- Giá trị xuất khẩu - Phát triển công nghệ - Tạo ra việc làm - Các liên kết công nghiệp - Chênh lệch trong phát triển giữa các vùng - Môi trường sống Trong nghiên cứu tác động của các bi
Trang 1NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DNDTNN : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai
ĐTTTNN : Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
FDI : Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (viết tắt của từ tiếng Anh)
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Cons : Giá trị tổng tiêu dùng trong nền kinh tế
GDP : Giá trị tổng sản phẩm trong nước
Capin : Giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp
Capag : Giá trị đầu tư nhà nước vào tài sản cố định trong nông nghiệp
Trade : Tổng giá trị thương mại quốc tế
Tax : Thuế suất
Govex : Tổng giá trị chi tiêu ngân sách nhà nước
M2 : Giá trị khối tiền tệ M2
Exrat : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
GDP/empl : Năng suất lao động của nền kinh tế
Empl : Số lao động đang làm việc trong nền kinh tế
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, PHỤ LỤC
CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn
1988-2009 Bảng 1.2 : Tóm tắt nội dung các lý thuyết về nhân tố đầu tư trực tiếp nước Ngoài Bảng 1.3 : Các hình thức ưu đãi đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Bảng 1.4 : Tác động của các biến kinh tế vĩ mô lên các nhân tố lợi thế vùng của đầu tư nước ngoài
Bảng 2.1 : Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các giai đoạn Bảng 2.2 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1988-2009 Bảng 2.3 : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một số nước trong khu vực Bảng 2.4 : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo hình thức đầu tư
Bảng 2.5 : Qui mô các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các giai đoạn Bảng 2.6 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo quốc gia đầu tư Bảng 2.7 : Sự chuyển đổi về cơ cấu vốn đầu tư nước ngòai vào Việt Nam tính đến năm 2009
Bảng 2.8 : Đầu tư trực tiếp nươc ngòai tại Việt Nam phân theo ngành kinh tế Bảng 2.9 : Đầu tư trực tiếp nước ngòai ở miền Bắùc và Nam Việt Nam Bảng 2.10 : Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Tổng sản
phẩm trong nước Bảng 2.11 : Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tăng trưởng kinh tế Bảng 2.12 : Tỷ trọng đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tổng giá trị
sản xuất công nghiệp Bảng 2.13 : Đầu tư và Tiết kiệm tại Việt Nam
Trang 2Bảng 2.14 : Cơ cấu tổng đầu tư tại Việt Nam giai đọan 2003-2008
Bảng 2.15 : Phần đóng góp của bên nước ngoài trong các dự án có vốn
ĐTTTNN theo vốn điều lệ
Bảng 2.16 : Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tại Việt Nam phân theo
thành phần Kinh tế
Bảng 2.17 : Năm tỉnh, thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất trong
năm 2008
Bảng 2.18 : Cơ cấu xuất khẩu phân theo lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam giai
đọan 2001-2008
Bảng 2.19 : Tỷ trọng xuất khẩu trên GDP của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam
Bảng 2.20 : Năng suất lao động tại Việt Nam
Bảng 2.21 : Trình độ công nghệ trong ngành chế biến thực phẩm
Bảng 2.22 : Cơ cấu trình độ máy móc thiết bị năm 2000
Bảng 2.23 : Cơ cấu trình độ công nghệ sản phẩm năm 2000
Bảng 2.24 : Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có hàm lượng công nghệ
hiện đại
Bảng 2.25 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc làm trong lĩnh vực công nghiệp
ơ û Việt Nam
Bảng 2.26 : Chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp ở Việt Nam
Bảng 2.27 : Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào tổng
GTSXCN tại Việt Nam
Bảng 2.28 : Các biến số độc lập của phương trình hồi qui
Bảng 2.29 : Kết quả kiểm định F-test và t-test của phương trình hồi qui (1)
Bảng 2.30 : Hệ số tương quan giữa các biến số độc lập trong phương trình (1)
Bảng 2.31 : Tóm tắt kết quả của luận án và các nghiên cứu tương tự của các tác
giả khác trên thế giới
CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 : Tóm tắt khung nghiên cứu của đề tài
Sơ đồ 1.2 : Tóm tắt các phương pháp nghiên cứu luận án
Sơ đồ 1.3 : Tóm tắt lý thuyết về các nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sơ đồ 1.4 : Tóm tắt các tác động của ĐTTTNN lên nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư
Sơ đồ 1.5 : Tóm tắt tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư
Sơ đồ 1.6 : Tóm tắt các vấn đề chính của chương 1
CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Biểu đồ 2.2a : Cơ cấu kinh tế của Việt Nam có tính đến khu vực có vốn
ĐTTTNN trong công nghiệp Biểu đồ 2.2b : Cơ cấu kinh tế của Việt Nam không tính đến khu vực có vốn
ĐTTTNN trong công nghiệp Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu tổng đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2003-2008 Biểu đồ 2.4 : Tỷ trọng đóng góp của khu vực có vốn ĐTTTNN vào tổng GTSXCN Việt Nam
Biểu đồ 2.5 : Dao động của tỷ giá hối đoái và giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài
giai đoạn 1988-2009
Trang 3CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1.1 : Tóm tắt một số các nghiên cứu trong và ngoài nước về đầu tư
trực tiếp nước ngoài
Phụ lục 1.2 : Bảng liệt kê sơ lược nội dung nghiên cứu của các tác giả về đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Phụ lục 2.1 : Danh mục các lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Việt Nam
Phụ lục 2.2 : Danh mục các địa bàn ưu đãi đầu tư tại Việt Nam
Phụ lục 2.3 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phân theo địa phương
Phụ lục 2.3a : Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép phân theo ngành
kinh tế
Phụ lục 2.4 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo đối tác đầu tư
Phụ lục 2.5 : Bảng hệ số chi phí trực tiếp (I-O) theo giá người sản xuất của
Việt Nam năm 2000
Phụ lục 2.6 : Bảng tính chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp
giữa các địa phương năm 2004
Phụ lục 2.7 : Bảng tính chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp
giữa các địa phương năm 2005
Phụ lục 2.8 : Bảng tính chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp
giữa các địa phương năm 2006
Phụ lục 2.9 : Bảng tính chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp
giữa các địa phương năm 2007
Phụ lục 2.10 : Bảng tính chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp
giữa các địa phương năm 2008
Phụ lục 2.11a : Bảng số liệu sử dụng cho hồi qui chương trình phần
mềm Eviews
Phụ lục 2.11a1 : Kiểm tra tính dừng của biến phụ thuộc lfdi Phụ lục 2.11a2 : Kiểm tra tính dừng của các biến độc lập Phụ lục 2.11b : Kết quả kiểm tra tính dừng của các chuỗi số Phụ lục 2.12 : Kết quả hồi qui phương trình (1)
Phụ lục 2.13 : Kết quả hồi qui phương trình (2) Phụ lục 2.14 : Tổ hợp các kết quả khác nhau của phương trình hồi qui Phụ lục 2.15 : Kiểm định hiện tượng phương sai không đồng đều Phụ lục 2.16 : Kết quả kiểm định tính phân phối của các sai số phần dư – phương trình hồi qui (2)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai thập kỷ vận dụng đường lối đổi mới và công cuộc cải cách
toàn diện kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nền kinh tế Việt
Nam đã ghi nhận được những kết quả rất ấn tượng và tăng trưởng mạnh mẽ, một
dấu hiệu cho thấy nền kinh tế thị trường ở nước ta đầy sức hấp dẫn và năng
động Có thể nói rằng, kinh tế Việt Nam đang sở hữu những đặc trưng tiêu biểu
của các nền kinh tế phát triển cao ở Đông ÁÙ Sản lượng, việc làm, xuất khẩu,
nhập khẩu đều tăng mạnh đặc biệt là kể từ năm 1990, các dấu hiệu ổn định về
kinh tế và chính trị đang dần dần rõ nét, cùng những tiến bộ xã hội đã đạt được
trong giai đoạn vận hành nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước
Đạt được những thành tựu ấn tượng về kinh tế là do đóng góp to lớn của
yếu tố vốn, trong đó có nguồn vốn từ bên ngoài chảy vào mà đặc biệt là vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài Về mặt lý thuyết, hình thức đầu tư này là một yếu tố
rất quan trọng công cuộc phát triển đất nước Hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài không những giúp chuyên nghiệp hóa và nâng cao các kỹ năng quản lý và
tiếp thị cho các nhà quản lý địa phương, nâng cao kỹ năng tối ưu hóa sử dụng
các nguồn lực trong sản xuất và kinh doanh, kỹ năng ngoại ngữ,… xét trên
phương diện vi mô Ngoài ra, trên phương diện vĩ mô, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể có tác động rất tích cực đến một số các chỉ số của nền kinh tế của
các quốc gia nhận đầu tư như, đóng góp vào sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, sự
phát triển nguồn vốn, cải tiến công nghệ, tạo thêm công ăn việc làm và đóng
góp vào mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia [157, tr 321]
Nhận thức được tầm quan trọng này, Việt Nam đã và đang thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển đất nước, gia tăng xuất khẩu và mở rộng phát triển cơ sở hạ tầng Số lượng các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã gia tăng từ 37 dự án năm 1988 với tổng số vốn đầu tư là 341,7 triệu USD, lên đến 12213 dự án tính đến 21 tháng 12 năm 2010 với tổng số vốn đăng ký hơn 192923 triệu USD Bảng 1.1 cho chúng ta cái nhìn tổng quát về số lượng các dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2010
Bảng 1.1 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Nguồn: Niên giám thống kê 2008,2009, Cục Đầu tư nước ngồi
Tuy nhiên, tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua cho thấy, ngoài tỷ lệ vốn thực hiện tương đối thấp (32,8 %), luồng vốn đầu
tư trực tiếp vào Việt Nam tương đối thiếu ổn định và có sự dao động đáng kể qua các năm Vì vậy, việc tìm hiểu và phân tích các nguyên nhân của sự dao động này và tìm biện pháp ổn định là hết sức cần thiết nhằm tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn trong tương lai Có thể có nhiều nguyên nhân gây ra tình hình dao động mạnh của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước ta, trong đó, không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của chính sách điều tiết của Nhà nước và
Trang 5tác động của dao động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Vì thế, để thu hút nhiều hơn nữa loại hình đầu tư này cho phát triển kinh
tế thì việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và
môi trường kinh tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư là hết sức quan trọng trong
tình hình hiện nay tại Việt Nam Một mặt, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể có những tác động lên các chỉ số kinh tế vĩ mô tại quốc gia nhận đầu tư
như: tăng trưởng kinh tế, việc làm, xuất khẩu, tăng trưởng công nghiệp, phát
triển công nghệ, … Mặt khác, một môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi tại quốc
gia nhận đầu tư có thể là chất xúc tác tích cực trong thu hút đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài Vấn đề đặt ra ở đây là mối quan hệ hai chiều này hiện nay ở Việt
Nam diễn ra theo xu hướng nào? Việc nghiên cứu mối quan hệ này hiện nay là
hết sức cấp thiết nhằm tạo ra một môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi tại Việt
Nam trong thu hút và phát huy hơn nữa vai trò của loại hình đầu tư này cho công
cuộc phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế
giới đã kéo dài từ năm 2007 đến nay
Với mong muốn nghiên cứu mối quan hệ thuận nghịch giữa các yếu tố
kinh tế vĩ mô tại Việt Nam và đầu tư trực tiếp nước ngoài và để trả lời các câu
hỏi trên, tác giả quyết định chọn đề tài
QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ VÀ ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế học
2 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt phát triển khoa học và giải quyết thực tiễn, đề tài có một số ý
nghĩa đóng góp sau:
- Nghiên cứu và tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đề tài mong muốn phát triển một quan điểm lý thuyết về vai trò của nhà nước trong việc tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn nhất cho phát triển kinh tế Đây là cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách thích hợp nhằm thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu có thể giúp cho các nhà làm chính sách Trung ương và địa phương tìm ra các giải pháp hữu hiệu trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ ngoài vào các địa phương của mình
- Đề tài nghiên cứu còn cho thấy việc tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn từ phía chính sách nhà nuớc thôi là chưa đủ Cần phải nỗ lực duy trì sự ổn định của môi trường đầu tư bằng cách hạn chế những tác động của những dao động vĩ mô lên môi trường đầu tư
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó, tìm ra các tác động tích cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Đề xuất các giải pháp ổn định các biến số kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hạn chế những tác động tiêu cực của loại hình đầu tư này đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế tại Việt Nam
3.2 Các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của đề tài
i Hệ thống hóa lý thuyết về các nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài, mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô tại
Trang 6quốc gia nhận đầu tư Trên cơ sở đó, xây dựng các phương trình hồi qui về quan
hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô của quốc gia
nhận đầu tư , làm cơ sở cho việc vận dụng các quan điểm lý thuyết xuyên suốt
đề tài
ii Phân tích và đánh giá tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam dựa trên các tiêu chí: vốn đăng ký, vốn thực hiện, hình thức đầu tư,
nguồn vốn đầu tư, sự phân bổ vốn đầu tư theo ngành và theo địa phương, cơ cấu
vốn đầu tư , để có được cái nhìn tổng quan về tình hình thu hút loại hình đầu tư
này tại Việt Nam giai đoạn 1988 – 2010
iii Phân tích tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
một số các biến số kinh tế vĩ mô nhằm nhận diện ra các tác động tích cực và tiêu
cực của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
iv Phân tích định lượng tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, qua đó có thể nhận diện các biến số vĩ
mô có tác động lên thu hút loại hình đầu tư này cho phát triển nền kinh tế
v Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và đầu
tư trực tiếp nước ngoài, đề xuất các biện pháp kinh tế vĩ mô nhằm thu hút hơn
nữa đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, đồng thời khắc phục những tác động do đầu
tư trực tiếp nước ngoài gây ra
3.3 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Từ các mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho
các câu hỏi sau:
i Thứ nhất, tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
nền kinh tế vĩ mô tại Việt Nam cho đến nay diễn ra như thế nào? Đâu là các tác
động tích cực và đâu là các tác động tiêu cực?
Việc trả lời cho câu hỏi này có liên quan đến các quan điểm lý thuyết được thảo luận và sẽ được kiểm chứng bằng các kết quả nghiên cứu trong đề tài, tập trung vào các nội dung như tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các biến số kinh tế vĩ mô như, tăng trưởng kinh tế, sự hình thành và phát triển nguồn vốn, việc làm cho người lao động, …
ii Thứ hai, các biến số kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng như thế nào lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam hiện nay?
Đề tài tập trung vào câu trả lời cho câu hỏi này bằng cách dự đoán ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô có tác động đến các yếu tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam bằng việc xây dựng các phương trình hồi qui iii Thứ ba, nhà nước có vai trò gì trong việc điều tiết các chỉ số kinh tế vĩ mô, nhằm tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn tại Việt Nam?
