“Người hát rong qua nhiều thế hệ”, “người ca thơ”, “người viết tình ca hay nhất thế kỉ”…, đó là những từ ngữ người ta đã dùng để gọi Trịnh Công Sơn - người nhạc sĩ mà mỗi khi những ca k
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀN THỊ THU HƯỜNG
PHƯƠNG THỨC SO SÁNH
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
HÀN THỊ THU HƯỜNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1 Khái quát về so sánh 10
1.1.1 Khái niệm “so sánh” 10
1.1.2 Cấu trúc so sánh 12
1.1.3 Các kiểu so sánh 17
1.2 Khái quát về ca từ 20
1.2.1 Khái niệm “ca từ” 20 1.2.2 Ngôn ngữ trong ca từ 21
1.2.3 Hình tượng ca từ 23
1.2.4 Chủ thể cảm xúc trong ca từ 24
1.3 Trịnh Công Sơn và những ca khúc của ông 27
1.3.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn 27
1.3.2 Khái quát về những ca khúc của Trịnh Công Sơn 32
Tiểu kết 36 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 2.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phương thức so sánh trong 38
ca từ Trịnh Công Sơn 2.1.1 Các kiểu cấu trúc so sánh 38
Trang 32.1.2 Đặc điểm của yếu tố được so sánh 49
2.1.3 Đặc điểm của yếu tố so sánh 52
2.1.4 Đặc điểm của các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 57
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của phương thức so sánh trong ca từ 59
Trịnh Công Sơn 2.2.1 Đặc điểm của yếu tố được so sánh 59
2.2.2 Đặc điểm của yếu tố so sánh 66
2.2.3 Mối tương quan ngữ nghĩa giữa yếu tố được so sánh và 71
yếu tố so sánh Tiểu kết 75
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC SO SÁNH VỚI HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG CA KHÚC TRỊNH CÔNG SƠN 3.1 Phương thức so sánh với hình tượng em - người tình 77
3.2 Phương thức so sánh với hình tượng tôi - chủ thể trữ tình 83
3.3 Phương thức so sánh với những chiêm nghiệm về tình yêu 93
3.4 Phương thức so sánh với những chiêm nghiệm về đời người 100
Tiểu kết 105
KẾT LUẬN 107
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Để nhận thức thế giới khách quan, để hiểu rừ cỏc sự vật hiện tượng
với các thuộc tính muôn màu muôn vẻ trong đời sống, con người thường thực hiện việc so sánh, nhằm phát hiện ra những thuộc tính đồng nhất và khác biệt giữa các sự vật hiện tượng này, để quy loại và phân biệt chúng với nhau Có thể nói, so sánh là một thao tác thường xuyên, có ý thức hoặc vô thức, trong đời sống hàng ngày của con người Đối với văn học nghệ thuật, so sánh được xem là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu về phép so sánh của một tác phẩm văn nghệ giúp ta tìm hiểu một cỏch thức quan trọng (trong số các phép tu từ khác) được các tác giả dùng để tạo nên ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của mình
Từ xa xưa, âm nhạc đã là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhân loại, bởi nó đem lại cho con người những cảm xúc khỏc nhau qua sự cảm nhận những hình tượng nghệ thuật Việc nghiên cứu âm nhạc nói chung
và ca từ nói riêng là một công việc không đơn giản nhưng đầy lí thú Cũng như trong các hình thức văn nghệ khác, so sánh trong ca từ rất cần được chú ý, về phương thức này góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật và giúp nghệ sĩ đưa tác phẩm (bài ca) đi vào lòng người nghe
1.2 “Người hát rong qua nhiều thế hệ”, “người ca thơ”, “người viết
tình ca hay nhất thế kỉ”…, đó là những từ ngữ người ta đã dùng để gọi Trịnh Công Sơn - người nhạc sĩ mà mỗi khi những ca khúc của ông được cất lên, chúng ta đều cảm thấy lòng mình như lắng lại trong nhịp điệu và tiết tấu du dương, với một nỗi buồn da diết, để chiêm nghiệm, để nhìn lại mình, để trí tưởng tượng bay xa đến thế giới của những yêu thương tha thiết, những nỗi dằn vặt về tình yêu và thân phận con người Những ca khúc của ông không chỉ mang lại một “giọng điệu” riêng, mà cũn thể hiện tớnh nhõn văn sâu sắc
Ở Việt Nam, chưa có nhạc sĩ nào tạo dựng được cho mình một dòng nhạc độc
Trang 4lập như Trịnh Công Sơn Người ta vẫn thường gọi dòng nhạc của ông với cái
tên bình dị, thân quen, là: “Nhạc Trịnh”
Trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, nhạc
sĩ này đã ôm đàn “hát cho dân tôi nghe” Những ca khúc của ông đã vượt lên
mưa bom bão đạn, vượt lên cảnh “máu xương trập trùng”, xoá nhoà đi cái
gương mặt gớm giếc của cuộc chiến và chinh phục hàng triệu trái tim yêu
nhạc thuộc đủ mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, và rồi vang mói cho
tới ngày nay Không chỉ phổ biến trong nước, nhiều ca khúc của ông đã vượt
biên giới, đến với các quốc gia khác như Pháp, Mĩ, Canađa, Nhật Bản…,
được dịch ra nhiều thứ tiếng và được đông đảo công chúng đón nhận
Một trong những yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần
ca từ và đó cũng là nơi thể hiện sự tài hoa trong sử dụng tiếng Việt của ông
Nhạc sĩ Văn Cao cho rằng âm nhạc của Trịnh Công Sơn là kết quả của một
cuộc “hôn phối kì diệu” giữa phần ca từ và phần âm nhạc, hai phần này hoà
quyện vào nhau đến mức khó có thể tách rời, làm nên hồn cốt nhạc Trịnh, và
vì thế ông gọi nhạc sĩ họ Trịnh là “người ca thơ”; Tác giả Hoàng Ngọc Hiến
đánh giá: “Tất cả ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn làm thành một tình ca hay
nhất thế kỉ” [45, tr.351]; Nhà nghiên cứu âm nhạc Dương Viết Á cho rằng:
“Ngay cả trong những năm tháng “chia tay” giữa thơ và ca, xét riêng về ca từ,
nhiều nhạc sĩ cần được gọi thêm là nhà thơ, thậm chí nên được tuyển chọn
vào các tập thơ của thế kỉ XX: Đặng Thế Phong, Văn Cao, Trịnh Công Sơn…”
[2, tr.226]… Tuy phần ca từ của nhạc Trịnh được đánh giá cao như vậy, nhưng
cho đến nay lại ít có những công trình nghiên cứu chuyờn biệt, đầy đủ và sâu
sắc
2.3 Đã có rất nhiều bài viết cũng như các công trình nghiên cứu về
cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhưng trong một vài
cụng trỡnh có chú ý đến nghiên cứu ca từ của ông, thỡ việc tìm hiểu một cách
có hệ thống các biện pháp tu từ, trong đó có so sánh, vẫn là vấn đề cũn bỏ ngỏ
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn và tiến hành
nghiên cứu đề tài: Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2.1 Các phương thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm
văn chương, trong đó có phương thức so sánh, đã được nhiều nhà nghiên cứu trước đây đề cập tới
Lịch sử nghiên cứu phương thức so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp là Arisstotle (384 - 322 TCN) Trong
cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle
đã chú ý đến so sánh Ông xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong văn chương, đặc biệt rất đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và giỏ trị thẩm mĩ
Ở Trung Hoa cổ đại, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh được bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc Trong các công trình nghiên cứu, các học giả Trung Hoa thường dùng khái niệm “tỉ” và “hứng” khi nói về phương thức nghệ thuật có liên quan đến cách
ví von bóng gió
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phương thức nghệ thuật này trên quan điểm ngữ văn học được kế thừa và phát triển truyền thống bình giảng tác phẩm văn học Trung Hoa, theo khuynh hướng coi đó là thuộc mĩ từ pháp, là một trong những “phép làm văn”
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về
các phương thức tu từ, trong đó có so sánh, tiêu biểu là: Đinh Trọng Lạc với
Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD, 1998); Cù Đình
Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH&THCN,
Trang 51983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb
ĐHQGHN, 2001); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngụn
ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sỏnh và ẩn dụ trong ca dao
trữ tỡnh (Nxb KHXH, 2009)…
Qua tìm hiểu, có thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể
trên, các tác giả đã chỳ trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại và tìm
ra giá trị của các phương thức tu từ nói chung và so sánh nói riêng Đây là cơ
sở lí thuyết vô cùng quí báu để luận văn có thể tham khảo trước khi đi sâu
nghiên cứu về phương thức so sánh trong ca từ củaTrịnh Công Sơn
2.2 Sau khi Trịnh Công Sơn mất (1/4/2001), tính đến nay đã có khoảng
trên 10 cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của ông Cuốn sách
ra đời đầu tiên viết về người nhạc sĩ vừa quá cố là Trịnh Công Sơn - Một
người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha, Đoàn
Tử Huyến sưu tầm và biên soạn (Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ
Đông Tây, 2001) Sau đó cuốn sỏch này được bổ sung, biên soạn và tái bản
với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá, 2004) Tiếp theo, lần
lượt được phát hành là các sách tập trung các bài viết của nhiều tác giả: Trịnh
Công Sơn - cát bụi lộng lẫy (Nxb Văn hoá, tạp chí Sông Hương, Huế, 2001),
Trịnh Công Sơn - người hát rong qua nhiều thế hệ (Nxb Trẻ, 2004), Trịnh
Công Sơn - rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, 2006), Trịnh Công Sơn - cuộc đời,
âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005)…
Ngoài những tập sách của tập thể tác giả kể trên, còn có những tác phẩm
của cá nhân, đó là: Trịnh Công Sơn - một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý (Nxb Trẻ,
2003); Trịnh Công Sơn - có một thời như thế của Nguyễn Đắc Xuân (Nxb Văn
học, 2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé của Hoàng Phủ
Ngọc Tường (Nxb Trẻ, 2005); Vườn xưa - hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn
của Nguyễn Hữu Thái Hoà (Nxb Trẻ, 2007); Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và
những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2008)…
Những cuốn sách này chủ yếu gồm những bài viết của bạn bè, người thân, đồng nghiệp, công chúng yêu nhạc và ngưỡng mộ tài năng của Trịnh Công Sơn, một số của các nhà báo, và số ít là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Những bài viết ấy đều có dung lượng nhỏ, chủ yếu là kể về những kỉ niệm, giai thoại, bày tỏ cảm xúc, ấn tượng và tình yêu đối với nhạc sĩ, cảm nhận đối với từng bài hát, những đồng cảm về thân phận con người trong chiến tranh qua những ca khúc phản chiến, những nỗi đau trong tình yêu, và những phát hiện về triết lí sống trong nhạc Trịnh…Chưa có nhiều những bài viết mang tính chất nghiên cứu ca từ dưới góc độ ngôn ngữ, càng ít gặp những bài viết nghiên cứu riêng về phương thức so sánh
Cuốn sách mang tính chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về ca từ Trịnh
Công Sơn là cuốn Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của
Bùi Vĩnh Phúc Trong cuốn sách này, tác giả đã dành riêng một chương để viết
về nghệ thuật ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn Đó là cách viết ca khúc như những bài thơ, cách dùng những hình ảnh tỉnh lược, những câu bỏ lửng, những nét đối xứng và những biện pháp tu từ Trong phần viết về những biện pháp tu từ, tác giả có đề cập đến biện pháp so sánh nhưng ông chỉ dừng lại ở việc mô tả biện pháp này và đưa ra một số ví dụ minh hoạ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về hình thái cấu trúc, đặc điểm về ngữ nghĩa cũng như vai trò của so sánh đối với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công Sơn
Ngoài những cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã xuất bản kể trên, có thể kể đến những công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên đề về ca từ nhạc Trịnh: Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thuý, Đại học Sư phạm
Quy Nhơn (2006) với đề tài Ca từ Trịnh Công Sơn - những ca khúc về tình
yêu và thân phận con người với những mảng nghiên cứu về cuộc đời và sự
nghiệp, tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn, thân phận con người và tình yêu
Trang 6trong ca khúc Trịnh Công Sơn; Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt
Nam của Lê Thị Thu Hiền, Đại học Sư phạm Hà Nội (2007) với đề tài Quan
niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn, đó đi vào nghiên cứu quan niệm
về cõi sống, về cái chết và về tình yêu của Trịnh Công Sơn; Luận văn Thạc sĩ,
chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ của Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đại học Sư
phạm Hà Nội (2008) với đề tài Hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công
Sơn, đã hệ thống hoá những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong ca từ Trịnh
Công Sơn, sắp xếp các biểu tượng theo những hệ thống nhỏ, từ hệ thống
những biểu tượng có chất liệu trực quan đến hệ thống những biểu tượng
không có chất liệu trực quan và sự chuyển hoá giữa chúng, từ đó soi chiếu,
giải mã các biểu tượng trong hệ thống, gúp phần làm sáng tỏ thế giới tinh thần
của nghệ sĩ (luận văn này mới đây đó xuất bản thành sỏch với nhan đề Biểu
tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn, Nxb Khoa học xó hội,
2009)…
Tóm lại, lần theo trình tự thời gian của các cụng trỡnh và bài viết về ca
khúc Trịnh Công Sơn đến nay, chưa thấy có tài liệu nào nghiên cứu riêng
hoặc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về phương thức so sánh trong ca từ của
ông
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tìm hiểu sự thể hiện đa dạng và những vai trò
khác nhau của phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, từ đó
thấy được phần nào đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhạc sĩ qua các ca
khúc của ông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết chung trong nghiên cứu tu từ học và văn
nghệ, với một số khái niệm: so sánh, ca từ…, và những vấn đề có liên quan,
để làm điểm tựa nghiên cứu phương thức so sỏnh trong các ca khúc của một tác giả cụ thể
- Miêu tả những biểu hiện cụ thể của việc sử dụng phương thức so sánh
về hình thức và ngữ nghĩa, những vai trò của việc sử dụng phương thức này
để xây dựng hình tượng nghệ thuật, trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn
- Từ sự phân tích nói trên, giúp người đọc hướng tới một số nhận xét về đặc điểm đáng chú ý trong phong cách ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn xét về phương diện so sỏnh
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là ca từ của Trịnh Công Sơn Trờn thực tế, ca từ của Trịnh Công Sơn được công bố trong nhiều
tuyển tập ca khúc khác nhau, như: Một cõi đi về, Nxb Văn nghệ TPHCM, 1992; Khói trời mênh mông Nxb Văn nghệ TPHCM, 1992; Em còn nhớ hay
em đã quên, Nxb Trẻ, 1993; Những bài ca không năm tháng, Nxb Âm nhạc,
1998… Tuy nhiờn trong luận văn này, sẽ được chọn làm đối tượng khảo sát là
242 văn bản ca từ (không có phần nhạc) được công bố trong cuốn Trịnh Công
Sơn - vết chân dã tràng của tác giả Ban Mai xuất bản năm 2008 tại Nxb Lao
Động - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Văn bản những ca khúc này được công bố với sự cho phép của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh - em gỏi của nhạc sĩ
và là người thừa kế bản quyền nhạc Trịnh và ông Phạm Văn Đỉnh - Chủ tịch Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn (Pháp) - người đó sưu tầm và chỉnh lí thư mục
ca khúc Trịnh Công Sơn Có thể nói đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy để nghiên cứu về ca từ Trịnh Công Sơn (Danh mục các ca khúc này được trình
bày ở cuối luận văn)
Ngoài 242 văn bản ca từ kể trên, đề tài còn dựa vào một thứ “siêu văn bản” khác Đó là hoàn cảnh xã hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết học, chính trị trong đó những ca từ của Trịnh Công Sơn ra đời, và hoàn cảnh,
Trang 7tâm sự cá nhân của chính nhạc sĩ… Đây có thể được xem như những gợi mở
giúp đi sâu hơn vào thế giới ca khỳc Trịnh Công Sơn, trong đó có ca từ với
phương thức so sánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các ca khúc của Trịnh Công Sơn có thể được xét trên nhiều phương
diện Ngoài sự phân tích từ phương diện âm nhạc và văn học nghệ thuật nói
chung, về phương diện ngôn ngữ học có thể xem xét cỏc ca từ trong ca khúc ở
nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, luận văn này chỉ xin dừng lại ở việc
xem xét một trong các phương thức tu từ, cụ thể là so sánh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp miêu tả
Phương pháp này (với cách phân tích và tổng hợp), được sử dụng để đi
sâu vào miêu tả và khái quát các kiểu cấu trúc so sánh, chỉ ra các đặc điểm
ngữ nghĩa cùng các vai trò của chúng trong việc xây dựng hình tượng nghệ
thuật của ca từ Trịnh Công Sơn
- Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện
và phân loại các kiểu so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn, từ đó làm cơ sở
phân tích, nhận xét, đánh giá những kiểu loại hình thức, đặc trưng về giá trị
biểu đạt của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Phương pháp này được sử dụng khi phân tích mối quan hệ giữa ý nghĩa
bản thể gốc và ý nghĩa có được do sự liên tưởng, nghĩa bề mặt ngôn từ với
nghĩa biểu trưng, của cỏc yếu tố tham gia vào phương thức so sỏnh
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lí luận:
Đây là lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc
phương thức so sánh trong số các phương thức tu từ dựa trên quan hệ liên
tuởng, được sử dụng ở ca từ Trịnh Công Sơn Kết quả của luận văn sẽ là minh chứng cho khả năng tìm hiểu về giá trị của văn bản nghệ thuật dưới góc nhìn ngôn ngữ học, đồng thời góp thêm tư liệu và cách nhìn nhận đối với bộ môn Tu
từ học nói chung và nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong cỏc ca khúc nói riêng
- Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp cho những người quan tâm đến dũng nhạc Trịnh có cái nhìn đa chiều hơn về giá trị tác phẩm, trong
đó ngoài chiều sâu tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả, cũn
cú sự tài hoa về tiếng Việt Đồng thời, nó có thể giúp những người yêu nhạc tiếp cận có định hướng và dễ dàng hơn với dòng nhạc được đánh giá là “kén người nghe” này, từ đó biết thưởng thức những cái hay, cái đẹp của nhạc Trịnh và nhận thức được một cách sâu sắc những cảm xúc, những triết lí nhân sinh mà người nhạc sĩ tài hoa này muốn gửi gắm qua những ca khúc của mình, cũng như có cơ sở để hiểu hơn về tiềm năng của tiếng Việt
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tế Chương 2: Đặc điểm hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa của phương
thức so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn
Chương 3: Phương thức so sánh với hình tượng nghệ thuật trong ca
khúc Trịnh Công Sơn
Phần Phụ lục gồm:
- Danh mục những ca khúc được khảo sát trong luận văn
- Một số văn bản ca khỳc của Trịnh Công Sơn
- Một số đoạn tản văn của Trịnh Công Sơn
- Một số hình ảnh và bút tích của Trịnh Công Sơn
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1 KHÁI QUÁT VỀ SO SÁNH
1.1.1 Khái niệm so sánh
So sánh là một thao tác của tư duy Đó là thao tác đem sự vật này đối
chiếu với sự vật khác để nhìn thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng
Thuật ngữ “so sánh” trong tiếng Việt được dùng chỉ một biện pháp được sử
dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Trong Từ điển tiếng Việt do
Hoàng Phê (Chủ biên) có giải thích về “so sánh” theo cách hiểu phổ thông là:
“nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc
sự hơn kém”
Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức phổ biến ở
mọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn
ngữ học quan tâm nghiên cứu: A.Ju.Xtêpannov với Phong cách học tiếng
Pháp (1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Môren với
Phong cách học tiếng Pháp (1970) Những công trình này được giới thiệu ở
Việt Nam góp phần làm sáng tỏ về mặt lí thuyết và ứng dụng của phương
thức so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo
hình tượng nghệ thuật
Phương thức này cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học
nước ta đề cập đến Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX, khi xuất hiện
những công trình nghiên cứu tiếng Việt, so sánh cũng được nhắc đến trong
các bài giảng về phong cách học
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu có đề cập tới so sánh như:
Giáo trình Việt ngữ; 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của Đinh
Trọng Lạc; Phong cách học tiếng Việt của Đinh trọng Lạc và Nguyễn Thái
Hoà; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú; Phong
cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt
Trong những công trình kể trên, hầu hết các tác giả đều đưa ra sự phân biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic (so sánh luận lí) Theo các tác giả này, trong so sánh logic, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Ví dụ:
- Mặt con cũng tròn như mặt mẹ
- Cô Hoa gầy hơn cô Huệ
- Giá trị của (a+b)(a-b) bằng giá trị của a 2 - b 2
So sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật Ví dụ:
- Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa (Nguyễn Du)
- Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)
Với sự phân biệt nói trên, những khái nệm đuợc đưa ra trong các giáo trình phong cách học đều định nghĩa so sánh với tư cách là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa
Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm
về so sánh như sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm
ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là để cụ thể hoá những
sự vật trừu tượng, để người đọc dễ hiểu, dễ tưởng tượng hơn.” Ở cuốn giáo trình này, tác giả chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh
Có thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học ở Việt Nam
Tiếp đó, trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, tác giả
Đinh Trọng Lạc đã có cách nhận diện so sánh tu từ rõ ràng và đầy đủ hơn:
Trang 9“So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu
hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau
hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh
một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [25 , tr.154]
Sau này, cỏc tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà ở giáo trình
Phong cách học tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: “So sánh là
phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn
là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể,
những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [24,
tr.190]
Theo tác giả Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng
Việt, “so sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng
có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình
ảnh đặc điểm của một đối tượng” [56, tr.272]
Như vậy, qua nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên,
chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phương thức so sánh như sau:
- So sánh là việc đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất hai sự
vật hiện tuợng
- Những sự vật hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại
- Những sự vật hiện tuợng đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng sâu
xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết
được
- Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các đối
tượng so sánh và được so sánh
1.2.2 Cấu trúc so sánh
Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh
Theo cỏc tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo
trình Phong cách học tiếng Việt, hình thức đầy đủ nhất của phương thức so
Tuy nhiên, trên thực tế, tùy từng trường hợp, người ta có thể đảo trật tự
so sánh hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình Cụ thể ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên:
5 Dùng là làm từ so sánh: A là B Ví dụ:
Tình cô là đoá hoa đơn Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn (Nguyễn Bính)
