở là quá trình huy động lực lượng xã
hội cùng làm công tác giáo dục trung học cơ sở dưới sự quản lý thống nhất
của nhà nước Bản chất của XHH sự nghiệp GDTHCS là động viên, lôi cuốn
mọi lực lượng xã hội phát triển GDTHCS để thực hiện GD cho trẻ em trong
độ tuổi Huy động các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, các
công ty, xí nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân cùng
tham gia sự nghiệp GDTHCS dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Sự
nghiệp giáo dục học sinh trung học cơ sở là nhiệm vụ và trách nhiệm chung
của các trường THCS, của gia đình và cộng đồng xã hội tham gia Ở lứa tuổi
học sinh trung học cơ sở, việc đảm bảo cho các em được chăm sóc, giáo dục
về thể chất, tâm hồn, tình cảm là hết sức quan trọng Vì vậy, việc chăm sóc và
giáo dục các em không chỉ diễn ra trong trường, lớp mà phải ở cả gia đình và
cả xã hội XHHGD chính là điều kiện, là cơ hội tốt nhất để thực hiện môi
trường giáo dục trẻ em một cách lành mạnh và có định hướng Trong điều
kiện nền kinh tế cả nước cũng như từng địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền
núi còn gặp nhiều khó khăn, thì XHH GDTHCS là phương thức hữu hiệu để
thực hiện mục tiêu GDTHCS, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng được những yêu cầu về nguồn lực lao động có chất lượng cao trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Để làm được điều đó, trước hết phải huy động được toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, lớp học XHHGD bậc THCS thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị lớp học, phát triển mở rộng hệ thống trường lớp và các loại hình GDTHCS, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển GD, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GDTHCS XHH sự nghiệp GDTHCS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước
về GD và phát huy được truyền thống GD tốt đẹp của dân tộc
1.3.4 Nội dung và nguyên tắc chỉ đạo thực hiện xã hội hoá giáo dục THCS
GDTHCS nằm trong Giáo dục phổ thông bao gồm việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, đã được ghi rõ ở Điều 27,28,29 Luật Giáo dục năm 2005
1.3.4.1 Nội dung Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Thứ nhất: Huy động toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung
GDTHCS Tạo ra sự đồng thuận về nhận thức, tư tưởng, hành động của từng gia đình, cộng đồng dân cư; các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ ở lứa tuổi THCS
Thực tiễn cho thấy, từ những năm 1990 đến nay, với chủ trương phát triển các loại hình giáo dục không chính quy bên cạnh những loại hình chính quy, nên nhiều loại hình mới đã xuất hiện trong giáo dục THCS
Thứ hai: Xây dựng môi trường tốt nhất cho GDTHCS, môi trường đó
bao gồm: Gia đình, nhà trường và xã hội kết hợp hài hoà sẽ là tác động tốt
Trang 20nhất làm cho trẻ được quan tâm giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc
sống của trẻ sẽ được nâng cao hơn về thể lực, trí tuệ và nhân cách, chuẩn bị
cho các em bước vào lớp 10 THPT
* Môi trường gia đình: Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, là một tổ
chức tập hợp bao gồm các thành viên cùng huyết thống và dựa trên yếu tố
quan hệ đặc biệt về mặt tình cảm và định hướng cuộc sống Bác Hồ đã từng
nói: Gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia
đình càng tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy
muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt
Cha mẹ và mọi thành viên - tổ ấm gia đình có nghĩa vụ thương yêu,
dành những điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tạo cho trẻ phát triển lành mạnh
thể chất trí tuệ và đạo đức Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện kinh tế và một số
điều kiện khác, một số bộ phận gia đình thiếu kiến thức nuôi dưỡng chăm sóc
và dạy bảo trẻ một cách có phương pháp khoa học, cho nên Nhà nước và các
tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện giúp các gia đình nắm được, hoặc
hỗ trợ về kinh tế, kiến thức kỹ năng sống
Về vai trò nhà trường, Luật Giáo dục (2005) đã quy định rõ: Giáo dục
THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu
học; có trình độ học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban
đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung
cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Nội dung giáo dục THCS là: Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển
những nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh những hiểu biết phổ
thông cơ bản về tiếng việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học
xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết
tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
Phương pháp giáo dục ở trường THCS: Phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Vì thế, môi trường nhà trường hết sức quan trọng, nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và xã hội, tạo môi trường giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách Bên cạnh đó môi trường xã hội củng ảnh hưởng rất lớn tới môi trường giáo dục, những điều kiện về phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng dân chủ, tự chủ tác động lớn đến việc hình thành nhân cách
Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội có tầm quan trọng đặc biệt đối với giáo dục phổ thông nói chung cũng như giáo dục THCS nói riêng Song hiện nay nhiều địa phương do khó khăn về kinh tế, sự nhận thức chưa thấu đáo về môi trường giáo dục và mặt trái của nền kinh tế thị trường Dẫn đến tình trạng sự phối hợp giữa gia đinh - nhà trường - xã hội còn lỏng lẻo; tình trạng bạo hành trong gia đình; các hiện tượng ứng xử không tốt trong quan hệ giáo viên - học sinh, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo đã ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách cho trẻ em Do đó, cần huy động lực lượng toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường xã hội, môi trường giáo dục có ý nghĩa rất lớn đối với lứa tuổi học sinh THCS
Thứ ba: Huy động toàn xã hội đầu tư các nguồn lực cho GDTHCS
Việc đầu tư các nguồn lực cho GDTHCS có rất nhiều ý nghĩa, nó không chỉ thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội, mà nó còn là một nhân tố hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Từ trước đến nay, hàng năm việc đầu tư nguồn vốn của Nhà nước cho giáo dục ngày càng tăng, nhưng chưa đủ đáp ứng yêu cầu sự phát triển Điều đó được thể hiện ở việc điều kiện
Trang 21cơ sở vật chất, trang thiết bị ở các trường THCS còn hết sức thiếu thốn, đặc
biệt với miền núi, vùng cao, vùng thường xuyên gặp thiên tai bão, lụt, hạn
hán càng trở nên khó khăn Các địa phương đã từng bước tháo gỡ song mới
chỉ khắc phục phần nào ở bậc mầm non, tiểu học và THPT Chính vì vậy, phải
quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các khoản kinh phí đầu tư hàng năm
từ ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, các khoản thu
từ học phí của học sinh Đồng thời phải thực hiện cuộc vận động rộng lớn
''Nhà nước và nhân dân cùng làm'' để phát triển các loại hình GDTHCS, với
phương thức động viên sự đóng góp của nhân dân để xây dựng trường sở, đổi
mới trang thiết bị dạy học Huy động mọi lực lượng xã hội phát huy tiềm
năng về vật lực, tài lực, tham gia vào quá trình xã hội hoá giáo dục trung học
cơ sở
Thứ tư: Xây dựng, mở rộng hệ thống trường lớp và đa dạng hoá các
loại hình giáo dục trên cơ sở mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục được
Bộ GD&ĐT quy định Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và có tính