Phần trả lời sẽ là những đề xuất với các giải pháp kinh tế trong phần cuối của luận án
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa các biến số kinh tế
vĩ mô và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
Trong nghiên cứu các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế tại Việt Nam, đề tài tập trung vào tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các biến số kinh tế vĩ mô sau:
- GDP và tăng trưởng kinh tế
- Sự hình thành và phát triển nguồn vốn
- Tổng giá trị sản xuất công nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 7- Giá trị xuất khẩu
- Phát triển công nghệ
- Tạo ra việc làm
- Các liên kết công nghiệp
- Chênh lệch trong phát triển giữa các vùng
- Môi trường sống
Trong nghiên cứu tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các biến số sau được xem là có thể có tác
động lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là:
- GDP thực
- Giá trị chi tiêu ngân sách chính phủ
- Khối tiền tệ M2
- Thuế
- Tổng tiêu dùng trong nền kinh tế
- Giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp
- Tỷ giá hối đoái
- Mức độ mở của nền kinh tế
- Năng suất lao động trong nền kinh tế
Về thời gian, luận án sử dụng các số liệu thu thập về đầu tư trực tiếp nước
ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô trong khoảng thời gian từ năm 1988, năm bắt
đầu có số liệu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cho đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
5.1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận
Về cơ sở lý thuyết, đề tài tập trung vào vận dụng các học thuyết của các
trường phái kinh tế học khác nhau, các quan diểm của các nhà kinh tế học và
các kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư, bao gồm hai phần chính:
- Các quan điểm lý thuyết về vai trò và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư
- Các quan điểm lý thuyết về tác động của môi trường kinh tế vĩ mô tại quốc gia nhận đầu tư lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào các quan điểm lý thuyết trên, luận án thực hiện việc nghiên cứu thực tế mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô tại Việt Nam dựa trên cả hai cách tiếp cận định tính và định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phân tích xu hướng thay đổi của các chỉ số kinh tế và các mối quan hệ giữa chúng, từ đó có thể đưa ra các kết quả và nhận định nhằm xây dựng các mô hình lý thuyết và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Về nghiên cứu định lượng, luận án áp dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và mức độ quan trọng của các biến số
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ nhất về tác động của hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, đề tài hệ thống hóa và phân tích các quan điểm và các kết quả nghiên cứu khác nhau của các nhà kinh tế về các tác động tích cực cũng như tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài Dựa trên cơ sở đó, luận án tiến hành phân tích và xử lý số liệu và rút ra kết luận về vai trò và tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đề tài xây dựng mô hình lý thuyết và dùng phương pháp hồi qui đa biến nhằm nhận dạng ra các
Trang 8biến số kinh tế vĩ mô quan trọng đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam
Các kết quả thực tế trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu trên được dùng làm
cơ sở cho đề tài nhằm đề xuất các giải pháp và kiến nghị trả lời cho câu hỏi
nghiên cứu thứ ba của đề tài về vai trò của nhà nước trong thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam
5.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu được sử dụng trong đề tài là lập
bảng thống kê mô tả, vẽ đồ thị, lập các bảng biểu, sơ đồ, sử dụng công thức tính
nhằm phân tích, so sánh, đánh giá và rút ra kết luận trả lời cho các câu hỏi
nghiên cứu của đề tài
Thêm vào đó, luận án sử dụng chương trình phần mềm Eviews để chạy
các phương trình hồi qui trong nghiên cứu tác động của các biến số kinh tế vĩ mô
lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
5.3 Nguồn số liệu
Nguồn số liệu thu thập là nguồn thông tin thứ cấp được lấy từ Niên giám
Thống kê Việt Nam qua các năm, các ấn bản về thống kê, các sách và tạp chí
chuyên ngành kinh tế và từ Internet
Khung nghiên cứu của đề tài luận án được thể hiện qua sơ đồ 1.1 Sơ đồ
1.2 trình bày tóm tắt phương pháp nghiên cứu của luận án
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của đề tài
CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Tổng quan lý thuyết về mối quan hệ giữa đầu
tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô
Thu thập số liệu
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Kết quả nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên ĐTTTNN
Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xây dựng mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và ĐTTTNN
Nghiên cứu thực nghiệm
Trang 96 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác
và điểm khác biệt mới của luận án
Việc thu thập các dữ liệu và thông tin về các công trình nghiên cứu có
liên quan đến đề tài được thực hiện thông qua các công cụ tìm kiếm trên mạng,
các thông tin và dữ liệu thứ cấp Theo kết quả có được, phần lớn các công trình
nghiên cứu tập trung nhiều vào vai trò và tác động của đầu tư nước ngoài đối với
tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư hay các nhân tố thu hút đầu tư từ
nước ngoài Cho đến nay, tác giả chưa được biết về những nghiên cứu có liên
quan đến mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ
mô tại Việt Nam Phụ lục 1.1 và phụ lục 1.2 tóm tắt một số các nghiên cứu có
liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự khác biệt của luận án so với các
nghiên cứu đã có Ở đây, luận án chia làm hai nhóm: nghiên cứu ở nuớc ngoài
và những nghiên cứu trong nước
Điểm khác biệt và điểm mới của luận án
Tham chiếu phụ lục 1.1 và phụ lục 1.2 liệt kê sơ lược nội dung nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với các
nghiên cứu trước đây, điểm khác biệt của luận án tập trung vào các yếu tố sau:
i Thứ nhất, trong các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam cho đến nay, việc xem xét và phân tích mối quan hệ giữa loại hình đầu tư
trực tiếp nước ngoài và các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế Việt Nam là
hoàn toàn mới và khác biệt Mối quan hệ này được nghiên cứu theo hai hướng:
tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và
tác động của dao động các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài
ii Thứ hai, trong khi nghiên cứu vai trò và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng nền kinh tế tại Việt Nam, luận án tập trung vào cả hai phương diện: tác động tích cực và tiêu cực Do đó việc nghiên cứu mang tính chất khách quan hơn
iii Ngoài hai điểm khác biệt vừa đề cập, điểm khác biệt nữa của đề tài còn được thể hiện trong khi phân tích các quan điểm lý thuyết về vai trò của đầu
tư trực tiếp nước ngoài Về phương diện này, tác giả đã đứng trên lập trường khách quan khi tổng hợp các quan điểm trái ngược nhau của các nhà kinh tế học trên thế giới về tính chất hai mặt của hoạt động đầu tư nước ngoài đối với quốc gia nhận đầu tư
Áp dụng lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu trên, đề tài có những khám phá mới sau:
- Trên cơ sở hệ thống hóa và tổng quan lý thuyết, luận án đã xây dựng mô hình lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư Mô hình lý thuyết này cho thấy vai trò quan trọng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
- Áp dụng mô hình lý thuyết vào nghiên cứu thực tế tại Việt Nam, luận án đã khám phá ra được những yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng nhất mà dao động của chúng có ảnh hưởng mạnh đến khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Đó là các biến số: giá trị GDP thực, tổng giá trị thương mại quốc tế, giá trị tiêu dùng cuối cùng và giá trị đầu tư nhà nước vào cơ sở hạ tầng công nghiệp
- Từ kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, luận án đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp tăng
Trang 10trưởng và phát triển kinh tế tại Việt Nam cho giai đoạn tới Các giải pháp và
kiến nghị tập trung vào ba nhóm sau: nhóm các giải pháp ổn định các biến số
kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nhóm các
giải pháp phát huy các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của
đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhóm các giải pháp tiếp tục hoàn thiện môi
trường đầu tư để thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
7 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận án được chia thành ba
chương sau:
Phần giới thiệu
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và
các biến số kinh tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư
Lý thuyết về mối quan hệ này được phân tách thành hai tác động, bao
gồm lý thuyết về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên nền kinh tế của
quốc gia nhận đầu tư thông qua một số các biến số kinh tế vĩ mô (hay tác động
xuôi) và lý thuyết về tác động của dao động các biến số kinh tế vĩ mô lên thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư thông qua các nhân tố
quan trọng đối với thu hút đầu tư trực tiếp (hay tác động ngược)
Chương 2: Phân tích quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Nội dung của chương này gồm ba phần:
Thứ nhất, tổng kết tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam giai đoạn 1988-2010, xét trên các phương diện: số dự án, nguồn vốn, sự
phân bổ, loại hình đầu tư, nguồn đầu tư và ngành nghề đầu tư, nhằm có được cái
nhìn tổng quan và toàn diện về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Thứ hai, phân tích và đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam thông qua một số các biến số kinh tế vĩ mô
Thứ ba, xây dựng mô hình lý thuyết nhằm phân tích tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các nhân tố quan trọng trong thu hút đầu tư
Kết quả nghiên cứu của mô hình là cơ sở kiểm định cho các suy luận lý thuyết về quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp ổn định các biến số kinh tế vĩ mô, thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hạn chế các tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu của luận án là những cơ sở cho việc đề xuất các chính sách kinh tế vĩ mô để tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn tại Việt Nam nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách có hiệu quả
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ
TẠI QUỐC GIA NHẬN ĐẦU TƯ
Lý thuyết về bản chất của các công ty đa quốc gia, hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài của họ và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền
kinh tế của nước nhận đầu tư cho đến nay bao gồm nhiều quan điểm khác nhau
Một số các quan điểm cho rằng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các
công ty thường được cho là do tiếp cận các nguồn nguyên liệu hay do sự bất ổn
định về mặt vĩ mô của nền kinh tế trong nước của nhà đầu tư Tuy nhiên, ngày
nay, quan điểm về đầu tư nước ngoài có nhiều thay đổi và nghiêng về xu hướng
chú trọng các yếu tố đặc thù của công ty cũng như sức hấp dẫn của môi trường vĩ
mô tại các nước nhận đầu tư Do đó, việc phân tích các mối quan hệ giữa đầu tư
trực tiếp nước ngoài và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trở thành trọng tâm
chú ý của các nhà kinh tế ngày nay
Cơ sở lý thuyết có liên quan đến quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài
và các biến kinh tế vĩ mô trong chương này được chia làm ba vấn đề chính:
- Lý thuyết về các nhân tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Lý thuyết về tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư
- Lý thuyết về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận nhận đầu tư
Phần dưới đây, luận án sẽ cập từng nội dung của các lý thuyết nêu trên
1.1 Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia được các nhà kinh tế đưa ra nhằm lý giải các nguyên nhân dẫn đến dòng vốn đầu tư trực tiếp từ quốc gia này sang các quốc gia khác và ngược lại Trong khuôn khổ đề tài, tác giả luận án tập trung vào một số các quan điểm chính sau: lý thuyết của trường phái cổ điển về dòng vốn đầu tư quốc tế, lý thuyết về lợi thế vùng, lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường, lý thuyết về sự cộng hưởng nội bộ, lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm, quan điểm Chiết Trung, trường phái Nhật bản và quan điểm kinh tế chính trị học
1.1.1 Lý thuyết của trường phái cổ điển
Lý thuyết của trường phái cổ điển xuất hiện vào những năm 1960 Các
nhà kinh tế theo trường phái cổ điển như Branson W.H [43, tr.11] và Floyed J.E
[73, tr.59] cho rằng, quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia được hình thành do hai yếu tố tác động: mức sinh lời biên tế của đồng vốn và lãi suất Dòng vốn đầu tư ra nước ngoài xuất hiện là do sự khác biệt về mức lãi suất và tỷ lệ sinh lời từ đầu tư giữa nước chủ nhà (nước nhận đầu tư) và nước đầu tư Dòng vốn sẽ tạo ra các tác động lên thu nhập và phúc lợi của các nước này
Về ưu điểm, trường phái cổ điển có thể được sử dụng để giải thích cho các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm mục tiêu tối đa hóa tỷ lệ sinh lời Tuy nhiên, quan điểm cổ điển có một số các nhược điểm sau Thứ nhất, các nhà kinh tế học theo quan điểm này đã không tính đến sự khác biệt giữa các hình thức đầu tư nước ngoài Thứ hai, quan điểm dựa trên giả thuyết của một thị trường hoàn hảo là không phù hợp với tình hình thực tế, nhất là các nước có nền
Trang 12kinh tế chuyển đổi như Việt nam Thứ ba, quan điểm này khó có thể giải
thích được sự gia tăng trong đầu tư giữa các nước đã phát triển, những nơi
mà sự khác biệt trong lãi suất và tỷ lệ sinh lời từ đầu tư là không đáng kể
[46, tr.20];[168, tr 620]
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế vùng
Lý thuyết lợi thế vùng về đầu tư nước ngoài được Santiago C.E đề xuất
vào năm 1987 [169, tr.318] đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nước nhận
đầu tư trong việc thu hút dòng vốn trực tiếp từ nước ngoài Các tính chất đặc thù
được phân tích ở đây là các yếu tố về vị trí địa lý và nhu cầu thị trường Theo
quan điểm này, bốn nhóm yếu tố đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài là: chi phí lao động, các yếu tố tiếp thị và thị trường,
hàng rào thương mại và chính sách nhà nước Ngoài ra, diện tích và vị trí đất sẵn
có cho đầu tư và nhu cầu đầu tư vào một số các địa điểm có lợi thế vượt trội
cũng hết sức quan trọng
Về ưu điểm, lý thuyết này có thể được dùng để giải thích vì sao một quốc
gia lại có thể thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn một số các quốc gia
khác và ngược lại Tuy nhiên, lý thuyết về lợi thế vùng cũng có những hạn chế
nhất định Lý thuyết này giả định rằng không có sự khác biệt giữa đầu tư trong
nước và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi các công ty lựa chọn địa điểm để đầu
tư Trên thực tế, việc lựa chọn nơi đầu tư đã chịu ảnh hưởng rất nhiều vào các
khác biệt về môi trường đầu tư giữa các quốc gia, đặc biệt là những phức tạp về
văn hoá và nhiều rào cản xã hội khác Một yếu tố nữa là lý thuyết về lợi thế
vùng đã không giải thích được những làn sóng mạnh mẽ đầu tư ra nước ngoài
của các công ty muốn tận dụng sự cộng hưởng nội bộ của mình như là một ưu
thế cạnh tranh thị trường
1.1.3 Lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường
Lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường được Magie S.P đề nghị
vào năm 1977 [127], tập trung vào quan điểm cho rằng thị trường là luôn bất hoàn hảo, một yếu tố được xem là nguyên nhân chính khiến các công ty quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các rào cản thương mại, những hạn chế trong việc lưu thông đồng vốn và lao động, các yếu tố độc quyền và sự đa dạng hoá sản phẩm là những nguyên nhân đưa ra theo quan điểm này Một số các lý
do có thể được đề cập như sau:
Lý do thứ nhất về sự bất hoàn hảo thị trường là, nhằm đối phó với các chính sách thương mại không thuận lợi của quốc gia mình hay những hạn chế về nguồn tài nguyên trong nước, các công ty đã quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm giảm bớt các áp lực này
Lý do thứ hai, các chính sách hạn chế thương mại của nước nhận đầu tư như: thuế quan, kiểm soát tỷ giá hối đoái và các qui định chuyển thu nhập về nước, cũng góp phần dẫn đến các quyết định đầu tư của các công ty đa quốc gia Lý do thứ ba, việc sở hữu và chuyển giao kiến thức công nghệ dưới các hình thức bán và cho thuê đến các nước khác cũng là một nguyên nhân khiến các công ty quyết định đầu tư ra nước ngoài Mô hình lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Vernon [189, tr.190-207] là một ví dụ cho nhóm nguyên nhân này Về ưu điểm, lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường giải thích được hiện tượng các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm tận dụng và khai thác các lợi thế độc quyền của mình ở các thị trường nước ngoài [67]
Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này là ở chỗ nó không đề cập đến khía cạnh lựa chọn của các công ty nước ngoài về yếu tố địa lý Lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường chỉ giải thích vì sao các công ty quyết định đầu tư ra
