LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành kỳ thực tập cuối khoá của mình tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-o0o -
NGUYỄN THỊ THÙY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN ĐẾN
SINH TRƯỞNG CÂY SA MỘC DẦU (CUNNINGHAMIA KONISHII HAYATA) GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành kỳ thực tập cuối khoá của mình tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ tháng 11/2014 đến tháng 5/2015 với nội dung “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến sinh trưởng cây sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Để thực hiện được đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Lâm nghiệp,
các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp và cô giáo hướng dẫn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp đặc
biệt là thầy cô giáo hướng dẫn ThS Lương Thị Anh, TS Hồ Ngọc Sơn đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ, thời gian
và kinh phí nên báo cáo không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất 15
Bảng 3.1: Công thức và nội dung thí nghiệm 1 22
Bảng 3.2: sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm 22
Bảng 3.3: công thức và nội dung thí nghiệm 23
Bảng 4.1: Kết quả sinh trưởng vn của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua rễ 32
Bảng 4.2: Sắp xếp các chỉ số quan sát vn trong phân tích 33
Bảng 4.3: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với sự sinh trưởng chiều cao của cây Sa mộc 34
Bảng 4.4: Bảng sai dị từng cặp cho sự sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây Sa mộc giai đoạn vườn ươm 35
Bảng 4.5: Kết quả sinh trưởng 00 của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua rễ 36
Bảng 4.6: Sắp xếp các chỉ số quan sát 00 trong phân tích phương sai 37
Bảng 4.7: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với sự sinh trưởng đường kính cổ rê của cây Sa mộc dầu 38
Bảng 4.8: Bảng sai dị từng cặp cho sự sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm 39
Bảng 4.9: Kết quả tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu và cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của cây Sa mộc 40
Bảng 4.10: Kết quả sinh trưởng về vn của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua lá 42
Trang 4Bảng 4.11: Sắp xếp các chỉ số quan sát vn trong phân tích phương sai một nhân tố 44 Bảng 4.12: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với sự sinh trưởng chiều cao của cây Sa mộc 45 Bảng 4.13: Bảng sai dị từng cặp cho sự sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây Sa mộc giai đoạn vườn ươm 46 Bảng 4.14: Kết quả sinh trưởng 00 của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua lá 46 Bảng 4.15: Sắp xếp các chỉ số quan sát 00 trong phân tích phương sai một nhân tố 48 Bảng 4.16: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với sự sinh trưởng đường kính cổ rê của cây Sa mộc 49 Bảng 4.17: Bảng sai dị từng cặp cho sự sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây Sa mộc giai đoạn vườn ươm 50 Bảng 4.18: Kết quả tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu và cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của cây Sa mộc 51 Bảng 4.19: kết quả so sánh ảnh hưởng của phân bón qua rễ và qua lá đến vn,
00 của cây Sa mộc dầu 53
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng vn của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua rễ 32 Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ trung bình của cây
Sa mộc dầu ở các công thức phân bón qua rễ 36 Hình 4.3: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua rễ 41 Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của cây Sa mộc dầu ở các công thức phân bón qua rễ 42 Hình 4.5: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng vn của cây Sa mộc ở các công thức phân bón qua lá 43 Hình 4.6: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ trung bình của cây
Sa mộc dầu ở các công thức phân bón qua lá 47 Hình 4.7: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu của cây Sa mộc dầu
ở các công thức phân bón qua lá 51 Hình 4.8: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của cây Sa mộc
ở các công thức phân bón qua lá 52
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ DẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 3
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 8
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
2.4.1 Vị trí địa lý, địa hình 14
2.4.2 Đặc điểm về đất đai 15
2.4.3 Đặc điểm khí hậu - thời tiết 16
2.5 Tổng quan về loài cây nghiên cứu 16
2.5.1 Đặc điểm phân bố 16
2.5.2 Đặc điểm hình thái 17
2.5.3 Đặc điểm sinh thái 17
2.5.4 Giá trị kinh tế 17
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 73.4.1 Ngoại nghiệp 19
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 25
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 32