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, tỏc giả Hữu Đạt đã đưa ra
mô hình khái quát của phép so sánh như sau:
A - X - B
Trang 10Trong mô hình trên, có thể nhận thấy sự thiếu vắng của yếu tố chỉ
phương diện so sánh Điều này đã khiến cho cấu trúc so sánh mà tác giả đưa
ra chỉ có 3 yếu tố Và biến thể của cấu trúc này chỉ có 2 loại là:
- So sánh không có từ so sánh:
Mô hình: A - B
Biến thể: A - B1, B2 ; A1, A2 - B; A1, A2 - B1, B2
Ví dụ:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non (Tố Hữu)
Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật đăng
trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1998, cũng giống như cỏc tỏc giả Đinh
Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà, tỏc giả Nguyễn Thế Lịch đã đưa ra một cấu
trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh (YTĐSS) - (A);
- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh
(YTPD) - (x);
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) - (tss);
- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) - (B)
Theo tác giả, mô hình cấu trúc so sánh hoàn chỉnh là:
b Yếu tố phương diện so sánh: có vai trò thể hiện thuộc tính của sự vật
mà yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị Khi trong cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện thì phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và yếu tố so sánh, từ đó mới có thể xác định được là đã thực hiện sự so sánh về phương diện nào
c Yếu tố quan hệ: được xem là đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh,
bao gồm các từ so sánh, từ là và cặp từ hô ứng bao nhiêu bấy nhiêu Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, như là, như thể,
chừng như, tựa như, hồ như , ví dụ:
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau (Ca dao)
Từ là trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ như, nhưng sắc thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Như có sắc thái giả định, chỉ sự tương đồng
về một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan; là có sắc thái khẳng
định sự đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan Ví dụ:
Trang 11Tình tôi là giọt thuỷ ngân
Dù nghiền chẳng nát, dù lăn vẫn tròn (Ca dao)
Cặp từ hô ứng bao nhiêu bấy nhiêu, ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (Ca dao)
d Yếu tố so sánh: được xem là quan trọng nhất và không thể thiếu của
cấu trúc so sánh vì đó là chuẩn của so sánh, và không có chuẩn thì không
thành so sánh Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả quá trình quan sát, liên
tưởng của người nói Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu tố này có một số cấu trúc sau:
- Nêu lên tên gọi sự vật được dùng làm chuẩn Ví dụ: má đào, tóc mây, mũi
dọc dừa, mặt chữ điền, con mắt lá răm, lông mày lá liễu, ngón tay búp măng…
- Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn, ví dụ:
- Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất dậm hương và rộn tiếng chim (Tố Hữu)
- Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)
- Thể hiện nhiều sự vật khác nhau, ví dụ:
- Hồn tôi giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh (Nguyễn Bính)
- Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu (Ca dao)
Theo khảo sát của Nguyễn Thế Lịch, không phải cấu trúc so sánh nào
cũng hội tụ cả 4 yếu tố trên, và tác giả đã đưa ra 4 cấu trúc so sánh không
hoàn chỉnh như sau:
a Vắng yếu tố phương diện, ví dụ:
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau (Ca dao)
b Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ, ví dụ:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt (Xuân Diệu)
c Vắng yếu tố được so sánh, ví dụ:
Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi (Hồ Xuân Hương)
Theo tác giả, cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra vô vàn các thành
ngữ so sánh kiểu như: cao như núi, ngọt như mía lùi, đỏ như son…, giúp cho việc
tiếp nhận trở nên dễ dàng vì phương diện so sánh được nói thành lời rõ ràng
d vắng yếu tố được so sánh và yếu tố phương diện, ví dụ:
- Như diều gặp gió
- x : Yếu tố phương diện so sánh
- tnss: Yếu tố biểu thị quan hệ so sánh - từ ngữ so sánh
- B: Yếu tố so sánh)
Ví dụ: Tóc trắng như vôi
(A) (x) (tnss) (B) Bên cạnh mô hình cấu trúc so sánh hoàn chỉnh kể trên, tác giả còn có thể tạo ra những biến thể bằng việc thêm, bớt hoặc đảo trật tự các yếu tố trong cấu trúc
1.2.3 Các kiểu so sánh
Trang 12Tác giả Đào Thản nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia
dựa vào mục đích so sánh Theo đó, tác giả đã đưa ra 8 kiểu so sánh như sau:
- So sánh để giải thích,ví dụ:
Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền, nước
sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng (Hồ Chí Minh)
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu (Ca dao)
- So sánh phát triển, ví dụ:
Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai (Ca dao)
- So sánh hơn - kém, ví dụ:
Ngọc nào bằng tay em (Tố Hữu)
- So sánh đặc biệt
Đây là kiểu so sánh mà hai vế được thể hiện hoàn toàn cân đối về hình
thức và nội dung Kiểu so sánh này diễn đạt những tình huống hoặc sự kiện
(không dùng để diễn đạt thuộc tính) mà tính cân đối là điều kiện để nhận dạng
sự so sánh Ví dụ:
Cây khô xuống núi cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo (Ca dao)
Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu so sánh đã dựa vào cả hai tiêu chí hình thức và nội dung của nó Theo đó, chúng ta có các kiểu so sánh sau:
- So sánh ngang bằng, ví dụ:
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa (Lưu Quang
- So sánh bậc cao nhất, ví dụ:
Đại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất (Phạm Tiến Duật)
Tựu trung lại, mục đích quan trọng của so sánh là phát hiện ra được sự đồng nhất hay khác biệt về các thuộc tính giữa hai sự vật đem ra so sánh Do
đó, có thể phân chia so sánh thành hai kiểu như sau:
a So sánh đồng nhất, bao gồm:
- So sánh tương tự:
So sánh tương tự thường có những từ so sánh như, như là, như thể, tỉ
như, giá như, tựa như, tựa, kém gì, hơn gì, khác gì mang tính chất giả định,
ví dụ:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai (Ca dao)
- So sánh ngang bằng
Trang 13Ở kiểu so sánh này thường có các từ so sánh bằng, là mang tính
+ So sánh dị biệt hơn tuyệt đối: thường có những từ so sánh nhất (A),
nhì (B), tam, tứ , thứ nhất (A), thứ nhì (B) Thông thường, trong dạng kết
cấu này A, B được xếp theo thứ tự phân hạng đánh giá, ví dụ:
Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền (Tục ngữ)
Tuy nhiên vẫn có những trường hợp thứ tự này chỉ mang tính ước lệ,
tức là người sáng tác quan tâm đến vần điệu nhiều hơn là thứ tự mức độ
“quan trọng” của đối tượng được liệt kê Xếp một đối tượng nào đó theo thứ
tự nhất, nhì còn tuỳ thuộc vào quan nệm chủ quan của người nói
+ So sánh dị biệt hơn tương đối: thường có những từ chuyên dụng: hơn,
còn hơn , ví dụ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
- So sánh dị biệt kém:
Để biểu thị quan hệ so sánh dị biệt kém, người ta thường dùng các từ so
sánh như: thua, kém, không bằng, sao bằng, chẳng bằng, không tày , ví dụ:
Đêm nằm ở dưới bóng trăng
Thương cha, nhớ mẹ không bằng thương em (Ca dao)
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CA TỪ
1.2.1 Khái niệm "ca từ"
Trong âm nhạc, ca từ (lời của bài hỏt) giữ một vai trò quan trọng Ca từ
bổ sung tính cụ thể cho hình tượng âm nhạc, hay nói cách khác, nó làm nhiệm
vụ như là người hướng dẫn, mở đường, “phiên dịch”, dẫn giải cho người thưởng thức bằng thứ ngôn ngữ phổ biến mà con người đã được học tập, rèn luyện, nâng cao từ khi lọt lòng mẹ Một người Việt Nam không biết ngoại ngữ nghe một bài hát bằng tiếng Nga, hay tiếng của một nước khác, cũng coi như nghe một bản nhạc không lời, bởi ca từ đó không phải là tiếng Việt mà người Việt Nam đã sử dụng thành thạo
Ca từ mở cửa cho hình tượng âm nhạc đi vào lòng người thưởng thức
Sở dĩ như vậy, vỡ ngụn ngữ (bằng lời) là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Có thể ví ca từ như đôi cánh nâng hình tượng âm nhạc bay cao hơn, xa hơn Trên thực tế, có nhiều tác phẩm âm nhạc, phần âm thanh
và phần ca từ tương sinh như xác với hồn, làm nên sức sống của tác phẩm Nhưng cũng có nhiều tác phẩm, khi bóc tách phần ca từ ra khỏi nền nhạc thì
nó vẫn thấm đẫm chất thơ, và đi vào lòng công chúng bởi tính trữ tình và những ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà người nhạc sĩ gửi gắm trong tác phẩm của mình Thậm chí, những triết lí trong ca từ còn được thưởng thức như những câu châm ngôn sống bất hủ hoặc như những bài thơ Trong nền âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn là một hiện tượng như vậy
Với những vai trò và chức năng kể trên, ca từ là một phần không thể thiếu trong âm nhạc Vậy ca từ là gì? Theo Dương Viết Á: “Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời
ca trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc ) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: Ca từ” [1, tr.13]
Với khái niệm nêu trên, áp dụng vào đề tài cụ thể nghiên cứu phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, luận văn giới hạn nghiên cứu chỉ phần lời trong các ca khúc của ông
Trang 141.2.2 Ngôn ngữ trong ca từ
Ngôn ngữ là chất liệu tạo nên ca từ Giá trị của ca từ phụ thuộc vào
trình độ sử dụng ngôn ngữ của mỗi nhạc sĩ Những ca từ có giá trị trước hết
phải chuẩn về từ ngữ, đúng về ngữ pháp, chính xác về cú pháp, rõ ràng, trong
sáng về mặt diễn đạt Trong nền âm nhạc Việt Nam, những nhạc sĩ có tên
tuổi cũng đồng thời là những người tạo ra những ca từ có giá trị mẫu mực,
như: Văn Cao, Huy Du, Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Tý Họ là những người góp
phần quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hoá nó
để phục vụ sự phát triển của tư duy, sự phát triển của trí tuệ con người Việt Nam
Ngôn ngữ trong bài hỏt (ca từ) mang những đặc trưng của ngôn ngữ
văn học, nhất là của ngôn ngữ thơ Nhưng thơ chủ yếu là để đọc, trong khi đó
lời ca chủ yếu là để hát và nghe theo giai điệu và tiết tấu nhất định Rõ ràng
thơ và lời ca có hai cách tác động chủ yếu khác nhau: một bên thường là thị
giác và một bên thường là thính giác Do sự khác nhau đó, ngôn ngữ trong bài
hỏt có những điểm khác so với ngụn ngữ trong thơ ca Chẳng hạn:
Trong thơ ca, không nhà thơ nào lại viết liền một đoạn gồm toàn từ ngữ
tượng thanh, vì bài thơ viết ra để đọc (hoặc để nghe qua người khác đọc)
Nhưng với lời ca, vì để hát lên và để nghe theo giai điệu và tiết tấu của âm
nhạc, một đoạn lời ca chỉ gồm những từ ngữ tượng thanh bỗng nhiên lại có
hồn, có sức sống Sở dĩ có sự khác biệt này là do công cụ, phương tiện diễn tả
chủ yếu của âm nhạc là âm thanh với giai điệu, tiết tấu, hoà thanh Với
những phương tiện đó, âm nhạc có một khả năng vô cùng to lớn trong việc tái
hiện cuộc sống thông qua thế giới âm thanh Chính nhờ đặc trưng này, âm
nhạc cho phép sử dụng những mô phỏng âm thanh trong cuộc sống xã hội và
tự nhiên để phản ánh hiện thực
Tóm lại, ngôn ngữ trong tỏc phẩm ca từ là ngôn ngữ nghệ thuật được
chọn lọc, tinh luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, được tổ chức một cách đặc thù
nhằm phản ánh cô đọng đời sống và biểu thị tinh tế mọi cung bậc tâm trạng
xúc cảm của con người Nếu coi âm nhạc là một sản phẩm trí tuệ của nhân loại thì ca từ là một bộ phận không thể thiếu của sản phẩm đó Khi soạn ca từ, ngoài những tình cảm xuất phát từ trái tim, người nhạc sĩ còn cần có sự đầu tư của trí tuệ để lựa chọn ngôn ngữ một cách tinh tế, làm nên những khúc ca có giá trị Có thể nói một trong những giá trị của ca khúc là ở phần ca từ của tác phẩm
1.2.3 Hình tượng trong ca từ
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng Từ một ca khúc cho đến một bản giao hưởng, một vở nhạc kịch , với những mức độ khác nhau, đều là những hình tượng nghệ thuật phản ánh hiện thực, những bức tranh về cuộc sống con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định, thông qua cách nhìn riêng biệt và sự nhạy cảm của nhạc
sĩ
Hình tượng nghệ thuật là một bức tranh vừa cụ thể vừa khái quát về cuộc sống, về con người, được xây dựng bằng những biện pháp nghệ thuật của nghệ sĩ Trong ca từ, bức tranh đó được hiểu là bức tranh về tâm trạng của những con người xã hội, và qua bức tranh đó, hoàn cảnh cũng được phản ánh một cách sống động, rõ nét Trong lời ca, tâm trạng có thể gắn với một hoàn cảnh, một tình huống hoặc một câu chuyện, do đó tác giả vẫn có thể miêu tả, tường thuật (về cảnh, về việc) Nhưng cảnh phải được gắn với tình, việc phải được gắn với người, với cảm xúc Trong những ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ
Đặng Thế Phong như Giọt mưa thu hay Con thuyền không bến , lời ca hầu
như đều miêu tả (tả cảnh), song mỗi câu, mỗi từ đều trĩu nặng tình người và nỗi lòng của “cái tôi” trữ tình
Muốn có được sự cảm thông và sự rung động từ phía người nghe, hình tượng ca từ trong tác phẩm âm nhạc phải có tính điển hình, tức là phải có sự liên kết hữu cơ giữa cái riêng và cái chung, sự thống nhất thẩm mĩ giữa cái
Trang 15cảm tính cụ thể và cái bản chất Nếu nặng về cái chung, nhẹ về cái riêng, chỉ
thấy cái bản chất mà bỏ rơi cái cảm tính cụ thể, hình tượng trong ca từ sẽ trở
thành một chuỗi những khái niệm khô khan Nhưng nếu coi nhẹ cái chung mà
nặng về cái riêng, chạy theo cái cá biệt mà không nói lên được cái phổ biến,
có tính quy luật thì hình tượng trong ca từ sẽ trở nên lạc lõng, xa lạ với số
đông, với quần chúng Vì vậy người nghệ sĩ phải biết sống thực sự với tình
cảm của con người thời đại, hoà nhịp đập trái tim mình với quần chúng nhân
dân thì mới sáng tạo được những tác phẩm nghệ thuật chân chính Có như thế,
“cái tôi - nghệ sĩ” mới hoà chung với “cái ta - nhân dân”, cho dù trong trường
hợp nghệ sĩ chỉ nói về cái tôi:
Ai về thủ đô tôi gửi vài lời
Tây Hồ mờ xa là nhà tôi đó
Ai về thành đô tôi gửi vài lời
Cho nhẹ lòng tôi năm tháng không nguôi
(Sẽ về thủ đô - Huy Du)
Đó là tâm trạng riêng của Huy Du: nhớ Hà Nội, nhớ quê hương với biết
bao kỉ niệm Thế nhưng người nghe như thấy trong đó có nỗi lòng của mình,
bởi: ai xa quê hương mà không nhớ thương, vương vấn; ai là người Việt Nam
yêu nước đi kháng chiến mà không mong ngày về thủ đô - ngày tượng trưng
cho chiến thắng
1.2.4 Chủ thể cảm xúc trong ca từ
Chủ thể cảm xúc trong một tác phẩm âm nhạc, trong ca khúc, xét đến
cùng, chính là tác giả của tác phẩm ấy Nhưng không phải bao giờ tác giả
cũng “nhập vai” trong tác phẩm để ca hát, yêu thương, căm giận, mơ ước
Cách thể hiện “cái tôi - tác giả” trong tác phẩm rất phong phú và đa dạng
Có khi “cái tôi - tác giả” được biểu hiện trực tiếp trong bài hát, trong ca
từ Ca khúc Mười năm tổ quốc tôi đã lớn của Hồng Đăng là một ví dụ:
Khi tôi hát ngợi ca đất nước tôi anh dũng tuyệt vời
Đang ngày đêm trên tuyến đầu diệt quân cướp Mỹ Khi tôi hát ca ngợi Đảng của tôi như ánh mặt trời Trên đường dài dân tộc tôi đi đến vinh quang
Tình yêu tha thiết đối với quê hương, niềm tự hào kiêu hãnh về tổ quốc anh hùng, niềm tin vào tiền đồ tươi sáng của đất nước là những cảm xúc của tác giả được biểu hiện trực tiếp trong tác phẩm Trong trường hợp này, “cái tôi - nhân vật” trong tác phẩm trùng khít với “cái tôi - tác giả” của nhạc sĩ Cũng có khi tác giả không nói đến “cái tôi”, nghĩa là trong lời ca không
có từ tôi nhưng người nghe vẫn thấy rõ và xác định được chủ thể cảm xúc trực tiếp trong tác phẩm chính là tác giả Nếu như trong ca khúc Mười năm tổ
quốc tôi đã lớn (Hồng Đăng), tác giả đồng thời là nhân vật trữ tình trong tác
phẩm, xuất hiện trực tiếp và rõ ràng thì trong ca khúc Cô gái mở đường (Xuân
Giao), nhân vật trữ tình (tác giả) lại ẩn mình đi Do đó các câu trong ca từ đều thuộc vào loại có chủ ngữ ẩn Ví dụ:
Đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh
Tiếng hát ai vang động cây rừng
Phải chăng em cô gái mở đường
Không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát
Ca khúc là lời của nhạc sĩ Xuân Giao trò chuyện với những cô gái mở đường Tác giả đã bộc lộ tâm tình của mình và thể hiện sự yêu thương, trân trọng, ngợi ca những người con gái anh hùng Trong toàn bộ ca khúc, “cái tôi
- tác giả” không hề xuất hiện nhưng ta vẫn có thể nhận thấy sự hiện diện của tác giả Để thấy rõ hơn điều này, ta có thể viết lại những câu ẩn chủ ngữ thành những câu có chủ ngữ như sau:
(Tôi) đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh Tiếng hát ai vang động cây rừng Phải chăng em cô gái mở đường (Tôi) không thấy mặt người, (tôi) chỉ nghe tiếng hát
Trang 16Ai đi? Ai nghe tiếng hát? Ai lên tiếng hỏi? Đó có thể chính là “tôi”, là
tác giả Xuân Giao Ở đây, tác giả cũng là đại diện cho những người lính trên
đường đi cứu nước, đang trong rừng núi Trường Sơn, với nỗi lòng xốn xang
khi nghe tiếng hát của các cô nữ thanh niên xung phong
Ta còn có thể bắt gặp một dạng ẩn náu chủ thể cảm xúc khác nữa Vẫn
là tác giả, đồng thời là nhân vật trữ tình, nhưng “cái tôi - tác giả” trong tác
phẩm chỉ thấp thoáng hiện lên sau cảnh vật được nhắc tới Trong Người Hà
Nội, Nguyễn Đình Thi đã viết:
Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm
Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội
Hà Nội mến yêu
Trong những câu hát trên, cảnh Hà Nội hiện lên với Hồ Gươm, Hồng
Hà, Hồ Tây Nhưng đó không chỉ đơn thuần là cảnh Cảnh ở đây quyện chặt
với tình, cảnh hiện lên qua tình Những cảnh đó không phải được kể ra mà
được ca lên, được hát lên trong sự gắn bó với một giai điệu thiết tha, sâu lắng,
tràn đầy yêu thương
Có khi “cái tôi - tác giả” lại đựơc biểu hiện thông qua “cái tôi - nhân
vật trữ tình” được phản ánh trong tác phẩm Ở đây, tác giả không trực tiếp
xuất hiện, nghĩa là chủ thể cảm xúc của tác phẩm không phải là tác giả, mà là
một nhân vật nào đó Đó là trường hợp các ca khúc như: Tôi, người lái xe (An
Chung), Thư ra tiền tuyến (Thái Cơ), Em là hoa Pơ - lang (Đức Minh)
Người lái xe, người vợ ba đảm đang ở hậu phương, cô gái Tây Nguyên… là
những nhân vật trữ tình Trong những tác phẩm đó, ta bắt gặp trực tiếp tâm
trạng của từng người, qua tâm trạng của họ, có thể thấy được thái độ của tác
giả Đó là lòng yêu thương, thái độ trân trọng và nềm tự hào của tác giả đối
với phẩm chất cao đẹp của những con người trực tiếp làm nên lịch sử
“Cái tôi - nhân vật trữ tình” cũng có lúc biểu hiện bằng “ta” Trong ca
từ, tuy có nói đến “ta” nhưng trong trường hợp cụ thể nhất định, lại có nghĩa
là “tôi” Ca khúc Chưa hết giặc ta chưa về của Huy Du là một ví dụ: Nghe mênh mông tiếng Bác Hồ dậy non sông
Tuổi xanh ra đi chí anh hùng ta đánh Mỹ Thề quyết giữ trọn tình đất nước anh em ta ơi
Tự do chính là niềm mơ ước anh em ta ơi Đời chưa hết giặc là ta chưa về
Trong ca khúc này “ta” của tác giả Huy Du cũng là “tôi” - “cái tôi - nhân vật trữ tình” Ca khúc vừa là tâm tình của người chiến sĩ, vừa là lời “kêu gọi” sự đồng tình của anh em đồng đội Đó là một tâm trạng, một lời tự sự, nhưng đồng thời là một lời động viên, khích lệ, một lời hiệu triệu - tâm tình, một lời kêu gọi hát lên từ trái tim
“Như vậy, để tìm hiểu chủ thể cảm xúc trực tiếp trong tác phẩm là một
cá nhân hay một tập thể, không chỉ dựa vào một từ “tôi” hay một từ “ta” mà
có thể xác định được Vấn đề là phải xem xét cách cảm xúc trong tác phẩm xuất phát từ góc độ nào, từ cách nhìn, cách nghĩ, cách biểu hiện nào, và còn phải đặt chủ thể cảm xúc trực tiếp ở tác phẩm ca từ trong mối tương quan với chất nhạc, với phong cách của tác giả” [1, tr.147]
1.3 TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG CA KHÚC CỦA ÔNG 1.3.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28-2-1939 tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong một gia đình gốc Huế Ông là anh cả của 8 người em trai và gái Cha ông là một doanh nhân yêu nước và tham gia chống Pháp Mẹ ông là một người đàn bà nhân hậu, đảm đang và có cảm nhận nghệ thuật rất tinh tế Năm 1943, khi Trịnh Công Sơn lên 4 tuổi, gia đình về lại Huế, ở tại vùng Bến Ngự - một vùng đất xanh tươi, bên dòng sông An Cựu, nơi có nhiều chùa chiền, lăng tẩm Tiếng chuông chùa và lời kinh thấm vào hồn ông từ tuổi
Trang 17thơ Điều đó giúp chúng ta hiểu vì sao những ca từ của ông về sau mang đậm
dấu ấn Thiền, Phật và giàu chất Huế
Lên trung học, Trịnh Công Sơn học tại trường Lycée Francais, rồi đổi
sang trường Providence (Huế), rồi theo học ban Triết tại trường
Chasseloup-Laubat (Sài Gòn) Ông là một trong những trí thức thấm nhuần văn hoá Pháp
và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền triết học phương Tây hiện đại ngay từ khi
còn rất trẻ
Năm 1955, khi ông 15 tuổi, cha ông bị tai nạn giao thông qua đời Cái
chết đột ngột thảm khốc của người cha là cú sốc đầu đời, ám ảnh ông thường
trực Từ đó, ông luôn suy nghĩ về sự sống và cái chết
Thời niên thiếu, Trịnh Công Sơn là một chàng trai vui vẻ và khoẻ
mạnh, từng giành nhiều giải thưởng thi đấu thể thao (chạy, cử tạ, judo )
Điều gì sau đó đã đưa ông trở thành một nhà thơ - nhạc sĩ “buồn bã và ốm
yếu” trong mắt của nhiều người?
Năm 1957, Trịnh Công Sơn 18 tuổi, một tai nạn bất ngờ đã thay đổi
cuộc đời ông Lúc ấy ông đang học trung học, vào một ngày khi đang tập judo
với em trai, ông bị thương nặng ở ngực và phải nằm liệt giường gần hai năm
tại Huế Trong thời gian nằm dưỡng bệnh này, ông có nhiều thì giờ rảnh rỗi
để suy nghĩ về kiếp người và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên Cũng trong
thời gian này, Trịnh Công Sơn bắt đầu chơi guitare và bắt đầu sáng tác
Những ca khúc đầu tiên của ông mang tên Sương đêm và Chơi vơi đều chưa
ấn hành
Tai nạn trên là một cái rủi cho ông về thể xác nhưng là một cái may cho
nền âm nhạc Việt Nam Nếu như không có khúc quanh bất ngờ này, có lẽ ông
đã tiếp tục chơi thể thao, đi học tiếp và không chừng đã trở thành một bác sĩ,
hay kĩ sư , và lịch sử âm nhạc Việt Nam sẽ không bao giờ có được một nhạc
sĩ tài hoa như thế
Ca khúc được in đầu tiên của Trịnh Công Sơn là bài Ướt mi, sáng tác
vào năm 1958 và công bố vào năm 1959, nói về giọt nước mắt thuần khiết của một người con gái
Sau đó, đầu thập niên 60 của thế kỉ XX là thời kì Trịnh Công Sơn sáng tác rất nhiều bản nhạc tình đã trở thành những kiệt tác ca khúc Việt Nam Ở Huế, thời gian này Trịnh Công Sơn đã rung động trước hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai mang tên Ngô Thị Bích Diễm Hình ảnh này là nguồn cảm hứng để
ông viết Diễm xưa và rất nhiều ca khúc khác
Những năm 1962-1964, chiến tranh Việt Nam ngày càng tàn khốc, thanh niên hầu hết đều bị động viên đi lính Để hoãn quân dịch, Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn Ở nơi thành phố biển hiền
hoà, yên tĩnh này, ông đã sáng tác những tình ca nổi tiếng như Biển nhớ, Nhìn
những mùa thu đi, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Vết lăn trầm, Dã tràng ca, Cát bụi
Năm 1964, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, ông được điều lên Bảo Lộc (Lâm Đồng) dạy học Thời gian này, cuộc chiến ở Việt Nam
đã trở nên ác liệt Năm 1965, quân đội Mỹ bắt đầu rầm rộ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam Phong trào đấu tranh của Phật giáo và sinh viên dâng cao Giai đoạn 1965-1972, tâm trạng phản chiến trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Trịnh Công Sơn Ông bắt đầu sáng tác những bài hát về thân phận con người trong chiến tranh, miêu tả cuộc sống đau đớn, kinh hoàng đầy chết chóc hằng ngày của người dân, từ những người mẹ, người vợ cho đến cụ già, em bé Những bài hát của ông là tiếng kêu than thống thiết của con người trong cuộc chiến Tiêu biểu là những nhạc phẩm:
Gia tài của mẹ, Hát trên những xác người, Đàn bò vào thành phố, Người già
em bé, Người con gái Việt Nam, Tình ca người mất trí
Trang 18Vào năm 1965, tại Đà Lạt, Trịnh Công Sơn đã có cuộc gặp gỡ định
mệnh với ca sĩ Khánh Ly - người sau này đó thể hiện tuyệt vời những nhạc
phẩm của ông
Cuối năm 1966, buổi ra mắt đầu tiên của ông và Khánh Ly trước công
chúng Sài Gòn là khoảnh sân sau Trường Đại học Văn khoa, với hàng ngàn
sinh viên và trí thức Bằng chiếc ghi ta thùng đơn giản của ông và giọng ca
huyền thoại Khánh Ly, những bài tự tình quê hương và thân phận con người
được hát vang lên và làm thức tỉnh, say đắm hàng ngàn khán giả cuồng nhiệt
đêm đó Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng và rồi trở
thành thần tượng của lớp trẻ lúc bấy giờ
Năm 1969, nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nổi tiếng khắp thế
giới Ông được xem là một Bob Dylan (nhạc sĩ phản chiến số 1 ở Mỹ) của
Việt Nam Năm 1970, bài Diễm xưa được vào chung kết cuộc thi các bài hát
nước ngoài ở Nhật, bài Ngủ đi con chiếm giải Đĩa vàng và đã phát hành trên
hai triệu bản
Trịnh Công Sơn từ đó trở thành “kẻ du ca bất khuất” trên đất nước đầy
bom đạn Những sáng tác tiếp theo của ông với những ca từ mạnh mẽ trong
tập Kinh Việt Nam hay Ta phải thấy mặt trời, Nhân danh Việt Nam là tiếng
nói kêu gọi hoà bình và thống nhất đất nước
Tháng 4 năm 1975, chiến tranh chấm dứt, ông là người đầu tiên lên Đài
Phát thanh Sài Gòn hát vang bài Nối vòng tay lớn, một bài hát nói lên niềm
khao khát hoà bình, thống nhất
Sau ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ, Trịnh Công Sơn ở lại Việt Nam khi
hầu hết người thân và bạn bè của ông đã rời đất nước
Trước ngày 30/4/1975, có nhiều lời mời đưa ông ra nước ngoài của các
hãng thông tấn quốc tế Nhưng ông nói: “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể
sống và sáng tác Ở nước ngoài, tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình,
tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở
lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy” (Theo [64, tr.140])
Thế nhưng, ở lại đất nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Trịnh Công Sơn trở thành chứng nhân đồng thời cũng là nạn nhân của những thăng trầm lịch
sử trên mảnh đất thời hậu chiến
Những năm đầu giải phóng, những ca khúc của Trịnh Công Sơn không được phổ biến Bản thân ông bị "kiểm điểm" bởi có người cho rằng ụng đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến
tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc (trong bài Gia tài của mẹ với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày), thậm chí còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài Cho một người nằm xuống tỏ ý thương tiếc một đại tá không
quân Sài Gòn
Trong thời hậu chiến, cả nuớc rất khó khăn, và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được đưa đi lao động sản xuất trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ Thời gian này, ông không thể sáng tác được, bởi một người viết tình ca mang tính triết lí trừu tượng như ông không thể một sớm một chiều chuyển mạch sáng tác theo một đường hướng khác Năm 1979, Trịnh Công Sơn từ giã Huế vào Sài Gòn
Từ những năm 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại Tác phẩm
của ông sau chiến tranh có những bài nổi tiếng như: Chiều trên quê hương tôi,
Em còn nhớ hay em đã quên, Huyền thoại mẹ, Hà Nội mùa thu, Tiến thoái lưỡng nan, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Lặng lẽ nơi này, Xin trả nợ người, Lời thiên thu gọi Những sáng tác này thường là tình ca, không có bài hát nào
liên quan đến chiến tranh, chủ yếu là những tác phẩm viết cho phim Những tác phẩm sau này thường nói lên thân phận con người, kiếp người trong cõi tạm, mang đậm chất Thiền
Trang 19Năm 1983 và 1990, Trịnh Công Sơn đã hai lần có ý định lấy vợ nhưng
đều không thành Và trong tình yêu, ông rốt cuộc vẫn là chàng “lãng tử cô
độc” cho đến cuối đời
Năm 1992, người mẹ kính yêu của Trịnh Công Sơn qua đời Đây là một
mất mát quá lớn với ông Ông viết: “Khi một người mất mẹ ở tuổi 50, điều ấy
có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được Cái sa mạc để lại trong lòng
bạn cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng
xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn” (Theo [58, tr.9])
Những năm 90 của thế kỉ XX, sau thời kì đổi mới của đất nước, nhạc
của ông lại được hát rất nhiều trong các chương trình ca nhạc, chủ yếu là
những bản tình ca Những bài hát phản chiến của ông, vì một lí do nào đó,
vẫn chưa được phép lưu hành
Những năm cuối đời, Trịnh Công Sơn thường xuyên bị bệnh, sức khoẻ
giảm sút rõ rệt Ông qua đời vào ngày 1/4/2001 “Con chim nhỏ hát chơi trên
đầu ngọn lau” không còn nữa, “vết chân dã tràng” in dấu trên cõi trần đúng 62
năm Ca khúc cuối cùng, được ông sáng tác trên giường bệnh là bài Biển
nghìn thu ở lại Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa này
cũng sẽ “nghìn thu ở lại”
Năm 2004, Trịnh Công Sơn được trao “Giải thưởng Âm nhạc hoà bình
thế giới” vì lí tưởng hoà bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho hạnh
phúc của nhân loại
Trong bộ từ điển bách khoa Pháp Le Million tập 8 trang 122 - Genève
1973, tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhắc đến như một thi nhân tiêu biểu
của Việt Nam: “ nhiều thi nhân Việt Nam ngày nay đã tìm hơi thở hùng ca
của tổ tiên ngày trước để hát nỗi đau của mình Trịnh Công Sơn nổi bật giữa
những tài năng trẻ đó Bài hát của anh tràn ngập thành phố và thôn quê Trịnh
Công Sơn cất cao tiếng hát thi nhân mà đạn bom không bao giờ dập tắt
được ” (Theo [64, tr.140])
1.3.2 Khái quát về những ca khúc của Trịnh Công Sơn
Về số lượng ca khúc của Trịnh Công Sơn, công chúng thường phỏng đoán ông đã sáng tác khoảng trên 600 ca khúc Tuy nhiên đây chỉ là sự phỏng đoán vì không có những căn cứ cụ thể Chính Trịnh Công Sơn, lúc sinh thời, cũng không biết mình đã viết bao nhiêu ca khúc, vì thời chiến tranh sống cuộc đời trốn tránh, lang bạt, ông không có điều kiện giữ gìn, và những sáng tác ấy thất lạc khắp nơi
Năm 1991, cô Yoshii Michiko, một sinh viên người Nhật làm luận văn cao học về nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, đã sưu tầm được 196 bài hát, trên cơ sở tài liệu do chính Trịnh Công Sơn cung cấp dựa vào trí nhớ của tác giả hoặc của các ca sĩ
Mười năm, sau khi Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001, những bạn bè của ông ở trong và ngoài nước đã sưu tầm những bài hát của ông qua nhiều nguồn Ông Phạm Văn Đỉnh - Chủ tịch Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn (Pháp)
đã kì công sưu tầm được 288 bài, có chú thích năm tháng cẩn thận Đây có thể được coi là thư mục bài hát tìm được nhiều nhất tính đến thời điểm hiện nay Như vậy, căn cứ vào một số cứ liệu và qua quá trình tìm hiểu, có thể nhận định Trịnh Công Sơn đã sáng tác khoảng hơn 300 ca khúc
Những ca khúc của Trịnh Công Sơn về thực chất là nhật kí ghi lại những suy tư, chiệm nghiệm của một con người bình thường về những khoảnh khắc, cảm xúc, tâm trạng trong nhiều giai đoạn, nhiều hoàn cảnh trải dài trong suốt cuộc đời của mình Trịnh Công Sơn từng viết: “Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo” (Theo [37, tr.223])
Nhạc Trịnh thường được xếp thành 3 mảng chính là: Tình yêu, Quê hương và Thân phận
Tình yêu là đề tài lớn nhất trong tác phẩm của Trịnh Công Sơn Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục ca khúc của ông Nhạc tình của Trịnh
Trang 20Công Sơn đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn
như trong Sương đêm, Uớt mi , mang nỗi sầu li biệt như Diễm xưa, Biển
nhớ , hay nuối tiếc những gì đã qua như Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn
nhớ hay em đã quên
Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, thường được viết với tiết tấu
chậm Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài mộc mạc nhưng
rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam Nhạc sĩ
Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là “Người Việt viết tình ca hay nhất thế
kỉ” [65]
Tiếp theo là mảng ca khúc về quê hương Mảng này lại chia thành các
ca khúc phản chiến (các tập nhạc Da vàng nổi tiếng thập kỉ 60, 70 trong
phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe) và các ca khúc ngợi ca con người xây
dựng tái thiết đất nước sau năm 1975 (với những ca khúc như Em ở nông
trường em ra biên giới, Chiều trên quê hương tôi , ngoài ra còn có những ca
khúc viết cho thiếu nhi như Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng , và những bài
hát viết cho phim như Đời gọi em biết bao lần)
Trong mảng ca khúc viết về quê hương, người ta chú ý nhiều đến
những ca khúc phản chiến mang tính chất chống chiến tranh, ca ngợi hoà
bình Có thể kể đến những tập ca khúc phản chiến tiêu biểu như: Ca khúc da
vàng, Kinh Việt Nam, Phụ khúc da vàng
Cuối cùng là mảng ca khúc về thân phận con người, được viết bằng sự
chiêm nghiệm về thân phận mình, thân phận người và cuộc đời với nội dung
sâu sắc, mang tính triết lí cao, làm nên tính “bác học” và “độc đáo” của nhạc
Trịnh Những ca khúc tiêu biểu như: Bốn mùa thay lá, Phôi pha, Một cõi đi
về, Ngẫu nhiên, Tiến thoái lưỡng nan, Như một lời chia tay Những ca khúc
này thường nói về tính phù du của cuộc sống, của đời người:
Không hẹn mà đến không chờ mà đi
Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta (Bốn mùa thay lá)
Từ đó tác giả kêu gọi con người hãy yêu nguời: “hãy yêu nhau đi cho gạch đá có tin vui” và yêu đời, bởi “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”
Có lẽ ít có dòng nhạc nào có tầm ảnh hưởng lớn như nhạc Trịnh Trong những năm tháng chiến tranh, nhạc của Trịnh Công Sơn chưa được phép lưu hành, thế nhưng những người lính ở cả hai bên chiến tuyến vẫn say sưa hát lên những ca khúc phản chiến, những bản tình ca và những bài tự tình quê hương, dân tộc của ông Sau năm 1975, vì một số lí do, nhạc Trịnh Công Sơn vẫn bị cấm biểu diễn trong một thời gian dài (cho đến cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỉ XX - thời kì mở cửa, nhạc Trịnh Công Sơn mới chính thức được phổ biến) Tuy nhiên, trong những năm chính quyền không cho phép, trên khắp nẻo đường đất nước, từ những nơi núi rừng heo hút cho đến chốn thị thành, người dân vẫn nghe và yêu nhạc Trịnh “Ngày nay, đi đến bất cứ nơi đâu trên trái đất này, nếu có cộng đồng người Việt sinh sống, thì nơi đó có nhạc Trịnh Công Sơn” [33, tr.47]
Hãy nghe những lời phát biểu về tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn
và âm nhạc của ông:
“Nguyễn Trọng Tạo: Ở Việt Nam thế kỷ XX, có hàng vạn người sáng tác ca khúc, nhưng có 3 người không ai là không biết, đấy là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn Trong 3 người đó, Trịnh Công Sơn là người ít tuổi nhất và nhạc phẩm của anh xuất hiện sau đến vài chục năm, nhưng hơn 500 bài hát của anh được người đời say đắm đến cuồng nhiệt đã tạo ra một hiện tượng lạ lùng trong âm nhạc Việt thế kỷ XX Anh thực sự là Ông Hoàng của tình ca Việt Nam, nhưng cũng là một nhạc sĩ “phản chiến”, một nhạc sĩ của
khát vọng hoà bình với cả trăm bài hát trong các tập Kinh Việt Nam và Ca
khúc da vàng
Ca từ của anh không chỉ giàu chất thơ như người ta thường nói, mà đấy
là những bài thơ thật sự, những bài thơ thấm đẫm triết lý về cuộc sống, về tình
Trang 21yêu, về sự sinh ra và trở về Cát Bụi của thân phận người ngắn ngủi” (Theo
[46, tr.461])
“Hoàng Bình Thi: Nỗi đam mê tình yêu lứa đôi không thay thế được
những điều lớn lao ở nhạc Trịnh Công Sơn, đó là nỗi đam mê nhận thức đời
sống, đeo đuổi cho đến cùng câu hỏi nghiệt ngã nhất “ta là ai?” Như một đời
sống thứ hai đầy cám dỗ, âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã khải thị những giá
trị thực của đời người Nó chống lại sự xáo mòn, băng hoại Không dồn đuổi
con người ta tới một nhịp sống gấp gáp, cũng không làm con người buông
xuôi trước số phận mà là nhìn nhận một cách chân xác chỗ đứng đúng nghĩa
của con người
Có lẽ tình yêu và nỗi đau phận người là những giá trị lớn nhất mà Trịnh
Công Sơn để lại Đó là một gia tài đồ sộ đến mức thử giả định nếu không có
Trịnh Công Sơn, nếu không có âm nhạc của ông, đời sống của chúng ta sẽ
nghèo nàn và thảm hại đến nhường nào” (Theo [46, tr.462])
“Phạm Tuyên: Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí hết sức quan
trọng và v mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ Lời ca anh không
dễ dãi tuỳ tiện, mà luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói
là anh đã tìm được những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kỳ, kiểu cách
để thể hiện nội dung đó Đối với người sáng tác, có được một phong cách
riêng là một điều phải phấn đấu Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình
một sự khác biệt lập dị, nhưng bằng tình cảm chân thnàh của mình, anh đã có
được một phong cách rất riêng được sự mến mộ của đông đảo công chúng
Sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh
với những sự đánh giá có thể khác nhau, nhưng phải khẳng định rằng sự
nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng vào nền ca khúc Việt Nam
hiện đại” (Theo [46, tr.463])
TIỂU KẾT
- Ca từ được hiểu là ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, bao gồm: lời ca trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu
đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc… Trong âm nhạc,
ca từ có vai trò rất quan trọng Nó bổ sung tính cụ thể, nối thêm sức truyền cảm và mở cửa cho hình tượng nghệ thuật đi vào lòng người thưởng thức
- Ngôn ngữ trong ca từ là ngôn ngữ nghệ thuật được chọn lọc, tinh luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, có những đặc trưng riêng biệt và được tổ chức một cách đặc thù nhằm phản ánh cô đọng đời sống và biểu thị tinh tế mọi cung bậc tâm trạng, cảm xúc của con người
- Hình tượng trong ca từ là những hình tượng nghệ thuật, là bức tranh tâm trạng, bức tranh cuộc sống của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định, được phản ánh trong ca khúc qua góc nhìn và sự nhạy cảm của nhạc sĩ Hình tượng trong ca từ có tính điển hình và liên quan chặt chẽ với hình tượng của toàn bộ tác phẩm âm nhạc
- Chủ thể cảm xúc trong ca từ xét đến cùng chính là tác giả của những
ca từ ấy Cách thể hiện “cái tôi - tác giả” trong tác phẩm rất phong phú và đa dạng: có thể được biểu hiện trực tiếp trong tác phẩm, có thể được ẩn đi hoặc thể hiện thông qua những nhân vật trữ tình
- Một trong những phương thức làm nên vẻ đẹp và nét độc đáo của ngôn ngữ trong ca từ là so sánh So sánh là cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ trong ca từ nói riêng So sánh là một quá trình của sự nhận thức thế giới khách quan để phát hiện và chỉ ra sự đồng nhất cũng như khác biệt về thuộc tính của các sự vật đặt bên nhau Trong âm nhạc, phương thức này góp phần tạo nên những lời ca hấp dẫn, giàu hình ảnh, đồng thời cho thấy một phần phong cách riêng của tác giả, trong đó có nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn
- Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ đã ghi lại dấu ấn đậm nét và cũng là một hiện tượng hiếm gặp trong nền âm nhạc Việt Nam Với những ca khúc về
Trang 22Quê hương, Tình yêu và Thân phận con người, Trịnh Công Sơn đã tạo dựng
cho mình một dòng nhạc độc lập, có sức sống và vị trí riêng, được gọi với cái
tên bình dị, thân quen là Nhạc Trịnh Những ca khúc của Trịnh Công Sơn có
tầm ảnh hưởng lớn không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn vượt biên giới
đến với những trái tim yêu nhạc ở nhiều nước trên thế giới Một trong những
yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần ca từ và đó cũng là nơi
thể hiện sự tài hoa trong sử dụng tiếng Việt của ông, trong đó có sử dụng
phương thức so sánh
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC
VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1.1 Các kiểu cấu trúc so sánh
Trong 242 ca khúc được khảo sát, có 148 bài trong đó Trịnh Công Sơn
sử dụng phương thức so sánh, thể hiện ở 406 lượt so sánh, với 13 kiểu cấu
trúc so sánh
Sau đây là ví dụ và sự phân tích đối với từng kiểu cấu trúc:
- Cấu trúc A + tnss + B, ví dụ:
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)
(Trong đó: A: mắt em cười tnss: tựa B: lá bay)
Và các ví dụ khác:
- Tình như đá hoài những chờ mong
Tình vu vơ sao ta muộn phiền (Như một lời chia tay)
- Trời nước bao la em như là chim én
Em trên xuồng qua rạch rồi lại nối qua sông
(Mênh mông Đồng Tháp)
- Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không (Nghe những tàn phai)
- Đời ta có khi tựa lá cỏ
Ngồi hát ca rất tự do (Đêm thấy ta là thác đổ)
Trang 23Cấu trúc A + tnss + B được sử dụng 272/406 lượt, chiếm tỉ lệ 67% Với
kiểu so sánh này, tác giả đã đồng nhất hoặc tương tự hoá hai sự vật hiện tượng
khác loại (A và B), mặc dù chúng có rất nhiều đặc tính Cách so sánh mở này
buộc người nghe phải suy ngẫm và liên tưởng để chọn ra đặc tính nào (hoặc
những đặc tính nào) là căn bản và được xem là tồn tại ở hai sự vật hiện tượng
khác loại này, để tác giả lấy đó làm căn cứ so sánh
- Cấu trúc A + x + tnss + B, ví dụ:
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi (Cát bụi)
Thân nhẹ nhàng như mây (Như một lời chia tay)
- Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ (Hoa xuân ca)
- Thương ai màu áo trắng
Trong như ánh sao băng (Thương một người)
- Một chiều kia có em buồn buồn
Thân mong manh như lau sậy hiền (Níu tay nghìn trùng)…
Cấu trúc A + x + tnss + B được sử dụng 67/406 lượt, chiếm tỉ lệ 17%
Với kiểu so sánh này, tác giả đã nêu ra một sự vật cùng với một đặc tính nhất
định của nó (A+x) để so sánh với một sự vật hiện tượng khác loại (B) Cách
so sánh này có tác dụng gợi dẫn người nghe tới một đặc tính nhất định,
thường là tồn tại hiển nhiên ở sự vật hiện tượng so sánh (B) Rốt cuộc sự so
sánh mang lại hiệu quả là gán cho sự vật được so sánh (A) đặc tính này của B, trong hoàn cảnh cụ thể của ca khúc
- Cấu trúc A + B, ví dụ:
- Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
Em suối kia rất ngọt và tôi đứng hai bờ (Hoa xuân ca)
(Trong đó: A: em B: suối kia rất ngọt)
Và các ví dụ khác:
- Sen hồng một độ
Em hồng một thủa xuân xanh (Đoá hoa vô thường)
- Đời vẽ tôi tên mục đồng Rồi vẽ thêm con ngựa hồng
Từ đó tôi lên đường phiêu linh (Chỉ có ta trong một đời)
- Một người ngồi hai mươi năm
Cuộc buồn vui ly rượu đắng (Ngày dài trên quê hương)
- Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay (Gọi tên bốn mùa)
Cấu trúc A + B được sử dụng 34/406 lượt, chiếm tỉ lệ 8,4% Đây là
kiểu cấu trúc vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ, chỉ còn lại yếu tố được so sánh (A) và yếu tố so sánh (B) được đặt dưới hình thức đối chọi, và
sự liên kết giữa chúng không được hiển ngôn, chỉ căn cứ vào khả năng liên tưởng Cách so sánh này khiến người nghe phải tìm ra những đặc tính của A
và những đặc tính của B để rồi tìm ra giao điểm của A và B tức là chọn ra đặc tính chung nhất của hai đối tượng Không những thế, người nghe còn phải suy ngẫm để xác định quan hệ giữa A và B là quan hệ tương tự hay quan hệ ngang bằng
- Cấu trúc x + tnss + B, ví dụ:
Ngày nay sao buồn thế
Trang 24- Một hôm bước chân về giữa chợ
Chợt thấy vui như trẻ thơ (Đêm thấy ta là thác đổ)
- Ôi nhân loại còn người và tôi thôi
Rồi lang thang như mây trời (Xin mặt trời ngủ yên)
- Một mai thức dậy
Chuyện trò với lá cây
Rồi buồn như lá bay (Tình sầu)
Cấu trúc x + tnss + B được sử dụng 7/406 lượt, chiếm tỉ lệ 1,7% Với
kiểu so sánh này, A - sự vật hiện tượng, thường là chủ thể trữ tình được giấu
đi, chỉ nêu lên một đặc tính (chẳng hạn là bình yên) Đó là một sự vật hiện
tượng phiếm định, được ngầm hiểu có thể là người nói, là người kia, là cả hai,
hoặc ai đó Là ai hay chẳng là ai cả? Điều đó gợi cho người nghe sự cảm nhận
rằng ca từ như lời tự truyện của tác giả, lại như kể chuyện đời hoặc kể chuyện
của chính người nghe vậy Tức là người nghe có thể chỉ là nghe người khác kể
chuyện của họ, hoặc nghe kể về câu chuyện của chính mình Điều đó tạo một
sự liên tưởng và thành cơ sở của sự đồng cảm giữa người nghe và tác giả
- Cấu trúc tnss + B, ví dụ:
Như là chim xa đàn
Giấu nỗi buồn trong cánh
Hẹn hò với giấc mơ (Cánh chim cô đơn)
(Trong đó: tnss: như là
B: chim xa đàn)
Và các ví dụ khác:
- Như là những bông hoa trong thành phố này
Tuổi đời mênh mông quá búp non đầu cây
(Tuổi đời mênh mông)
- Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về (Đêm thấy ta là thác đổ)
- Như là mây giang hồ
Lang thang cùng với gió Lạc loài nơi chốn xa (Cánh chim cô đơn)
Cấu trúc tnss + B được sử dụng 6/406 lượt, chiếm tỉ lệ 1,5% Trong cấu
trúc này, yếu tố so sánh và phương diện so sánh đã được giấu đi, trở thành mơ
hồ Người nghe muốn biết yếu tố so sánh ở đây là ai hay là gì và tác giả dựa vào phương diện nào để làm cơ sở so sánh thì phải đoán định căn cứ vào văn cảnh cụ thể, đó là những câu hát đứng trước hoặc sau nó
- Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) ,ví dụ:
Em là phấn thơm cho rừng chút hương
Là lời hát ca cho trần gian (Cho đời chút ơn)
(Trong đó: A: em tnss1, tnss2: là B1: phấn thơm cho rừng chút hương B2: lời hát ca cho trần gian)
Và các ví dụ khác:
- Con chim về đậu bên người
Là thiên sứ đó là tôi cũng chừng (Thiên sứ bâng khuâng)
- Ngủ đời tên đi con như vết thương đau ngủ buồn
Như trùng dương đêm mắt thâm còn nghe ngóng (Vết lăn
trầm)
Trang 25
- Cuộc tình lên cao vút
Như chim mỏi cánh rồi
Như chim xa lìa bầy
Như chim xa lìa trời
Như chim bỏ đường bay (Tình sầu)
Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) được sử dụng 6/406 lượt,
chiếm tỉ lệ 1,5% Nếu kiểu so sánh A + tss + B chỉ đồng nhất hoặc tương tự
hoá hai sự vật hiện tượng khác loại, thì kiểu A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)
đã đưa người nghe tới những khả năng đa dạng hơn và yêu cầu đoán định trên
cơ sở liên tưởng chọn lọc, liên kết nhiều đặc tính ở nhiều sự vật khác loại
Điều đó giống như cách giải câu đố: Các vật vừa giống cái này, lại vừa giống
cái kia, và cái kia nữa , đó là gì Cách so sánh một sự vật hiện tượng với
nhiều sự vật hiện tượng đưa người nghe tới một chuỗi liên tưởng
- Cấu trúc A + x + B Ví dụ:
Ôi tóc em dài đêm thần thoại
Vùng tương lai chợt xa xôi
Tuổi xuân ơi sao lạnh dòng máu trong người (Gọi tên bốn mùa)
(Trong đó: A: tóc em
x: dài
B: đêm thần thoại)
Và các ví dụ khác:
- Ngủ đi em da thơm quả ngọt (Em hãy ngủ đi)
- Ngủ đi em tay xanh ngà ngọc (Em hãy ngủ đi)
Cấu trúc A + x + B được sử dụng 3/406 lượt, chiếm tỉ lệ 0,7% Đây là
kiểu cấu trúc vắng từ ngữ so sánh Với kiểu cấu trúc này, người nghe sẽ phải
đoán định đâu là ranh giới giữa yếu tố được so sánh, phương diện so sánh và yếu tố so sánh
- Cấu trúc tnss + B + A + x, ví dụ:
Như một hòn bi xanh
Trái đất này quay tròn (Như hòn bi xanh)
(Trong đó: tnss: như B: một hòn bi xanh A: trái đất này x: quay tròn)
tố phương diện thay vào vị trí của yếu tố so sánh Với việc đảo trật tự cấu trúc này, tác giả nhằm nhấn mạnh đến yếu tố phương diện so sánh (bằng cách đặt
nó ở cuối câu)
- Cấu trúc A + x + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2), ví dụ:
Đời sao im vắng Như đồng lúa gặt xong Như rừng núi bỏ hoang (Ru ta ngậm ngùi)
(Trong đó: A: đời x: im vắng tnss1, tnss2: như B1: đồng lúa gặt xong B2: rừng núi bỏ hoang)
Và ví dụ khác:
Trang 26Ngày ngày tôi nhìn mặt mày anh em
Mịt mùng như đêm như sao bạc mệnh
(Một ngày vinh quang một ngày tuyệt vọng)
Cấu trúc A + x + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) được sử dụng 2/406 lượt,
chiếm tỉ lệ 0,5% Tương tự cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) , cấu
trúc này là cách so sánh một sự vật hiện tượng với nhiều sự vật hiện tượng
Nhưng nếu cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) vắng cơ sở so sánh thì
trong cấu trúc A + x + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2), tác giả đưa ra một thuộc
tính được coi là chung của cả yếu tố được so sánh và các yếu tố so sánh
- Cấu trúc A + B1 + B2 , ví dụ:
Em đến bên đời hoa vàng một đoá
Một thoáng hương bay bên trời phố hạ (Hoa vàng mấy độ)
(Trong đó: A: em đến bên đời
B1: hoa vàng một đoá
B2: một thoáng hương bay bên trời phố hạ)
Và ví dụ khác:
Đường nhân loại một đường rất dài
Đường sau này mọi người sẽ tới
Đường tương lai không ai thù ghét ai
Đường lứa đôi (Có những con đường)
Cấu trúc A + B1 + B2 được sử dụng 2/406 lượt, chiếm tỉ lệ 0,5%
Trong cấu trúc này, một yếu tố được so sánh được đặt dưới hình thức đối
chọi với nhiều yếu tố so sánh Với cấu trúc này, tác giả đã đưa người nghe
đến những liên tưởng về thuộc tính chung không nói ra giữa yếu tố được so
sánh và những yếu tố so sánh, hoặc nói cách khác, dùng những yếu tố so sánh
để làm đa dạng hoá các thuộc tính của đối tượng được so sánh dưới cái nhìn
riêng bệt của người nói
- Cấu trúc A1 + A2 + tnss + B, ví dụ:
Tôi yêu tôi sống như chưa bao giờ (Tôi sẽ nhớ)
(Trong đó: A1: tôi yêu A2: tôi sống tnss: như B: chưa bao giờ)
Và ví dụ khác:
Em về giữa thiên nhiên em cười em nói Như sóng đùa biển khơi (Tuổi đời mênh mông)
Cấu trúc A1 + A2 + tnss + B được sử dụng 2/406 lượt, chiếm tỉ lệ
0,5% Trong cấu trúc này, tác giả đã đưa ra hai hay nhiều yếu tố được so sánh
để so sánh với một sự vật hiện tượng khác Ở đây, tác giả đưa người nghe đến
sự liên tưởng đoán định những thuộc tính chung của các yếu tố được so sánh
và giữa các yếu tố được so sánh với yếu tố so sánh
- Cấu trúc A + tnss, ví dụ:
Chiều trên quê hương tôi
Ước bao nhiêu điều đã trôi qua
Có riêng em cuộc đời sẽ nhớ Nét quê hương nghìn năm vẫn là
(Chiều trên quê hương tôi)
(Trong đó: A: nét quê hương nghìn năm tnss: là)
Cấu trúc A + tnss được sử dụng 1/409 lượt, chiếm tỉ lệ 0,2% Đây là
một cách so sánh rất độc đáo của Trịnh Công Sơn Trong cấu trúc này, yếu tố
so sánh đã được ngầm ẩn, không được hiện diện trên văn bản Nét quê hương
nghìn năm vẫn là Người nghe sẽ đặt câu hỏi: Là gì? Cũng như đã từng đặt
câu hỏi cho những câu bỏ lửng của ông: Có chút bồi hồi trong phút chia ly
Có những mặt người không yêu là vì Là vì sao? Hay: Người tình kia mất con đường về Và trời kia mất em từ độ Từ độ nào? Để trả lời những câu hỏi
này, người nghe sẽ phải căn cứ vào nội dung và hoàn cảnh của bài hát và cũng
Trang 27có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Quay trở lại với cấu trúc so sánh đã
dẫn: ở đây, nét quê hương nghìn năm có thể là tất cả những gì bình dị của
cuộc sống mà tác giả cảm nhận trong buổi chiều trên quê hương Đó là nét
quê hương nghìn năm vẫn còn nguyên vẹn không phải trên những lăng tẩm
đền đài, những di tích văn hoá mà trên những “con đường lứa đôi”, “những
góc hè phố vui” - những điều bình dị, thân quen trên quê hương yên bình
- Cấu trúc A1 + A2 + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2), ví dụ:
Mầm xanh trên những cây già
Màu lá chuối non vườn xưa
Là búp sen con bên hồ
Là ánh nắng mai bên nhà
(Đời sống không già vì có chúng em)
(Trong đó: A1: mầm xanh trên những cây già
A2: màu lá chuối non vườn xưa
tnss1, tnss2: là
B1: búp sen con bên hồ
B2: ánh nắng mai bên nhà)
Cấu trúc A1 + A2 + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2) được sử dụng 1/409
lượt, chiếm tỉ lệ 0,2% Với kiểu cấu trúc này, tác giả đã đưa ra liên tiếp hai
yếu tố được so sánh rồi mới tiếp đến là: từ so sánh và yếu tố so sánh Người
nghe sẽ phải ngầm hiểu ở đâyA1 được so sánh với B1, A2 được so sánh với
B2, hoặc cả A1 và A2 được so sánh với B1 và B2 và sẽ phải tìm ra thuộc tính
chung giữa A1 và B1, A2 và B2, hoặc giữa chúng với nhau
Sự liệt kê các kiểu cấu trúc và số lượt cụ thể của các kiểu cấu trúc được
trình bày trong bảng sau (Bảng 2.1):
BẢNG 2.1 Một số nhận xét:
- Các kiểu cấu trúc so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn rất đa dạng và phong phú Ngoài mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ gồm bốn yếu tố (yếu tố được so sánh, phương diện so sánh, từ so sánh, yếu tố so sánh), Trịnh Công Sơn đã tạo ra các mô hình lược bỏ yếu tố, các mô hình đảo trật tự
- Trong 13 kiểu cấu trúc so sánh được ông sử dụng, kiểu cấu trúc A + tnss + B được ưa dùng nhất, tiếp đó là các kiểu A + x + tnss + B; A + B Các kiểu cấu trúc còn lại tuy có số lượt sử dụng không nhiều (có kiểu cấu trúc chỉ
Trang 28xuất hiện một hoặc hai lần) Nhưng chính những biến thể đặc biệt này đã thể
hiện sự biến hoá sinh động và kì thú trong việc sử dụng ngôn từ trong phương
thức so sánh của Trịnh Công Sơn
2.1.2 Đặc điểm của yếu tố được so sánh
a Yếu tố được so sánh là các từ, bao gồm:
- Danh từ (đêm, quê hương, tình yêu, mẹ, mưa, em, tôi, tóc ), ví dụ:
- Đêm yên như phố cổ
Chút tình duyên xôn xao (Đêm)
- Quê hương là cuộc đời
Những đứa trẻ mồt côi (Nhưng hôm nay)
- Tình yêu như trái chín
Trên cây rụng rời (Tình sầu)
- Mẹ là gió uốn quanh
Trên đời con thầm lặng (Huyền thoại mẹ)
- Mưa như từng giọt rượu hờ
Đêm trong thành phố ai chờ đợi ai (Mưa mùa hạ)
Yếu tố được so sánh là danh từ được sử dụng 176/398 lượt, chiếm tỉ lệ
42%, chủ yếu là những từ chỉ người và những gì thuộc con người
Lao động là vinh quang
(Khăn quàng thắp sáng bình minh)
Yếu tố được so sánh là động từ được sử dụng 3/398 lượt, chiếm tỉ lệ
0,75%, đều là những từ chỉ hoạt động của con người
- Tính từ (mênh mông, lận đận, buồn ), ví dụ:
- Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ
Thả con diều nhỏ bay giữa mênh mông
Mênh mông là trời bầu trời mênh mông (Ra đồng giữa)
- Tiến thoái lưỡng nan
Đi về lận đận
Ngày nay lận đận
Là giọt hư không (Tiến thoái lưỡng nan)
Yếu tố được so sánh là tính từ được sử dụng 3/398 lượt, chiếm tỉ lệ 0,75%, thường là những từ chỉ tâm trang, hoàn cảnh của con người
b Yếu tố đuợc so sánh là các đoản ngữ (cụm từ), bao gồm:
- Danh ngữ (đoá hoa vàng mỏng manh cuối trời, đôi môi em, vùng sông
hồ đó, tiếng ru mẹ hát những năm xưa, chuyện ngày xưa ấy, trăm câu nói, một rừng cờ, những bạn bè ), ví dụ:
- Đoá hoa vàng mỏng manh cuối trời
Như một lời chia tay (Như một lời chia tay)
- Ngoài phố mùa đông Đôi môi em là đốm lửa hồng (Ru đời đi nhé)
- Về phía đồi xa rừng xưa đứng kể Vùng sông hồ đó là nguồn sáng bây giờ (Về giữa Trị An)
- Tiếng ru mẹ hát những năm xưa
Mãi là lời ca dao bốn mùa (Tình yêu tìm thấy)
- Đi trong hạnh phúc quê nhà Chuyện ngày xưa ấy bỗng là chiêm bao
(Hai mươi mùa nắng hạ)
Yếu tố được so sánh là danh ngữ được sử dụng 157/398 lượt, chiếm tỉ lệ 39,4%, chủ yếu là những danh ngữ chỉ các sự vật hiện tượng cụ thể hoặc trừu tượng
Trang 29- Động ngữ (dựng người mới, sống tới, gặp nhau, nằm chết ), ví dụ:
- Dựng người mới như cây sang mùa
Người vượt tới những trời xa (Dựng lại người dựng lại nhà)
- Đời cho ta thế hãy cứ sống tới như mọi ai
Mặc dòng sông kia sẽ cuốn đất đá ra biển khơi (Đời cho ta
thế)
- Gặp nhau mừng như bão cát
Quay cuồng trời rộng (Nối vòng tay lớn)
Yếu tố được so sánh là động ngữ được sử dụng 11/398 lượt, chiếm tỉ
lệ2,8%, chủ yếu là những động ngữ chỉ hoạt động của con người
- Cụm chủ vị (C - V) (tôi đã yêu em, em ra đi, từng người tình bỏ ta đi,
lúa reo mừng, tôi mơ có cuộc tình, người đi, anh nằm xuống ), ví dụ :
- Tôi đã yêu em như trẻ thơ
Đâu biết đôi khi có lìa xa
Yêu trong nỗi đau tình cờ (Trong nỗi đau tình cờ)
- Em ra đi như thoáng gió thầm
Để lại đây thành phố không hồn (Tạ ơn)
- Từng người tình bỏ ta đi
Như những dòng sông nhỏ (Tình xa)
- Tôi chon nắng đầy chọn cơn mưa tới
Để lúa reo mừng tựa vẫy tay
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)
Yếu tố được so sánh là cụm chủ - vị (C - V) được sử dụng 48/398 lượt,
chiếm tỉ lệ 12,1%, thường được dùng để chỉ những hoạt động của con người
Tần số xuất hiện các dạng của yếu tố được so sánh được trình bày trong
bảng sau (Bảng 2.2):
Số lượng Dạng Số lượt Tổng số
- Sở dĩ để thể hiện yếu tố được so sánh, thường được dùng là danh từ
và danh ngữ, ít dùng động từ, tính từ và động ngữ, bởi yếu tố được so sánh thường là sự vật hoặc những sự vật với thuộc tính của nó, ít có trường hợp yếu tố được so sánh là tính chất hoặc hành động
2.1.3 Đặc điểm của yếu tố so sánh
a Yếu tố so sánh là các từ, bao gồm:
- Danh từ (đá, đêm, rơm, lá, nấm, mây, gió, sông, hoa, em, tôi, núi, đèo,
nỗi nhớ, bài thơ ), ví dụ:
- Người chợt nhớ mình như đá
Đá lăn vết lăn buồn (Vết lăn trầm)
Trang 30- Từ đó ta là đêm
Nở đoá hoa vô thường (Đoá hoa vô thường)
- Mẹ cha tóc khô như rơm
Chờ đàn con đã đi bao năm không về (Dân ta vẫn sống)
- Bao tâm hồn xanh như lá
Cùng hân hoan với quê nhà (Đồng dao 2000)
- Khi đất nước tôi thanh bình
Tôi sẽ đi thăm
Tôi sẽ đi thăm nhiều nghĩa địa buồn
Đi xem mộ bia nhiều như nấm (Tôi sẽ đi thăm)
Yếu tố so sánh là danh từ được sử dụng 85/419 lượt, chiếm tỉ lệ 20,3%,
chủ yếu là những danh từ chỉ những sự vật hiện tượng thuộc thế giới tự nhiên
- Động từ (than phiền, gặp, lo sợ ), ví dụ:
- Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền
(Dấu chân địa đàng)
- Giã từ mà vui hơn gặp (Trả lại em)
Yếu tố so sánh là động từ được sử dụng 7/419 lượt, chiếm tỉ lệ 1,7%,
thường là những động từ chỉ hoạt động của con người
- Tính từ (chơi vơi, vô tận ), ví dụ:
- Ngoài hiên mưa rơi rơi
Lòng ai như chơi vơi
Người ơi nước mắt hoen mi rồi (ướt mi)
- Đời như vô tận
Một mình tôi về với tôi (Lặng lẽ nơi này)
Yếu tố so sánh là tính từ được sử dụng 5/419 lượt, chiếm tỉ lệ1,2%,
thường là những tính từ chỉ tâm trạng và cảm xúc của con người
b Yếu tố so sánh là các đoản ngữ (cụm từ), bao gồm:
- Danh ngữ (nắng ban mai, một tiếng hát cho nhau, khăn mới thêu, giấc
mộng giữa đời, tia nắng trong không gian xanh tươi, mùa xuân của mẹ, màu nắng của cha ), ví dụ:
- Một loài chim mới đến
Vui như nắng ban mai (Môi hồng đào)
- Sóng xô trời chiều để nhớ tóc người yêu
Biển lăng yên là một tiếng hát cho nhau (Biển sáng)
- Còn nơi nào biết những chuyện tình
Tựa như chuyện những đoá hoa quỳnh
(Chuyện đoá quỳnh hương)
- Mười năm xưa đúng bên bờ dậu
Đường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu
(Có một dòng sông đã qua đời)
- Đêm trăng với đèn lồng thay nắng
Em như giấc mộng giữa đời (Tết suối hồng)
Yếu tố so sánh là danh ngữ được sử dụng 252/419 lượt, chiếm tỉ lệ 60,1%, chủ yếu là những danh ngữ chỉ những sự vật hiện tượng thuộc thế giới
tự nhên
- Động ngữ (yêu đồng lúa chín, hẹn chết mai đây, mơ ước được gần với
những nụ hồng, vừa đến nơi chia lìa, vẫy tay ), ví dụ:
- Người con gái Việt Nam da vàng
Yêu quê hương như yêu đồng lúa chín
(Người con gái Việt Nam da vàng)
- Còn sống một ngày
Là hẹn chết mai đây (Buồn từng phút giây)
- Ngày xưa khi còn bé
Trang 31Tôi mơ có cuộc tình
Như mơ ước được gần
Với những nụ hồng ( Ngày nay không còn bé)
Yếu tố so sánh là động ngữ được sử dụng 12/419 lượt, chiếm tỉ lệ
2,9%, thường là những động ngữ chỉ hoạt động của con người
- Tính ngữ (đã nát nhầu đam mê, im vắng tiếng rơi khô, trẻ ra ), ví dụ:
- Vây quanh bốn phía kinh cầu
Lòng ta như đã nát nhầu đam mê (Lời ở phố về)
- Đời rộng thênh như im vắng tiếng rơi khô (Từng ngày qua)
- Vì có chúng em nên đời sống như trẻ ra
(Đời sống không già vì có chúng em)
Yếu tố so sánh là tính ngữ được sử dụng 6/419 lượt, chiếm tỉ lệ 1,4%,
thường là những tính ngữ miêu tả tâm trạng và thuộc tính của con người
- Cụm chủ - vị (C - V) (cánh vạc về chốn xa xôi, chiếc thoi đưa, từng
viên đá cuội rớt vào lòng bển khơi, cánh chim chìm xuống, bàn chân tiến lên
không ngừng, lá bay ), ví dụ:
- Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi (Như cánh vạc bay)
- Những đường sông lạch gần xa
Ghe xuồng như chiếc thoi đưa (Mênh mông Đồng Tháp)
- Những bước chân mềm mại
Đã đi vào đời người
Như từng viên đá cuội
Rớt vào lòng biển khơi (Tình nhớ)
- Vườn cỏ còn xanh
Mặt trời còn lên
Khi bóng anh như cánh chim chìm xuống
(Cho một người nằm xuống)
Yếu tố so sánh là cụm chủ - vị (C - V) được sử dụng 52/419 lượt, chiếm tỉ lệ 12,4%, chủ yếu được dùng để chỉ những hoạt động của thế giới tự nhiên và con người
Tần số xuất hiện các dạng của yếu tố so sánh được trình bày trong bảng sau (Bảng 2.3):
Số lượng Dạng Số lượt Tổng số
Một số nhận xét:
- Trịnh Công Sơn thường dùng các từ (danh từ, động từ, tính từ) và các đoản ngữ (cụm từ) (danh ngữ, cụm chủ vị (C - V), động ngữ) làm yếu tố so sánh Trong đó, yếu tố so sánh là các cụm từ có tần số xuất hiện nhiều hơn hẳn, bởi yếu tố so sánh thường được mở rộng bằng việc thêm những chi tiết miêu tả
- Ở yếu tố so sánh là các cụm từ, thường được dùng là danh ngữ và cụm C - V, ít dùng động ngữ và tính ngữ
- Ở yếu tố so sánh là các từ, thường được dùng là danh từ, rất ít trường hợp động từ và tính từ làm yếu tố so sánh,
Trang 32- Sở dĩ để thể hiện yếu tố so sánh, thường được dùng là danh từ và danh
Trong 406 lượt so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, có 8 từ ngữ
biểu thị quan hệ so sánh, với tần số xuất hiện được trình bày trong bảng sau
- Một ngày tình cờ biết em
Là ngày lạ lùng biết trần gian (Còn thấy mặt người)
- So sánh tương tự: Kiểu so sánh này sử dụng các từ ngữ so sánh: như
(221 lượt), tựa (12 lượt), như là (9 lượt), tựa như (5 lượt), cũng như (2 lượt), ví
dụ:
- Em đã đi chìm khuất đã theo
Em đã như ngọn gió quạnh hiu (Còn ai với ai)
- Lá khô vì đợi chờ Cũng như đời người mãi âm u (Như cánh vạc bay)
- Từ trên đất này những con người mới Mọc lên tựa tia nắng giữa chân trời
(Em ở nông trường em ra biên giới)
- Có những chàng trai vì quá yêu biển khơi Lòng thênh thang tựa như những áng mây trôi (Biển
sáng)
- Tôi như là người một hôm quay lại
Vì nghe sa mạc nối dài (Tự tình khúc)
- So sánh dị biệt hơn: Trong kiểu so sánh này, tác giả chỉ sử dụng từ so
Trang 33Kiểu Từ ngữ so sánh Số lượt Tỉ lệ %
So sánh tương tự như, tựa, như là,
So sánh ngang bằng là, bằng 134 34,6
So sánh dị biệt hơn hơn 4 1,1
BẢNG 2.5 Một số nhận xét:
- Yếu tố biểu thị quan hệ so sánh (từ ngữ so sánh) có thể là các từ đơn
tiết (như, là, tựa, hơn, bằng) hoặc cụm từ (như là, tựa như, cũng như), trong
đó thường gặp là các từ đơn tiết (có tần số sử dụng lớn)
- Các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong kiểu so sánh tương tự được
sử dụng với tần số cao nhất (đặc biệt là từ như), tiếp đến là trong kiểu so sánh
ngang bằng (đặc biệt là từ là) Tần số xuất hiện của từ ngữ so sánh trong kiểu
so sánh dị biệt hơn chiếm một số lượng rất nhỏ
- Trong ca từ Trịnh Công Sơn, so sánh tương tự được sử dụng nhiều
nhất, tiếp theo là so sánh ngang bằng và so sánh dị biệt hơn Đặc biệt, không
có sự xuất hiện của so sánh dị biệt kém
2.2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG
CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.2.1 Đặc điểm của yếu tố được so sánh
Yếu tố được so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn phản ánh thế giới sự
vật, hiện tượng trong cái nhìn riêng của tác giả Trong thế giới ấy, có hai
phạm trù được nhạc sĩ chú ý và thể hiện trong ca khúc của mình, đặc biệt
trong phương thức so sánh Đó là: những gì thuộc con người và những gì bên
ngoài con người (thế giới tự nhiên, xã hội)
a Yếu tố được so sánh là người và những gì thuộc con người
- Yếu tố được so sánh là các nhân vật trữ tình, được biểu thị bằng các
từ ngữ: tôi, ta, mình, em, anh, mẹ, Bống, chúng em, anh hùng, những đứa
con Ví dụ:
- Tôi như con chim bệnh
Thiếu hạnh phúc trần gian
Có những tháng mùa đông Ngồi khóc rất âm thầm (Như chim ưu phiền)
- Tôi vẫn nhìn thấy em
Giữa đám đông xa lạ
Vì em như hoa lá
Giữa thiên nhiên hiền hoà (Em đến từ nghìn xưa)
- Mẹ là nước chứa chan
Trôi dùm con phiền muôn Cho đời mãi trong lành
Mẹ chìm dưới gian nan (Huyền thoại mẹ)
- Đừng buồn chi em ta như giọt lệ vô tình Cười lên em nhé dẫu đau lòng (Xác ta xác thù)
- Lòng tôi có khi mơ hồ
Tưởng mình đang là cơn gió
- Em sẽ là mùa xuân của mẹ
Em sẽ là màu nắng của cha (Em sẽ là hoa hồng nhỏ)
Yếu tố so sánh là những nhân vật trữ tình được sử dụng 96/398 lượt,
chiếm tỉ lệ 24,1%, trong đó tôi và em là hai nhân vật xuất hiện rất nhiều lần trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn Tôi có thể là chính tác giả với sự
thổ lộ, giãi bày những suy nghĩ, tình cảm, những chiêm nghiệm của bản thân,
có khi là sự nói hộ người nghe qua những ca từ vừa đượm màu sắc trữ tình,
lại vừa giàu tính triết lí Em có thể là những người tình đã đi qua cuộc đời
Trang 34nhạc sĩ, cũng có thể là hình ảnh người tình trong mộng, hoặc là người phụ nữ
nào đó trong cuộc đời, hoặc đó chỉ là những em nhỏ - những mầm xanh của
đất nước
- Yếu tố được so sánh là bộ phận cơ thể con người, được biểu thị bằng
các từ ngữ: tóc, da, tay, chân, môi em, tóc em, con mắt người tình, bàn chân
ai, vai em, bờ vai, sợi tóc em bồng, mắt mẹ, tóc mẹ Ví dụ:
- Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi (Thương một người)
- Môi em là đốm lửa
Cuộc đời đâu biết thế (Ru tình)
- Những con mắt quầng thâm
Xin tươi sáng một lần
Cho con mắt người tình
Ấm như ngày hỏi han (Những con mắt trần gian)
- Tóc em như trời xưa
Đã qua đi nghìn năm (Ru đời đi nhé)
Yếu tố được so sánh là bộ phận cơ thể con người được sử dụng 30/398
lượt, chiếm tỉ lệ 7,6%, trong đó 2 bộ phận: mắt và môi có tần số xuất hiện
nhều hơn cả Đây là hai bộ phận có tình biểu tượng cao Đôi mắt trong ca từ
Trịnh Công Sơn vừa là con mắt của thân thể, vừa là con mắt của trái tim, “là
biểu tượng của tri giác trí tuệ, là cơ quan thị giác nội tâm, phản chiếu tâm hồn
con người, đôi mắt của lương tri và nhận thức, cũng là đôi mắt soi thấu chính
bản ngã con người” [17, tr.84] Đặc biệt, “mắt em” là một thế giới lung linh kì
ảo, là sự trong sáng và tinh tế của tâm hồn và là hiện thân cho vẻ đẹp nữ tính
đằm thắm Nếu như đôi mắt là “cửa sổ của tâm hồn” thì đôi môi là “của sổ đi
vào thế giới nội tâm” Đôi môi trong ca từ Trịnh Công Sơn “là hình ảnh ước
lệ cho vẻ đẹp của người con gái, thể hiện khát khao mãnh liệt về tình yêu đôi
lứa, hoặc biểu tượng của niềm vui, hạnh phúc, đôi môi còn là biểu tượng cho trái tim, cho tình yêu, cũng có lúc biểu tượng cho sức sống, cho tuổi trẻ, và cao hơn nữa, nó còn là bản sao, là hình ảnh của chính con người” [17, tr.89] Đặc bịêt, “môi em” là biểu tượng của sức sống, là đốm lửa thắp sáng hạnh phúc
- Yếu tố được so sánh là thế giới nội tâm, tinh thần của con người, được
biểu thị bằng các từ ngữ: hồn, hồn mình, buồn mình, lòng, tấm lòng, tấm lòng
em, lòng tôi, lòng ta, lòng em, tình, tình yêu, chút tình Ví dụ:
- Khi cơn đau chưa dài
Thì tình như chút nắng (Tình nhớ)
- Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo
(Có một dòng sông đã qua đời)
- Tình yêu như cơn bão
Đi qua địa cầu (Tình sầu)
- Vẫn thấy bên đời có em Tấm lòng em như lá kia còn xanh (Vẫn có em bên đời)
- Từ trăng xưa là nguyệt Lòng tôi có đôi khi
Tựa bông hoa vừa mọc Hân hoan giây xuống thế (Nguyệt ca)
- Đâu ngờ tình như lá úa
Khiến tôi chia lìa từng giấc mơ (Trong nỗi đau tình cờ)
Yếu tố so sánh là thế giới nội tâm, tinh thần của con người được sử
dụng 62 lượt, chiếm tỉ lệ 15,6% Trong đó, lòng, tình, tình yêu được trở đi trở
lại rất nhiều lần, bởi Trịnh Công Sơn quan niệm: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và “sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu”
Trang 35- Yếu tố được so sánh là hành động, phẩm chất của con người, được thể
hiện qua các từ ngữ: nhìn, anh nằm xuống, giã từ, yêu quê hương, yêu tự do,
người nằm co, em ra đi, tôi cười, tôi đã yêu em, em đã đến nơi này Ví dụ:
- Anh nằm xuống như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò (Cho một người nằm xuống)
- Hôm nay tôi nghe
Tôi cuời như đứa bé
Mới lớn lên giữa đời sống kia (Hôm nay tôi nghe)
- Người con gái ngồi mơ thanh bình
Yêu quê hương như đã yêu mình
(Người con gái Việt Nam da vàng)
- Em đã đến nơi này tựa như cánh én
Dịu dàng trao chút hương hoa mùa xuân (Vẫn có em bên đời)
Yếu tố được so sánh là hành động, phẩm chất của con người được sử
dụng 52/398 lượt, chiếm tỉ lệ 13,1% Trong đó, thường gặp là những yếu tố
chỉ hành động, phẩm chất của em và tôi - hai nhân vật trữ tình được trở đi trở
lại trong rất nhiều ca khúc
b Yếu tố được so sánh là thế giới tự nhiên, xã hội (bên ngoài con
người)
- Yếu tố được so sánh là những sự vật hiện tượng thuộc thế giới tự
nhiên, được thể hiện qua các từ ngữ: nắng, mưa, trời, biển, trăng, cỏ cây,
bông hoa, cơn mưa, sương mù, màu nắng, ruộng xanh, con sông, mây xa Ví
dụ:
- Mưa như từng giọt rượu hờ
Đêm trong thành phố ai chờ đợi ai (Mưa mùa hạ)
- Con sông là thuyền, mây xa là buồm
Từng giọt sương thu hết mênh mông Những giọt mưa những nụ hoa Hẹn hò gặp nhau trước hiên nhà (Bốn mùa thay lá)
- Chiều trên quê hương tôi
Gió đến chơi từ bờ biển xa Núi đôi khi màu sim tím lạ
Nắng như môi hoàng hôn trên phố (Chiều trên quê hương tôi)
- Có mặt đuờng vàng hoa như gấm
Có không gian màu áo bay lên (Em còn nhớ hay em đã quên)
- Trong lòng phố mưa đêm trói chân
Dưới hiên nhìn nuớc dâng tràn
Trang 36Phố bỗng là dòng sông uốn quanh (Em còn nhớ hay em đã quên)
- Đại bác như kinh không mang lời nguyền
Trẻ thơ quên sống từng đêm nghe ngóng (Đại bác ru đêm)
Yếu tố được so sánh là những sự vật hiện tượng cụ thể được sử dụng
51/398 lượt, chiếm tỉ lệ12,8% Trong đó, thường gặp là những yếu tố chỉ sự
vật hiện tượng gần gũi, thân quen với đời sống hàng ngày của con người
+ Yếu tố được so sánh là những sự vật hiện tượng trừu tượng, được thể
hiện qua các từ ngữ: đời, đời mình, đời ta, nghìn trùng, tương lai, tuổi trẻ Việt
Nam, lời hẹn thề, lời ca dạ lan, vùng tuổi xanh, từng lời tà dương, chuyện ngày
xưa ấy, những chuyện tình, một điều giấu kín trong tim con người Ví dụ:
- Tuổi trẻ Việt Nam nhìn trời sáng phương Đông
Thấy tương lai là những đấu tranh không ngừng (Tuổi trẻ Việt Nam)
- Đường quê hương xin em đừng quên lối
Lời ca dao trên môi là tiếng nói
Mẹ nuôi ta vui theo cùng khóc với
Bắc Nam trung quê hương sẽ có ngày (Hãy nhìn lại)
- Đi trong hạnh phúc quê nhà
Chuyện ngày xưa ấy bỗng là chiêm bao (Hai mươi mùa nắng hạ)
- Đời ta có khi là dốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya (Đêm thấy ta là thác đổ)
- Còn gì đâu những môi xưa hồng
Vùng tuổi xanh thoảng bay như gió (Khói trời mênh mông)
Yếu tố được so sánh là những sự vật hiện tượng trừu tượng được sử
dụng 75/398 lượt, chiếm tỉ lệ 18,8% Trong đó, đời ( đời mình, đời ta, đời
người) được sử dụng trong rất nhiều ca khúc, thể hiện sự âu lo và nỗi ám ảnh
của Trịnh Công Sơn về sự ngắn ngủi và tính chất vô thường của cuộc đời
Tần số xuất hiện của yếu tố được so sánh theo các phạm trù ngữ nghĩa
được trình bày trong bảng sau (Bảng 2.6):
Số lượng Trường nghĩa
Số lượt Tổng số
Thuộc con người
Không thuộc thế giới tự nhiên
Một số nhận xét:
- Trong ca từ Trịnh Công Sơn, thường gặp các từ ngữ biểu thị yếu tố được so sánh thuộc trường nghĩa “con người” Trong đó, các từ ngữ biểu thị yếu tố được so sánh là những nhân vật trữ tình được nhạc sĩ sử dụng nhiều hơn cả, tiếp đó là thế giới nội tâm, tinh thần, rồi đến hành động, phẩm chất và
bộ phận cơ thể của con người
- Ở yếu tố được so sánh thuộc trường nghĩa ngoài con người, Trịnh Công Sơn thường chú ý đến những sự vật hiện tuợng trừu tượng, tiếp đó là dùng cách so sánh để miêu tả những sự vật hiện tượng cụ thể và thế giới tự nhiên
2.2.2 Đặc điểm của yếu tố so sánh
Yếu tố so sánh rất quan trọng trong cấu trúc so sánh, bởi đã có so sánh thì phải có cái để so sánh Tìm hiểu trường nghĩa của yếu tố so sánh trong ca
từ Trịnh Công Sơn có thể giúp người nghe hiểu rõ hơn quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh cũng như phong cách của tác giả trong việc lựa chọn vật