Trang 13nước ngoài nhưng không rõ sẽ đầu tư vào đâu, quốc gia nào Một hạn chế khác
là lý thuyết về sự bất hoàn hảo của thị trường không giải thích rõ vì sao các công
ty chọn lựa hình thức đầu tư trực tiếp này mà không phải là hình thức cấp phép
nhượng quyền (Licensing, Franchising) hay bất cứ hình thức đầu tư nào khác
Một lý thuyết khác về sự bất hoàn hảo của thị trường như là nguyên nhân
khiến các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là các quan điểm của Buckley
P.J [45, tr.69] Chính vì sự bất hoàn hảo của thị trường trong các lĩnh vực như: thị
trường tiêu dùng cuối cùng, thị trường nguyên vật liệu, chính sách nhà nước,…
các công ty đa quốc gia cố gắng vận dụng các lợi thế cạnh tranh trong hoạt động
kinh doanh của mình bằng cách thành lập các chi nhánh trực tiếp quản lý của
chính họ ở nước ngoài hơn là phải phụ thuộc vào các thị trường đang tồn tại
1.1.4 Các lý thuyết khác về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài các lý thuyết được đề cập, Lý thuyết về sự cộng hưởng nội bộ
cũng đã được dùng để giải thích cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Một
số các ý chính của lý thuyết này được tóm tắt như sau:
Chính chi phí giao dịch thấp trong công ty có được nhờ sự vận dụng cộng
hưởng nội bộ đã khiến các công ty quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và
quốc tế hoá các qui trình sản xuất của họ theo quan điểm của Buckley và Cason
[45, tr.184], Cantwell [46, tr.99] và Hennart [91, tr.281-299]
Theo quan điểm của Magee and Young [128], nhằm mục đích làm gia
tăng giá trị tài sản vô hình như bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… mà
vẫn bảo đảm được tính bảo mật của chúng, các công ty quyết định đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài trong khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển
sản phẩm trong nước của mình cho mục đích bảo mật
Theo Vernon [189, tr.190-207], Paviit [156], và Canwell [46] về lý thuyết
chu kỳ sống sản phẩm, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là kết quả của quá trình
thực hiện chiến lược cạnh tranh toàn cầu của các công ty đa quốc gia nhằm mở rộng thị phần cho các sản phẩm của mình và kéo dài vòng đời cho các sản phẩm Tuy nhiên, các lý thuyết về sự cộng hưởng nội bộ và lý thuyết về chu kỳ sống sản phẩm cũng chưa được hoàn hảo ở chỗ chúng không thể giải thích được
vì sao một số các quốc gia này lại thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn các quốc gia khác [105]
Trong những năm của thập niên 90, sự gia tăng không ngừng của làn sóng đầu tư trực tiếp từ Nhật bản đến các nước khác trên thế giới đã làm cho các nhà
kinh tế hướng sự chú ý của mình vào trường phái Nhật bản của Kojima [119]
Từ các kết quả nghiên cứu của mình, Kojima cho rằng đầu tư trực tiếp của Nhật
ra nước ngoài mang tính định hướng xuất khẩu nên đem lại nhiều lợi ích cho các nước nhận đầu tư hơn là đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Mỹ, vốn mang tính thay thế hàng nhập khẩu Tuy nhiên, hạn chế của học thuyết Kojima là ở chỗ trên thực tế một số lớn các dự án đầu tư Nhật bản ra nước ngoài lại cho thấy có xu hướng tập trung vào thay thế hàng nhập khẩu nhiều hơn là định hướng xuất khẩu Mặt khác, cho dù đầu tư trực tiếp của Nhật ra nước ngoài có xu hướng làm tăng thương mại quốc tế, thì việc này cũng không phải là một tiêu chuẩn làm tăng lợi ích kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư [Man-Hee Han, 129] Một quan điểm khác trước đây cũng đã được đề cập nhằm lý giải các hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài của trường phái Kinh tế Chính trị học mà đại
diện là Radice H [161] Theo quan điểm này, các công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm tối đa hoá giá trị thặng dư và tích tụ vốn tư bản Để gia tăng mức tích lũy tư bản đến mức tối đa, các công ty buộc phải phụ
Trang 14thuộc vào sự khai thác lao động toàn cầu và quốc tế hoá đồng vốn của mình
Quan điểm của trường phái kinh tế chính trị quá tập trung vào sự công kích hoạt
động bóc lột sức lao động tại các nước nhận đầu tư hơn là những lợi ích mà đầu
tư trực tiếp từ ngoài có thể mang lại cho các quốc gia này [Hellener G.K, 90]
Nội dung chính của các lý thuyết này được tóm tắt như sau (bảng 1.2):
Bảng 1.2 Tóm tắt nội dung các lý thuyết về nhân tố đầu tư trực tiếp nước ngoài
Stt Lý thuyết – Các đại diện Nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1 Trường phái Cổ điển -
BransonW.H [43, tr.11] và
Floyd G.E [73, tr.59]
Mức sinh lời biên tế của đồng vốn và lãi suất
Sự khác biệt giữa mức lãi suất và tỷ lệ sinh lời giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư thúc đẩy các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
2 Lý thuyết lợi thế vùng-
Santiago C.E [169, tr.318]
Lợi thế của quốc gia nhận đầu tư bao gồm: chi phí lao động thấp, nguồn nguyên liệu, hàng rào thương mại, chính sách nhà nước,… thu hút các công ty nước ngoài đầu tư
3 Lý thuyết về sự bất hoàn
hảo của thị trường -
Magee S.P [127]
Các rào cản thương mại, những hạn chế trong lưu thông đồng vốn và lao động, các yếu tố độc quyền và sự khác biệt hóa sản phẩm thúc đẩy các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để tối đa hóa lợi nhuận
4 Lý thuyết về sự cộng
hưởng nội bộ - Buckley
5 Lý thuyết về chu kỳ sống
sản phẩm - Vernon R
[189, tr.190-207]
Các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là để mở rộng thị phần và kéo dài vòng đời cho các sản phẩm của mình
6 Trường phái Nhật bản -
Kojima Kiyoshi [119]
Các công ty đầu trực tiếp ra nước ngoài để gia tăng hoạt động xuất khẩu của họ hoặc thay thế hàng nhập khẩu tại các quốc gia nhận đầu tư
7 Trường phái Kinh tế
Chính trị học - Radice H
[161, tr.154-157]
Các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là để tối đa hóa giá trị thặng dư và bóc lột sức lao động của quốc gia nhận đầu tư
Vì mỗi lý thuyết vừa đề cập ở trên chỉ có thể giải thích được một khía cạnh của đầu tư trực tiếp nước ngoài nên không mang tính đại diện cho tất cả các nhân tố của loại hình đầu tư này Cần có một lý thuyết mang tính tổng hợp và toàn diện hơn Về điểm này thì quan điểm Chiết Trung của Dunning [65] là phù hợp hơn cả vì nội dung của nó gần như tổng kết các quan điểm lý thuyết khác nhau về các nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong khuôn khổ đề tài, tác giả luận án tập trung vào quan điểm Chiết Trung, được dùng làm cở sở cho các nghiên cứu các phần tiếp theo của luận án
1.2 Quan điểm Chiết Trung
Quan điểm Chiết Trung của Dunning [65] được phát triển vào năm 1988 được xem là những lý giải khá hợp lý về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia Nội dung chính của quan điểm này cho rằng, các hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài là do kết quả của ba nhóm điều kiện sau: Lợi thế về quyền sở hữu (O), lợi thế về cộng hưởng nội bộ (I) và lợi thế vùng (L)
Sự kết hợp của ba nhóm yếu tố: lợi thế đặc thù của doanh nghiệp, lợi thế địa phương và yếu tố nội bộ hóa được đưa ra bởi Dunning nhằm lý giải các hoạt động đầu tư nước ngoài bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:
- Nhóm các yếu tố về lợi thế đặc thù của doanh nghiệp (O – từ viết tắt của Ownership)
- Nhóm các yếu tố về lợi thế nội bộ hoá (I-từ viết tắt của Internalization)
- Nhóm các yếu tố về lợi thế địa phương (L- từ viết tắt của Location) Có thể thấy rằng quan điểm Chiết trung của Dunning là sự tổng hợp các điểm chính của các lý thuyết khác về đầu tư nước ngoài có được trước đó Theo quan điểm này, quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty là do sự phân tích và xem xét các yếu tố lợi thế về quyền sở hữu của công ty, lợi thế
Trang 15cộng hưởng nội bộ và các lợi thế của địa phương nhận đầu tư Theo tác giả
Dunning, tất cả ba nhóm yếu tố này phải được đảm bảo khi các công ty ra quyết
định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Để hiểu rõ hơn về quan điểm Chiết trung (OLI), phần dưới đây sẽ phân
tích sâu hơn từng nhóm điều kiện các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.2.1 Các lợi thế về quyền sở hữu (O)
Quan điểm về lợi thế quyền sở hữu ra đời có liên quan mật thiết với lý
thuyết về tổ chức công nghiệp được phát triển bởi Hymer S.H [101] Dựa vào sự
bất hoàn hảo của thị trường, Hymer cho rằng cấu trúc thị trường và các tính chất
đặc thù của công ty chính là các yếu tố quyết định khiến các công ty đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài vì chỉ có hoạt động này mới giúp được các công ty tranh thủ
khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của mình một cách có hiệu quả nhất
Khi một công ty quyết định thiết lập một chi nhánh trực tiếp của mình ở
nước ngoài thì cần cân nhắc những bất lợi có thể có trong việc cạnh tranh với
các công ty nội địa ở nơi mà họ đầu tư Những bất lợi này có thể bao gồm: các
khó khăn trong quản lý và điều hành chi nhánh từ xa, sự khác biệt về ngôn ngữ,
văn hoá, hệ thống luật pháp, các điều kiện kỹ thuật và sở thích của khách hàng
Tuy nhiên, một công ty có thể chấp nhận các khó khăn này và quyết định
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nếu công ty có được một số các lợi thế so với các
công ty nội địa, còn gọi là các “lợi thế đặc thù” của công ty Những lợi thế đặc
thù này xuất phát từ sự bất hoàn hảo của thị trường Theo Hymer, có hai loại bất
hoàn hảo: các lợi thế vượt trội về tài sản và lợi thế vượt trội về khả năng giảm
thiểu chi phí giao dịch
Các lợi thế vượt trội về tài sản
Đây là các lợi thế mà một công ty có được do sự bất hoàn hảo trong cấu trúc thị trường về các yếu tố sau:
- Tài sản hữu hình: ưu thế thuộc về các khả năng vượt trội trong việc tiếp cận các yếu tố đầu vào giá rẻ hoặc có được sự độc quyền về một loại nguyên vật liệu nào đó như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, thông tin,…
- Tài sản vô hình: các lợi thế về kiến thức, công nghệ, thương hiệu, bằng phát minh, năng lực quản lý, hệ thống marketing, năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm, kinh nghiệm, …
- Qui mô và khả năng định vị thị trường, bao gồm các ưu thế vượt trội về khả năng tiếp cận và khai thác thị trường các loại sản phẩm, thị trường các yếu tố sản xuất, khả năng đa dạng hoá sản phẩm, phân chia và chuyên môn hoá lực lượng lao động, lợi thế theo qui mô và các khả năng gây ảnh hưởng đến các chính sách của chính quyền địa phương
Các lợi thế về khả năng giảm thiểu chi phí giao dịch:
Các lợi thế về khả năng giảm thiểu chi phí giao dịch bao gồm:
- Các lợi thế mà một chi nhánh của công ty nước ngoài có được so với các công ty nội địa là do sự giúp đỡ của công ty mẹ trong việc khai thác các năng lực sẵn có nhằm giảm tối đa các chi phí giao dịch trong quá trình sản xuất và kinh doanh Việc khai thác khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào giá rẻ, kiến thức vượt trội về thị trường, năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, qui trình chuẩn hoá trong quản lý và kế toán Tất cả các ưu thế này, nếu được khai thác tốt, sẽ giúp cho các chi nhánh của công ty hoạt động ở nước ngoài có thể giảm thiểu tối đa các chi phí giao dịch của mình và tạo ra các ưu thế so với các công ty địa phương Một yếu tố khác cũng khá quan trọng là khả năng điều phối
Trang 16nhịp nhàng giữa công ty mẹ và các chi nhánh của nó ở nước ngoài tạo ra sự công
hưởng cần thiết nhằm giảm các chi phí trong kinh doanh
- Các lợi thế xuất phát từ yếu tố “đa quốc gia” bao gồm: Khả năng tiếp
cận và cập nhật thông tin về kiến thức, thị trường, nguồn nguyên liệu sản xuất,
khả năng của sự khác biệt về địa lý kinh tế nhằm khai thác triệt để sự thâm
dụng các yếu tố dư thừa, sự can thiệp của nhà nước, thị trường,…,khả năng giảm
thiểu rủi ro về tỷ giá hối đoái do hoạt động ở các quốc gia khác nhau
Tóm lại, các lợi thế về quyền sở hữu được đưa ra nhằm giải thích vì sao
các công ty khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể hoạt động thành công và có
thể cạnh tranh được với các công ty địa phương tại các nước nhận đầu tư
1.2.2 Lợi thế nội bộ hoá (I)
Để giảm thiểu chi phí, các công ty đa quốc gia có xu hướng phát triển và
sử dụng các yếu tố nội bộ trong hệ thống phân tầng tổ chức của mình nếu các
giao dịch nội bộ ít tốn kém hơn so với các giao dịch bên ngoài cung cấp Muốn
vậy, các công ty này cần phải có các lợi thế về tính nội bộ khá cao để có thể ra
các quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho dù các hình thức xuất khẩu hay
nhượng quyền thương hiệu, bán công nghệ có vẻ hấp dẫn hơn về phương diện
rủi ro và tỷ suất sinh lời
Có thể xác định một số các nguyên nhân mà một công ty chọn giải pháp
nội bộ hoá trong đầu tư kinh doanh quốc tế Hai nhà kinh tế học Buckley và
Cason [45] cho rằng, do ảnh hưởng của sự khác biệt giữa các thị trường là
nguyên nhân chính Động lực thúc đẩy các công ty đa quốc gia quyết định đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài gồm các yếu tố sau đây:
- Các yếu tố đặc thù về ngành công nghiệp: như lợi tức theo qui mô, cơ
cấu thị trường ngoài nước,…
- Các yếu tố đặc thù của địa phương nhận đầu tư như: khoảng cách địa lý, năng lực quản lý, sự khác biệt về văn hoá,…
- Các yếu tố đặc thù của quốc gia nhận đầu tư như: điều kiện chính trị, tài chính,…
- Các yếu tố đặc thù của chính công ty như: kỹ năng quản lý, kỹ năng tiếp thị, kỹ thuật,…
Khi cân nhắc các yếu tố nêu trên, một công ty có thể quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bằng phương pháp trực tiếp và nội bộ hoá nếu quá trình phân tích cho thấy chúng có lợi hơn về mặt chi phí Theo Giddy [82, tr 90-97], lợi ích về mặt chí phí có thể có được từ các nguyên do sau:
- Khả năng tiếp cận các nguyên vật liệu sản xuất và nhân công với giá rẻ sự bất hoàn hảo của thị trường đối với tài sản của công ty như sự nổi tiếng về thương hiệu
- Khả năng độc quyền kiểm soát mạng lưới sản xuất và phân phối sản phẩm
- Khả năng hưởng lợi từ các chính sách của nước nhận đầu tư
Dunning [65, tr.10-31] đã nêu ra một số các lợi thế nội bộ hoá của một công ty khi quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như sau:
Sự thất bại của thị trường các sản phẩm cuối cùng
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để sản xuất và bán tại các thị trường nước sở tại mà ở đó các loại sản phẩm của công ty chưa hiện diện cũng là một trong những ưu thế của chiến lược của “người đi trước” Chiến lược này sẽ có ý nghĩa khi các công ty trực tiếp đầu tư vào thị trường của các quốc gia còn nghèo nàn về chủng loại hàng hoá hoặc các thị trường có sản phẩm cùng loại với sản phẩm công ty nhưng chất lượng kém hơn
Trang 17Phát triển thị trường trong tương lai
Vận dụng các ưu thế sẵn có để tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là
một trong những chiến lược phát triển thị trường trong dài hạn của các công ty đa
quốc gia Một dự án đầu tư trực tiếp với việc xây dựng các cơ sở sản xuất, nhà
máy và cơ sở hạ tầng ở nước ngoài luôn là chiến lược dài hạn nhằm phục vụ
khách hàng tại thị trường của các quốc gia nhận đầu tư
Sự thất bại thị trường của các yếu tố sản xuất
Chi phí giao dịch sẽ giảm mạnh khi các công ty đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài nhằm né tránh các loại phí có liên quan đến bản quyền về sử dụng nguyên
liệu tại nước mình Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi các quốc gia của công ty
nghèo nàn về nguồn tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài còn có thể giúp công ty kiểm soát được nguồn cung ứng nguyên liệu và
các giao dịch thu mua vào những mùa khan hiếm
Thế mạnh độc quyền
Trong nhiều trường hợp, luật chống độc quyền tại các quốc gia của các
công ty không cho phép vận dụng các chính sách phân biệt giá đối với người
tiêu dùng Lúc này, các công ty đa quốc gia sẽ chọn hình thức đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài đến một số nước mà ở đó luật chống độc quyền và các hình thức hạn
chế độc quyền khác chưa thành hình hoặc còn chưa chặt chẽ để tận dụng thế
mạnh độc quyền của mình
Mặt khác, khi tiến hành các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ
giúp công ty mở rộng qui mô sản xuất của mình Qua đó, công ty có thể có được
các lợi ích về lợi tức tăng dần theo qui mô, lợi tức do đa dạng hoá sản phẩm,…
Kiểm soát được các đầu ra của sản phẩm là một ưu thế khác của nội bộ
hoá Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp các công ty có được sự đa dạng hoá
về thị trường các sản phẩm đầu ra và gia tăng tính bổ sung cho nhau của các thị trường này Sự suy giảm doanh thu tại thị trường của một nền kinh tế bị suy thoái có thể được bổ sung bằng doanh thu từ các thị trường khác Mặt khác, bằng hình thức đầu trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp các công ty kéo dài thêm vòng đời các sản phẩm, chuyên biệt hoá và đa dạng hoá sản phẩm để làm tăng doanh thu của mình Thêm vào đó, trong những điều kiện đặc thù của các quốc gia nhận đầu
tư, công ty nước ngoài có thể vận dụng các chiến lược phi cạnh tranh như trợ giá chéo, bán phá giá, chuyển giá,…
Chính sách nhà nước
Lợi thế nội bộ hoá được các công ty đa quốc gia vận dụng triệt để nhằm giảm thiểu chi phí khi gặp phải áp lực hàng rào thương mại từ các quốc gia nhận đầu tư Chính sách hạn chế hàng nhập khẩu thường làm giá cả hàng hoá tăng cao tại thị trường nước ngoài Một dự án đầu tư trực tiếp vào các quốc gia này sẽ giúp giảm thiểu chi phí giao dịch thị trường và tăng khả năng cạnh tranh của công ty Chiến lược này có thể tránh được các chính sách của nước ngoài có liên quan đến hàng rào thương mại và kiểm soát giá cả