4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng đến sinh trưởng cây sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua rễ 32
4.1.1 Kết quả ảnh hưởng đến sinh trưởng về vncủa cây sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức bón phân qua rễ 32
4.1.2 Kết quả ảnh hưởng đến sinh trưởng 00 của cây sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua rễ 35
4.1.3 Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua rễ 40
4.2 Kết quả ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua lá 42
4.2.1 Kết quả ảnh hưởng đến sinh trưởng về vn của cây sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua lá 42
4.2.2 Kết quả ảnh hưởng đến sinh trưởng về đường kính cổ rễ 00 cây Sa mộc dầu dưới ảnh ưởng của các công thức phân bón qua lá 46
4.2.3 Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua lá 50
4.3 So sánh ảnh hưởng của phân bón qua lá và qua rễ đến sinh trưởng vn, 00 của cây Sa mộc dầu ở các công thức thí nghiệm 53
PHẦN V: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN I
MỞ DẦU
1.1 Đặt vấn đề
Gỗ Sa mộc (Cunninghamia konishii Hayata) là loại gỗ được đánh giá
cao tại Trung Quốc, do nó là loại gỗ mềm có hương thơm và khá bền, tương
tự như của hồng sam Bắc Mỹ (Sequoia sempervirens) và bách Nhật Bản (Cryptomeria japonica) Cụ thể, nó được dùng sản xuất các loại quan tài cũng
như trong xây dựng đền miếu, tại những nơi mà hương thơm được đánh giá cao Nó cũng được trồng làm cây cảnh trong các công viên và các khu vườn lớn, tại đây thông thường nó cao khoảng 15–30 m
Cây Sa mộc dầu chúng có nguồn gốc ở khu vực Trung Quốc, Đài Loan
và miền bắc Việt Nam, các cây lớn có thể cao tới 50–55 m Tên gọi khoa học của chi này được đặt theo tên của Dr James Cunningham, một bác sĩ người Anh đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702
Những khu rừng Sa mộc dầu ở gần trước đây đã bị các lâm trường khai thác mạnh Hiện tại loài này được sử dụng tại địa phương làm nhà ở và quan tài vì gỗ chịu chôn, chịu mối mọt và dễ gia công Loài mọc tương đối nhanh
và có tiềm năng sử dụng trong trồng rừng
Trong khi đó chất lượng cây giống có ý ngĩa quyết định tới hiệu quả của công tác trồng rừng Nguồn cây khỏe mạnh phát triển cân đối, ít sâu bệnh
là cơ sở để chúng sinh trưởng nhanh, cây trồng có khả năng đề kháng tốt với các yếu tố bất lợi của môi trường xung quanh Để cây con đảm bảo về số lượng và chất lượng thì việc bón phân và chăm sóc cây giống ở giai đoạn vườn ươm là rất quan trọng vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm
là cần thiết có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn sản xuất, làm cơ sở khoa
Trang 9học đề xuất cá biện pháp kĩ thuật tạo cây con thích hợp nhằm nâng cao chất lượng cây giống cho trồng rừng Vườn ươm cây giống khoa lâm ngiệp trường đại học nông lâm là cơ sở phục vụ công tác rèn nghề của sinh viên đồng thời
là nơi sản xuất cây giống lâm nghiệp, nguồn đất để sản xuất cây giống trong khu vực vườm ươm
Chất lượng cây con đem trồng phụ thuộc vào chất lượng hạt giống và kĩ thuật chăm sóc cây con, trong đó bón phân và loại phân bón là một trong những nhân tố quyết định Bón phân đúng liều lượng đủ và hợp lý sẽ phát huy tiềm năng của cây, cây con sẽ đủ tiêu chuẩn đem trồng
Bón phân là một trong những biện pháp kĩ thuật được thực hiên phổ biến, thường đem lại hiệu quả lớn, hiện nay việc nghiên cứu cũng như ứng dụng vào sản xuất cây giống lâm ngiệp ở vườn ươm, phục vụ trồng và chăm sóc rừng trồng đang được triển khai rộng rãi Bên cạnh đó các yếu tố kĩ thuật
về phân bón nhằm tác đông đến sự sinh trưởng và phát triển của giống cây lâm nghiệp như: Bón thế nào, ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng và phát triển,
tỉ lệ bón, bón ở giai đoạn nào, thành phần của nó ảnh hưởng ra sao…Vẫn đang là vấn đề được nghiên cứu Đặc biệt với loại cây Sa mộc dầu ở giai đoạn sản xuất cây giống ở vườn ươm là hết sức quan trọng Xuất phát từ những vấn
đề trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại
phân bón đến sinh trưởng cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được loại phân bón phù hợp cho sinh trưởng của cây Sa mộc dầu
- Lựa chọn phương pháp bón phân thích hợp cho cây Sa mộc dầu ở giai đoạn vườn ươm
Trang 101.3 Ý nghĩa nghiên cứu
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học trong nhà trường
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể
- Có điều kiện tiếp cận với thực tế, củng cố thêm những kỹ năng để sau khi ra trường có thể vận dụng trong công viêc đạt hiệu quả cao
- Trong nghiên cứu khoa hoc: Góp một phần nhỏ vào việc phát hiện cũng như nghiên cứu cách dùng một số loại phân bón nào đó hợp lý nhất cho cây
- Bước đầu tiếp cận với lĩnh vực ngiên cứu khoa hoc
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Đề tài thành công giúp chúng ta tìm được loại phân bón thích hợp cho cây Sa mộc dầu
- Góp phần vào hướng dẫn kĩ thuật, chăm sóc giống Sa mộc dầu cho bà con nông dân áp dụng