chiến lược lâu dài của XHHGD nói chung và XHHGD THCS nói riêng Với
tiêu chí tạo mọi điều kiện để trẻ em lứa tuổi THCS được thụ hưởng sự chăm
sóc, giáo dục với những loại hình thích hợp, góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả chăm sóc, giáo dục
Chủ trương của Bộ GD&ĐT là tiếp tục duy trì ổn định hệ thống giáo
dục chính quy đồng thời phát triển các loại hình giáo dục không chính quy,
xây dựng hệ thống trường lớp dân lập, tư thục Tuỳ theo điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể của từng địa phương, từng doanh nghiệp mà có các hình thức phát
triển trường lớp thích hợp, phải cố gắng vươn lên nâng cao chất lượng giáo
dục THCS, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường công với trường
dân lập, tư thục
Sự đa dạng các loại hình GDTHCS có ý nghĩa rất to lớn, một mặt nó tập trung mọi nguồn lực trong xã hội, mặt khác các bậc cha mẹ học sinh có thể lựa chọn các loại hình trường học, lớp học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, làm cho các bậc cha mẹ học sinh quan tâm đến con cái hơn Trong quá trình tổ chức thực hiện, mở rộng hệ thống trường, lớp, nâng cao chất lượng, lựa chọn các loại hình giáo dục, tập trung mọi sự quan tâm của xã hội đối với GDTHCS đã nảy sinh rất nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, đó
là công tác quản lý, chỉ đạo các hình thức tổ chức giáo dục, phương hướng, quy mô, hình thức phát triển Sự tác động của xã hội hoá GDTHCS đến các trường THCS như thế nào? quản lý, chỉ đạo như thế nào, hiệu quả ra sao ? Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm rõ và tuân thủ các nguyên tắc chỉ đạo thực hiện XHH GDTHCS
1.3.4.2 Một số nguyên tác chỉ đạo thực hiện Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Nguyên tắc là những điều cơ bản được nhà nước hoặc một tổ chức xã hội định ra, đòi hỏi các thành viên trong xã hội hoặc các thành viên trong một tổ chức phải tuân theo trong các công việc làm của mình Quá trình tổ chức, quản lý, chỉ đạo thực hiện XHH GDTHCS phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Nguyên tắc lợi ích đối với mọi chủ thể có nghĩa vụ, trách
nhiệm thực hiện XHH giáo dục THCS
XHHGD nói chung cũng như XHHGD THCS nói riêng chỉ có ý nghĩa một khi nó mang đến lợi ích thiết thực, cụ thể, thiết thân đối với từng gia đình, các tổ chức xã hội và tương lai của đất nước Đó chính là động lực lôi cuốn, thu hút các LLXH, các tổ chức chính trị - xã hội và các cá nhân tham gia phối hợp tổ chức thực hiện với các hình thức và mức độ khác nhau Do vậy, hoạt động hợp tác, hợp lực của các LLXH tham gia đóng góp vào sự nghiệp GD đều có điểm xuất phát - đó là nhu cầu, lợi ích thiết thân của cả các bên, mỗi bên tham gia đều tìm thấy, đều hy vọng thoả mãn lợi ích của mình
Trang 22Xét về mặt tâm lý, mỗi người dân, mỗi gia đình với những hoàn cảnh,
điều kiện và ước vọng khác nhau đều có những nhu cầu riêng về lợi ích Cho
nên XHH GDTHCS phải quan tâm đầu tiên và ưu tiên việc thoả mãn nhu cầu
của các bậc cha mẹ, của gia đình để đảm bảo con em mình được dạy dỗ trong
một môi trường giáo dục lành mạnh để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ,
tình cảm và thẩm mỹ Ở đó con em mình được giáo dục trong trường, lớp
khang trang, có đủ thiết bị dạy và học, đội ngũ giáo viên có năng lực và nhiệt
tình với nghề nghiệp Con em được học hành, được giáo dục một cách toàn
diện là niềm hạnh phúc lớn lao của những bậc làm cha làm mẹ Đối với những
gia đình chính sách, gia đình khó khăn được ưu đãi, miễn giảm học phí; mọi trẻ
em đến trường được hưởng phúc lợi xã hội, quyền lợi về GD Môi trường GD
lành mạnh, tốt đẹp là điều kiện để các bậc cha mẹ yên tâm công tác, làm việc
và không tiếc tiền của, công sức đóng góp, đầu tư cho sự phát triển hệ thống
trường THCS Đồng thời nâng cao trách nhiệm của mỗi gia đình, mỗi thành
viên trong xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục
Ở các địa phương, các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo cũng thấy lợi
ích thiết thực từ công tác XHH GDTHCS, sẽ phải đào tạo ra những công
dân tốt, có ích, phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương và đất nước Chính ngay bản thân GDTHCS cũng xuất
phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của mình mà tiến hành XHHGD, làm hết
trách nhiệm của mình trước yêu cầu, nhu cầu đòi hỏi về nguồn nhân lực
có chất lượng trong tương lai
Các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế phải coi sự tham gia phát triển GDTHCS là nghĩa
vụ và trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính trị của
mình Mặt khác, từ các gia đình đến các doanh nghiệp cũng phải tính toán
kinh tế, tính sự lỗ lãi từ những đóng góp cho giáo dục, để có thể đem lại hiệu
quả kinh tế, nhân văn và cho chính sự phát triển của tổ chức đó
Trên cơ sở của nguyên tắc này, các cơ quan giáo dục, các trường nhà trường THCS phải có những biện pháp, hình thức vận động, khuyến khích những mặt tích cực, huy động mọi thành viên trong xã hội chăm lo cho sự nghiệp phát triển GD, huy động các nguồn lực trong nhân dân, phù hợp với khả năng của họ để XHHGDTHCS
Thứ hai: Nguyên tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các lực
lượng tham gia vào quá trình XHHGDTHCS Xét về tổng thể, mỗi cơ quan, ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức đoàn thể quần chúng, từng địa phương, từng gia đình đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, cụ thể của mình đối với sự phát triển xã hội, đối với sự nghiệp GD Trên lĩnh vực GD, các tổ chức cũng như từng gia đình đều gặp nhau ở một sự hội tụ, đó là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển GD, dành những điều kiện tốt nhất cho những chủ nhân tương lai của đất nước Mỗi tổ chức và các gia đình đó, trong quá trình XHH GDTHCS tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, điều kiện của mình để phối hợp với ngành GD&ĐT tổ chức việc GD, xây dựng và bảo vệ môi trường GD, tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, đảm bảo chế
độ chính sách đối với nhà trường, giáo viên và học sinh
Các cơ sở giáo dục cần phải biết thường xuyên khai thác, phát huy, tranh thủ, khuyến khích tất cả các ban, ngành, đoàn thể tham gia tích cực vào một số hoạt động thuộc lĩnh vực GD phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
mà tổ chức đó đảm nhiệm Cán bộ quản lý cũng như đội ngũ giáo viên THCS cần đề xuất với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện những nhiệm vụ XHHGD, đưa ra các chủ trương, chính sách về GDTHCS vào trong Nghị quyết của các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền để huy động và tổ chức các LLXH tham gia và có trách nhiệm đối với sự nghiệp GDTHCS
Trang 23Thứ ba: Nguyên tắc phát huy tính dân chủ, sự tự nguyện và đồng
thuận của cộng đồng trong việc tham gia giáo dục trung học cơ sở
Để XHH GDTHCS phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả đối với cuộc
sống cộng đồng và xã hội, thì một nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt sâu
sắc đó là: dân chủ - tự nguyện - đồng thuận
Dân chủ hoá GD là một tư tưởng, quan điểm nhất quán trong đường lối
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta Quan điểm đó thể hiện sự bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội đối với GD Dân chủ
hoá GDTHCS thể hiện ở chỗ: Mọi trẻ em không phân biệt dân tộc, tôn giáo,
giàu nghèo, nam hay nữ, đều được hưởng quyền chăm sóc, GD chu đáo và
đầy đủ ở bất cứ trường THCS nào, dù đó là trường công lập, dân lập, tư thục
Dân chủ hoá còn thể hiện ở yêu cầu ''công khai hoá'' sự đóng góp tự
nguyện, sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp
phát triển và QLGD Tạo mọi điều kiện để mỗi người dân tham gia ý kiến vào
sự nghiệp phát triển GD, đóng góp công sức, tiền của xây dựng GD, đồng thời
có cơ hội được hưởng những quyền lợi GD chính đáng Sự hiện diện của nền
dân chủ trong GD là thực sự xoá bỏ tính khép kín của hệ thống GD nói chung
và của các nhà trường từng cấp học nói riêng Trên cơ sở đó các trường, lớp
THCS trở thành những tiêu điểm được cộng đồng, xã hội quan tâm
Dân chủ hoá trong trường THCS nằm trong thể chế dân chủ của sự
nghiệp GD&ĐT, đó là môi trường, là cơ hội và cũng là điều kiện để phát huy
quyền làm chủ, huy động mọi tiềm năng về trí tuệ, chuyên môn, nghiệp vụ
của đội ngũ cán bộ QL, đội ngũ giáo viên, làm tốt sự nghiệp ''trồng người'' của
mình Dân chủ hoá GDTHCS là dân chủ hoá việc thực hiện mục tiêu, nội
dung, phương pháp, phương tiện đành giá GDTHCS, thực hiện dân chủ của
người quản lý, người dạy và người học
Đối với từng địa phương, từng địa bàn dân cư thông qua hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đảm bảo cho mọi công dân, các cơ quan, các
tổ chức xã hội được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng sự nghiệp GD Thiết chế dân chủ hoá trong GD không những thiết thực thực hiện cơ chế ''Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ'', mà còn là sự thể hiện phương châm ''Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' để phát triển GD Tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận và tự nguyện của mọi tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp phát triển GD Tất nhiên, việc thực hiện nguyên tắc: Dân chủ - tự nguyện - đồng thuận trong GD phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật
Thứ tư: Nguyên tắc tuân thủ theo pháp lý
GDTHCS nằm trong GDPT của hệ thống giáo dục quốc dân Điều 48 Luật giáo dục 2005 quy định ''Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình công lập, trường dân lập và trường tư thục'' Đồng thời Luật giáo dục 2005 cũng khẳng định sự bình đẳng của các trường dân lập, trường tư thục với trường công lập tại Điều 65 ''Trường dân lập, trường tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến tuyển sinh, giảng dạy, học tập, thi cử, kiểm tra…; Trường dân lập, trường tư thục tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục …; Trường dân lập, trường tư thục chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ'' [39] Qua những nội dung trên, chúng ta thấy rằng việc XHHGD nói chung cũng như XHH GDTHCS nói riêng, bằng các hình thức xây dựng, mở rộng hệ thống trường lớp và đa dạng hoá các loại hình GD không những thể hiện sự
Trang 24dân chủ hoá trong GD, mà còn phải đảm bảo tuân thủ những cơ sở pháp lý,
những quy định của Nhà Nước và Chính phủ Trong đó, vấn đề cơ bản nhất,
cốt lõi mà chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, trực tiếp là các
cơ sở GD phải thực hiện nghiêm túc, đó là các điều khoản được ghi trong
Luật GD, các văn bản dưới luật như: Pháp lệnh; Nghị định; Thông tư; các chủ
trương của Đảng; các văn bản thuộc cơ chế, chính sách của Nhà nước; những
quy định của Hội đồng GD các cấp…
Sự tuân thủ nghiêm ngặt theo pháp lý sẽ làm cho nền GD thực sự dân
chủ và bình đẳng, đồng thời làm cho các hoạt động trong lĩnh vực GD và các
LLXH tham gia GD có kỷ cương, trật tự, chống các biểu hiện tiêu cực xảy ra
trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của sự nghiệp GD&ĐT Do vậy, việc
tuyên truyền, GD về pháp luật, đặc biệt là Luật giáo dục để nâng cao nhận
thức, điều chỉnh các quan hệ xã hội đối với đội ngũ cán bộ giáo viên và
quần chúng nhân dân là hết sức quan trọng Một số các vụ việc tiêu cực xảy
ra trong ngành GD thời gian qua, nguyên nhân là do kỷ cương, phép nước
trong ngành GD chưa nghiêm, việc quản lý các hoạt động giáo dục còn bị
buông lỏng
Thực hiện nguyên tắc tuân thủ theo pháp lý sẽ mang lại kỷ cương, trật
tự, làm trong sạch môi trường GD, đồng thời tạo khí thế cởi mở, thu hút đông
đảo các tổ chức xã hội, các LLXH tham gia XHHGD
Thứ năm: Bảo đảm sự thống nhất giữa ngành và lãnh thổ
XHHGD là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Chủ
trương, quan điểm đó phản ánh bản chất của chế độ XHCN, phản ánh tính
chất của nền giáo dục ''của dân, do dân và vì dân'' Đồng thời XHHGD còn là
một yêu cầu bức thiết của sự nghiệp xây dựng mô hình xã hội và con đường
đi lên CNXH của đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế Nhưng phải thấy
rằng, XHHGD chỉ có thể tổ chức thực hiện được và phát huy mạnh mẽ, có
hiệu quả đối với xã hội một khi có sự thống nhất về mục tiêu, yêu cầu, điều kiện giữa ngành và lãnh thổ Nói một cách khác XHHGD chỉ có thể trở thành một cuộc cách mạng rộng lớn và sâu sắc trên phạm vi cả nước, điều tất yếu là phải có sự kết hợp, sự thống nhất giữa các tổ chức, các cơ sở GD với từng địa phương, địa bàn cụ thể
XHH GDTHCS phải tuân thủ nguyên tắc đó Phân tích những điều kiện
cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể để thực hiện XHH GDTHCS là thế giới quan khoa học của người lãnh đạo, QLGD, sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương Khi tổ chức thực hiện XHH GDTHCS, giữa ngành GD và chính quyền địa phương phải căn cứ vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó
có sự thống nhất về XHHGD cho phù hợp Việc huy động các LLXH tham gia thực hiện đa dạng hoá các loại hình GDTHCS như phát triển, nâng cao chất lượng trường, lớp, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nguồn giáo viên…phải có sự thống nhất cao độ giữa ngành GD và địa phương
sở tại Sự phối kết hợp giữa ngành GD và địa phương, cả hai phải tính toán đầy đủ, khoa học về khả năng trước mắt và lâu dài của XHHGD Trên cơ sở
đó, một mặt sử dụng tốt nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, mặt khác phát huy tính năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia XHHGD Quán triệt những tư tưởng chỉ đạo về nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa ngành và lãnh thổ sẽ khắc phục được tư tưởng ỷ lại, trông chờ hoàn toàn vào nhà nước hoặc '' khoán trắng '' cho ngành GD và nhà trường của các địa phương
Thứ sáu: Nguyên tắc kế hoạch hoá mọi hoạt động
Kế hoạch hoá là một chức năng quản lý Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thực để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Trang 25Kế hoạch hoá mọi hoạt động là một nguyên tắc hết sức quan trọng
trong việc tổ chức XHH GDTHCS Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, thì kế hoạch hoá
GD nói chung cũng như kế hoạch hoá mọi hoạt động XHH GDTHCS phải
chuyển hẳn từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch định hướng, đặt trọng tâm
vào xây dựng và dự báo kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn Tăng cường
nghiên cứu các cơ chế, chính sách, chủ trương, giải pháp điều hành thực hiện
kế hoạch
Trong phạm vi XHH GDTHCS, các cơ sở GD ở địa phương hoặc các
cơ quan hành chính, các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoặc các địa bàn dân cư
vv đều phải tiến hành lập trình các kế hoạch như: Kế hoạch xây dựng mở
rộng hệ thống trường, lớp, đa dạng hoá các loại hình GDTHCS; kế hoạch
(dự án) đầu tư nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho
trường, lớp học; kế hoạch huy động các LLXH tham gia xây dựng, phát
triển GDTHCS; kế hoạch bố trí lực lượng giáo viên, đào tạo, chuẩn hoá,
nâng chuẩn đối với giáo viên THCS; kế hoạch triển khai nội dung, chương
trình và các hoạt động GD; kế hoạch kiểm tra chất lượng dạy và học, kiểm
tra thu chi ngân sách vv