1.2.3 Lợi thế địa phương nhận đầu tư (L)
Giả sử một công ty có được những ưu thế nội bộ hoá và quyết định đầu tư
ra nước ngoài, chúng ta có thể thấy rằng công ty này sẽ có xu hướng đầu tư vào những vùng mà nó có thể tối đa hoá lợi ích từ việc nội bộ hoá của mình Cho đến nay, các nghiên cứu về những lợi thế của địa phương như một nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được thực hiện khá nhiều Trên thực tế, những lợi thế này sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với những người ra chính sách ở các địa phương nhận đầu tư hơn là bản thân công ty nước ngoài
Trang 18Nhìn chung, những yếu tố lợi thế của địa phương có thể chia làm hai loại:
các yếu tố đẩy là những nguyên nhân làm cho một công ty quyết định đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài, và các yếu tố hút là những yếu tố có tác dụng định
hướng cho một công ty đầu tư vào một vùng cụ thể nào đó Do phạm vi giới hạn
của đề tài, luận án sẽ tập trung vào các yếu tố thu hút nhằm nghiên cứu những
động thái cho việc chọn lựa quốc gia để đầu tư của các công ty nước ngoài
Jianuy O [109] đã đưa ra sáu nhóm yếu tố có liên quan đến các lợi thế
vùng của một địa phương có tác động thu hút đầu tư nước ngoài bao gồm:
- Kích cỡ hay qui mô thị trường và mức tăng trưởng của thị trường địa
phương cũng như của quốc gia nhận đầu tư
- Sự phát triển cơ sở hạ tầng
- Các lợi thế so sánh của địa phương và ưu thế về nguồn nguyên
liệu đầu vào
- Mức độ mở cửa của địa phương
- Các chính sách của Nhà nước và chế độ tỷ giá hối đoái
- Mức độ tương đồng về mặt địa lý , văn hoá và ngôn ngữ
Dưới đây sẽ trình bày từng nhóm yếu tố
Qui mô thị trường và mức tăng trưởng của thị trường tại quốc gia nhận
đầu tư
Với những điều kiện cho trước về lợi thế nguồn tài nguyên và chính sách
thu hút đầu tư của một quốc gia, có thể thấy rằng các công ty nước ngoài sẽ
quyết định đầu tư vào nơi nào có qui mô thị trường hấp dẫn nhất Một số các chỉ
số kinh tế có thể được dùng để đo lường qui mô thị trường là mức tăng trưởng
của GDP thực hay giá trị tổng tiêu dùng hàng năm tại quốc gia đó
Các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành bởi các nhà kinh tế học như Bandera và White [40], Dunning [63], Cave R.E và More A [50], và gần đây nhất là Johana Nilsson [111] và Gerardo Mendoza [81]… đã cho thấy được mối quan hệ thuận chiều giữa giá trị GDP và giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia Các nghiên cứu của của Caves R.E và More A [50] cho thấy nhân tố chính khiến các công ty Mỹ quyết định đầu tư vào Châu Aâu, đặc biệt là Anh quốc, chính là kích cỡ thị trường Nghiên cứu này cho biết các chính sách nhà nước còn đứng sau yếu tố về kích cỡ thị trường về thứ tự mức độ quan trọng Về mặt lý thuyết có thể thấy rằng, tốc độ tăng trưởng cao của GDP và tổng tiêu dùng có thể khiến các công ty nước ngoài tin tưởng cao vào mức sinh lời kỳ vọng từ đầu tư và do đó, đây là nhân tố khá quan trọng cho việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Điều này đã được kiểm chứng qua thực tế về đầu
tư nước ngoài vào các nước ASEAN do Jianyu O [109]nghiên cứu vào năm 1997
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
Nhìn chung, cơ sở hạ tầng bao gồm các cơ ngơi vật chất như giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, v.v… và các phần mềm như các điều kiện về thương mại, luật pháp, và giáo dục
Sự sẵn có và hiệu quả sử dụng các cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của một quốc gia là những nhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Cơ sở vật chất sẵn có ở đây có thể bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải các loại, cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống thông tin liên lạc và nguồn tài nguyên Ngoài ra, chúng ta có thể cân nhắc thêm sự có sẵn của các khu công nghiệp và các khu chế xuất
Trang 19Sự có sẵn của một nguồn nhân lực được đào tạo tốt ở địa phương cũng có
thể là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, là một khu vực luôn cần có các công
nhân lành nghề và đội ngũ quản lý và kỹ thuật trình độ cao
Có thể nói rằng, ảnh hưởng quan trọng nhất của nhóm yếu tố cơ sở hạ
tầng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là khả năng giảm thiểu chi phí
giao dịch và làm tăng năng suất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Các lợi thế so sánh của địa phương và ưu thế về nguồn nguyên liệu đầu vào
Theo học thuyết của trường phái kinh tế Tân cổ điển, những yếu tố quan
trọng của một địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là các
lợi thế về nguồn lao động rẻ và nguồn tài nguyên dồi dào Đây là những lợi thế
so sánh của một quốc gia Có thể thấy rằng, do thiếu tính cạnh tranh về giá lao
động và nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, các công ty tại các nước phát
triển đang dần dần chuyển những ngành sản xuất thâm dụng lao động sang các
nước đang phát triển để khắc phục các yếu điểm này
Các nghiên cứu để minh chứng thực tế cho hiện tượng này có thể được tìm
thấy trong các công trình của các nhà kinh tế học như Lucas [124, trang 391-406],
Kumar [120, tr.141-156], M.Talha Atik [126], Fawaaz Binsaeed [72]…
Mức độ mở của quốc gia nhận đầu tư
Trường phái tân cổ điển nhấn mạnh rằng luồng đầu tư nước ngoài có xu
hướng chảy vào các quốc gia theo đuổi các chiến lược phát triển hướng ngoại
[35] Về sau, các quan điểm này được kiểm chứng bởi các nghiên cứu thực
nghiệm của Balasubramaniam và Salisu [38], Jacson và Markovski [104,
tr.159-179] Trung quốc và Việt Nam cũng có thể được xem là hai ví dụ về quan điểm
này Các chính sách mở cửa của nước ta và Trung quốc đã thu hút ngày càng nhiều lượng vốn đầu tư từ các quốc gia khác nhau trên thế giới
Chính sách ưu đãi của quốc gia nhận đầu tư và cơ chế về tỷ giá hối đoái
Các chính sách nhà nước có liên quan đến tỷ giá hối đoái, hệ thống thuế, trợ cấp, các ưu đãi về cơ sở hạ tầng, thủ tục cấp phép và các qui định hành chính khác sẽ là các yếu tố quan trọng trong việc làm tăng thêm lợi thế của địa phương trong viêc thu hút đâù tư từ nước ngoài Ngoài ra, việc các quốc gia duy trì sự ổn định về kinh tế và chính trị, hỗ trợ đầu tư và theo đuổi các chính sách hướng ngoại, nâng cấp nguồn nhân lực, tạo ra môi trường kinh tế mang tính cạnh tranh,… cũng là những yếu tố rất quan trọng Hệ thống các chính sách về ưu đãi đầu tư và chế độ tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài
Các hình thức ưu đãi về đầu tư
Theo quan điểm của Barusudramanyam và Salisu M.A [38], việc xem xét các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ dựa trên ba giả thiết sau: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đối với hoạt động đầu tư trong nước và không gây ra các tác động loại trừ các công ty nội địa Thứ hai, các địa phương nhận đầu tư thu lợi từ hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ ba, các công ty quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là
do chính sách ưu đãi của các địa phương nhận đầu tư Nếu chấp nhận ba giả thiết trên thì chúng ta có thể liệt kê các hình thức ưu đãi như sau (bảng 1.3):
Trang 20Bảng 1.3 Các hình thức ưu đãi đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Công cụ chính sách Hình thức ưu đãi
Các chính sách ưu đãi nhằm giảm chi
phí đầu vào cho các công ty:
Giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu
các nguyên liệu đầu vào
Miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị
Thời hạn khấu hao nhanh
Hỗ trợ vốn đầu tư
Hỗ trợ đào tạo
Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và
phát triển
Các chính sách ưu đãi về đầu ra:
Hỗ trợ xuất khẩu
Miễn thuế có thời hạn
Sự quyết tâm duy trì nền kinh tế thị
trường
Chính sách về lợi nhuận giữ lại từ
hoạt động kinh doanh
Trợ cấp về những nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu
Trợ cấp nếu sử dụng nguyên liệu đầu vào nội địa
Trợ cấp về trang thiết bị Trợ cấp về việc phát triển nguồn vốn con người
Khuyến khích áp dụng công nghệ hiện đại
Khuyến khích tăng sản lượng xuất khẩu bằng việc trao thưởng Miễn thuế lợi tức trong một số giai đoạn nhất định
Trao cho các nhà đầu tư thị trường độc quyền tại địa phương
Cho phép các công ty đa quốc gia giữ lại số ngọai hối kiếm được
Nguồn: tổng hợp của tác giả từ các tài liệu tham khảo
Ngược lại, một số các công cụ chính sách có thể gây ra tác động không tốt
đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo các nghiên cứu của Dunning [63] và
Kumar N [120], các quốc gia áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu và các
hàng rào thương mại khác khó có thể được chọn bởi các công ty nước ngoài xét
về phương diện ưu đãi đầu tư
Cơ chế tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia thông qua việc nâng giá hay làm làm mất giá đồng nội tệ trong nước Một chính sách làm mất giá đồng nội tệ sẽ làm tăng thêm giá trị thực tế của đồng vốn nhà đầu tư nước ngoài so với đồng tiền trong nước và do đó khuyến khích dòng chảy vào của đầu tư nước ngoài Một chính sách làm nâng giá đồng nội tệ sẽ mang lại kết quả ngược lại Tuy nhiên, sự dao động thường xuyên của tỷ giá hối đoái hay hiện tượng mất giá liên tục của đồng nội tệ thực sẽ không khuyến khích đầu tư nước ngoài
vì nó tạo ra tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế Vì thế vai trò của tỷ giá hối đoái trong việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có tính chất hai mặt Nhưng nhìn chung, việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cần phải có một cơ chế tỷ giá hối đoái mang tính ổn định và tính cạnh tranh
Vị trí địa lý, các yếu tố văn hoá và ngôn ngữ
Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, nhu cầu tối thiểu hoá các chi phí về giao thông vận tải, thời gian vận chuyển, phí truy cập thông tin, chi phí có liên quan đến các yếu tố văn hoá, ngôn ngữ, lựa chọn vị trí địa lý,… trở nên ngày càng quan trọng và là những yếu tố thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào một quốc gia Các nghiên cứu gần đây cho thấy đã có sự thay đổi của luồng vốn đầu tư nước ngoài từ Mỹ vào các nước thuộc Châu Mỹ La-tin và từ Nhật vào các nước Châu Á và từ Châu Aâu vào các nước Châu Phi và Đông Aâu cũ
Tóm lại, về ưu điểm có thể thấy rằng, quan điểm Chiết trung đã cho
chúng ta thấy toàn bộ bức tranh về các nhân tố thu hút từ đầu tư trực tiếp từ nứơc ngoài vào một quốc gia Quan điểm Chiết trung đã cho thấy được đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia là kết quả phối hợp đồng thời giữa nhiều yếu
Trang 21tố: lợi thế về quyền sở hữu, lợi thế nội bộ hoá và các lợi thế của địa phương
nhận đầu tư
Tuy nhiên, quan điểm Chiết trung về đầu tư nước ngoài cũng có những
hạn chế Thứ nhất, do nội dung của lợi thế về quyền sở hữu có nhiều trùng lắp
với hai khái niệm còn lại và như vậy hơi thừa [102, tr.445-460] Thứ hai, mặc dù
quan điểm Chiết trung được chấp nhận rộng rãi nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi
và cần có một sự phân tích sâu hơn nữa về nguồn gốc phát sinh của những lợi
thế đặc thù công ty và những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự
phát triển của nước nhận đầu tư kể cả các vấn đề về độc quyền nhóm, hiện
tượng chuyển giá và các điểm bất hoàn hảo khác của thị trường [90, tr.1453]
Thứ ba, theo quan điểm của tác giả luận án (cũng là điểm mới được nghiên cứu
trong luận án này), quan điểm Chiết trung đã không tính đến tác động của dao
động các biến số kinh tế vĩ mô lên các nhân tố lợi thế vùng của quốc gia nhận
đầu tư
Nhìn chung có thể kết luận rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một
quốc gia là kết quả phối hợp đồng thời giữa nhiều yếu tố: lợi thế về quyền sở
hữu, lợi thế nội bộ hoá và các lợi thế của địa phương nhận đầu tư Điểm cần lưu
ý ở đây là các lợi thế này sẽ thay đổi theo thời gian Đối với các nền kinh tế
đang phát triển có tốc độ tăng trưởng tương đối cao như Việt Nam và một số
nước trong khu vực, sự hấp dẫn của lợi thế địa phương ngày càng tăng nếu các
quốc gia này duy trì được các chính sách hiệu quả trong việc thu hút đầu tư từ
nước ngoài Trong tương lai, điều này sẽ làm thay đổi các xu hướng và hình thức
đầu tư nước ngoài từ các quốc gia có nền công nghiệp có giá trị gia tăng thấp
đến các quốc gia khác Trong suốt quá trình này, các công ty trong nước có thể
hình thành và phát triển các lợi thế về quyền sở hữu của mình sao cho có khả
năng xúc tiến đầu tư ra nước ngoài Như vậy, có thế nói, quan điểm Chiết trung hiện nay là quan điểm phù hợp nhất cho việc phân tích vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài như là một động lực cho tăng trưởng và phát triển cho các quốc gia nhận đầu tư
Khung lý thuyết về các nhân tố đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện qua sơ đồ 1.3 Phần tiếp theo của luận án sẽ tập trung phân tích vài trò và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư
1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các biến kinh tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư
Nhìn chung, các quan điểm khác nhau về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được chia thành hai nhóm Nhóm thứ nhất bao gồm các quan điểm ủng hộ hoạt động của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế thế giới dựa trên cơ sở những lợi ích mà chúng mang lại cho kinh tế các nước nhận đầu
tư Nhóm này chứa đựng quan điểm của các nhà kinh tế như Vernon [189, 207], Dunning J.H [59], …Nhóm thứ hai bao gồm các quan điểm phê phán các vấn đề tiêu cực phát sinh do hoạt động của các công ty nước ngoài Đại diện của quan điểm này có thể kể đến các nhà kinh tế chính trị, Radice [161], Jenkins [108] ,…
tr.190-Nội dung phần này đề cập đến tác động hai mặt của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư thông qua một số các biến số kinh tế vĩ mô Mặc dù đầu tư trực tiếp nuớc ngoài có tác động lên nước chủ nhà một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực như: xã hội, văn hoá, chính trị, môi trường, trong khuôn khổ của mình, luận án chỉ đề cập đến các tác động về mặt kinh tế
Trang 22Các tác động kinh tế của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên các biến số kinh
tế vĩ mô của quốc gia nhận đầu tư có thể bao gồm các khía cạnh sau: giá trị
GDP, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ hội việc làm, tăng trưởng sản lượng công
nghiệp, xuất khẩu, quá trình tích lũy vốn, tiến bộ công nghệ, các mối liên hệ, sự
mất cân đối trong phát triển giữa các địa phương trong cùng một quốc gia, sự
phụ thuộc,… Trong phần này, luận án sẽ lần lượt trình bày nhận xét các quan
điểm lý thuyết từng tác động một của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên nền kinh tế
tại một quốc gia
1.3.1 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế
của quốc gia nhận đầu tư
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, tăng trưởng kinh tế hàng năm của
một quốc gia được tính toán thông qua giá trị GDP thực, là tổng giá trị thị trường
của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ của quốc gia
đó trong một năm và sử dụng đơn giá của năm gốc Có thể minh họa giá trị GDP
thực theo công thức sau:
GDP thực năm t = ∑ Qt*Po (1.1)
i =1
Trong đó, Qt là số sản lượng của hàng hóa i vào năm t và Po là giá của
hàng hóa i trong năm gốc
Khi có sự hiện diện của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, cơ cấu
tổng sản lượng ∑Qt sẽ bao gồm hai thành phần:
Trong đó, Qtd: số đơn vị sản phẩm được sản xuất bởi các công ty nội địa
Qtf: số đơn vị sản phẩm được sản xuất bởi các công ty có vốn
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Do đó, tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư có thể được xác nhận thông qua tỷ lệ đóng góp của loại hình đầu tư này vào giá trị tổng sản phẩm trong nước GDP thực như sau: Tỷ lệ đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài
= (∑Qft*Po) / (∑Qt*Po))* 100 (1.3) Vai trò tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư cũng đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu của Johana Nilssson [111] và Gerardo Mendoza [81]
1.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tổng tiêu dùng trong nền kinh tế
Theo quan điểm của Mankiw [131] và các nhà kinh tế học khác như Keynes, Fisher,… tăng trưởng kinh tế làm gia tăng tổng thu nhập của quốc gia nhận đầu tư và do đó làm gia tăng tổng tiêu dùng do mối quan hệ giữa hai đại lượng này là đồng biến (hàm số tiêu dùng phụ thuộc đồng biến với thu nhập khả dụng)
Do đó, khi đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư như đã phân tích ở trên thì tác động tích cực của loại hình đầu tư này đối với tổng tiêu dùng trong nền kinh tế có thể được xác định Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào cho thấy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài làm giảm tiêu dùng trong nền kinh tế tại quốc gia nhận đầu tư
1.3.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với cơ hội việc làm
Các nguyên lý kinh tế học được đề cập và phân tích khi các quốc gia quyết định thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho phát triển kinh tế Tính chất hai mặt của loại hình đầu tư này khiến câu hỏi đặt ra khi một quốc gia nhận đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài Đó là:
Trang 23Sự thâm nhập của các công ty từ nước ngoài có tạo ra thêm các công việc
mới hay không?
Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tác động của đầu tư trực
tiếp nước ngoài đối với việc tạo ra cơ hội việc làm cho người dân trong nước
nhận đầu tư kể cả quan điểm ủng hộ và quan điểm phê phán Có thể điểm qua
một số các quan điểm sau về tác động này:
Các tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với cơ hội việc
làm được ủng hộ bởi trường phái kinh tế cổ điển và các lý thuyết về chu kỳ sống
sản phẩm Học thuyết H-O (Heckscher Ohlin) về yếu tố thâm dụng lao động cho
rằng các nước nhận đầu tư thường là các quốc gia có nhiều lao động và các nhà
đầu tư nước ngoài thường bị hấp dẫn bởi các lực lượng lao động giá rẻ và có tay
nghề này Vì thế, bất cứ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nào theo đuổi các
mục tiêu vừa nêu đều tạo ra sự gia tăng đáng kể cơ hội việc làm ở các nước
nhận đầu tư
Tuy nhiên, một số các quan điểm khác lại cho thấy tác động tiêu cực của
đầu tư trực tiếp nước ngoài Có thể tóm tắt thành một số ý như sau:
- Sự gia tăng họat động của các công ty nước ngoài dường như đã thay thế
dần các công ty địa phương trong việc cung cấp hàng hóa trên thị trường Mặt
khác, các công ty nước ngoài có xu hướng sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu
nhiều hơn vì mục tiêu chất lượng Hậu quả là đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ tạo
ra một sự dịch chuyển lao động từ các công ty nội địa sang các công ty nước
ngòai chứ không tạo ra thêm việc làm cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư
- Lao động địa phương đa phần được thuê mướn cho các công việc tạo ra
giá trị gia tăng thấp và ít có khả năng nâng cao trình độ và tay nghề
- Cho dù việc sử dụng lao động địa phương làm gia tăng đáng kể công ăn việc làm cho nước nhận đầu tư, số lượng công ăn việc làm cũng không thể tăng được trong các lĩnh vực ngành nghề không hoặc ít có đầu tư trực tiếp nước ngòai Theo Peter Dicken [157, tr.400-404], hầu hết các nghiên cứu thực tiễn cũng chỉ có thể tính toán được số lượng lao động được thuê mướn trực tiếp bởi các công ty nước ngoài như là một minh chứng về tác động tích cực của đầ tư trực tiếp nước ngoài Việc tính toán này cần phải cân nhắc thêm số việc làm gián tiếp được tạo ra tại các công ty có mối liên kết với các công ty nước ngòai Mặt khác, số lượng này phải được khấu trừ đi số lao động bị mất việc làm tại các công ty cạnh tranh địa phương Như vậy, tác động ròng của đầu tư nước ngòai lên việc tạo công ăn việc làm được tính theo công thức sau:
NE = (DJ + IJ) – JD (1.4)
Trong đó:
NE (Net employment) : số công ăn việc làm được tạo ra từ họat động
đầu tư trực tiếp nước ngoài
DJ (Direct Job) : số lượng việc làm trực tiếp được tạo ra
IJ (Indirect Job): số lượng việc làm gián tiếp được tạo ra
JD (Jobs displaced): số việc làm mất đi do ảnh hưởng của họat động đầu tư nước ngòai
Theo kết quả nghiên cứu của Peter Dicken [157], hầu hết các trường hợp đều cho thấy kết quả khả quan về tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối việc tạo ra công ăn việc làm tại các quốc gia nhận đầu tư cho dù có rất
ít các nghiên cứu khác cho kết quả ngược lại
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn chung sẽ tạo ra một sự gia tăng
cơ hội nghề nghiệp cho các quốc gia nhận đầu tư về cả về số lượng thuần túy và
Trang 24mức lương Vì vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp vào việc giảm thất
nghiệp khi giải quyết tình trạng thiếu việc làm của những công nhân lành nghề
cũng như công nhân không lành nghề Trong lĩnh vực sản xuất của các nền kinh
tế đang phát triển, tác động này thậm chí trở nên mạnh mẽ hơn Mặc dù có thể
trong suốt giai đoạn đầu tiên, hầu hết những công việc tại các nhà máy có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài là những ngành nghề cần nhân công tay nghề phổ
thông, nhu cầu về những lao động có tay nghề cao tại các công ty nước ngoài có
xu hướng tăng lên theo thời gian Tuy nhiên, việc đánh giá tác động về việc làm
của đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi một sự nghiên cứu chính xác trong một
vùng cụ thể (quốc gia hay vùng hay khu vực địa phương) với những đặc điểm
riêng của nó
1.3.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với giá trị sản lượng
công nghiệp
Trong phần này chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: Những hoạt động của các
công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp vào gia tăng sản lượng
công nghiệp của của quốc gia nhận đầu tư hay không ?
Theo quan điểm kinh tế học Tân- cổ điển, tổng thu nhập của một nền kinh
tế (Y) được xác định bằng tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP) và giá trị thu
nhập yếu tố ròng từ nước ngòai (NIA):
Bất cứ sự gia tăng nào trong sản lượng công nghiệp của quốc gia đều có
đóng góp vào sự gia tăng toàn bộ sản phẩm quốc nội và dẫn đến sự tăng lên
trong tổng thu nhập của quốc gia đó Việc thiết lập các công ty mới trong khu
vực, được thành lập ra bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, dĩ nhiên sẽ hứa hẹn một
sự gia tăng rõ ràng trong sản lượng công nghiệp bao gồm cả những sản phẩm của các công ty này
Tuy nhiên, một lần nữa, chúng ta nên tính toán ảnh hưởng ròng của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tổng sản lượng công nghiệp của quốc gia nhận đầu tư, dựa vào thực tế là trong khi đóng góp làm gia tăng sản lượng công nghiệp của một quốc gia, hoạt động của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể làm suy yếu sức cạnh tranh của các công ty nội địa
Trong trường hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài loại trừ các công ty nội địa, sự biến mất của một số lượng nhất định các công ty nội địa nhỏ sẽ gây ra sự giảm sút trong tổng sản lượng công nghiệp
Hơn nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp vào giá trị tổng sản lượng công nghiệp của một quốc gia dựa trên một số các phương diện Đầu tiên, sự đóng góp của nó vào việc hình thành vốn của địa phương có thể dẫn đến tác động phát triển cho nền kinh tế Thứ hai, một số tác động về chất lượng có thể được đưa ra như : sự kích thích hình thành các ngành công nghiệp mới, sự kích thích làm thay đổi về cấu trúc trong sản lượng công nghiệp, sự kích thích hướng đến gia tăng về năng suất, việc chuyển giao công nghệ và mở rộng xuất khẩu Tất cả những yếu tố này cho thấy các đóng góp của chúng có thể không tồn tại nếu đầu tư trực tiếp nước ngoài không xảy ra [119, tr.254]
1.3.5 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên vốn tích lũy của quốc gia
nhận đầu tư
Có thể đặt ra một câu hỏi khác là liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài đem đến sự gia tăng kho vốn tích lũy cho một quốc gia hay một địa phương không? Một số các quan điểm lý thuyết sẽ được xem xét sau đây:
Trang 25Cũng theo quan điểm kinh tế học Tân- cổ điển, đầu tư trực tiếp nước
ngoài được xem như là nguồn cung cấp vốn tài chính dài hạn, làm tăng thêm sự
hình thành nguồn vốn kinh tế cho nước nhận đầu tư Trong lý thuyết kinh tế Vĩ
mô, sự tăng trưởng ròng của đầu tư tư nhân bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại một thời điểm bằng tổng đầu tư trừ đi giá trị khấu hao (đầu tư ròng).Vai
trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài còn được thể hiện bởi mô hình Tổng Cung –
Tổng Cầu của Keynes, theo đó, một sự gia tăng trong đầu tư sẽ tạo ra tăng
trưởng kinh tế thông qua hiệu ứng số nhân
Tuy nhiên, một số các quan điểm khác cho rằng đầu tư trực tiếp nước
ngoài không mang lại sư gia tăng tích lũy vốn cho quốc gia nhận đầu tư
- Thứ nhất, một vài các dự án đầu tư của các công ty đa quốc gia có xu
hướng sử dụng nguồn vốn vay tại các thị trường nội địa hay từ nguồn lợi nhuận
tái đầu tư Hậu quả là đầu tư trực tiếp nước ngoài được hạch toán bằng tiền vốn
địa phương chứ không hề tạo ra dòng chảy ngoại tệ mới vào trong quốc gia Mặt
khác, nếu điều này xảy ra, các công ty nội địa lại gặp phải sự cạnh tranh không
công bằng trong việc vay vốn trên chính thị trường tài chính của quốc gia mình
- Thứ hai, ngay cả khi đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra dòng chảy tiền
vốn vào quốc gia nhận đầu tư vào lúc đầu, thì sau đó, dần dần dòng chảy tiền
vốn ngược ra khỏi quốc gia dưới hình thức lợi nhuận chuyển về ngày càng tăng
và trở nên vượt trội hơn dòng vốn chảy vào lúc ban đầu
Một lần nữa, do bản chất hai mặt của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng
ta cần những nghiên cứu cụ thể hơn tại những quốc gia cụ thể để tìm ra câu trả
lời chính xác cho tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với việc hình
thành và tích lũy vốn cho nền kinh tế
1.3.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế được thể hiện rõ nét khi các dòng chảy của hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động giữa một quốc gia với các nước khác ngày càng tăng dần Việc xem xét mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và khả năng hội nhập quốc tế của quốc gia nhận đầu tư đòi hỏi những nỗ lực trả lời các câu hỏi sau : Có phải đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng xuất khẩu cho quốc gia nhận đầu tư?
Có phải đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng khả năng hội nhập quốc tế của quốc gia nhận đầu tư?
Có tồn tại hay không mối liên hệ bổ sung cho nhau giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và trao đổi thương mại?
Đã từng có những ý kiến tranh luận về vai trò của tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài về khía cạnh này Nhà kinh tế học Mundell [145] đã thực hiện cuộc nghiên cứu dựa trên định nghĩa của lý thuyết H-O (Hecscher Ohlin) về thương mại quốc tế Theo lý thuyết, chính sách thuế quan nhằm tranh thủ nguồn vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể gây ra tác động thay thế đối với thương mại quốc tế Tuy nhiên, do các kết quả trên chỉ dựa vào một số các giả thiết đơn giản nên khó có thể mang tính thuyết phục Nếu một trong các giả thiết của mô hình bị phá vỡ, kết quả sẽ ngược lại, tức làm tăng khối lượng hàng hóa thương mại quốc tế của nước nhận đầu tư [147, tr 288-312]
Theo trường phái Nhật Bản, những giả thuyết của Kojima cho rằng có hai loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư theo xu hướng thương mại và đầu tư theo xu hướng phi thương mại Đối với hình thức đầu tiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài làm gia tăng nhu cầu mới về các hàng hóa xuất nhập khẩu và do đó mang tính chất bổ sung cho thương mại quốc tế, làm tăng khả năng hội nhập Đầu tư
Trang 26trực tiếp ở dạng này thường xảy ra giữa các nước có tiềm năng dồi dào về vốn
và những quốc gia có nguồn nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên phong phú
Trong trường hợp này, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được xem như là
một chất xúc tác cho thương mại và cho sự điều chỉnh cơ cấu công nghiệp ở
những quốc gia nhận đầu tư
Bằng cách giới thiệu với các địa phương nhận đầu tư các phương pháp và
kỹ thuật marketing và giúp họ tiếp cận với mạng lưới thị trường quốc tế và thị
trường trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho những khu vực này tăng
cường khả năng hội nhập nền kinh tế quốc gia cũng như nền kinh tế thế giới
Các nghiên cứu tại các quốc gia mới phát triển ở Đông và Đông Nam Á
cho thấy, hầu hết các công ty nước ngoài đều có tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa sản
xuất sang nước khác cao hơn tỷ lệ hàng hóa phục vụ ở các thị trường trong nước
Như vậy có thể thấy rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đóng một vai trò
hết sức quan trọng trong sự phát triển xuất khẩu ở các quốc gia nhận đầu tư Một
tác động tiếp theo mà chúng ta không thể không xem xét là ảnh hưởng của đầu
tư trực tiếp nước ngoài đối với sự hấp thu và phát triển công nghệ của quốc gia
nhận đầu tư
1.3.7 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển công nghệä
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế như mô hình Solow- Swan từng nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của phát triển công nghệ đối với sự hưng thịnh của
một quốc gia Nếu thực sự đầu tư nước ngoài có tác động thúc đẩy quá trình phát
triển công nghệ cho quốc gia nhận đầu tư thì lợi ích mang lại sẽ rất lớn Trong
trường hợp này, chúng ta cần xem xét và trả lời các câu hỏi sau đây:
- Liệu các công ty địa phương có thể hấp thụ được tiến bộ công nghệ khi
có sự hiện diện của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài?
- Liệu công nghệ hấp thụ được có phù hợp với tình hình và khả năng sản xuất hiện tại ở quốc gia nhận đầu tư hay không?
- Việc hấp thụ tiến bộ công nghệ có tốn kém nhiều hay không?