- Góp phần nghiên cứu bảo tồn nguồn gen quý loài cây Sa mộc dầu
- Sử dụng đúng phân bón đem hiệu quả chi phí cho người sản xuất
- Sản xuất cây giống có chất lượng tốt và đảm bảo
Trang 11PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Phân bón có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật trong các hoạt động sinh lý của thực vật như: Sự trao đổi nước, quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng và nitơ, sự biến đổi và vận chuyển các chất hữu cơ ở trong cây Các chức năng sinh lý này xảy ra một cách đồng thời và luôn luôn có mối quan hệ khăng khít ràng buộc với nhau Kết quả hoạt động tổng hợp của các chức năng sinh lý đó đã làm cho cây lớn lên, ra hoa kết quả rồi già đi và chết, hay nói một cách khác đã làm cho cây sinh trưởng và phát triển Như vậy sinh trưởng và phát triển là một quá trình sinh lý tổng hợp của cây, là kết quả của toàn bộ các chức năng và quá trình sinh lý của cây
Phân bón thúc đẩy cây sinh trưởng, theo Nguyễn Bá Lộc và các cs (2008): Sinh trưởng là quá trình tạo mới các yếu tố cấu trúc của cây một cách không thuận nghịch (các tành phần mới của tế bào, tế bào mới, cơ quan mới…) thường dẫn đến tăng về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng Tuy nhiên không nên quan niệm sinh trưởng chỉ biểu hiện sự biến đổi
về lượng một cách đơn thuần vì không phải bao giờ sự sinh trưởng cũng dấn đến sự biến đổi về kích thước và khối lượng Chẳng hạn, lúc tạo yết tố cấu trúc mới của nhân, tế bào tạm ngừng lớn lên, khi hạt trương nước thì trọng lượng chất khô không tăng, lúc ra hoa cây ngừng sinh trưởng về kích thước…Nói chung sự sinh trưởng của cây được biểu hiện ở những đặc điểm sau:
- Sự tăng về khối lượng và kích thước của cơ thể hoạc của từng cơ quan (sự tăng trưởng chiều cao của thân cây, chiều dài của cành, tăng diện tích của lá, khối lượng của hạt, quả…)
Trang 12- Sự tăng thêm số lượng cơ quan, số lượng tế bào (cây mọc thêm cành, cành ra thêm lá, số lương tế bào ở mô phân sinh tăng lên…)
- Tăng thể tích của tế bào, đặc biệt là tăng khối lượng chất nguyên sinh (tế bào sau khi phân chia xong thì tiến hành quá trình dãn tế bào để tăng kích thước của tế bào và tăng khối lượng chất nguyên sinh của tế bào)
- Tăng các yếu tố cấu trúc của tế bào (hình thành các bào quan bên trong tế bào)
- Tăng trọng lượng chất khô của cây Chẳng hạn ở thời kì chín hạt cây ngừng tăng về kích thước của các cơ quan, nhưng cây vẫn tích lũy thêm các chất hữu cơ về hạt
Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với điều kiện bên ngoài
Phân bón là một chất dùng để cung cấp một hay nhiều yếu tố màu mỡ cần thiết cho cây Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây (FAO 1994)
Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chỉ sử dụng phân bón chiếm 30% Việc kết hợp cân đối nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, hệ thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như
Trang 13nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây, trong các biện pháp
kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt
Các loại phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón
Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sinh sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây Đất tốt, cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng - chất lượng quả, hạt cao, chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N,
P, K… Và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỉ lệ thích hợp
Trong gieo ươm:
- Điều kiện đất đai:
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước
và không khí cho cây
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ PH… Của đất quyết đinh
- Sâu bệnh hại:
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi
Trang 14còn dẫn đến thất bại hoàn toàn Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp sử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng
Theo Bộ Lâm nghiệp (1994) [5] cây con tạo ra từ các vườn ươm phải được đảm bảo cho các cây giống được lựa chon những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loại cây khác với chúng Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai Các loại phân bón được sử dụng chăn sóc cây con trong thời gian ngắn Sự bón phân này kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: phá váng, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại phải thường xuyên để phát huy tối đa hiệu lực của phân bón
Theo Cục Khuyến nông Khuyến lâm (1998) [8] bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng được hiểu là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỉ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho cây trồng, đất, vụ mùa để đảm bảo năng suất, chất lượng và an toàn môi trường sinh thái
Theo Võ Minh Kha [1] cây con tạo ra từ các vườn ươm phải được đảm bảo cho cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp điều kiện