Kế hoạch hoá mọi hoạt động trong XHH GDTHCS phải thể hiện tính
khoa học, thực tiễn, tính khả thi trong tổ chức thực hiện Đặc biệt phải thể
hiện rõ tính định hướng, sát thực, làm rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng
bộ phận, từng cá nhân có liên quan đến chăm sóc, GD học sinh THCS Kế
hoạch hoá mọi hoạt động của nhà trường, của lớp học phải được truyền đạt
sâu rộng đến các thành viên trong nhà trường cũng như tổ chức xã hội, các
hội cha mẹ học sinh, các gia đình Có như vậy kế hoạch hoá mới thực sự
chuyển hoá thành hiện thực; kế hoạch trở nên vô nghĩa, không có tác dụng
một khi kế hoạch đó được đặt ra một cách chung chung, xa rời cuộc sống, xã
rời thực tiễn Quá trình triển khai kế hoạch hoá cũng là quá trình tổ chức thực hiện đôn đốc, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, nhằm khuyến khích, động viên kịp thời những điển hình năng động, sáng tạo trong việc thực thi kế hoạch Đồng thời kịp thời uốn nắn những lệch lạc, những tiêu cực trong việc thực hiện những mục tiêu mà kế hoạch đã đặt ra
Hiện nay ở nước ta, công tác kế hoạch hoá GD nói chung và kế hoạch hoá GDTHCS nói riêng còn rất nhiều tồn tại, nổi bật nhất là chất lượng các quy hoạch, kế hoạch không cao, còn nặng tính hình thức, có nhiều kế hoạch chưa xác định đúng trọng tâm và còn quá nhiều chỉ tiêu đề ra mà không cân đối được điều kiện nguồn lực bảo đảm Nhiều giải pháp thực hiện kế hoạch còn chung chung, không chỉ rõ trách nhiệm đối với các tổ chức thực hiện Đội ngũ làm kế hoạch GD&ĐT ở địa phương còn thiếu và yếu về năng lực phân tích, xây dựng và tổng hợp kế hoạch, chưa nâng cao được năng lực xây dựng
kế hoạch chiến lược và chính sách phát triển GDTHCS trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.3.5 Con đường thực hiện xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Hiện nay việc xác định con đường để thực hiện XHHGD đã và đang được các chuyên gia về GD, các nhà xã hội học trong nước đặc biệt quan tâm
và có rất nhiều ý kiến hết sức bổ ích Tựu trung có 4 hướng đi cơ bản sau đây được đa phần các nhà QLGD, các chuyên gia hoạch định chiến lược GD đồng tình ủng hộ
1.3.5.1 Dân chủ hoá quá trình tổ chức và quản lý giáo dục THCS
Đây được coi là con đường cơ bản để thực hiện XHHGD, nhằm biến chuyển hệ thống GD và trường học từ chỗ được coi là thiết chế hành chính thành thiết chế giáo dục hoàn toàn là ''của dân, do dân và vì dân'' Xoá bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống trường học nói riêng, tạo điều kiện để tất cả mọi tầng lớp quần chúng nhân dân, các tổ chức chính
Trang 26trị - xã hội, các ban ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương có cơ hội
nắm bắt những thông tin giáo dục và hệ thống các cấp học, trường học để
tham gia ý kiến, đóng góp công sức và tiền của vào sự nghiệp xây dựng và
phát triển giáo dục
Dân chủ hoá quá trình tổ chức QLGD phải được thể hiện trong việc
hoạch định đường lối chiến lược quốc gia về phát triển giáo dục và đào tạo
các chính sách của Đảng, nhà nước Nghĩa là mọi chủ trương, đường lối,
chính sách về xây dựng và phát triển GD từ trung ương đến địa phương, cơ
sở phải thực sự là kết tinh trí tuệ hết sức dân chủ của các cấp, các ngành,
quần chúng nhân dân Trên cơ sở đó, các chuyên ngành về GD hình thành
các bước đi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, từng giai đoạn lịch sử
cụ thể…
Dân chủ hoá giáo dục ở các trường THCS thể hiện ở sự công khai hoá
mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục và đào tạo
Dân chủ hoá quá trình tổ chức quản lý còn thể hiện sinh động ở đối
tượng GD đó là trẻ em Trẻ em ở lứa tuổi THCS không chỉ là đối tượng được
GD, lĩnh hội một chương trình giáo dục lành mạnh, mà còn là ''chủ thể'' được
tham gia vào các hoạt động quản lý Các hoạt động tự quản trong vui chơi và
học tập sẽ có tác động trở lại để góp phần hoàn chỉnh chương trình dạy và học
ở các trường học
1.3.5.2 Đa dạng hoá hình thức GDTHCS
Trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, ý định chính quy hoá
các hình thức GDTHCS bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện vì
vượt quá khả năng kinh tế; nếu càng mở rộng thì chất lượng GD ngày càng
kém Mặt khác, nền kinh tế thị trường đã tạo ra áp lực cho các gia đình, các
vùng còn nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của các em
Do đó định hướng phát triển các hình thức giáo dục đến năm 2015 gồm:
- Các cơ sở giáo dục bán công: Các cơ sở này được Nhà nước đầu tư cơ
sở vật chất ban đầu, do UBND xã, phường trực tiếp quản lý và hoạt động trên
cơ sở tự quản về tài chính, nhân lực, hoặc được ngân sách địa phương hỗ trợ cần thiết để đảm bảo chất lượng GD
- Cơ sở giáo dục dân lập: Các trường, lớp THCS do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được phép thành lập, đầu tư bằng vốn ngoài nguồn ngân sách nhà nước
- Cơ sở giáo dục tư thục: Các trường, lớp do cá nhân hoặc nhóm cá nhân được phép thành lập và đầu tư
Để đảm bảo định hướng XHCN, GD chính quy và các trường công lập phải luôn giữ vị trí vai trò chủ đạo, nhà nước đầu tư toàn diện cho lĩnh vực này Nhưng không phải vì thế mà mọi sự đầu tư đều khoán trắng cho nhà nước, mà bản thân giáo dục chính quy, các trường công lập cũng phải đa dạng hoá với sự hợp tác của các LLXH Sự tham gia đông đảo của các LLXH vào các hình thức đa dạng hoá các hình thức học tập và các loại hình trường, lớp THCS sẽ làm GDTHCS gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích cộng đồng
Nói tóm lại: Đa dạng hoá hình thức GDTHCS là mở rộng cánh cửa cho trẻ em có cơ hội đến trường, đến lớp, được hưởng thụ trọn vẹn sự giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội Đồng thời huy động được nhiều LLXH tham gia XHHGD, đẩy nhanh sự phát triển GDTHCS, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu GDPT mà Luật giáo dục đã xác định
1.3.5.3.Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động các môi trường giáo dục
Môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Môi trường được đề cập ở đây là môi trường gia đình, nhà trường
và XH XHH GDTHCS phải hướng tới việc xây dựng và đẩy mạnh hoạt động các môi trường xã hội
Trang 27Môi trường gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu
nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng GD nếp sống và hình
thành nhân cách Sự mẫu mực trong công việc lao động sản xuất, trong
nghiên cứu, trong học tập cùng với những quan hệ lành mạnh của các thành
viên trong gia đình; quan hệ ứng xử, giao tiếp tốt đẹp của các bậc cha mẹ, anh
chị đối với làng xóm láng giềng là tấm gương cho trẻ em Nhưng hiện nay,
môi trường gia đình trở nên hết sức bức xúc đối với trẻ em Tệ hại nhất là tình
trạng những bậc làm cha làm mẹ hàng ngày chỉ lo chạy đồng tiền, làm giàu
bất chính, buôn bán phi pháp dấn thân vào vòng lao lý, hoặc nghiện ngập, bạo
hành, ly hôn hậu quả là nhiều trẻ em thiếu sự chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy
dỗ của cha mẹ, nhiều nghịch cảnh oan trái từ gia đình, người lớn gây ra làm
vẩn đục tâm hồn trong trắng, ngây thơ, tò mò, hiếu động, ham học hỏi, bắt
chước của trẻ em lứa tuổi học sinh THCS Nhà nước, các tổ chức xã hội, cộng
đồng dân cư phải có trách nhiệm giúp đỡ, định hướng cho các gia đình về
những điều kiện tối thiểu, cần thiết về kinh tế, về nếp sống văn minh, về trình
độ học vấn và kiến thức giáo dục trẻ Đặc biệt nhà nước và xã hội phải lên án
mạnh mẽ và trừng trị nghiêm khắc đối với những hành vi bạo ngược của
người lớn đối với trẻ em
Môi trường nhà trường: Nhà trường, lớp học là nơi trực tiếp giáo dục
trẻ em lứa tuổi học sinh THCS, tiếp thu kiến thức, hình thành nhân cách Vì
vậy XHH GDTHCS trước hết là việc huy động các LLXH vào việc xây dựng
môi trường nhà trường, từ cơ sở vật chất, khung cảnh sư phạm đến nếp sống,
kỷ cương trong nhà trường; không khí học tập, vui chơi; quan hệ tình cảm
trong sáng, lành mạnh giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, thầy trò với nhân
dân địa phương vv Môi trường đó sẽ tạo cho các em những tình cảm, quan
hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên vv
Về mặt xã hội: Môi trường xã hội nước ta đang có những biến đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác động lớn đến việc GD thế hệ trẻ Môi trường
xã hội, với một nền kinh tế đang phát triển, quan hệ giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng cải thiện và nâng cao Dân chủ hoá đời sống chính trị - xã hội được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong đời sống nhân dân Đó là những mặt thuận lợi cần được khai thác để hình thành và phát triển nhân cách của các em Nhưng mặt khác, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho một số những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị mai một, thậm chí xuống cấp Chẳng hạn như sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán
bộ, đảng viên, thanh thiếu niên - với cương vị là những bậc cha mẹ, anh chị của trẻ em Vì thế, cần huy động lực lượng của toàn XH vào việc xây dựng môi trường XH lành mạnh, có ý nghĩa GD tích cực như : phát triển kinh tế, văn hoá, tạo ra dư luận XH rộng rãi, ủng hộ cái tốt, cái đẹp, phê phán không khoan nhượng đối với các mặt tiêu cực trong đời sống XH
Tuy ở mỗi môi trường cụ thể có vị trí, ý nghĩa khác nhau, song ở mỗi môi trường phải phát huy tối đa ưu thế và lợi thế của mình, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, kết hợp giữa hội cha mẹ học sinh, đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị -
xã hội tạo ra môi trường lành mạnh, thiết thực với tinh thần tất cả vì thế hệ tương lai của đất nước
1.3.5.4 Củng cố và phát huy hoạt động của Hội cha mẹ học sinh
Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em, đòi hỏi sự quan tâm thích đáng, đầy đủ và có hiệu quả của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức XH Trong đó tổ chức gần gũi, thân thiết nhất, trực tiếp nhất đến mọi hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ đó là Hội cha mẹ học sinh
Trang 28Hội cha mẹ học sinh là một tổ chức quần chúng đặc biệt quan trọng
trong tổ chức, hoạt động GD Chính vì vậy tại Điều 96 Luật Giáo dục 2005 đã
quy định hình thức tổ chức của Ban đại diện cha mẹ học sinh '' Ban đại diện
cha mẹ học sinh được tổ chức trong mỗi năm học ở GDMN và giáo dục phổ
thông, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh từng lớp, từng trường cử ra để
phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục '' [38] Đối với cấp
THCS, việc củng cố, phát huy hoạt động của Hội cha mẹ học sinh chính là
nâng cao, tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội
trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình GDTHCS
Hội cha mẹ học sinh phải tăng cường hoạt động để thực hiện đầy đủ
mọi chức năng của mình như : Nắm bắt kịp thời những thông tin về tình hình,
điều kiện kinh tế của gia đình học sinh để phối hợp cùng nhà trường, lớp học
có biện pháp giáo dục, động viên khích lệ các em; giám sát hoạt động giảng
dạy, GD của cán bộ giáo viên, kịp thời đề xuất, kiến nghị với nhà trường về
các biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục; chia sẻ với nhà trường
trong việc vận động, huy động mọi LLXH đóng góp tài lực, vật lực xây dựng
cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy học tập, hoạt động vui chơi của các
em học sinh
Để đẩy mạnh mọi hoạt động của Hội cha mẹ học sinh thì nhà trường và
các Hội cần có hình thức tổ chức Đại hội cha mẹ học sinh định kỳ Thông qua
Đại hội, các chương trình phối hợp giáo dục giữa gia đình - nhà trường và xã
hội sẽ tạo sự gắn kết, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp GD
1.3.6 Đặc trưng của xã hội hoá giáo dục THCS
XHH GDTHCS ở nước ta hiện nay có những đặc trưng cơ bản sau:
- THCS là cấp học trung gian trong giáo dục phổ thông của hệ thống
giáo dục quốc dân, là sự nối tiếp việc hình thành và phát triển thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ từ bậc tiểu học Việc chăm lo, phát triển GDPT nói
chung và cấp THCS nói riêng là trách nhiệm cao cả của các cấp chính quyền, mọi tổ chức chính trị - xã hội, mọi gia đình và toàn XH dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
- Đối với quá trình XHHGD thì XHH GDTHCS là giai đoạn xã hội hoá thứ ba sau GDMN, GDTH, sau khi đã được hình thành ở mức ban đầu các chuẩn mực, giá trị xã hội dưới sự hướng dẫn của giáo viên và những người xung quanh ở Mầm non, và Tiểu học XHH GDTHCS gắn với nhiệm vụ của giáo dục THCS là:
+ Thực hiện các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành
+ Tổ chức giáo dục lao động hướng nghiệp và chuẩn bị nghề cho học sinh
+ Tổ chức cho giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, phổ biến khoa học, bảo vệ môi trường, tuyên truyền pháp luật, vận động nhân dân xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Thực hiện dạy chữ, dạy người, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
- Trẻ em ở độ tuổi THCS thường bị lơ là, ít quan tâm Nhiều gia đình
và ngay cả trong các tổ chức chính trị - xã hội và đông đảo quần chúng nhân thường tập trung sự quan tâm của mình vào các đối tượng trẻ em ở độ tuổi mầm non (nhà trẻ, mẫu giáo) và độ tuổi Tiểu học; ở độ tuổi học sinh THPT, hầu hết các em đều có nguyện vọng được đặt chân vào ngường cửa các trường Đại học, đó cũng là kỳ vọng của hầu hết các gia đình, vì vậy các gia đình, cũng như nhiều lực lượng xã hội quan tâm nhiều đến lứa tuổi này Việc quan tâm quá nhiều đến các lứa tuổi mần non, tiểu học, THPT đã làm giảm bớt sự quan tâm đến lứa tuổi THCS (12-15 tuổi) Các em học sinh ở lứa tuổi này cảm thấy mình không được quan tâm, chăm sóc, và thực sự các em chưa được
Trang 29hưởng thụ đầy đủ sự quan tâm của toàn xã hội, mà lẽ ra phải có Do đó phải
có các quan điểm tiếp cận đa ngành trong việc đầu tư, GD mới đảm bảo cho
việc thực hiện mục tiêu GDTHCS
- THCS có rất ít các loại hình, chương trình mang tính xã hội hoá cao
Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, hầu hết các trường THCS trên
phạm vi cả nước, về cơ bản đều là các trường công lập; tổ chức hoạt động chủ
yếu dựa trên nguồn ngân sách Nhà nước; nhiều nơi, nhiều chỗ đã thể hiện sự
khoán trắng các trường THCS cho ngành GD Sở dĩ có các tình trạng như vậy
là do sự nhận thức, quan tâm chưa đầy đủ của các tầng lớp nhân dân trong xã
hội, bản thân các gia đình và một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý địa
phương còn có những suy nghĩ thiển cận về cấp học này Cũng phải nói thêm
rằng, với nền kinh tế đang phát triển còn gặp quá nhiều khó khăn, cộng với sự
nhận thức chưa đầy đủ là các nguyên nhân chính dẫn đến việc quan tâm của
các LLXH đối với GDTHCS còn ít
Chính vì vậy XHH GDTHCS sẽ huy động được nhiều LLXH tham gia
vào việc chăm sóc, giáo dục học sinh lứa tuổi THCS, để đảm bảo cho các em
có được sự đầu tư thoả đáng XHHGDTHCS bằng việc đa dạng hoá các loại
hình, các nguồn lực là việc làm cần thiết và hết sức cập bách
- GDTHCS nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cấp học chuyển
tiếp giữa Tiểu học và THPT, là hệ thống các trường lớp trực thuộc UBND các
xã, huyện do phòng GD&ĐT các huyện, thành phố trực tiếp quản lý Cho nên
sự tồn tại và phát triển phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của cấp uỷ đảng,
chính quyền địa phương và nhận thức của nhân dân Chính vì vậy, để thực
hiện có hiệu quả XHH GDTHCS cần quán triệt các vấn đề sau:
+ Cộng đồng hoá trách nhiệm
+ Đa dạng hoá các loại hình giáo dục THCS
+ Đa phương hoá thu hút các nguồn lực cho GDTHCS
+ Thể chế hoá các quy định, chế tài đối với nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các LLXH đối với việc tham gia vào giáo dục THCS
1.3.7 Vai trò của xã hội hoá GDTHCS trong giai đoạn hiện nay 1.3.7.1 Xã hội hoá GDTHCS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trung học
XHH giáo dục và đào tạo không những có tác động mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình nâng cao mặt bằng dân trí, tạo nguồn lực lao động có chất lượng cho
sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, mà còn tạo ra sự chuyển biến có tính cách mạng trong các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của sự nghiệp GDTHCS đối với tương lai của đất nước
Từ nhận thức đến hành động, việc huy động các LLXH tham gia vào sự nghiệp GD góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng giáo dục Nhờ XHH GDTHCS mà các cộng đồng xã hội tham gia vào việc cụ thể hoá mục tiêu GD cho phù hợp với điều kiện và yêu cầu của địa phương, của từng địa bàn dân cư Các LLXH có thể tham gia trực tiếp vào quá trình
GD Tham gia vào việc cải tiến, nội dung, phương pháp GD; tham gia xây dựng môi trường GD trong sạch, lành mạnh, góp phần tạo nên môi trường thân thiện mọi chỗ, mọi nơi cho các em vv
XHH GDTHCS sẽ tăng cường lực lượng cho người dạy và người học, phát triển nhân tố con người trong GD XHHGD sẽ tạo nên những điều kiện vật chất để nâng cao chất lượng GDPT
1.3.7.2 Xã hội hoá giáo dục THCS sẽ huy động được các nguồn lực, tiềm
năng của xã hội, khắc phục khó khăn của quá trình phát triển GDTHCS
Thực hiện công cuộc đổi mới, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ''xoá đói giảm nghèo'', ưu tiên cho các địa phương, các gia đình thuộc diện chính sách nhưng sự phân cách giầu nghèo trong xã hội vẫn còn chênh lệch quá lớn Việc XHHGD với các nguồn lực vật chất như: Nhân lực, vật lực, tài lực, các nguồn lực tinh thần như: sáng kiến, kinh nghiệm, góp ý tư
Trang 30vấn được huy động trên phạm vi rộng sẽ góp phần giải quyết, khác phục
những khó khăn của quá trình phát triển GD THCS Nói như vậy không có
nghĩa là giảm nhẹ vai trò, trách nhiệm của nhà nước, mà trái lại Nhà nước vẫn
phải tăng cường đầu tư ngân sách, tăng cường quản lý nhà nước đối với sự
nghiệp phát triển GD
1.3.7.3 Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở tạo ra sự công bằng, dân chủ
trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GD THCS
Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển GD trên cơ sở thực hiện
sự bình đẳng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GD Thực
hiện XHH GDTHCS là xây dựng được cộng đồng trách nhiệm của mọi
LLXH để thực hiện công bằng xã hội trong phát triển GD&ĐT, đa dạng hoá
các loại hình học tập, các loại hình trường, lớp, mở rộng cơ hội, tạo điều kiện
cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp nhân dân chủ động, sáng tạo và bình
đẳng tham gia vào các hoạt động GDTHCS Đảm bảo cho trẻ em được hưởng
những phúc lợi GD, các dịch vụ GD, học tập bình đẳng như nhau Ngoài
công bằng, dân chủ, trong GDTHCS còn thể hiện nghĩa vụ cống hiến cho GD
theo khả năng của từng người, từng cộng đồng xã hội, từng địa phương Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng ( khoá VII ) chỉ rõ: Trong tình hình
hiện nay, để thực hiện công bằng trong XH, người đi học phải đóng học phí,
người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí cho đào tạo Nhà
nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách
đều được đi học
Dân chủ hoá GDTHCS là phát huy tính năng động tự chủ của các
LLXH tham gia tổ chức thực hiện mục tiêu GDTHCS; dân chủ hoá quá trình
triển khai nội dung, chương trình, các hoạt động giáo dục; thẩm định, kiểm
tra, đánh giá chất lượng GDTHCS Thực hiện dân chủ hoá trong GD là tạo
động lực, sức mạnh cộng hưởng trong việc mở rộng quy mô và nâng cao chất
lượng GDTHCS
1.3.7.4 Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước phát huy truyền thống giáo dục của dân tộc
Sự nghiệp phát triển GD của nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế '' Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý '', đề cao trách nhiệm quản lý nhà nước đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Bộ GD&ĐT, các tỉnh thành phố, các huyện, các cơ sở GD Sự phát triển mạnh
mẽ và rộng khắp của XHH GDTHCS cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân đã và đang đặt ra những yêu cầu mới phải nâng cao hiệu quả QLGD nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ QLGD
QLGD không những là một khoa học mà còn là một nghệ thuật, thực tiễn XHHGD luôn luôn vận động và biến đổi Do vậy việc nắm bắt những thông tin kịp thời về tình hình, diễn biến của quá trình XHHGD, có thay đổi,
bổ sung cơ cấu tổ chức, các hình thức quản lý phù hợp là việc làm, nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức QLGD, cũng như người đảm nhiệm QLGD ở tại cơ sở Có thể nói, chất lượng và hiệu quả GDTHCS trong XHHGD phụ thuộc rất lớn vào sự tăng cường, năng lực quản lý nhà nước và sự tham gia QLGD của các LLXH
1.3.7.5 XHH GDTHCS góp phần khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
Trong thời gian gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tiếp đưa tin về tình trạng học sinh bỏ học với số lượng ngày càng tăng và trải khắp nhiều địa phương trong cả nước Số lượng học sinh bỏ học trong năm 2008 cao hơn số lượng học sinh bỏ học trong nhiều năm trước Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như do các học sinh này học lực yếu hoặc bị lưu ban, gia đình khó khăn không thể đến trường, chương trình học căng thẳng, đạo lý thầy trò xuống cấp
Việc thực hiện cuộc vận động ''hai không'' của Bộ GD&ĐT thời gian qua đã đạt được một số kết quả ban đầu rất đáng khích lệ mặt khác nó bộc lộ
Trang 31rõ ràng hơn những hạn chế, tồn tại xảy ra từ trước đây, đó là chất lượng dạy
và học còn yếu kém, bệnh thành tích trong giáo dục Vì vậy các học sinh yếu
kém vẫn được lên lớp, vẫn được khen thưởng, quan hệ thầy trò bị ''thị trường
hoá'', khi thực hiện ''hai không'' đã nhanh chóng phát hiện ra tình trạng này và
đã có những bước chấn chỉnh, khắc phục Tuy nhiên, lại xuất hiện vấn đề mới,
phức tạp và rất nghiêm trọng, cấp bách cần phải tìm hướng giải quyết để hạn
chế hậu quả về sau - đó là tình trạng học sinh bỏ học
Để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, cần có những biện pháp đồng
bộ, hiệu quả từ nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều phía, trong đó ngành GD&ĐT
đóng vai trò chủ chốt, trọng tâm
Học sinh bỏ học có nguyên nhân chủ yếu là do bị lưu ban, ở lại lớp Do
vậy các cấp chính quyền, đoàn thể cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
động gia đình có học sinh đến trường Trong đó, cần giải thích rõ nguyên
nhân dẫn đến việc bỏ học để từ đó giúp các em và gia đình hiểu rõ vì sao lại
phải lưu ban, ở lại lớp Nguyên nhân của việc các em bị ở lại lớp là do các em
học tập còn yếu, cần cố gắng phấn đấu rèn luyện hơn nữa
Tính từ đầu năm học đến tháng 12/2007, tổng số học sinh THCS bỏ học
trên cả nước là 63.729 - chiếm tỉ lệ 1,1% so với tổng số học sinh bậc học;
THPT là 50.309, tỉ lệ 1,66%; trong năm 2007 cả nước đã có hơn 110.000 học
sinh bỏ học (nguồn Bộ GD&ĐT)
Bộ GD&ĐT cũng đã xác định rõ nguyên nhân của tình trạng học sinh
bỏ học tăng đột biến là do siết chặt kỷ cương trong thi cử, đánh giá, nhất là
đối với học sinh học lực yếu Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như
hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà quá xa trường, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng khó khăn Năm học 2007-2008, học sinh vẫn tiếp tục bỏ học, đơn
cử như Đồng Nai năm học 2006-2007 có hơn 6.000 học sinh bỏ học, nhưng
mới từ đầu năm học 2007-2008 đến tháng 10/2008 đã có gần 3.300 học sinh
bỏ học (Báo Tiền Phong) Thậm chí có nơi do đói kém, học sinh bỏ học đến 70% nh huyện Kỳ Sơn-Nghệ An; KonTum có 2.500 học sinh bỏ học; riêng 6 huyện miến núi của Quảng Ngãi có hơn 4.000 học sinh bỏ học (Báo Tuổi trẻ - 8/3/2008), vv
Như vậy công tác XHHGD với vai trò của mình, về cơ bản sẽ khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học như hiện nay
1.4 Quản lý Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở 1.4.1 Đặc điểm quản lý Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Quản lý XHHGD là một bộ phận của quản lý GD, quản lý xã hội Cũng như công tác QLGD nói chung, việc quản lý con người cũng là trọng tâm của quản lý GDTHCS Trình độ, năng lực của người cán bộ quản lý GD trước hết thể hiện ở khả năng làm việc với những con người, biết đánh giá, bồi dưỡng
và phát huy những khả năng của mỗi con người, động viên mọi người làm việc tự giác, tích cực, với tinh thần trách nhiệm cao
Xuất phát từ tính thống nhất của mục tiêu GDTHCS, công tác quản lý GDTHCS cũng có tính thống nhất, thể hiện ở kế hoạch chỉ đạo thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Hiện nay, GDPT nói chung, cũng như GDTHCS nói riêng được xem là một vấn đề quan trọng hàng đầu và từng bước được XHH Để đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, đảm bảo nâng cao chất lượng GD theo mục tiêu của GDPT, càng cần thiết phải thực hiện tốt quản lý XHH GDTHCS
1.4.2 Quản lý Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Một khi thực hiện XHH đối với GDTHCS thì nhân tố hết sức quan trọng đối với việc triển khai thực hiện mục tiêu, chương trình cũng như kế hoạch hoá các loại hình GD phải bảo đảm thực hiện nghiêm túc việc '' nhà nước thống nhất quản lý '' và '' Tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 32của các cơ sở giáo dục'' Đây là sự thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
QLGD Quản lý XHH GDTHCS là quản lý sự phối hợp các lực lượng xã hội
tham gia vào các hoạt động GD trẻ em lứa tuổi học sinh THCS trên các địa
bàn dân cư Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh
phí khác Các cấp chính quyền, các cơ sở giáo dục, các tổ chức chính trị - xã
hội phải được tham gia hoạch định XHHGD
Công tác quản lý XHHGD nói chung và GDTHCS nói riêng hiện nay
còn có rất nhiều bất cập trong định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo tổ
chức thực hiện Việc phân cấp quản lý chưa đầy đủ, chưa hợp lý để tạo quyền
tự chủ, năng động của địa phương, cơ sở GD; sự phối hợp giữa ngành
GD&ĐT với ngành kinh tế, kế hoạch, tài chính, ngân hàng để thực hiện XHH
còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ Vai trò điều phối của Nhà nước trong quá trình
XHH, việc thực hiện chức năng, trách nhiệm các ban, ngành, đoàn thể, người
dân chưa được thể chế hoá một cách cụ thể, bài bản và đồng bộ trong các văn
bản chỉ đạo
1.4.3 Biện pháp quản lý Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
Là cách thức, phương pháp, cách giải quyết một vấn đề nào đó của chủ
thể, Chủ thể chịu trách nhiệm tháo gỡ, giải toả khách thể quản lý vận động và
phát triển theo những định hướng và mục tiêu đã định Tuỳ theo tính chất và
mức độ của khách thể được quản lý mà chủ thể quản lý có những biện pháp
chiến lược lâu dài hoặc những biện pháp có tính tình thế nhất thời, thời kỳ,
giai đoạn
Biện pháp quản lý XHH GDTHCS là các nội dung, cách thức tiến
hành, giải quyết cụ thể của chính quyền, cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ
quản lý nhằm tác động làm biến đổi các nhân tố trong kết cấu của giáo dục
THCS, vận hành và phát triển đạt được mục tiêu đề ra theo đúng đường lối,
chủ trương của Đảng và Nhà nước
Các biện pháp quản lý XHH GDTHCS không thể là ý tưởng chủ quan, được đề ra tuỳ tiện, duy ý chí, mà biện pháp giải quyết phải dựa trên sự phân tích, hoàn cảnh cụ thể, dựa trên mâu thuẫn nội tại, những bước đi trệch hướng của sự phát triển Tìm ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng, cản trở tiến trình vận hành của các cơ sở GDTHCS trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch.đặt ra Đảm bảo các biện pháp quản lý XHHGD thực
sự khoa học và cách mạng
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, ngành GD&ĐT không chỉ là cơ quan quản lý trực tiếp các cơ sở GD mà còn là cơ quan tham mưu, vận động tuyên truyền để xã hội có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của XHH GDTHCS Từ đó huy động toàn xã hội tham gia QLGD, tìm ra những biện pháp hữu hiệu, thiết thực thúc đẩy tiến trình phát triển XHH giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
THCS VÀ TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC TỪ NĂM 2004
ĐẾN NĂM 2008 Ở TỈNH HOÀ BÌNH
2.1 Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới công tác
Xã hội hoá giáo dục
2.1.1 Tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình
2.1.1.1 Điều kiện địa lý, truyền thống lịch sử, văn hoá
Hoà Bình là tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của tổ quốc, có
vị trí địa lý quan trọng, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng, cách thủ đô
Hà Nội 76 km về phía Tây Nam Phía Bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây,
phía Nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Tây và Hà Nam,
phía Tây giáp Sơn La Tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố với 214 xã, phường,
thị trấn, trong có 70 xã đặc biệt khó khăn và ATK thuộc diện đầu tư chương
trình 135 giai đoạn II; 2 huyện và 64 xã vùng cao Hoà Bình có khí hậu nhiệt
đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung
bình hàng năm trên 23 0C
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 4.662 km2, đất có rừng trên 173
ngàn ha, chiếm 37% diện tích, đất nông nghiệp trên 65 ngàn ha, chiếm 14%
diện tích Đất chưa sử dụng trên 170 ngàn ha Với những tiềm năng đó, trong
tương lai, Hoà Bình có thể phát triển mạnh mẽ nền sản xuất nông, lâm nghiệp
và công nghiệp chế biến nông lâm sản Hoà Bình có các loại khoáng sản
phong phú với trữ lượng lớn và vừa, có thể khai thác để phát triển công
nghiệp và xây dựng như đá granit, đá vôi, than đá, sét, cao lanh, vàng, sắt,
nước khoáng than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện
Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, nước khoáng chủ
yếu phân bố ở 2 huyện Kim Bôi, Lạc Sơn
Hòa Bình vốn là quê hương của ''Nền văn hóa Hòa Bình'' nổi tiếng đã
để lại nhiều di chỉ từ thời kỳ đồ đá giữa một thời kỳ cách đây khoảng một vạn năm Dân số tỉnh Hòa Bình có trên 80 vạn người gồm các dân tộc Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’Mông, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 63,3% dân số, là một trong những dân tộc đông nhất trong 54 dân tộc đang sinh sống tại Việt Nam Toàn tỉnh có 2 đạo chính là Công giáo và Phật giáo với khoảng 40.000 tín đồ Trong đó đạo Công giáo có trên 26.000 tín đồ, đạo Phật với 14.000 tín đồ
Hòa Bình là tỉnh có nhiều sông lớn chảy qua địa phận tỉnh như sông Bôi, sông Bưởi, sông Đà Sông Đà là một trong những con sông lớn của cả nước dài 983Km; chảy qua địa phận tỉnh Hòa Bình 151 Km, lưu lượng dòng chảy sông Đà bình quân cả năm 2.260m3 trên giây tạo nên nguồn năng lượng sông Đà rất lớn Tại đây có nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á với công suất 1,92 triệu KW là nguồn điện chính của cả nước hiện nay Vùng đất Hòa Bình có nhiều cảnh quan kỳ thú, lại có những sản phẩm thủ công mang đậm sắc thái dân tộc, với những sinh hoạt văn hóa phong phú,
đa dạng đang mở ra những triển vọng to lớn của ngành du lịch; Hòa Bình còn
là cửa ngõ vùng Tây Bắc, gần Thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn
có đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 6 đi qua, tạo điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội rất thuận lợi trong xu thế hội nhập với các tỉnh trong nước và các nước trong khu vực
Cách đây 120 năm, ngày 22/6/1886 tỉnh mường Hòa Bình được thành lập bao gồm 4 phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn và Chợ Bờ, tỉnh lỵ đặt tại Chợ Bờ nên gọi là tỉnh Bờ Tháng 12/1886 tỉnh lỵ chuyển về Phương Lâm Tháng 10/1888 tỉnh lỵ chuyển ngược lên Chợ Bờ ngày 5/9/1896, tỉnh lỵ lại rời Chợ Bợ về xã Hòa Bình, phía tả ngạn sông Đà lúc này tỉnh mang tên là tỉnh Hòa Bình Ngày 27/12/1975, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây có quyết định
Trang 34hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình Ngày 12/8/1991, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh
Hà Tây và Hòa Bình Ngày 01/10/1991 tỉnh Hòa Bình được tái lập với những
đơn vị hành chính, hoàn chỉnh, thống nhất
Trong quá trình hình thành và phát triển, trước những biến động lịch
sử, có những thời kỳ mang tên gọi khác nhau và địa giới hành chính khác
nhau nhưng Hòa Bình vẫn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh khó khăn,
thuận lợi mang đậm những nét đặc trưng vốn có của một tỉnh miền núi phía
Tây Bắc Tổ quốc
Trước cách mạng tháng Tám, nhân dân các dân tộc Hòa Bình phải sống
dưới hai tầng áp bức, bóc lột, là thực dân Pháp và chế độ hà khắc Lang đạo, vì
vậy mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục đều bị kìm hãm
không phát triển được
Từ cách mạng tháng Tám đến nay, trải qua hai cuộc kháng chiến, xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã nỗ lực phấn đấu và
đạt được những thành tựu có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần vào sự
nghiệp chung của cả nước Đời sống nhân dân đã có bước cải thiện rõ rệt tình
hình kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trong tỉnh được đảm bảo
Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình tiếp tục phát huy truyền thống văn
hiến, truyền thống yêu nước và cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng
quê hương giàu mạnh, làm rạng rỡ thêm truyền thống quê hương
2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình
+ Những lĩnh vực kinh tế lợi thế: Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng
bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên
khoáng sản, đặc điểm văn hoá đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế lợi thế: Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (3 nhà máy sản xuất xi măng công suất mỗi nhà máy 8,8 vạn tấn/năm tại các huyện Lương Sơn, Yên Thuỷ và TP Hoà Bình các cơ
sở sản xuất đá, vôi, gạch ở hầu hết các huyện, thị), Công nghiệp chế biến nông – lâm sản (mía, sắn, chè, măng, cam, quýt, dứa, vải, nhãn ở các huyện, TP), Công nghiệp cơ khí, điện tử, may mặc, giày da (Công ty May sông Đà, Công ty May 3/2, Công ty Ban Đai, Công ty R Việt Nam, Công ty Điện tử
SANKOR)
+ Tiềm năng du lịch: Hồ sông Đà - TP Hòa Bình, rừng nguyên sinh Thượng Tiến (Kim Bôi), rừng Hang Kia – Pà Cò (Mai Châu), rừng Phu Canh (Đà Bắc), Suối Ngọc – Vua Bà (Lương Sơn)… Ngoài ra, tỉnh Hoà Bình còn nổi tiếng với suối nước nóng Kim Bôi, Lạc Sơn, có núi cao, hồ lớn, khí hậu điều hoà tạo điều kiện cho du lịch nghỉ dưỡng phát triển Trên địa bàn tỉnh có nhiều đền chùa nổi tiếng như chùa Tiên (Lạc Thuỷ), đền Bờ (trên hồ sông Đà)… là nơi thuận lợi cho phát triển du lịch
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 1,5%, trong đó, nông - lâm nghiệp 5%; công nghiệp - xây dựng 24%; các ngành dịch vụ đạt 16%
+ Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ Công tác xóa đói - giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề đạt kết quả khá, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao
2.1.2.Khái quát tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại tinh Hoà Bình
* Quy mô phát triển (2004-2008)
+ Trường Mầm non:
Trang 35Bảng 2.1: Quy mô phát triển trường MN năm 2004-2008
100% các cơ sở GDMN thực hiện chương trình qui định của Bộ GD&ĐT ban hành:
877 nhóm trẻ thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo độ tuổi, 02 nhóm thực
hiện chương trình thí điểm; số lớp mẫu giáo thực hiện chương trình thử nghiệm 845 lớp
tăng 12 lớp; không còn lớp thực hiện trình 26 tuần, số lớp dạy theo chương trình các độ
tuổi 1272 lớp, chương trình thí điểm 13 lớp 100% số nhóm lớp xây dựng môi trường lớp
học theo hướng đổi mới, trong đó 70% đạt yêu cầu quy định trở lên 83% trẻ tuổi nhà trẻ
được ăn tại trường Số còn lại do các điểm lẻ xa khu trung tâm và xa nơi nấu ăn của
trường, số cháu ít không bố trí được người nấu ăn cho trẻ Trẻ chỉ được chống đói do cha
mẹ đem đến.
52% trẻ tuổi mẫu giáo được nấu ăn tại trường
Trong qúa trình tổ chức nuôi dưỡng cho trẻ ăn tại trường vấn đề vệ sinh ATTP luôn
luôn được đảm bảo và không để sảy ra một trường hợp ngộ độc thực phẩm nào.
100% số trẻ được cân đo theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ tăng trưởng;
Số trẻ khuyết tật được ra lớp hoà nhập: 220 cháu, đạt tỷ lệ 72,61 %.Trẻ khuyết tật
ra lớp hoà nhập có chuyển biến về nhận thức, có thay đổi theo chiều hướng giảm mức độ
tật so với trẻ chưa hoà nhập; trẻ được khoẻ mạnh hơn, giảm thiệt thòi cho trẻ và gia đình
tế khám sức khoẻ định kì cho trẻ, tối thiểu 1 lần/ năm, nhiều đơn vị đã tổ chức khám sức khoẻ cho trẻ theo quí;
Trẻ đến trường được chăm sóc sạch sẽ, biết thực hiện một số thao tác tự phục vụ,
có nề nếp trong ăn, uống, vệ sinh, ngủ nên cha mẹ trẻ đã tin tưởng nhà trường.
Một số tồn tại:
10,01 % trẻ nhà trẻ bị suy dinh dưỡng
10% trẻ mẫu giáo bị suy dinh dưỡng.
Giáo viên chưa qua đào tạo là 24,3% trong đó có 469 giáo viên hợp đồng ngắn hạn
do tăng số trẻ đến trường, lớp mầm non Chuyển đổi loại hình trường MN bán công sang trường MN dân lập chưa thực hiện được
+ Trường Tiểu học:
Bảng 2.2: Quy mô phát triển trường TH năm 2004-2008
Có 31 trường tổ chức học 2 buổi/ ngày cho 100% lớp; có 730 lớp với 12.521 học sinh học 2 buổi/ ngày đạt 21,1%
Tiếp tục tổ chức triển khai dạy trẻ khuyết tật hoà nhập Kết quả có 772/1.200 học sinh khuyết tật học hoà nhập đạt tỷ lệ 63,9%
Trang 36Yếu: 9% (tăng 1%) Môn Tiếng Việt loại Yếu: 7% (tăng 0.8%); loại kém : 0.3% Giáo
viên Tiểu học chưa đạt chuẩn là 2,7 %.
+ Trường Trung học cơ sở :
Bảng 2.3: Quy mô phát triển trường THCS năm 2004-2008
+ Trường Trung học phổ thông:
Bảng 2.4: Quy mô phát triển trường THPT năm 2004-2008
11 Trung tâm chính trị các huyện, thành phố.
+ Ngoài ra có 03 trường của TW đóng trên địa bàn tỉnh : Trường Cao đẳng dạy nghề Sông Đà.
Trường Cao đẳng Văn hoá - Nghệ thuật Tây Bắc.
Trường cơ khí Nông nghiệp 3
Hệ thống các trường chuyên nghiệp, dạy nghề hàng năm tuyển sinh trên dưới 1000 học viên.
- Nhận xét: Với qui mô và các ngành đào tạo nêu trên, các trường chuyên nghiệp đáp ứng quá thấp nhu cầu học của nhân dân và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.
* Về xây dựng cơ sở vật chất
+ Phòng học