Tác động trực tiếp của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phương diện chuyển giao công nghệ có thể được giải thích bằng quan điểm Chiết trung của Dunning J.H [65] Tiến bộ công nghệ có liên quan đến những phát minh lớn có được từ các họat động nghiên cứu và phát triển với chi phí đầu tư rất cao Các quốc gia đang phát triển thường không có được các cơ hội này do khả năng hạn chế về tài chính và năng lực Hấp thụ “tiến bộ công nghệ” ở các nước đang phát triển trên thực tế có thể hiểu là sự chuyển giao các công nghệ đã có từ các quốc gia đã phát triển thông qua các họat động đầu tư trực tiếp nước ngoài bởi các công ty đa quốc gia vì các công ty này đang sở hữu các lợi thế về kỹ năng và công nghệ
Quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước đã phát triển sang các nước đang phát triển còn có thể được giải thích qua mô hình lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon [189] và Wells [196] Theo lý thuyết này, một sản phẩm mới trong hai giai đoạn đầu của vòng đời sẽ được sản xuất và bán ở các nước đã phát triển và được nhập khẩu bởi các quốc gia đang phát triển Khi sản phẩm này bước vào giai đoạn thứ ba của vòng đời (bảo hòa), thì công nghệ sản xuất chúng sẽ được chuyển giao cho các nước đang phát triển thông qua các họat động đầu tư trực tiếp nước ngoài Vào giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm, lợi thế sản xuất sẽ thuộc về các quốc gia đang phát triển do sở hữu các lợi thế vùng như lao độâng rẻ, tài nguyên dồi dào, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện Lúc này, các quốc gia đang phát triển sẽ sản xuất sản phẩm và xuất bán cho các quốc gia đã phát triển, nơi đã kết thúc vòng đời của sản phẩm đó Về sau, các
Trang 27quốc gia đang phát triển sẽ tiến hành chuyển giao công nghệ sản xuất sản phẩm
cho các nước kém phát triển hơn Quá trình tiếp diễn này sẽ thu dần khoảng
cách chênh lệch về công nghệ giữa các nền kinh tế đã phát triển với các nền
kinh tế đang phát triển
Tuy nhiên, một số các ý kiến khác cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài từ
các nước đã phát triển sang các nước đang phát triển chỉ mang theo sự chuyển
giao các công nghệ thâm dụng vốn trong khi các nước này lại đang cần các công
nghệ thâm dụng lao động Kết quả là, chi phí sản xuất sử dụng bởi các công
nghệ này lại cao hơn nếu qui trình sản xuất sử dụng các công nghệ thâm dụng
vốn Vì thế, những hàng hoá được sản xuất theo công nghệ này sẽ không đủ sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trên thị trường nội địa Chúng chỉ có thể
được bán với sự bảo hộ nhập khẩu của chính quyền địa phương [32]
Một vài nhà kinh tế học khác cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một
trong những kênh quan trọng nhất của sự chuyển giao công nghệ vì nó bao gồm
sự xây dựng tại quốc gia nhận đầu tư toàn bộ cơ sở vật chất cùng những hệ thống
sản xuất sản phẩm dưới cả hai hình thức: trọn gói và những thành phẩm rời rạc [187]
Peter Dicken [157, trang 391] đã xác định ba vấn đề được xem là quan
trọng về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối sự hấp thụ công nghệ của
nước nhận đầu tư:
Thứ nhất, phạm vi và mức độ mà công nghệ được chuyển giao giữa công
ty đa quốc gia và các công ty địa phương nhận chuyển giao Tuy nhiên, quyền sở
hữu và việc khai thác công nghệ thâm dụng vốn thuộc về các công ty đa quốc
gia và vì sự sống còn của họ nên không dễ dàng gì mà bí quyết công nghệ này
được chuyển giao hoàn toàn
Cho đến nay, rất ít các cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D) đuợc thiết lập tại các nước đang phát triển Ngay cả nếu các công ty đa quốc gia có chuyển giao những công nghệ tốt nhất, họ cũng không dại gì chuyển giao nguồn năng lực và bí quyết để tạo ra những công nghệ mới đó cho các chi nhánh tại các nước đang phát triển (“biết vận hành như thế nào” -Know-how chứ không phải “biết tại sao phải vận hành như vậy”-know-why)
Thứ hai, sự phù hợp của công nghệ được chuyển giao bao gồm cả qui trình sản xuất và sản phẩm Việc sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất những loại hàng hoá khác biệt nhau, nhiều hình thức khuyến mãi, nhiều đặc tính phức tạp và với những phân khúc hẹp của thị trường đôi khi không phù hợp với hoàn cảnh tại các quốc gia nhận đầu tư
Thứ ba, chi phí mà nước nhận đầu tư phải bỏ ra để hấp thụ công nghệ và môi trường tại quốc gia nhận đầu tư Khả năng hấp thụ công của quốc gia nhận đầu tư không thể không tính đến nguồn tài chính cần thiết cho các hoạt động này Trong một số các trường hợp, việc hấp thụ công nghệ có thể sẽ không trọn vẹn hay kém hiệu quả do hạn chế về khả năng tài chính của quốc gia nhận đầu
tư Thêm vào đó, cần phải giảm hay loại bỏ việc hấp thu các công nghệ gây ô nhiễm môi trường của nước nhận đầu tư
Tuy nhiên, chúng ta khó có thể phủ nhận rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ảnh hưởng tích cực đối với sự phát triển công nghệ đối với nền kinh tế tại các nước đang phát triển thông qua các hoạt động chuyển giao Nếu không có đầu tư trực tiếp nước ngoài, tình hình kinh tế tại các nước này sẽ không trở nên tốt hơn vì sự thiếu hụt tiền vốn, công nghệ và năng lực quản lý Nhưng việc chuyển giao công nghệ đòi hỏi các công ty nội địa phải có những mối liên kết chặt chẽ vớùi các chi nhánh của các công ty nước ngoài Phần dưới đây sẽ xem
Trang 28xét một khía cạnh khác của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Đó là mối
liên kết thuận nghịch trong công nghiệp
1.3.8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và mối liên kết trong công nghiệp
Khi nghiên cứu các mối liên kết này, chúng ta sẽ trả lời câu hỏi sau:
Liệu các dự án của công ty nước ngòai có tạo dựng và phát triển các mối
liên kết với các công ty địa phương tại các quốc gia nhận đầu tư?
Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận (lý thuyết cổ điển) cho rằng các công ty
nước ngoài đổ xô vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nền
kinh tế của các nước chủ nhà để có được những nguyên liệu đầu vào rẻ nhất
Một trong những cách đạt được là thông qua các mối liên kết với các nhà cung
cấp địa phương vì họ thường cung cấp nguyên liệu đầu vào khá rẻ với chi phí
vận chuyển khá thấp Như vậy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cần phải có
các liên kết với các công ty địa phương tại quốc gia nhận đầu tư
Mặt khác, những mối liên kết giữa nhiều công ty với nhau là những kênh
quan trọng mà qua đó công nghệ được chuyển giao đến các công ty địa phương
Bằng cách đặt hàng tại các nhà cung cấp địa phương về nguyên liệu và các
thành phần phụ kiện với những yêu cầu cao về đặc tính sản phẩm, phải đáp ứng
yêu cầu nghiêm ngặt về từng chi tiết kỹ thuật, các công ty nước ngoài sẽ giúp
nâng cao năng lực và tay nghề của các chuyên gia địa phương Với những kinh
nghiệm thu được từ quá trình liên kết kinh doanh này, các công ty trong nước có
thể cạnh tranh hiệu quả hơn trên các thị trường trong nước và trên thị trường thế
giới Ngoài ra, các họat động này có thể dẫn đến sự xuất hiện các công ty mới
trong nước nhằm đáp ứng những nhu cầu mới được đặt ra
Một vài nhân tố sau có ảnh hưởng tác động đến việc hình thành các mối
liên kết giữa các công ty nội địa và các chi nhánh của các công ty nước ngoài
[157, tr.212]:
- Mục đích đặt ra khi chi nhánh của công ty nước ngòai được thành lập: liệu chi nhánh này sẽ phục vụ thị trường tại nước chủ nhà hay sẽ phục vụ thị trường ở một nước thứ ba (xuất khẩu)?
- Chiến lược kinh doanh cụ thể của công ty mẹ và sứ mệnh của chi nhánh công ty tại nước ngoài
- Những đặc điểm của nền kinh tế tại các quốc gia nhận đầu tư
- Thời gian hoạt động của chi nhánh các công ty nước ngoài
Ngoài ra, chính phủ và các cơ quan lãnh đạo địa phương nơi nhận đầu tư cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc kích thích những mối liên kết giữa các công ty nước ngoài và công ty địa phương bằng việc hỗ trợ các công ty nước ngoài sử dụng một số nguồn vật liệu trong nước hoặc những nhân tố đầu vào khác cho quá trình sản xuất của họ Trong trường hợp này, vấn đề nằm ở khả năng đàm phán của chính phủ nước nhận đầu tư
Tuy nhiên qua các nghiên cứu kinh tế, những dấu hiệu thật sự minh chứng cho việc hình thành sự liên kết giữa các công ty nước ngoài và công ty trong nước rất khác nhau, từ chỗ không có bất cứ sự liên kết nào đến mức độ liên kết rất cao Do đó, cần phải có những nghiên cứu cụ thể tại một quốc gia cụ thể để có được những kết quả chính xác về khả năng hình thành và mức độ của các liên kết này
1.3.9 Đầøu tư trực tiếp nước ngoài và sự mất cân đối trong phát triển giữa các địa phương
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, hiện tượng chênh lệch trong mức phát triển giữa các vùng khác mhau là không tránh khỏi do thiếu nguồn vốn đầu tư rải đều, do chiến lược phát triển kinh tế đặc thù và một số các nguyên nhân khác Tuy nhiên, giảm thiểu mức độ chênh lệch này là một việc cần nên làm
Trang 29Chính sách phát triển của một quốc gia không những quan tâm đến tăng
trưởng kinh tế, việc làm, xóa đói nghèo và những chính sách phát triển khác mà
còn tập trung vào những tác động về kinh tế và xã hội của sự phát triển xét trên
phương diện địa lý nói chung Các kinh nghiệm trước đây cho thấy hai vấn đề
chính của chính sách phát triển vùng Đó là: việc tồn tại lâu dài sự mất cân đối
đáng kể về kinh tế và xã hội trong và giữa các vùng với nhau và sự tập trung cao
độ của quá trình đô thị hóa Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, câu hỏi
được đưa ra ở đây là liệu sự gia tăng trong hoạt động của các công ty nước ngòai
thông qua đầu tư trực tiếp và sự tập trung của chúng vào một số trung tâm phát
triển cao có làm xấu hơn nữa những cách biệt trong phát triển giữa các địa
phương với nhau tại quốc gia nhận đầu tư?
Có thể nói rằng, nếu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phương tiện
cho sự phát triển kinh tế của các địa phương vì sự đóng góp của nó vào giá trị
tổng sản phẩm, sự gia tăng hợp tác và hội nhập kinh tế, tạo ra nhiều việc làm,
chuyển giao công nghệ, tích lũy vốn, và các mối liên kết, thì việc tập trung vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một số trung tâm phát triển có thể làm gia tăng
hơn nữa sự khác biệt giữa các khu vực ít nhất là về khía cạnh kinh tế Hay nói
cách khác, điều này có thể dẫn đến việc gia tăng sự mất cân đối trong phát triển
giữa các vùng miền trong một quốc gia Tuy nhiên, mức độ về sự tác động của
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chưa rõ ràng bởi vì vẫn cần phải xem xét đến
những nhân tố khác như những yếu tố về địa lý, lịch sử và con người
Về lý thuyết, chúng ta có thể định lượng tác động này của đầu tư trực tiếp
nước ngoài sử dụng công thức tính sự bất bình đẳng của Williamson [199, trang
3-45] như sau:
/ Y
W: chỉ số bất bình đẳng trong tăng trưởng công nghiệp Yi: giá trị sản lượng công nghiệp trong một tỉnh, thành phố chia cho dân số của tỉnh, thành phố đó
Y: giá trị sản lượng công nghiệp bình quân tính trên đầu người tại Việt Nam P: dân số cả nước
Pi: dân số của tỉnh, thành phố Trong công thức này, giá trị Pi/P thể hiện trọng số của mỗi địa phương Giá trị Ʃ(Yi- Y)2 là tổng bình phương các chênh lệch giữa mức sản lượng công nghiệp tính trên đầu người của địa phương (Yi) và giá trị trung bình của cả nước (Y) Chỉ số này càng lớn cho thấy sự bất bình đẳng trong phát triển công nghiệp giữa các địa phương càng cao
Kết quả kiểm chứng từ thực tế đã cho thấy, ở những quốc gia đang phát triển, việc nhận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài càng lớn thì sự mất cân đối giữa các địa phương là rất phổ biến Tại Thượng Hải (Trung Quốc ) nơi thu hút được một lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn có năng suất lao động cao gấp gần 11 lần so với các khu vực nông thôn như Quảng Châu (Guizhou) vào năm 1997 [109, tr.81] Một khía cạnh tiêu cực khác trong tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quốc gia nhận đầu tư là sự phụ thuộc vào nước ngoài khi ra các quyết định kinh tế chính trị mà chúng ta sẽ xem xét dưới
đây
1.3.10 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự phụ thuộc, vấn đề phân đoạn
Sự phụ thuộc có thể được hiểu là việc ra các quyết định về kinh tế và chính trị của các nhà làm chính sách ở quốc gia nhận đầu tư sẽ bị ảnh hưởng tác động bởi ý muốn của các công ty nước ngoài theo chiều hướng có lợi cho các công ty này Do đó, trong phần này chúng ta sẽ phân tích và trả lời câu hỏi sau:
Trang 30Điều gì sẽ xảy ra nếu một địa phương hay một quốc gia phát triển kinh tế
với quá nhiều công ty nước ngoài? Đây có thực sự là một mối nguy hiểm tiềm
ẩn?