tự nhiên Khí hậu đất đai để giảm bớt sự canh tranh của các loài cây khác với chúng Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai Các loại phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn Bón phân này kết hợp với biện pháp nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại để phát huy hiệu lực của phân
Phân bón là chất dung để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên hoạc được chết tạo trong
Trang 15công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây
Theo Võ Minh Kha [1] có hai cách bón phân cho cây trồng: Bón qua
lá và bón qua rễ Bón phân qua lá lượng phân bón được hòa tan vào nước ở một nồng độ cho phép Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh dưỡng được ngấm qua lá
Bón phân vào đất (qua rễ) cây hấp thụ thường nhanh và dễ dàng do
có tế bào lông hút ở rễ Số tế bào long hút ở rễ cây nhiều và rễ cây hấp thụ phân qua sự hòa tan trong nước
Song một thực tế cho thấy, trước nhu cầu về lâm sản hiện nay, công tác trồng rừng hiện nay không còn phù hợp, thay vào đó là trồng rừng thâm canh cao đòi hỏi đầu tư lớn khâu chọn giống, nhân giống đến trồng và chăm sóc cần phải bón phân theo một quy trình nghiêm ngặt từ đó rút ngắn được chu kì kinh doanh, tăng khối lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích Nhưng kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, muốn đạt kết quả cao trong việc kinh doanh rừng thì việc sử dụng phân bón là rất cần thiết đặc biệt trong giai đoạn vườn ươm, giai đoạn mà rễ cây con còn phát triển chậm
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Sử dụng phân bón hữu cơ cung cấp một thay thế an toàn hơn để lựa chọn tổng hợp Sử dụng của họ gắn liền với sự gia tăng trong nông nghiệp hữu cơ Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, có hơn 14.000 trang trại hữu cơ và các trại chăn nuôi ở Hoa Kỳ Trong số này, 50 phần trăm sử dụng phân bón hữu cơ như mùn hữu cơ và phân bón cho cây trồng của họ Phân bón hữu cơ giúp thực vật trong một số cách cho dù đó là một hoạt động canh tác quy mô toàn hoặc cho các nhà máy khu vườn
Virtual Trung tâm Nghiên cứu Phân bón (VFRC) là một sáng kiến nghiên cứu nuôi dưỡng tính sáng tạo của thế hệ tiếp theo của phân bón và
Trang 16công nghệ sản xuất để giúp cho dân số ngày càng tăng của thế giới và cung cấp tăng bền vững trong sản xuất lương thực toàn cầu, và vấn đề toàn cầu này đòi hỏi một giải pháp toàn cầu Các VFRC bao gồm các công việc của nhiều
tổ chức nghiên cứu trên toàn thế giới hợp tác để thúc đẩy một chương trình nghiên cứu thống nhất
Thử nghiệm nitrate nhanh dẫn quản lý phân bón
Michael Cahn và Richard Smith, cố vấn UC Cooperative Extension ở Monterey County, và Tim Hartz, UCCE chuyên gia trong các bộ phận của Khoa học thực vật tại Đại học UC Davis, đã phát triển một thử nghiệm nhanh
để đo nitrat đất tại hiện trường rồi người trồng có thể phù hợp với tỷ lệ phân bón với cây trồng cần Các thử nghiệm đã làm giảm tỷ lệ nitơ tải bằng mức trung bình 70 pounds một mẫu rau diếp On-trang trại thử nghiệm trình diễn
đã cho thấy rằng bằng cách kiểm tra đất, người trồng có thể giảm sử dụng phân bón của họ khoảng 30 phần trăm Trồng chính ở Monterey County, người quản lý một số lượng đáng kể các mẫu rau ở thung lũng Salinas, đã bắt đầu sử dụng test nhanh nitrate trong hoạt động của mình Để biết thêm thông tin đọc các bài viết tóm tắt về p 5 và tinh chỉnh bài viết trên p 12 Ghi chú Crop và "Thông tin chi tiết về các Nitrate Quick Test" trên blog của Salinas Valley Nông nghiệp
Irrigation-science 290 Tập quán canh tác phát triển để nâng cao hiệu quả sử dụng nitơ
Thực hành quản lý tốt nhất để giảm thiểu lọc nitrat trong sản xuất cây trồng được tưới tiêu đã được biên soạn bởi các nhà khoa học UC Cooperative Extension có trụ sở tại thung lũng San Joaquin và Salinas và tại UC Davis
Dự án dẫn đầu bởi Stuart Pettygrove, UCCE chuyên gia trong các bộ phận của đất, không khí và tài nguyên nước, UC Davis-xác định một loạt các kỹ thuật tiềm năng để tối đa hóa việc sử dụng nitơ bằng rau, quả cây, các loại
Trang 17hạt, dây leo, cây trường, ngũ cốc, cây cỏ, và thức ăn gia súc và thức ăn ủ chua, trong khi hạn chế tổn thất rửa trôi Nhiều người trong số những thực hành này đã được sử dụng bởi người nông dân ở California, đại diện cho một
sự thay đổi cho tốt hơn từ thực tiễn lịch sử đã góp phần vào mực nước ngầm nitrate hiện hành
Theo Thomas (1985) [10], chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện
rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Giả thuyết rằng tưới cây, bón phân quá ít hoặc quá nhiều sẽ làm chậm tăng trưởng thực vật được chứng minh là đúng
Sử dụng các số liệu chính xác của phân bón là rất quan trọng để tối ưu hóa năng suất của vườn hoặc trang trại Đôi khi sử dụng liên tục của phân bón
sẽ gây ra các chất dinh dưỡng và muối để tích lũy trong đất trong một khoảng thời gian Vì vậy, sử dụng phân bón mỗi tuần một lần thay vì hàng ngày hoặc có đất kiểm tra có thể được đề nghị để cải thiện năng suất và bảo vệ cây trồng [11]
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ qui chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các
cơ sở tư nhân và công ty TNHH sản xuất, cung ứng
Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng mỗi năm khoảng 10% Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn: 1985-1990; 199 -1995 và 1996-
Trang 182001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục Ở các giai đoạn 1985-1990; 1991- 1995 và 1996-2001 mức tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng Như vậy trong 5 năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần Ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm
Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn
bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài [4]
Ở Việt Nam, cây Sa mộc dầu có kích thước quần thể nhỏ phân bố hạn chế ở các tỉnh miền núi phía bắc và việc phá rừng làm nương rẫy thời gian trước đây đã khiến cho loài này trở nên nguy cấp Do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở một số địa điểm tại ba tỉnh và các khu rừng này bị phá
do phát nương rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 ở mức sắp bị tuyệt chủng [13]
- Các mối đe dọa
Khai thác qui mô và phân bố hạn chế là những mối đe doạ chính đối với Sa mộc dầu Mối đe doạ phụ khác là việc dẫn nhập các xuất xứ của loài
Sa mộc (C lanceolata) từ nước ngoài vào trồng rừng Những taxon này được biết là có khả năng dễ dàng lai với nhau Nếu như vậy thì bản chất di truyền của các quần thể Sa mộc dầu còn lại ở Việt Nam và Lào có nguy cơ
bị thay đổi [3]
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Xuân Quát(1985), Nguyễn Ngọc Tân(1985), Nguyễn Hữu Thước(1963) Các tác giả đều đi đến
Trang 19kết luận chung rằng mỗi loại cây trồng có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗ hợp phân bón hoàn toàn khác nhau
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985) [5], để giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất Thiếu nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril, là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [7]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [8]; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000 [9]; Thomas D Landis, 1985 [10]
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Lân
có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của
hệ rễ Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủ
Trang 20lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua
và kiềm
Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng,
lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng, thân cây mềm, thấp, năng xuất chất khô giảm Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [7]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [10]; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000 [9]; Thomas D Landis, 1985 [10])
Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình
sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có biểu hiện
về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [7]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [8]
Các chất phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro trấu…Chúng có tác dụng làm xốp đất, giữ ẩm, thoáng khí…
Phân bón là 1 trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt [13]
Năm 2000, Hoàng Công Đãng trong luận văn tiến sỹ đã đề cập đến ảnh hưỏng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng và sinh khối của loài cây
Trang 21bần chua, trong đó tác giả đã nghiên cứu tác động riêng lẽ của từng loại phân NPK đến sinh trưởng và chất lượng cây con bần chua… [2]
Từ kết quả nghiên cứu của nhà bác học của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy đối với từng loài, từng giai đoạn phát triển khác nhau thì yêu cầu về phân bón cũng khác nhau Các tác giả đã xác định chính xác định lượng phân bón phù hợp để cây con của các loài cây đó sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt Đối với những nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy đối với từng loại cây, từng giay đoạn phát triển khác nhau thì các yêu cầu về phân bón cũng khác nhau Chính vì vậy các tác giả đã xác định chính xác lượng phân bón phù hợp cho từng loại cây và ở từng giai đoạn khác nhau một cách phù hợp để cây con của các loài cây đó sinh trưởng và phát triển tốt
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1 Vị trí địa lý, địa hình
Vị trí địa lý
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng
- Thành phố Thái Nguyên, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 3 km
về phía Tây Căn cứ vào bản đồ địa lý thành phố Thái Nguyên thì ta xác định được vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều
- Phía Nam giáp với xã Quyết Thắng
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Địa hình
Địa hình của trường chủ yếu là đồi bát úp, không có núi cao Độ dốc trung bình 10-150, độ cao trung bình 50-70 m địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Trang 222.4.2 Đặc điểm về đất đai
Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ và ít dinh dưỡng vì vậy để phục vụ công tác gieo ươm đóng bầu củ yếu được lấy từ các đồi khác trong trường
Đất đai hầu hết là đất feralit phát triển trên đá sa thạch, do vậy đất ở đây dinh dưỡng không cao, ít màu mỡ Qua bảng 2.1 dưới đây phản ánh hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNLTN)
Nhìn vào biểu phân tích ta thấy:
- Độ PH thấp, ở độ sâu tầng đất 10 – 30 cm có độ PH cao nhất cũng chỉ đạt 3,9
- Đất nghèo mùn hàm lượng mùn và N; K20; P205 ở mức thấp, chứng
tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Như vậy: Qua kết quả đã phân tích ta có thể đánh giá đươc đất ở vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm là đất chua, nghèo dinh dưỡng không đủ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trong giay đoạn vườn ươm Vì vậy cần phải bổ xung chất dinh dưỡng cho cây qua các biện pháp bón phân là hiệu quả Chính vì đó bón phân sẽ cung cấp lượng dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát triển, nâng cao khả năng chống chịu của cây con trong giay đoạn vườn ươm
Trang 232.4.3 Đặc điểm khí hậu - thời tiết
Điều kiện ngoại cảnh có liên quan trực tiếp đến đời sống cây rừng nói
chung và cây Sa mộc dầu nói riêng
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm tại xã Quyết Thắng thuộc thành phố Thái Nguyên Do đó khí hậu ở đây mang đủ tính chất khí hậu của thành phố Thái Nguyên
Độ trung bình của Thái Nguyên là 25 °C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 °C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2 °C) là 13,7 °C Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5 °C và 3 °C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 [12]
Nhìn chung khí hậu ở đây nóng ẩm, mưa nhiều lượng mưa lớn, độ
ẩm cao, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng tại vườn thực vât
2.5 Tổng quan về loài cây nghiên cứu
2.5.1 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới: Sa mộc dầu phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Đài loan và Lào Tại đài loan, Sa mộc dầu được coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên quy mô lớn, kết quả là các quần thể hiện tại là các quần thể hiện tại bi chia cắt, nằm
rải rác không tập trung [9]
Ở Việt Nam: Phân bố hẹp ở một số địa phương như: Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa và Nghệ An…
Trang 242.5.3 Đặc điểm sinh thái
Sa mộc ưa khí hậu ôn hòa, ít tháng rét quá và cũng không có tháng nóng quá, thích hợp ở nhiệt độ trung bình năm từ 16-190c Lượng mưa từ 1400-1900mm/năm Độ ẩm không khí của các tháng trong năm phải trên 75%, vùng có nhiều sương mù và ánh sang tán xạ Sa mộc ưa đất ẩm, thoáng nước, độ pH>5, nhiều mùn, nói chung đất có tính chất đất rừng Ưa đất phát triển trên đá mẹ phiến thạch hoạc sa phiến thạch có tầng dày từ 0,7-0,8m trở lên Là cây ưa sáng, những lúc nhỏ cần có tán che Sa mộc mọc tương đối nhanh so với cây lá kim khác, tỉa cành tự nhiên tốt, khả năng tái sinh chồi mạnh, có thể kinh doanh chồi liên tục 3-4 thế hệ [6]
- Phân bố nguồn gốc cây Sa mộc dầu là ở miền Nam, Tây Nam Trung Quốc, từ vĩ tuyến 22-32 vĩ độ Bắc, ở nước ta loài cây này đã được người dân các tỉnh biên giới Việt Trung (Quảng Ninh, Lặng Sơn, Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang trồng từ nhiều năm nay) [6]
và đóng các đồ mộc thông thường Là cây trồng trong cải tạo rừng và vườn rừng Hình dáng cây sa mộc đẹp nên được trồng làm cây phong cảnh [6]
Trang 25PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng Đàn – Cupressaceae, thuộc Bộ Thông – Coniferales, được gieo ươm từ hạt
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức phân bón qua rễ và qua lá
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Đề tài tiến hành tại khu vực vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm-Thái Nguyên
- Thời gian: Từ ngày 28 tháng 12 năm 2014 Đến tháng 05 năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng đến sinh trưởng về chiều cao (H vn) cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phân bón qua rễ và phân bón lá
Nghiên cứu ảnh hưởng đến sinh trưởng về đường kính (D00) cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phân bón qua rễ và phân bón lá
Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Sa mộc dầu
So sánh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây Sa mộc dầu dưới ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm phân bón qua rễ và qua lá
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả đã nghiên cứu trước
Trang 26- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm - bố trí thí nghiệm
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:
Từ số liệu thu thập qua thông qua điều tra các chỉ tiêu về chiều cao,
đường kính cổ rễ của cây Sa mộc dầu, ở các công thức thí nghiệm tôi tiến
hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng phương pháp thống kê
toán học trong lâm nghiệp
3.4.1 Ngoại nghiệp
Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ, vật tƣ phục vụ nghiên cứu
- Hạt giống cây Sa mộc dầu
- Dụng cụ bao gồm:
Cuốc, xẻng, dao, sàng đất, túi bầu, đất đóng bầu, cây làm dàn che, lưới
che, thước đo
Thước đo cao, thước Palmer độ chính xác đến 0,1 mm
Bảng biểu, giấy, bút.
Bình phun nước
Phân bón rễ: 3 loại
Phân Sunphat Đạm
huỳnh Loại phân này có dạng tinh thể mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh
Phân có mùi hôi khai (mùi amôniac), có vị mặn và hơi chua Phân dễ tan
trong nước, không vón cục, dễ bảo quản, dễ sử dụng Tuy nhiên, cũng cần
phải bảo quản tốt, để phân ở nơi khô ráo, thông thoáng
- Giá sản phẩm: 7.000 nghìn đồng /1kg
Phân NPK lâm thao
Thành phần gồm có: Hàm lượng đạm (N): 5%; Hàm lượng Lân (P2O5):
10%; Hàm lượng Kali(K2O): 3%; Hàm lượng Lưu Huỳnh(S): ≥ 8;
Và các nguyên tố trung vi lượng khác
Trang 27- Giá sản phẩm: 5.000 nghìn đồng/1kg
NPK ĐẦU TRÂU 20-20-15+TE
- Thành phần gồm có: Hàm lượng đạm (N): 20%; hàm lượng Lân hữu hiệu (P2O5hh): 20%; hàm lượng Kali(K2O):15%; Hàm lượng Lưu Huỳnh(S): 0,5%; Hàm lượng Magiê (MgO): 0,35%; Hàm lượng Fe:10ppm; Cu: 5ppm; Zn: 5ppm; B: 10ppm
- Giá sản phẩm: 13.000 nghìn đồng/1kg
Phân bón lá gồm 3 loại:
Phân bón lá ARROW (HQ.204)
- Thành phần gồm có: Magiê (Mg): 0.2%; Mangan (Mn): 0,2%; Sắt (Fe): 0,15%; Kẽm (Zn): 0,1%; Đồng (Cu): 0,1%; Vitamine E: 0,05%; Vitamine B1 0,05%; Vitamine C: 0,01%
- Liều lượng bón: Pha 25g(1 gói) cho bình 18-20 lít nước
- Thời điểm bón: Sau trồng 5-7 ngày , giúp phục hồi cây, bén rễ Giai đoạn cây phát triển thân lá, áp dụng chu kỳ 7-10 ngày phun 1 lần
- Loại bình phun: Sử dụng bình phun sương
- Giá sản phẩm: 7.000 nghìn đồng
Phân ĐẦU TRÂU 502(NPK 30-12-10+TE)
- Thành phần gồm có: Đạm (N): 30%, Lân (P2O5): 12%, Kali (K2O): 10%, Canxi (Ca): 0,05%, Magie (Mg): 0,05%, Kẽm (Zn): 0,05%, Đồng (Cu): 0,05%, Bo (B): 0,02%, Sắt (Fe): 0,01%, Mangan (Mn): 0,01%, Molipđen (Mo): 0,001%, PENMAC P: 0,002%, GA3: 0,002%, NAA, NOA
- Liều lượng bón: 10g/bình 10-12 lít nước
- Thời điểm bón: sau gieo trồng 5- 15 ngày (Định kì 7-10 ngày/lần)
- Loại bình sử dụng phun: bình phun sương
- Giá sản phẩm: 5.000 nghìn đồng
Phân KOMIX
Trang 28- Thành phần gồm có: MgO: 25%, S: 20%, Phụ gia hữu hiệu
- Liều lượng bón: pha gói 50gr cho 25-50 lít nước
- Loại bình sử dụng phun: bình phun sương
- Giá sản phẩm : 7.000 nghìn đồng
Bước 2: Bố trí thí nghiệm
Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng tôi bố trí thí nghiêm là một khối ngẫu nghiên đầy đủ Thí nghiệm được bố trí thành 7 công thức và 3 lần nhắc lại 21 ô thí nghiệm, các công thức thí nghiệm được bố trí cách nhau 10cm Mỗi công thức thí nghiệm có 90 cây, dung lượng mẫu quan sát là 30 cây trong một ô, tổng toàn bộ thí nghiệm để theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng
là 630 cây
Với thí nghiệm 1:
Trang 29Bảng 3.1: Công thức và nội dung thí nghiệm 1
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm
Chăm sóc và thu thập số liệu
Tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian nghiên cứu
Định kì bón phân 10 ngày một lần
CT1: Nồng độ 0,3% (cứ 0,3kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước sạch) thì lượng phân sử dụng được tính là 6.12(g) hoà tan với 2,04 lít nước
CT2: Nồng độ 0,3% (cứ 0,3kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước sạch) thì lượng phân sử dụng được tính là 6.12(g) hoà tan với 2,04 lít nước
CT3: Nồng độ 0,3% (cứ 0,3kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước sạch) thì lượng phân sử dụng được tính là 6.12(g) hoà tan với 2,04 lít nước
Trang 30CT4: Không tưới phân (đối chứng)
Với thí nghiệm 2:
Bảng 3.3: Công thức và nội dung thí nghiệm
Sẽ có 3 công thức tương ứng với 3 loại phân và cuối cùng là công thức đối chứng
Chăm sóc và thu thập số liệu
- Tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian nghiên cứu
- Định kì bón phân 10 ngày một lần
CT1: Phân HQ204
CT2: Phân KOMIX
CT3: Phân bón lá đầu trâu
CT4: Không tưới phân (đối chứng)
- Tưới nước trung bình mỗi ngày một lần và những ngày không mưa,
tránh tưới nước vào lúc trời nắng nên tưới vào sang sớm hoạc chiều tối
- Làm cỏ phá váng nhổ cỏ quanh luống và trong bầu làm cho đất tơi
xốp Khi làm cỏ phá váng tránh tác động và làm ảnh hưởng tới cây con
- Cấy dặm: Nếu cây nào chết cấy dặm ngay, đảm bảo mỗi bầu có một cây sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 31Bước 3: Thực hiện gieo ƣơm và chăm sóc thí nghiệm
- Tạo bầu: Đất ruột bầu được đập nhỏ, sàng loại bỏ rễ cây, sỏi đá, tạp vật rồi trộn đều với phân hữu cơ Vỏ bầu bằng polyetylen có đáy đục
Vun đất xung quanh bầu cao 2/3 thân bầu xung quanh luốn để giữ bầu không bị nghiêng ngả, giữ ẩm cho luống cây
* Xử lý kích thích hạt
Ngâm hạt đã loại bỏ tạp chất và những hạt lép và thối trong nước ấm 60
độ (2 sôi 3 lạnh) và để nguội dần 4 tiếng, sau đó vớt ra, để ráo nước, ủ trong túi vải hoắc cát ẩm Hàng ngày rửa chua bằng nước sạch để khi nứt nanh thì đem đi cấy
* Cấy hạt vào bầu
Trước khi cấy, bầu đất phải được tưới nước đủ ẩm trước đó 1 ngày Chọn những hạt nhú mầm, dùng que bằng đầu đũa được vót nhọn một đầu để tạo lỗ giữa bầu sâu 1- 1,5cm rồi thả hạt vào, phủ một lớp đất mịn vừa lấp kín hạt, bên trên làm dàn che nắng 50%
* Chăm sóc cây con
+ Tưới nước :
Tưới đủ ẩm cho cây con vào sáng sớm và chiều mát Số lần tưới tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất trong bầu Thí nghiệm luôn giữ
Trang 32đủ độ ẩm cho cây, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng Bình quân lượng nước cho mỗi lần là 3- 5 lít/m2
Khi cây con đạt chiều cao 5- 10cm, tiến hành dỡ dần dàn che
Theo dõi sâu bệnh hại :
Sâu bệnh hại được theo dõi thường xuyên trong quá trình chăm sóc cây con, khi phát hiện có biện pháp phòng, trừ kịp thời
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian gian đo đếm và chỉ tiêu về sinh trưởng được tiến hành vào cuối đợt thí nghiệm Trong mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây số 1 đến cây số 30
Kết quả được ghi vào mẫu bảng 3.4, 3.5, 3.6 (phụ lục )
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Công tác nội nghiệp
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp để tính chiều cao vút ngọn trung bình, đương kính cổ rễ trung bình thông qua công thức :
Trang 33Di: Là giá trị đường kính gốc của một cây
Hi: Là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây
N: Là dung lượng mẫu điều tra
i: Là thứ tự cây thứ i
Phân tích và xử lý số liệu trên excel:
Các chỉ số thống kê như chỉ số trung bình Hvn, D00, được thực hiện bằng phần mềm excel với hàm sum( ), hàm average( )…
Dùng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố [3] để đánh giá ảnh hưởng của các công thức phân bón khác nhau ở mỗi lần lặp đến sinh trưởng của cây con sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm Để kiểm tra kết quả thí nghiệm được sắp xếp như trình tự nư mẫu bảng 3.7:
Trong đó tôi coi:
- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)
Giả sử nhân tố A được chia làm a (a công thức thí nghiệm) cấp khác nhau, mỗi cấp các trị số quan sát lập lại (bi) lần, kết quả được sắp xếp vào mẫu bảng sau:
Trang 34Mẫu bảng 3.7: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai
- Cột 3: Tổng giá trị quan sát của mỗi cấp
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát
- X số trung bình chung của n trị số quan sát
Đặt giả thuyết H0: 1 2 3 Nhân tố A tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm
Trang 35Đối thuyết H1: 1 2 3 Nhân tố A tác động không đồng đều đến kết quả thí nghiệm, nghĩa là có ít nhất 1 số trung bình tổng thể i
khác với số trung bình tổng thể còn lại
Tính biến tổng số:
VT là biến động của n (ab) trị số quan sát trong trường hợp số lần nhắc lại bi bằng nhau được xác định bằng công thức:
C x
a
x C
a
i b
Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau:b1=b… =bi=b
VA=
b a
A b
S si
Do tính chất cộng của biến động của n trị số quan sát được xác định bằng công thức:
VN=VT - VA (3.3)
Trang 36Người ta đã chứng minh được rằng, nếu giả thuyết H0 là đúng thì biến ngẫu nhiên VN có nhân tố 2
với df=a(b-1) độ tự do và VA có nhân tố 2
với df=a-1 độ tự do Vì vậy biến ngẫu nhiên có phương sai:
Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau: b1=b2……bi=b:
(3.6)Tra bảng F05 với bậc tự do df1=a-1, df2=a(b-1)
So sánh
- Nếu FA F05 giả thuyết H0 được chấp nhận nghĩa là nhân tố A tác
động đồng đều lên kết quả thí nghiệm
- Nếu FA>F05 thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, nghĩa là nhân tố A tác động không đồng đều lên kết quả thí nghiệm, có ít nhất một công thức khác công
Ta lập bảng hiệu sai các số trung bình xixj và so sánh với LSD:
- Nếu xixj LSD ta kí hiệu dấu -, nghĩa là 2 công thức không có sự
khác nhau
Trang 37- Nếu xixj >LSD ta kí hiệu dấu *, nghĩa là giữa hai công thức có sự khác nhau rõ Vậy công thức ảnh hưởng trội hơn là công thức có x lớn hơn và công thức trội nhất có xmax
Giá tri LSD có thay đổi phụ thuộc vào mức có ý nghĩa tương ứng với mức ý nghĩa khác nhau thì có LSD khác nhau Thông thường người ta tính LSD ở độ tin cậy 95% hay 99% tức là =0,05 hay 0,01
Mẫu bảng 3.8 Bảng phân tích phương sai 1 nhât tố ANOVA
Source of
variation(nguồn
biến động)
SS (tổng biến động bình phương)
Df (bậc tự do)
MS (phương sai )
F (F thực nghiệm)
P-value (sự hoán đổi từ giá trị t tính)
F crit (giá trị F
* Để có bảng phân tích phương sai một nhân tố ANOVA như trên:
Ta thực hiện trên phần mềm Excel như sau:
Nhập số liệu vào bảng tính
Click tools Data Analysis ANOVA: Single Factor
Trong hộp thoại ANOVA: Single Factor
Input range: Khai vùng dữ liệu(…)
Grouped by: