LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của UBND Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, em thực hiện nghiên cứu đề
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO CÂY QUẾ Ở HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2- -
NGUYỄN THỊ HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO CÂY QUẾ Ở HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thoa
(Giảng viên khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên)
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thoa
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung
thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nô ̣i dung khóa lu ận có tham khảo và sử dụng các tài liệu , thông tin
được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên
TS Nguyễn Thị Thoa Nguyễn Thị Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của UBND Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và đề suất giải pháp phát triển bền vững cho cây Quế ở huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, khoa Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn, UBND huyện Văn Yên, bà con nhân dân trong huyện, bạn bè và gia đình
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thoa cùng với UBND huyện đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp K43 Nông lâm kết hợp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo khoa Lâm Nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc toàn thể cán bộ trong huyện Văn Yên công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe học tập tốt, thành công trong cuộc sống!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng Quế của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái 8
Bảng 2.2: Giá trị sản xuất Quế tên thế giới từ năm 2003-2011 16
Bảng 2.3: Sản lượng và tốc độ tăng trưởng bình quân trên thế giới của cây Quế từ năm 2003-2011 18
Bảng 2.4: Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam 20
Bảng 2.5: Giá xuất khẩu Quế của Việt Nam (USD/kg) 21
Bảng 2.6: Nhập khẩu vỏ Quế vào Việt Nam 21
Bảng 2.7: Giá nhập khẩu Quế từ các nước trên thế giới 22
Bảng 4.1: Đặc điểm sinh thái của cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 35
Bảng 4.2: Đặc điểm sinh trưởng của cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 36
Bảng 4.3: Diện tích trồng Quế trên địa bàn các xã thuộc huyện Văn Yên 39 Bảng 4.4: Tình hình sinh trưởng, phát triển của cây Quế tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái 40
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
D1,3 Đường kính của cây ở vị trí 1m3
FAO Tổ chức lương thực thế giới
Hdc Chiều cao dưới cành cuả cây
Hvn Chiều cao vút ngọn của cây
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
2.1.1 Giá trị của cây Quế đối với kinh tế của huyện Văn Yên tỉnh Yên bái 6
2.1.2 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ 8
2.1.3 Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ 9
2.1.4 Đặc điểm sinh thái của cây Quế 11
2.1.5.Đặc điểm chung về diện tích và sản lượng Quế của huyện Văn Yên 13
2.1.6.Thực trạng sản xuất kinh doanh Quế 13
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 19
2.3 Điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu 22
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 22
2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 26
2.4 Thuận lợi và khó khăn 29
2.4.1 Thuận lợi 29
2.4.2 Khó khăn: 29
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
Trang 83.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 30
3.4.2 Điều tra thu thập số liệu 30
3.4.3 Điều tra OTC 31
3.4.4 Phương pháp nội nghiệp 33
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 35
4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Quế tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái 36
4.3 Thực trạng gây trồng cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 36
4.4 Kiến thức bản địa trong việc trồng cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Error! Bookmark not defined. 4.5 Tình hình sâu bệnh hại cây Quế tại địa bàn huyện Văn Yên ,tỉnh Yên Bái 40
4.6 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến sinh trưởng và phát triển của cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 41
4.6.1 Thuận lợi 41
4.6.2 Khó khăn 42
4.7 Đề suất giải pháp khắc phục khó khăn 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Tồn tại Error! Bookmark not defined. 5.3 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt Vấn Đề
Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5% Tinh dầu Quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng
70 – 90% Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4 và tháng 5 và quả chín vào tháng 1 và tháng 2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Cây Quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây Quế hoàn toàn ưa sáng Tinh dầu Quế có vị thơm, cay, ngọt rất được
ưa chuộng
Sản phẩm chính của cây Quế là vỏ Quế và tinh dầu Quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu
Trang 10và chăn nuôi Xu hướng sử dụng các loại tinh dầu thực vật thay thế các hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ngày một tăng rất có lợi cho người sản xuất Quế, các địa phương có Quế và xuất khẩu Quế
Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa – cây Quế còn đóng góp vào định canh - đinh cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta
Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một
số bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung, Quế, Phụ (Theo tác giả Lê Trần Đức trong: “Cây thuốc Việt Nam” trang 263 “… Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”) Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì Quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món
ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế được sản xuất và bán rất rộng rãi
Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu khác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng
Trang 11vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót dầy có Quế Bột Quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm
Huyện Văn Yên (Yên Bái) vốn là vương quốc của Quế Từ bao đời nay, cuộc sống của người dân xứ này phụ thuộc vào Quế Nhiều gia đình coi Quế như một thứ “vàng ròng” quý giá, là của cải để dành cho con cháu đời sau Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khác nhau nên diện tích rừng Quế cổ đang bị thu hẹp nhanh chóng
Từ những vấn đề đang đặt ra trong thực tế, để cây Quế thực sự phát huy tác dụng, là cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân Văn Yên (Yên Bái) một cách bền vững cần những giải pháp mang tính đồng bộ với những giải pháp cụ thể trước mắt cũng như lâu dài
Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học
từ đó đề xuất những giải pháp phát triển bền vững cho cây Quế ở Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái và đề xuất giải pháp để phát triển bền vững cho cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3 Mục tiêu của nghiên cứu
- Xác định được kiến thức bản địa liên quan đến cây Quế
- Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng của cây Quế trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập
Trang 12Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kiến thức
Biết phương pháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học trong thực tiễn
Kế thừa số liệu đã được thống kê thông qua cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ở địa phương mình
Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu
Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng
Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Quế
Tìm ra phương pháp phát triển bền vững và lâu dài cho cây Quế
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà nước quản lý, các cấp chính quyền địa phương, cán bộ xã đưa ra các quyết định và định hướng mới
về phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi và mở rộng mô hình
Là cơ sở để người dân tham khảo trước khi ra quyết định phát triển, mở rộng sản xuất nhất là trong trồng trồng và phát triển cây Quế
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) cho hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào Nhất là hiện nay, người dân chuyển sang trồng cây keo nhiều hơn cây Quế, do cây keo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch) Vì lợi ích trước mắt, người trồng Quế đã tự thu hẹp diện tích trồng, làm giảm sản lượng sản phẩm
Sự suy giảm năng suất, phẩm chất Quế tại địa phương do những nguyên nhân như sau: Việc trồng, chăm sóc, khai thác Quế tại huyện Văn Yên vẫn còn theo kinh nghiệm truyền thống, có đất là trồng, trồng tùy tiện, không đúng kỹ thuật, chỗ trồng quá dày, không đủ điều kiện ánh sáng cho cây, tạo điều kiện để sâu bệnh hại phát triển; bảo quản Quế sau thu hoạch chưa đúng cách, chủ yếu sấy khô theo phương pháp thủ công; đất trồng manh mún, mang nặng tính tự phát Ngoài ra, giá cả thị trường trong thời gian gần đây luôn biến đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau và có chiều hướng giảm dần
Ngoài ra, cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên bị bệnh tua mực và các loại bệnh khác như: Bệnh đốm lá, khô đọt, thán thư, sâu khô đọt gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng và năng suất cây Quế Cây Quế chủ yếu nhiễm bệnh từ 3 năm tuổi trở lên
Giống Quế bản địa là một loại Quế có chất lượng tốt, hàm lượng tinh dầu cao đang bị thoái hoá, nên nếu không có chủ chương, chính sách bảo tồn, cải tạo rừng Quế bản địa thì sản lượng, đặc biệt là chất lượng sẽ giảm trong những năm sắp tới
Vì vậy cần phải có biện pháp hỗ trợ và phát triển toàn diện để đem lại năng suất và hiệu quả cho cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Trang 142.1.1 Giá trị của cây Quế đối với kinh tế của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh có diện tích Quế lớn nhất khu vực miền núi phía Bắc, mỗi năm khai thác gần 5.000 tấn vỏ, chất lượng Quế thuộc hàng tốt nhất Việt Nam Với diện tích gần 30.000 ha, chủ yếu tập trung ở các huyện: Văn Yên 16.000 ha, trấn Yên 6.600 ha, Văn Chấn 5.000 ha… Quế là cây trồng truyền thống của đồng bào Dao, tày Mỗi khi con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, cha
mẹ đều trồng một đồi Quế tặng con để làm vốn
Bởi thế các xã vùng cao: Đại Sơn, Viễn Sơn, mỏ Vàng, Châu Quế Hạ, Phong Dụ thượng, Xuân tầm, Tân Hợp (Văn Yên), Quy mông, Kiên Thành, Y Can (Trấn Yên), Sùng Đô, nậm mười, nậm Búng, Sơn Lương (Văn Chấn) bà con trồng Quế với diện tích rất lớn Cây Quế không những có giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái, giữ đất, giữ nước ở những vùng đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý của cây bản địa, đồng thời góp phần quan trọng giúp nhiều hộ đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu Nhiều hộ thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ rừng Quế, hàng ngàn gia đình có cuộc sống ổn định và trở nên giàu có nhờ cây Quế
So với nhiều cây trồng khác, cây Quế đã mang lại cho người dân một nguồn thu lớn và ổn định Vùng Quế Văn Yên từ vài chục năm nay đã nổi tiếng trên thế giới, tháng 01 năm 2010 Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) đã có quyết định chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Quế Văn Yên Trước đây, cây Quế chỉ bán được vỏ Hiện nay, thân, cành, lá đều bán được với giá cao
- Giá bán tinh dầu Quế trung bình 520.000 – 525.000 đồng/kg
- Giá Quế vỏ qua sơ chế theo đơn đặt của khách hàng bán với giá 32.000
- 35.000 đồng/kg
Trang 15- Cành, lá Quế khô được thu mua bán cho các cơ sở trưng cất tinh dầu Quế với giá từ 2.000 – 2.100 đồng/kg
- Gỗ Quế được bán với giá từ 800.000 - 1.000.000 đồng/m3 tuỳ theo gỗ
to hay nhỏ
Thân Quế sau khi bóc vỏ có đường kính từ 15 cm trở lên bán cho các cơ
sở chế biến gỗ làm bao bì với giá từ 1,5 - 1,8 triệu/m3
Với tiềm năng thị trường thì hiện nay nhu cầu sử dụng tinh dầu Quế trên thế giới là rất lớn và luôn ở mức cung không đủ cầu Như vậy, lợi nhuận thu được từ chưng cất tinh dầu Quế là rất cao
Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá Quế thì trưng cất được 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 650.000-700.000 đ/kg Do bán được giá và thị trường tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu Quế ở Yên Bái đang tận thu lá Quế và đua nhau nâng giá thu mua Nếu trước đây các hộ chỉ bán lá Quế ở những cây khai thác với giá 500-800 đ/kg, đến nay do giá thu mua khá hấp dẫn 2.000-2.100 đ/kg nên các hộ khai thác lá Quế cả ở những cây đang phát triển [1]
Người thu mua đến tận đồi thuê người khai thác việc khai thác lá Quế quá mức, giống như việc gặt lúa non đang tiềm ẩn những nguy cơ làm tàn kiệt, suy thoái rừng Quế, khiến cho chất lượng chính của cây Quế là vỏ không
có tinh dầu, đồng nghĩa chất lượng Quế Yên Bái xuống cấp Điều này đang báo hiệu sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp nguyên liệu và nhà máy chế biến Việc đẩy giá thu mua lá Quế của các cơ sở chế biến đang dẫn dụ người dân khai thác kiệt quệ, tự phá rừng Quế của mình
Sản lượng Quế tiềm năng của huyện Văn Yên:
Số lượng lá Quế trên mỗi cây: 30 kg/cây
Khối lượng gỗ Quế trên mỗi cây: 0,1m3
Sốlượng lá Quế sản xuất dầu: 143 kg/1 kg dầu
Trang 16Số lượng cây trên/ha: 3000
(Báo cáo của UBND huyện Văn Yên (26/7/2014)
Để phát triển cây Quế một cách bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Cần có những cơ chế, chính sách phù hợp
2.1.2 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ
Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, lương thực, thực phẩm, dược liệu, v.v Do
có khối lượng nhỏ lại ít được khia thác nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng Người ta gọi đó là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products) Trong thập kỉ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh,
gỗ trở lên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác Trong khi đó các “Lâm sản phụ” được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn cả gỗ Vì vậy, để khẳng định vai trò của các
“Lâm sản phụ” người ta đã sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là “Lâm sản ngoài gỗ” “Non- timber forest products” hay “Non- wood forest products” Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về lâm sản ngoài gỗ Theo Jenne.H De Beer (1992) “Lâm sản ngoài gỗ được hiểu là toàn
bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người khai thác và sử dụng” Năm 1994, trong hội nghị các chuyên gia lâm
Trang 17sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau:“Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo ngoài củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ
Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các lâm sản ngoài gỗ” Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lương thế giới tổ chức tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất rừng và các cây thân gỗ” Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne.H de Beer (1992) [8] Đó bổ sung khái niệm lâm sản ngoài gỗ Theo ông “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa
mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song,
gỗ nhỏ và sợi” Theo các khái niệm này của Jenne.H De Beer là đơn giản, dễ
sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ
2.1.3 Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho lâm sản ngoài gỗ Khi nghiên cứu sự đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek – Khammouan – Lào người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trog
đó có 223 loài làm thức ăn (Joost Foppes, 1997) Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, Chandrasekharan (1995) một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau:
- Cây sống và các bộ phận của cây
Trang 18- Động vật và các sản phẩm của động vật
- Các sản phẩm được chế biến (Các gia vị, dầu nhựa thực vật)
- Các dịch vụ từ rừng Mendelsohn (1989) đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được; keo dán
và nhựa; thuốc nhuộm và ta nanh; cây cho sợi; cây làm thuốc Ông cũng căn
cứ vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ 3 chiếm tỷ trọng cao nhất rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài
gỗ bị lu mờ và ít được chú ý đến Các kết quả nghiên cứu đã phác họa một bức tranh về lâm sản ngoài gỗ trên thế giới với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của lâm sản ngoài gỗ có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó chứng tỏ một tiềm năng lớn không chỉ cho phát triển kinh tế, mà còn cho việc xây dựng những sinh thái có tính ổn định và bền vững cao Đây cũng là cơ sở cho các nhà khoa học tiến hành những nghiên cứu đầy đủ hơn
về lâm sản ngoài gỗ ở mỗi khu vựa.Trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng
là phương thức sử dụng đất bền vững Tăng giá trị bảo vệ môi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng sống gần rừng, giảm sức ép khai thác gỗ rừng tăng thu nhập cho người dân địa phương góp phần xóa đói giảm nghèo Một trong những cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị là cây Quế được trồng và mọc ở những tỉnh miền núi nước ta như: Vùng Quế Yên Bái, Vùng Quế Trà Mi, Trà Bồng, Vùng Quế Quế Phong, Thường Xuân, Vùng Quế Quảng Ninh
Đây là loài có giá trị kinh tế cao việc mở rộng trồng phổ biến loài cây này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèocho người dân miền núi ở khu vực miền núi Việt Nam
Trang 192.1.4 Đặc điểm sinh thái của cây Quế
Tên khoa học: Cinnamomum loureirii Nees (Cây Quế)
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophita)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Phân Lớp Ngọc Lan (Magnoliidae)
Bộ Long Não (Laurales)
Họ Long Não (Lauraceae)
Chi Cinnamomum
Tên Việt Nam: cây Quế
Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế
Bì, Mạy Quế
Tên tiếng Anh: Cinnamo
Cây Quế là loại cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, vì vậy các vùng có Quế mọc tự nhiên nhiều ở nước ta là vùng có lượng mưa cao từ 2000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hang năm từ
210C-230C, ẩm độ bình quân trên 80% Quế sinh trưởng tốt trên đất dồi núi có
độ dốc thoải, tầng đất dày,ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước, độ pH khoảng 5-6, đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, riolit Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hóa, tầng đất mỏng, khô
Độ cao thích hợp thường thấy từ 300-700m (độ cao tuyệt đối) Nhân dân các vùng có Quế cho biết lên cao hơn cây Quế có xu hướng thấp, lùn, chậm lớn nhưng vỏ dày và nhiều dầu, xuống thấp hơn cây Quế thường dễ bị sâu, vỏ mỏng và ít dầu trong vỏ, đời sống của cây cũng ngắn hơn
Trang 20Hình ảnh cho vỏ Quế
Hình ảnh cho cây Quế
Hình ảnh cho hoa, quả và than cây Quế
Trang 212.1.5 Đặc điểm chung về diện tích và sản lượng Quế của huyện Văn Yên
Cây Quế ở huyện Văn Yên có chất lượng tốt, là cây truyền thống từ lâu đời gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng báo dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu, là một trong những nguồn thu nhập chính có vai trò quan trọng đến đời sống kinh tế và nhu cầu hàng ngày của bà con dân tộc thiểu số, hầu hết các hộ xóa đói giảm nghèo tiến tới làm giầu cũng từ cây Quế Chính vì vậy qua bao nhiêu
sự thăng trầm của cơ chế thị trường cây Quế của huyện Văn Yên vẫn vững vàng phát triển, từng bước điều chỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện môi trường sinh thái, khai thác tốt tiềm năng lợi thế trong vùng Hiện nay cây Quế đã phát triển hầu hết ở các xã trong huyện Cây Quế đã được xác định là mũi nhọn của huyện Văn Yên Chính vì vậy Huyện ủy, HĐND - UBND huyện cùng các cấp các ngành tập trung chỉ đạo, tuyên truyền vận động nhân dân các dân tộc trong huyện xây dựng kế hoạch mỗi năm trồng mới, trồng sau khai thác diện Quế từ 1.000 ha trở lên, đến nay đã đưa tổng diện tích Quế của toàn huyện lên 23.417,65 ha, sản lượng trung bình đạt: 4.561 tấn
2.1.6 Thực trạng sản xuất kinh doanh Quế
1 Về diện tích
Tổng diện tích Quế trên địa bàn huyện Văn Yên: 23.417,65 ha, trong đó:
Quế từ 1- 4 tuổi: 10.042,79 ha;
Quế từ 5 - 9 tuổi: 7.563,35 ha
Quế từ 10 - 14 tuổi: 4.142,12 ha;
Quế từ 15 tuổi trở lên: 1.669,39 ha
Quế có chất lượng tốt nhất, diện tích nhiều nhất tập trung tại các xã nằm ở khu vực hữu ngạn sông Hồng cụ thể: xã Phong Dụ Thượng: 2.019 ha, Phong Dụ Hạ: 1.250 ha, Xuân Tầm: 1.172,1 ha, Châu Quế Hạ: 1.555 ha, Tân Hợp: 2.138,6
ha, Đại Sơn: 2.631 ha, Viễn Sơn; 1.503 ha, Mỏ Vàng: 2.792,4 ha (Diện tích
Trang 2215.061,1 ha này nằm trong vùng được huyện lựa chọn để xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm thượng hiệu Quế Văn Yên
Trên địa bàn huyện có 08 cơ sở sản xuất trưng cất tinh dầu Quế Sản lượng dầu đạt 317 tấn/năm Gồm các cơ sơ sau:
Công ty TNHH Đạt Thành - xã Đông Cuông;
Công ty TNHH Lục Nam Hưng - xã Hoàn Thắng;
Công ty TNHH Tràng An - xã Phong Dụ Hạ;
Công ty TNHH Nam Cường - xã Viễn Sơn;
Công ty TNHH Phúc Lợi - xã Ngòi A;
Công ty TNHH Quế Văn Yên - xã Đại Sơn;
Hợp tác xã Bách Sơn - xã Xuân Tầm;
Doanh nghiệp tư nhân Đông Yến- xã Đông An
Ngoài các Công ty, Doanh nghiệp còn có trên 100 cơ sở trưng cất tinh dầu Quế bằng phương pháp thủ công, các cơ sở này chủ yếu nằm ở các xã Đại Sơn, Viễn Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm, Tân Hợp v.v các cơ sở trưng cất tinh dầu ngay tại các chân sườn đồi trồng Quế rất
Trang 23thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu Sản lượng bình quân đạt từ
250-300 kg/cơ sở
Gỗ Quế dùng làm nhà, đóng đồ mộc gia dụng, xẻ ván sàn, ván bóc, ván thanh, làm cây chống cốt pha trong xây dựng v.v Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từ gỗ Quế trên thị trường khá cao Toàn huyện có 9 Hợp tác xã chế biến gỗ các loại qua chế biến đạt 8.000 m3/năm
4 Tiêu thụ và kinh doanh
Quế vỏ và tinh dầu được sản xuất, tiêu thụ theo đơn đặt của khách hàng Cụ thể thị trường tiêu thụ bán cho các tỉnh trong nước như tỉnh Bắc Giang, Thành phố Hà và xuất khẩu đi các nước như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Băng La Đét, Ai Cập, Ru Bai, Sing Ga Po, Mỹ, Anh, Hà Lan, Nga v.v
Gỗ Quế được các cơ sở, Hợp tác xã thu mua, sản xuất ván bóc, xẻ thanh bao bì, xẻ nan bán cho Đài Loan Trung Quốc, ngoài ra gỗ Quế còn bán cho các cơ sở, Công ty xây dựng v.v [1]
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Nghiên cứu về tình hình sản xuất Quế trên thế giới
- Các số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy một
bức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua Trong những năm gần đây nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không có những thay đổi đáng kể trong việc cung cấp Quế Như vậy dữ liệu của FAO
về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở các nước trên thế giới
Trang 24Bảng 2.2: Giá trị sản xuất Quế tên thế giới từ năm 2003-2011
Trang 25Hơn 10 năm qua diện tích trồng Quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.297ha năm 2003 lên đến 227.529ha vào năm 2011 và đặc biệt đáng chú ý đó là Vệt Nam đạt mức trưởng hai chữ số với tỷ lệ 15,6% Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần
từ 17.000ha trong năm 2003 lên 54.000ha trong năm 2011
In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka hiển nhiên là cường quốc sản xuất Quế chính trên thế giới In-đô-nê-xi-a chiếm 45% tổng diện tích đất trồng Quế, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với số phần tương ứng là 24%, 17% và 13%
- Nghiên cứu về sản lƣợng và diện tích trồng Quế trên thế giới (FAO)
Mô hình khối lượng sản xuất Quế trên thế giới tương tự như mô hình
và diện tích troòng Quế cho thấy không có sự thay đổi lớn về sản lượng Tổng sản lượng Quế trên thế giới tăng từ 132.000 tấn trong năm 2003 lên 196.000 tấn trong năm 2011 Sản lượng này được tính với tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm là 5% Một lần nữa In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc, Việt Nam Sri Lanka
và Madagascar là nhà cung cấp chính Điều đáng chú ý đó là mặc dù diện tích trồng Quế của Trung Quốc đứng thứ 2 sau Việt Nam nhwnh quốc gia này cung cấp số lượng lớn vượt quá Việt Nam đó là 67.123 tấn tương đương 34% tổng sản lượng thế giới Điều này giải thích bảng xếp hạng năng suất cao, trong đó năng suất của Trung Quốc về sản xuất Quế đạt 16 tấn/ha vào năm
2003 so với 3,5 tấn của Việt Nam [1]
Trang 26Bảng 2.3: Sản lượng và tốc độ tăng trưởng bình quân trên thế giới của cây Quế từ năm 2003-2011 [1]
Sản lượng (hg/ha) 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tốc độ tăng trưởng bình quân Madagascar 19.133 19.011 15.800 15.226 20.625 18.750 18.947 18.519 17.692 -1,0% Trung Quốc 14.838 12.308 12.500 10.550 12.222 14.955 15.050 15.750 16.870 1,6% In-đô-nê-xi-a 8.881 12.433 12.597 12.559 9.735 10.008 10.354 8.872 8.844 -0,1% Sri Lanka 4.987 5.106 5.126 5.070 5.186 5.017 5.198 5.471 5.466 1,2% Dominica 7.333 7.164 8.049 8.372 7.500 7.391 5.556 4.574 5.385 -3,8% Việt Nam 3.529 3.571 3.117 3.750 3.750 3.750 3.774 3.674 3.746 0,7% Các-tiểu-quốc đảo-
đang-phát-triển 1.683 1.781 1.927 2.238 2.803 2.104 2.854 3.219 3.206 8,4% Trung Phi 2.941 3.013 2.474 2.587 2.773 2.727 1.786 2.719 2.429 -2,4% Sao Tome and principe 2.941 3.013 2.474 2.587 2.773 2.727 1.786 2.719 2.429 -2,4%
Thế giới 8.778 9.833 9.776 9.175 8.436 8.862 8.954 8.461 8.626 -0,2%
(Báo cáo của UBND huyện Văn Yên (26/7/2014)
Trang 27Từ kết quả trên cho thấy trên thế giới từ năm 2003 đến năm 2011 tốc độ tăng trưởng bình quân của cây Quế chủ yếu là âm Điều này chứng tỏ sản lượng trồng Quế qua các năm giảm, cây Quế không còn được chú trọng gây trồng nhiều trên thế giới Chỉ có một và quốc gia là còn gẵn bó và chú trọng đến trồng
và phát triển cây Quế như Trung Quốc, Sri Lanka, Việt Nam và các tiểu quốc đảo đang phát triển Chỉ số tăng trưởng bình quân càng cao chứng tỏ quốc gia đó chú trọng đến việc trồng và phát triển cây Quế trên đất nước của mình
Trung Quốc và Sri Lanka là hai nước đã cải thiện năng suất Đặc biệt là sự gia tăng năng suất của Trung Quốc từ năm 2003-2011 rất đáng kể vượt quá
2.000hg mỗi ha Điều này trái ngược với hình ảnh của In-đô-nê-xi-a và Việt Nam, khi năng suất của rừng trồng Quế trong tình trạng trì trệ từ năm 2003, Việt Nam đã có chút cải thiện về sản lượng Sản lượng của In-đô-nê-xi-a về
cơ bản vẫn không thay đổi
Nội dung đề cập ở trên chỉ ra tiềm năng để tăng sản lượng thông qua nâng cao năng suất Là các nhà cung cấp Quế lớn nhất, hiệu quả trong sản xuất của In-đô-nê-xi-a có thể có khả năng ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất Quế của Việt Nam Tăng 10% sản lượng của của In-đô-nê-xi-a tương đương với 50% tổng sản lượng Quế quốc gia của Việt Nam
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
- Ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu để nâng cao sản lượng và chất lượng của Quế như nghiên cứ đặc điểm thích nghi, khả năng sinh trưởng và thích ứng… để cho năng suất và chất lượng tốt nhất
- Nhiên cứu hiện trạng và giải pháp bảo tồn, phát triển giống Quế địa phương ở Trà Bông (Minh Thu- tập san Thông tin KH &CN, số 03/2014)
[10]
- Nghiên cứu về thực trạng và một số giả pháp nhằm dẩy mạnh sản xuất và suất khẩu Quế của Việt Nam (Bộ thương mại, sở thương mại-du lịch Yên Bái) [11]
Trang 28Bên cạnh đó còn nhiều nghiên cứu về xuất khẩu và nhập khẩu Quế của Việt Nam [9]
Dữ liệu xuất khẩu và nhập khẩu Quế cuả việt Nam đề cập trong báo cáo quốc gia là không đầy đủ Tuy nhiên thông tin xuất nhập khẩu của quốc gia có thể thu thập được thông qua các giữ liệu giao dịch được báo cáo của các nước khác Dữ liệu liên quan để phân tích đã được thu thập từ các giao dịch thương mại mà trong đó Việt Nam là các quốc gia đối tác
Cho đến nay Việt Nam xuất khẩu khoảng 20.000 tấn vỏ Quế Các thị trường trọng điểm cho sản phẩm vỏ Quế của Việt Nam là Ấn Độ, Mỹ và Hàn Quốc, với khối lượng 15.000 tấn, 2.700 tấn và 2.100 tấn tương ưngs trong năm 2013 Một phần nhỏ được xuất sang các thị trường khác bao gồm Ai Cập
và Nhật Bản
Giá xuất khẩu Quê của Việt Nam về cơ bản là thấp với giá bình quân dưới 2 USD/k Giá xuất khẩu cao nhất trên thị trường Mỹ và Nhật Bản Xuất khẩu Quế sang Ấn Độ chỉ có giá 1,25 USD/kg vào năm 2013
Bảng 2.4: Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam [1]
Trang 29Thị trường xuất khẩu của Việt Nam từ Năm 2008 đến năm 2013 đã tăng từ 13.317,56 tấn lên 24.719,40 tấn trong đó giá trị xuất khẩu của Ấn Độ
là lới nhất 8.381,91 tấn vào năm 2008 và 15.719,40 vào năm 2013, tiếp đến là Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a, Ai Cập và Yemen Các nhà nhập khẩu Quế đã tạo nên một khối lượng xuất khẩu khổng lồ và một nguồn thu lớn cho Việt Nam
Bảng 2.5: Giá xuất khẩu Quế của Việt Nam (USD/kg) [1]
(Nguồn: phân tích dữ liệu của COMTRADE-LHQ)
Điều quan trọng cần chú ý đó là Việt Nam cũng nhập khẩu Quế chủ yếu là từ In-đô-nê-xi-a với số lượng nhỏ, dưới 2000 tấn Giá nhập khẩu Quế
từ In-đô-nê-xi-a cũng thấp, điều này cho thấy những giao dịch này có khả năng phục vụ cho mục đích thương mại chứ không phải mục đích chế biến
Bảng 2.6: Nhập khẩu vỏ Quế vào Việt Nam [1]
Khối lượng
nhập khẩu (tấn) 632,65 741,94 1.356,70 1.067,91 726,14 2.002,70 In-đô-nê-xi-a 519,73 458,02 951,52 868,44 539,89 1.745,94 Trung Quốc 85,20 148,00 147,44 42,00 29,00 169,40