Về khái niệm, một công ty có vốn nước ngoài được gọi là một nhánh phân
đọan (truncated firm) nghĩa là nó không thực hiện tất cả những chức năng của
mình- từ những họat động nghiên cứu đầu tiên đến mọi khía cạnh của việc tiếp
thị cần thiết cho việc phát triển, sản xuất và tiếp thị hàng hóa Có thể một hoặc
nhiều hơn những chức năng này sẽ được thực hiện bởi các công ty mẹ ở nước
ngoài [157] Với vấn đề phân đoạn như vậy thì việc hấp thụ toàn bộ công nghệ
sản xuất bởi các công ty địa phương là không thể xảy ra vì các công ty nội địa
chỉ học được một phần của qui trình công nghệ
Trong khi sự xuất hiện của một số dự án đầu tư nước ngoài trong nền kinh
tế nước chủ nhà có thể tạo ra những hệ quả tốt và có nhiều lợi ích - không chỉ
tạo ra việc làm mà còn giới thiệu những công nghệ và cách thức kinh doanh mới,
thì sự thống trị hoàn toàn bởi các doanh nghiệp nước ngoài hầu như là điều
không hề mong muốn dựa trên quan điểm của nền kinh tế nước chủ nhà [157]
Có rất nhiều rủi ro thật sự nếu như cả một nền kinh tế biến thành một khu
vực chỉ bao gồm các chi nhánh của công ty nước ngoài Rủi ro của sự can thiệp
từ nước ngoài ở mức độ cao vào nền kinh tế nước chủ nhà chính là sự phụ thuộc
và sự phân đọan
Hậu quả của sự phụ thuộc quá nhiều vào các doanh nghiệp nước ngoài là
sự giảm đi quyền tự trị và chủ quyền của nền kinh tế nước chủ nhà, khả năng ra
những quyết định và thi hành các chính sách kinh tế Phần cốt lõi của vấn đề
nằm ở chỗ, những mâu thuẩn về mục đích đôi khi trái ngược nhau giữa lợi ích
nước chủ nhà và các công ty nước ngoài Cả hai phía đều muốn tối đa hóa những
lợi ích của mình Nhưng có lẽ khía cạnh quan trọng nhất của sự phụ thuộc cao vào yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự lệ thuộc về công nghệ [148] Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng khi hầu hết các dự án nhà máy sản xuất được kiểm soát bởi nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư chỉ là những nhánh phân đoạn (truncated firms) Hậu quả là những cơ hội việc làm bị giảm đi đáng kể với khá ít cơ hội học hỏi cho những chuyên gia và công nhân kỹ thuật người địa phương có trình độ và tay nghề cao Hơn nữa, những công ty phân đọan này sẽ không hiệu quả và luôn bị động trong việc cải tiến hay phát minh công nghệ mới và phụ thuộc phần lớn vào các công ty mẹ trong những hoạt động đổi mới của mình
Nói tóm lại sự phụ thuộc và sự phân đoạn của nền kinh tế nước chủ nhà là không thể tránh khỏi khi có sự vượt trội của các công ty nước ngòai Nhưng các hậu quả này chỉ xảy ra khi có sự xâm nhập từ nước ngoài ở mức độ cao Cuối cùng, tất cả sẽ phụ thuộc vào khả năng đàm phán và năng lực quản lý của chính quyền trung ương và địa phương trong các nỗ lực giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực trên cũng như giải quyết vấn đề chuyển giá mà chúng ta sẽ xem xét trong phần tiếp theo của đề tài
1.3.11 Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề chuyển giá
Một ví dụ về việc vận dụng sức mạnh độc quyền của các công ty đa quốc gia là việc sử dụng những điều khoản ràng buộc trọn gói trong sử dụng các hàng hóa và dịch vụ trung gian Điều này liên quan đến việc một chi nhánh công ty nước ngoài sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trung gian được nhập khẩu từ một chi nhánh khác của cùng một công ty mẹ với giá cao hơn giá trên thị trường và sản xuất ra những hàng hoá có chi phí giá thành cao hơn trên thị trường của nước chủ nhà vì mục đích tối thiểu hóa số thuế phải đóng cho nhà nước
Trang 31Tuy nhiên, việc đánh giá tác động chuyển giá để tránh hoặc giảm đóng
thuế thu nhập doanh nghiệp là rất khó khăn thậm chí ở cả trong một nền kinh tế
tiến bộ như nước Mỹ
1.3.12 Đầu tư nước ngoài và vấn đề ô nhiễm môi trường
Tác động của hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với môi trường
của quốc gia nhận đầu tư cao hay thấp phụ thuộc vào ít nhất hai yếu tố sau:
Thứ nhất, bản chất của quá trình sản xuất ra các sản phẩm của các công
ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Có những ngành sản xuất tạo ra những
lượng lớn chất thải vào môi trường như quy trình tinh lọc dầu, thuộc da, sản xuất
giấy, sản xuất bột ngọt v.v Còn một số các ngành khác thì không tạo ra chất
thải hay tạo ra không nhiều như ngành dịch vụ, lắp ráp các linh kiện điện điện
tử, v.v
Thứ hai, hiệu quả của các chính sách và luật pháp nhà nước có liên quan
đến các nỗ lực làm giảm ô nhiễm môi trường Có thể chia các chính sách bảo vệ
môi trường ra làm hai loại: chính sách “hành động trước”, nhắm vào việc hạn
chế hay không cấp phép cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mà quy trình
sản xuất hay tiêu dùng của chúng có thể tạo ra một lượng lớn chất thải gây nguy
hại cho môi trường Loại thứ hai là các chính sách khắc phục sự cố đối với những
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang thải các chất thải độc hại ra môi
trường Về nhóm chính sách thứ hai, có thể có ba công cụ được thực hiện bởi
chính phủ là [153, tr.221]:
- Đặt ra các giới hạn kỹ thuật về mức độ gây ô nhiễm môi trường và buộc
các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các công ty nội địa phải
tuân theo
- Thành lập các tổ chức chuyên về hợp tác và giải quyết các hậu quả về ô nghiễm môi trường nhằm chia sẽ thông tin giữa các nhà làm luật, các tổ chức gây ô nhiễm môi trường và các nạn nhân
- Các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng qui trình xử lý các chất thải ra trong quá trình sản xuất thông qua các công cụ thuế môi trường, xử phạt gây ô nhiễm hay hạn chế về lượng chất thải
Tuy nhiên, các chính sách của nhà nước nhằm hạn chế mức ô nhiễm môi trường đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các doanh nghiệp nội địa luôn gặp phải ít nhất hai khó khăn lớn Đó là vấn đề về tổn hại đạo đức (Moral Hazard) và sự lựa chọn nghịch (Adverse Selection)
Bàn về khía cạnh của tổn hại đạo đức (Moral Hazard) sẽ có một số các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cam kết thực hiện việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải để tranh thủ sự phê duyệt và ưu đãi của chính phủ vào giai đoạn đầu của dự án đầu tư, nhưng sau đó lại trì hoãn việc thực hiện này Hoặc có những doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải cho các dự án của mình nhưng trên thực tế lại không sử dụng mà âm thầm thải chất thải trực tiếp ra môi trường
Vấn đề sự lựa chọn nghịch (Adverse Selection) cũng là một khó khăn khác khi thực thi các chính sách của chính phủ Các doanh nghiệp nào có hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh thường phải chuyển chi phí này vào giá sản phẩm vì mục tiêu bảo toàn lợi nhuận và thu hồi vốn Do đó, giá sản phẩm của họ trên thị trường thường cao hơn giá của các sản phẩm của những đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp không có hệ thống xử lý chất thải Người tiêu dùng vì thiếu thông tin thị trường nên sẽ chọn mua các sản phẩm có giá rẻ từ các doanh nghiệp không có hệ thống xử lý chất thải Hậu quả là, các doanh nghiệp sản
Trang 32xuất sản phẩm có xử dụng hệ thống xử lý chất thải không thể cạnh tranh được
trên thương trường
Có thể tóm tắt những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia nhận đầu tư như trong sơ đồ 1.4
như sau:
Sơ đồ 1.4 Tóm tắt tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên nền kinh tế
của quốc gia nhận đầu tư
Phân loại tác động
Tác động tiêu cực Tác động tích cực
-Đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế hay GDP thực
- Đóng góp vào giá trị tiêu
dùng của nền kinh tế
-Tạo cơ hội việc làm
-Gia tăng giá trị sản lượng
công nghiệp
-Hình thành và phát triển
nguồn vốn
-Đóng góp vào giá trị xuất
khẩu và hội nhập quốc tế
-Phát triển công nghệ
-Liên kết với các ngành
công nghiệp nội địa
-Sự mất cân đối trong phát triển giữa các địa phương của quốc gia nhận đầu tư
-Sự phụ thuộc vào nước ngoài
-Vấn đề chuyển giá -Vấn đề ô nhiễm môi trường
Với những quan điểm lý thuyết như vừa được phân tích ở trên, có thể thấy rằng, tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước chủ nhà luôn có tính chất hai mặt: tích cực và tiêu cực Tuy nhiên các lợi ích mà quốc gia nhận đầu tư có được từ hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài là luôn vượt trội và điều này giải thích vì sao tất cả các quốc gia trên thế giới luôn tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho sự phát triển kinh tế của mình Phần tiếp theo trong chương này sẽ đề cập đến những quan điểm lý thuyết về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư
1.4 Xây dựng mô hình lý thuyết tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư
1.4.1 Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình
Phần nghiên cứu này chính là những quan điểm lý thuyết mới của luận án với mong muốn mở rộng thêm quan điểm Chiết trung của Dunning về các nhân tố của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Dunning J.H [65] và Jianuy O [109], sáu nhóm yếu tố có liên quan đến các lợi thế vùng của một địa phương có tác động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm:
- Qui thị trường và mức tăng trưởng của thị trường của quốc gia nhận đầu
tư
- Sự phát triển cơ sở hạ tầng
- Các lợi thế so sánh của địa phương và ưu thế về nguồn nguyên liệu đầu vào
- Mức độ mở của quốc gia nhận đầu tư
- Các chính sách của Nhà nước và chế độ tỷ giá hối đoái
- Mức độ tương đồng về mặt địa lý, văn hoá và ngôn ngữ
Trang 33Điều này có nghĩa là, khi quyết định lựa chọn quốc gia để đầu tư, các
công ty nước ngoài sẽ căn cứ vào sáu nhóm yếu tố trên
Tuy nhiên, quan điểm Chiết trung của Dunning chỉ dừng lại ở mức liệt kê
sáu nhóm yếu tố này mà không xem xét những nhân tố nào tác động đến chúng
để làm cho một quốc gia trở nên hấp dẫn hơn dưới con mắt của các công ty và
nhà đầu tư nước ngoài Tác giả luận án cho rằng, chính sự dao động của các biến
số kinh tế vĩ mô của một quốc gia là một trong những nhân tố quan trọng tác
động lên sáu nhóm nhân tố này và làm cho quốc gia đó có được một môi trường
đầu tư hấp dẫn (hay kém hấp dẫn) trong thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Theo quan điểm của tác giả, một số các biến số kinh tế vĩ mô tại quốc gia nhận
đầu tư (bảng 1.4) có ảnh hưởng lên sáu nhóm yếu tố, và qua đó, tác động lên thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mô hình tổng quát về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể viết dưới dạng sau:
Trong đó, Xi là các biến số kinh tế vĩ mô được thể hiện trong bảng 1.4
dưới đây:
Bảng 1.4 Tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên các nhân tố lợi thế vùng
của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Stt Các biến số kinh tế vĩ mô
Tên biến số Ký
Cons X1 Qui mô thị trường và mức tăng
trưởng thị trường
2 Giá trị GDP thực GDP X2 Qui mô thị trường và mức tăng
trưởng kinh tế
3 Giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp
Capin X3 Sự phát triển cơ sở hạ tầng
4 Giá trị đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Capag X4 Sự phát triển cơ sở hạ tầng
5 Tỷ trọng giá trị thương mại quốc tế của quốc gia trên GDP
Open X5 Mức độ mở của nền kinh tế
6 Tổng chi tiêu ngân sách chính phủ
Govex X6 Các chính sách của Nhà nước
(Chính sách tài khóa)
7 Thuế suất Tax X7 Các chính sách của Nhà nước
(Chính sách tài khóa)
8 Khối tiền tệ M2 M2 X8 Các chính sách của Nhà nước
(Chính sách tiền tệ)
9 Tỷ giá hối đoái Exrat X9 Tỷ giá hối đoái
10 Năng suất lao động
Prod X10 Các lợi thế so sánh của địa
phương và ưu thế về nguồn nguyên liệu đầu vào
Dưới đây, luận án phân tích các quan điểm và xây dựng mô hình lý thuyết về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư
Trang 341.4.2 Xây dựng mô hình lý thuyết về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô
lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.4.2.1 Tác động của tổng tiêu dùng trong nền kinh tế (Cons) lên thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Như đã đề cập trong học thuyết Chiết trung, do qui mô thị trường là một
trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn quốc gia để đầu tư của các công ty
nước ngoài, thì tổng tiêu dùng trong nền kinh tế của một quốc gia thực sự có tác
động đến thu hút loại hình đầu tư này Kích cỡ thị trường được đánh giá dựa trên
ít nhất hai yếu tố: giá trị tổng tiêu dùng trong nền kinh tế và số lượng người mua
trên thị trường
Tác động của tổng tiêu dùng trong nền kinh tế lên thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã được nghiên cứu bởi Wheeler và Mody [197, tr.57-76] Trong khi
nghiên cứu về những nhân tố tác động lên sự lựa chọn quốc gia để đầu tư của
các công ty Mỹ, Wheeler và Mody đã xây dựng hàm số hồi qui với biến phụ
thuộc là giá trị đầu tư nước ngoài và các biến độc lập là tỷ lệ sinh lời, xác suất
rủi ro, chi phí lao động và qui mô thị trường Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai
biến tác động mạnh lên đầu tư trực tiếp nước ngoài là qui mô thị trường và chi
phí lao động
Tham chiếu kết quả nghiên cứu của Wheeler và Mody, tác giả đưa vào
mô hình luận án biến số giá trị tiêu dùng hàng năm của nền kinh tế (Cons) Một
quốc gia có giá trị tổng tiêu dùng trong nền kinh tế cao luôn là điểm lựa chọn
hấp dẫn đối với các công ty nước ngoài Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng
gay gắt trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì quyết định đầu tư trực
tiếp vào một quốc gia có giá trị tiêu dùng cao là hết sức quan trọng đối với các
nhà đầu tư nhằm gia tăng doanh thu, kiến tạo uy tín và định vị thương hiệu trên
thương trường quốc tế Có thể biểu diễn tác động của tổng tiêu dùng trong nền kinh tế lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài qua hàm số quan hệ như sau:
FDI = F(Cons, Xi) (1.7) Trong đó, FDI: tổng giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cons: tổng tiêu dùng trong nền kinh tế
Xi = X2, X3….X10: các biến số kinh tế vĩ mô khác trong bảng 1.5 và sẽ được đề cập dưới đây Tuy nhiên, tổng tiêu dùng trong nền kinh tế Cons là thành phần của thu nhập khả dụng, là một yếu tố phụ thuộc vào tổng thu nhập của nền kinh tế hay GDP Do đó có thể thấy rằng biến số kinh tế vĩ mô thứ hai tác động lên đầu tư trực tiếp nước ngoài là giá trị GDP thực mà luận án sẽ phân tích tiếp theo sau đây
1.4.2.2 Tác động của giá trị GDP thực lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác động của giá trị GDP thực đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nghiên cứu thực nghiệm bởi Gerardo Mendoza Osorio [81] thực hiện tại Mexico vào năm 2008 Trong nghiên cứu của mình, Gerardo Mendoza đã xây dựng phương trình hồi qui với biến phụ thuộc là giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hai biến số độc lập là giá trị GDP thực và giá trị xuất khẩu (EXPORT) Kết quả cho thấy giá rị GDP thực có tác động lên thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Mexico
Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay sự gia tăng trong giá trị GDP thực là biểu hiện của mức tăng trong tổng thu nhập của nền kinh tế Khi tổng thu nhập tăng thì mức tiêu dùng trong nền kinh tế sẽ tăng theo và do đó, làm tăng nhu cầu tiêu dùng và qui mô thị trường của quốc gia nhận đầu tư Nhu cầu tiêu dùng gia tăng sẽ là một yếu tố hấp dẫn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài theo học thuyết Chiết trung
Trang 35Tác động của biến số GDP thực đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong mô hình luận án được thể hiện qua hàm số sau:
Trong đó, Xi = X3, X4, …X10 trong bảng 1.5
Theo đó, một sự gia tăng trong giá trị GDP có tác động làm tăng tổng tiêu
dùng trong nền kinh tế, và qua đó, làm tăng nhu cầu thị trường và khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài các biến tổng tiêu dùng trong nền kinh tế và GDP, một yếu tố khác
cũng tác động đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty nước ngoài là
cơ sở hạ tầng của quốc gia nhận đầu tư Một nước có tình trạng cơ sở hạ tầng tốt
sẽ giúp các công ty giảm thiểu các chi phí phát sinh trong quá trình kinh doanh,
làm tăng mức sinh lời từ đồng vốn đầu tư và do đó sẽ là cân nhắc lựa chọn của
các công ty nước ngoài
1.4.2.3 Tác động của đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp lên thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cơ sở hạ tầng tại đa số các quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách
đầu tư của nhà nước vào trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như hệ
thống giao thông, cầu cảng, đường xá, sân bay, khu công nghiệp, khu chế xuất
v.v hay nói cách khác là các hạng mục của đầu tư nhà nước vào lĩnh vực cơ sở
hạ tầng công nghiệp Nghiên cứu thực nghiệm của Guy Pierre Pfeffermann [83,
tr.211] về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển đã đưa ra
kết quả về vai trò quan trọng của đầu tư nhà nước vào cơ sở hạ tầng như một
nhân tố quan trọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhân tố quan trọng thứ
hai trong kết quả nghiên cứu này thuộc về mức tăng trưởng kinh tế
Một sự gia tăng trong tổng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp (Capin) sẽ góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của quốc gia và do đó, góp phần làm gia tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi phần lớn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia đều tập trung vào lĩnh vực công nghiệp như Việt Nam Có thể biểu diễn tác động của đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài qua mối quan hệ sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Xi) (1.9) Trong đó, Xi = X4, X5,…,X10 trong bảng 1.5
1.4.2.4 Đầu tư nhà nước vào lĩnh vực nông nghiệp (Capag) và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khi bàn về phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển, chúng ta không thể quên được vai trò của nông nghiệp và sự đóng góp của khu vực này vào giá trị GDP trong nền kinh tế Sản phẩm nông nghiệp trong nhiều trường hợp là nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ, một yếu tố rất hấp dẫn đối với các công ty nước ngoài muốn đầu tư trực tiếp vào những vùng có nguyên vật liệu dồi dào Theo quan điểm của Michael E Porter [159], trong các chiến lược cạnh tranh cơ bản của một công ty thì chiến lược giảm thiểu chi phí đầu vào là chiến lược thường xuyên được chọn nhất trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường toàn cầu hiện nay Theo đó, để giảm tối thiểu chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất, các công ty nước ngoài có xu hướng đầu tư trực tiếp vào các quốc gia có nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào và giá rẻ
Do đó, đầu tư nhà nước vào trong nông nghiệp cũng góp phần khuyến khích loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài xét trên góc độ tìm kiếm nguồn nguyên liệu với chi đầu vào thấp của các công ty nước ngoài
Trang 36Các ngành công nghiệp sản xuất và sử dụng yếu tố đầu vào là các sản
phẩm nông nghiệp thường tập trung vào lĩnh vực chế biến thực phẩm và thức ăn
cho gia súc, sử dụng công nghệ chuẩn hóa Chính sách đầu tư của nhà nước vào
lĩnh vực nông nghiệp rất phù hợp cho việc thu hút đầu tư trực tiếp từ các công ty
nước ngoài hướng vào chiến lược tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho quá trình sản
xuất kinh doanh của họ
Hơn nữa, một quốc gia có tình trạng cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp
tương đối tốt sẽ giúp các công ty giảm thiểu chi phí tiếp cận đầu vào và nâng
cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management), nâng cao khả
năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, và như vậy, có sức hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Có thể biểu diễn tác động của yếu tố cơ sở
hạ tầng đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua giá trị đầu tư nhà
nước vào khu vực nông nghiệp (Capag) như sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Xi) (1.10)
Trong đó, Xi = X5, X6,…,X10 trong bảng 1.5
1.4.2.5 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và mức độ mở của nền kinh tế
Ngoài các yếu tố vừa phân tích trên, một nghiên cứu thực nghiệm của tác
giả Marina Kozlova [132] cho thấy mức độ mở của nền kinh tế cũng thực sự có
vai trò tác động đối với nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc
gia Một nền kinh tế có tổng giá trị các giao dịch thương mại quốc tế với các
nước khác khá cao sẽ là điểm hấp dẫn đối với các công ty nước ngoài xét về
phương diện lựa chọn địa điểm đầu tư
Tổng giá trị thương mại quốc tế hàng năm của một quốc gia được đo
lường bằng tổng giá trị xuất khẩu và giá trị nhập nhẩu của quốc gia đó Một
quốc gia có tổng giá trị thương mại quốc tế càng cao cho thấy mức độ mở cửa
của nền kinh tế càng rộng, một tính chất thể hiện tính năng động và các chính sách thương mại quốc tế thông thoáng và thuận lợi của quốc gia đó Đặc điểm này sẽ là lợi thế rất lớn đối với các nỗ lực thu hút đầu trực tiếp từ các công ty nước ngoài theo đuổi chiến lược sau:
- Sử dụng chi nhánh tại quốc gia nhận đầu tư như một nơi sản xuất hàng hóa để xuất khẩu sang các quốc gia khác trong vùng và phục vụ thị trường nội địa
- Sử dụng phần lớn các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ các chi nhánh của các công ty mẹ
Do đó có thể thấy rằng mức độ mở của nền kinh tế thông qua giá trị thương mại quốc tế (Trade) của một quốc gia có vai trò nhất định trong việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Có thể thể hiện tác động của biến số kinh tế
vĩ mô này qua mối quan hệ sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Xi) (1.11) Trong đó, Xi = X6, X7,…,X10) trong bảng 1.5
Ngoài các yếu tố kinh tế vĩ mô có mặt trong hàm số trên, một yếu tố quan trọng khác là tác động của các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước đối với nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư Dựa trên các quan điểm lý thuyết, có hai trong các chính sách kinh tế vĩ vô quan trọng là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Phần tiếp theo đi vào nghiên cứu các tác động này
1.4.2.6 Chính sách tài khóa và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài qua công cụ chi tiêu ngân sách chính phủ và thuế
Tác động của chính sách tài khóa với công cụ thuế lên đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nghiên cứu bởi Nathan Jensen [146] và Altshuter, Grubert và Newlon [31] Nathen Jensen thực hiện công trình nghiên cứu thực nghiệm về tác
Trang 37động của thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp lên đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các quốc gia thuộc OECD giai đoạn 1980-2000 bằng phương pháp hồi qui
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, công trình nghiên
cứu của Alshuter, Grubert và Newlon về tác động của thuế suất lên hoạt động
đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ ra nước ngoài giai đoạn 1984-1992 lại cho
thấy thuế suất có tác động rất lớn đối với quyết định đầu tư của các công ty đa
quốc gia
Theo quan điểm của tác giả luận án, về mặt lý thuyết, chính sách tài khóa
nhắm vào các mục tiêu kinh tế vĩ mô của một quốc gia như: kích thích tăng
trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, kiềm chế lạm phát cao, giải quyết
vấn đề thâm hụt ngân sách chính phủ và ổn định nền kinh tế nói chung Chính
sách tài khóa sử dụng hai công cụ là thuế (Tax) và chi tiêu ngân sách chính phủ
(Govex) Do đó có thể thấy rằng, tác động của chính sách tài khóa đối với thu
hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài mang tích chính chất gián tiếp và dựa trên
quan điểm lập luận sau: Nếu chính sách tài khóa thành công trong việc kích
thích tăng trưởng nền kinh tế bằng chi tiêu ngân sách chính phủ (Govex) và công
cụ thuế (Tax) thì tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo mức tăng trong GDP và tổng
tiêu dùng và do đó, có tác động tích cực trong thu hút đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài Có thể biểu diễn tác động này đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Tax, Govex, Xi) (1.12)
Trong đó, Xi = X8, X9, X10 trong bảng 1.5
1.4.2.7 Chính sách tiền tệ và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia
nhận đầu tư
Tương tự chính sách tài khóa, về lý thuyết kinh tế vĩ mô, chính sách tiền
tệ nhắm vào các mục ổn định nền kinh tế vĩ mô hơn là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Do đó, tác động của chính sách tiền tệ đối đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ mang tính gián tiếp Chính sách tiền tệ sử dụng các công cụ sau để điều tiết nền kinh tế vĩ mô: qui định về mức lãi suất, hoạt động trên thị trường mở, qui định về mức dự trữ bắt buộc, qui định tỷ suất chiết khấu nhằm thay đổi mức cung tiền trong nền kinh tế và kích thích tăng trưởng thông qua kênh đầu tư và tiêu dùng
Quan điểm của tác giả luận án về tác động của chính sách tiền tệ đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: nếu chính sách tiền tệ thông qua các công cụ làm thay đổi khối tiền tệ M2 trong nền kinh tế thành công trong việc kích thích đầu tư và tăng trưởng thì sẽ dẫn đến mức tăng trong GDP và tổng tiêu dùng Cons, và qua đó sẽ có tác động tích cực lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư
Công trình nghiên cứu của Nursuhaili Shahrudin, Zarinah Yusof và NurulHuda Mohd Satar [154] về những nhân tố tác động lên đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaysia bằng phương pháp hồi qui đa biến cho kết quả, lượng Cung tiền tệ M2 và tăng trưởng kinh tế có tác động mạnh đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaysia giai đoạn 1970-2008
Trong mô hình luận án, tác động này có thể được thể qua mối quan hệ hàm số sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Tax, Govex, M2, X9,X10) (1.13)
1.4.2.8 Tỷ giá hối đoái và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, sự dao động trong tỷ gia hối đoái ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động kinh doanh quốc tế của một quốc gia trong đó bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư
Trang 38quốc tế, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài Đứng từ gĩc độ kinh doanh quốc
tế, tỷ giá hối đối (Exrat) cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị lợi nhuận chuyển ra
nước ngịai và mức vốn thu hồi của các chi nhánh cơng ty nước ngồi Đối với các
cơng ty nước ngồi cĩ định hướng xuất khẩu, sự tác động của tỷ giá hối đối lên các
giá trị xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất cũng khá rõ ràng
Một nghiên cứu thực nghiệm của Froot K.A và Stein J.C [76,
tr.1191-1217] về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Mỹ cho kết quả có mối quan hệ nghịch chiều giữa giá trị đồng USD
và giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Mỹ Một sự mất giá đồng đô la có tác
động kích thích làm gia tăng luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tuy nhiên, các quốc gia có thể có các chính sách về tỷ giá hối đoái khác
nhau, dao động từ chính sách tỷ giá cố định đến chính sách tỷ giá thả nổi hoàn
toàn Việc kiểm sốt tỷ giá hối đối của một quốc gia cĩ thể cĩ các ảnh hưởng sau
đây đối với các cơng ty cĩ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Giới hạn việc nhập khẩu các hàng hĩa cần thiết cho sản xuất
- Giới hạn việc thu hồi vốn đến giá trị đầu tư ban đầu
- Kích thích việc tái đầu tư bằng lợi nhuận sau thuế
- Sự giảm giá trị thị trường của doanh nghiệp do tác động của lạm phát
Tất cả những hạn chế trên cĩ thể gây ra những cảm nhận bi quan và tiêu cực
cho các nhà đầu tư nước ngồi và cĩ thể dẫn đến sự rút vốn dần dần của các doanh
nghiệp cĩ vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi Sẽ cĩ rất ít đầu tư nước ngồi mới và sự
tái đầu tư mở rộng của các doanh nghiệp nước ngồi trừ khi cĩ một sự tự do trong
việc thừa hưởng các giá trị lợi nhuận và giá trị thu hồi vốn bằng đồng ngọai tệ
Tuy nhiên, trong nền kinh tế theo chế độ tỷ giá hối đối cố định hay một nền
kinh tế cĩ tỷ giá hối đối được điều chỉnh bởi nhà nước thì mức độ tác động của dao
động trong tỷ giá hối đối là khơng đáng kể do cĩ sự can thiệp của Ngân hàng
Trung ương Trong mô hình luận án, tác động của tỷ giá hối đối (Exrat) đối với
đầu tư trực tiếp nước ngồi cĩ thể được biểu diễn bằng quan hệ hàm số như sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Tax, Govex, M2, Exrat, X10) (1.14)
1.4.2.9 Năng suất lao động của quốc gia và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Yếu tố kinh tế vĩ mô sau cùng được cho là có tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế, được tính bằng giá trị GDP hay giá trị tổng sản lượng quốc gia chia cho số lao động trong nền kinh tế trong một năm (Prod = GDP/empl) Một quốc gia có năng suất lao động trong toàn bộ nền kinh tế cao sẽ có lợi thế trong việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nếu xét theo quan điểm lý thuyết của Dunning [66] như là nhân tố có ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của địa phương và ưu thế về nguồn nhân công đầu vào
Tác động của năng suất lao động trong nền kinh tế (Prod) đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được biểu diễn qua mối quan hệ sau:
FDI = f(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Tax, Govex, M2, Exrat, Prod) (1.15)
Tóm lại, trong khuôn khổ của luận án, việc nghiên cứu tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc qia nhận đầu tư sẽ nhắm vào nghiên cứu mối quan hệ thông qua hàm số phụ thuộc của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào 10 biến số đã được phân tích như sau (hàm số (1.15)):
Hàm số 1.15 Quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các biến số kinh tế vĩ mô
của quốc gia nhận đầu tư
Trong đó:
FDI = F(Cons, GDP, Capin, Capag, Trade, Tax, Govex, M2, Exrat, Prod)
(+) (+) (+) (+) (+) ( - ) (+) (+) (+) (+)
Trang 39FDI: giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài vào quốc gia nhận đầu tư
(biến phụ thuộc)
Các biến số kinh tế vĩ mô tại quốc gia nhận đầu tư bao gồm:
Cons: Giá trị tổng tiêu dùng trong nền kinh tế
GDP: Giá trị tổng sản phẩm trong nước
Capin: Giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp
Capag: Giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực nông nghiệp
Trade: Giá trị thương mại quốc tế
Tax: Thuế suất
Govex: Tổng giá trị chi tiêu chính phủ
M2: Giá trị khối tiền tệ M2
Exrat: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Prod: Năng suất lao động của nền kinh tế
Các dấu (+) hay (-) dưới các biến số trong hàm số là các dấu kỳ vọng về
quan hệ của từng biến độc lập với biến phụ thuộc
Trong chương tiếp theo, luận án sẽ sử dụng hàm số quan hệ này để xây
dựng các phương trình kinh tế vĩ mô dùng cho phân tích các tác động của các
biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Sơ đồ
1.5tổng kết tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực triếp
nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư
Kết luận chương
Tóm lại, trong chương một của luận án chúng ta thấy, các quan điểm lý
thuyết có liên quan đến đầu tư nước ngoài tập trung xoay quanh vào ba vấn đề
chính là cũng là trọng tâm của chương
- Vấn đề thứ nhất là các quan điểm lý thuyết về các nhân tố quan trọng
trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mà trọng tâm là quan điểm Chiết Trung
của Dunning [65] Các quan điểm lý thuyết của học thuyết Chiết trung được vận dụng ở chương ba trong nghiên cứu các nhóm yếu tố đóng vai trò quyết định trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
- Vấn đề thứ hai bao gồm các quan điểm lý thuyết về các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư hay tác động xuôi, theo quan điểm của tác giả luận án Trọng tâm của vấn đề này chia làm hai nhóm quan điểm: nhóm ủng hộ các tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhóm phê phán các tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài Các quan điểm lý thuyết của vấn đề thứ hai được vận dụng trong chương hai để nghiên cứu các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam
- Vấn đề thứ ba trong chương phân tích các quan điểm lý thuyết về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia nhận đầu tư, hay tác động ngược, dựa trên lập luận cho rằng: sự dao động của các biến số kinh tế vĩ mô sẽ tác động lên các nhân tố lợi thế vùng (L) của một quốc gia, và qua đó, tác động lên môi trường đầu tư và khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Hàm số 1.15 thể hiện mối quan hệ này và được dùng làm cơ sở để xây dựng các phương trình hồi qui dùng trong phân tích tác động của các biến số kinh tế vĩ mô lên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Các phương trình này được chạy trên phần mềm vi tính Eviews để phục vụ việc nhận dạng ra các biến số kinh tế vĩ mô và mức độ quan trọng của chúng đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong chương hai
Sơ đồ 1.6tóm liệt kê tóm tắt các vấn đề chính của chương 1
Với những quan điểm lý thuyết được tóm tắt như trên, đề tài tiếp tục bước qua chương tiếp theo, tổng quan về tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 40Chương 2 PHÂN TÍCH QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ
VĨ MÔ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
Mục tiêu của chương này xoay quanh ba vấn đề chính là:
- Tổng quan tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và các hình thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988 – 2010 để có được cái
nhìn rõ hơn về loại hình đầu tư này
- Nghiên cứu và phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng
trưởng và phát triển của kinh tế Việt Nam thông qua một số các biến kinh tế vĩ mô
- Nghiên cứu và phân tích tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đối với
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
2.1 Tổng quan về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam giai đoạn 1988-2010
Một trong những thành tựu nổi bật của chính sách mở cửa và hội nhập của
Việt Nam vào nền kinh tế thế giới chính là các hoạt động thu hút đầu tư từ nước
ngoài Quá trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia cho thấy vai trò hết sức
quan trọng của chính sách nhà nước trong việc mời gọi các nhà đầu tư và Việt
Nam cũng không phải là một ngoại lệ Trong phần này, luận án tập trung nghiên
cứu các chính sách quốc gia cho đầu tư trực tiếp nước ngoài và phân tích những
nét chính về tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và các hình thức ưu đãi
của nhà nước đối với loại hình đầu tư này
2.1.1 Chính sách quốc gia cho đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1.1.1 Thiết lập khuôn khổ luật pháp đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chúng ta khó có thể lý giải rằng sự gia tăng hay suy giảm trong dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là do Việt Nam đã thiết lập và hoàn thiện khuôn khổ luật pháp cho đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Quan điểm Chiết Trung của Dunning, ngoài yếu tố lợi thế vùng (L), dao động của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia còn bị ảnh hưởng bởi hai nhóm nhân tố khác là lợi thế về quyền sở hữu (O) và lợi thế nội bộ hóa (I) Thêm vào đó, yếu tố thuận lợi về Luật đầu tư chỉ là một trong nhiều yếu tố lợi thế vùng khác như cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh, thị trường của quốc gia nhận đầu tư,… Do đó, trong phần thiết lập khuôn khổ luật pháp đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, luận án chỉ đề cập đến quá trình thay đổi trong các luật và qui định có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng một số các nhận định, mà không phân tích tác động của sự thay đổi trong luật đầu tư đến sự dao động dòng của vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam
Ngay từ sau ngày thống nhất đất nước, để hình thành cơ sở pháp lý nhằm tăng cường hợp tác kinh tế với các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, Điều lệ về đầu tư nước ngoài đã được ban hành dựa trên Nghị định 115/CP năm 1977 của Chính phủ Điều lệ cho cho phép các đối tác nước ngoài là các công ty, xí nghiệp, cá nhân, tổ chức quốc tế được hợp tác với nhà đầu tư Việt Nam dưới các hình thức hợp tác chia sản phẩm, xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp hoặc thành lập xí nghiệp
tư doanh 100% vốn nước ngoài
Mặc dù Điều lệ về đầu tư nước ngoài năm 1977 ra đời là rất phù hợp nhưng chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác quốc tế trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước