Như vậy nhu cầu bổ sung vốn để tái sản xuất và đầu tư cho những năm sắp tới là rất lớn và không thể chỉ trông chờ vào nguồn lợi nhuận giữ lại từ phía DN mà cần phải huy động từ bên ngoài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG TẤN TÀI
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO
TP Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Phát triển thị trường trái
phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa
từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Các số liệu dùng để phân tích, đánh giá
trong luận văn là trung thực và đều được trích nguồn rõ ràng
Người thực hiện
ĐẶNG TẤN TÀI
Học viên cao học Lớp TCDN Đ3 – K15 Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng, biểu; hình vẽ
MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP 1
1.1 Trái phiếu 1
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu 1
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu 2
1.2 Trái phiếu doanh nghiệp 4
1.2.1 Khái niệm và tính chất của trái phiếu doanh nghiệp 4
1.2.2 Phân loại trái phiếu doanh nghiệp 5
1.2.3 Ưu điểm của phương thức tài trợ vốn bằng trái phiếu doanh nghiệp 8
1.3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 10
1.3.1 Khái niệm 10
1.3.2 Vai trò của việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 11
1.3.3 Những thành viên của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 12
1.3.3.1 Chủ thể phát hành 12
1.3.3.2 Chủ thể đầu tư 13
1.3.3.3 Các tổ chức tài chính trung gian 13
1.3.4 Phương thức phát hành và hình thức giao dịch trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp 14
1.3.4.1 Phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp 14
1.3.4.2 Các hình thức giao dịch trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp 15
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 16
1.3.5.1 Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô 16
Trang 31.3.5.2 Khung pháp lý và hệ thống quản lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp 17
1.3.5.3 Gây dựng lòng tin cho công chúng đầu tư đối với thị trường 17
1.3.5.4 Phát triển thị trường sơ cấp 18
1.3.5.5 Phát triển thị trường thứ cấp 18
1.3.5.6 Xây dựng hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ 19
1.3.6 Rủi ro khi đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp 19
1.4 Khảo sát thị trường trái phiếu doanh nghiệp của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 20
1.4.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số quốc gia 21
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 25
Kết luận Chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 29
2.1 Khái quát quá trình phát triển doanh nghiệp Việt Nam 29
2.2 Thực trạng thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu Việt Nam 33
2.2.1 Thị trường chứng khoán 33
2.2.2 Thị trường trái phiếu 36
2.3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 38
2.3.1 Cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 38
2.3.2 Thực trạng quá trình phát triển thị trường TPDN Việt Nam 41
2.3.3 Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua theo mô hình SWOT 48
2.3.4 Nguyên nhân hạn chế sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua 57
Kết luận Chương 2 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 65
3.1 Định hướng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 65
3.1.1 Triển vọng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 65
3.1.2 Định hướng phát triển thị trường TPDN Việt Nam đến năm 2020 .66
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại VN 68
3.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 68
3.2.1.1 Tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 68
3.2.1.2 Hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển thị trường TPDN 70
3.2.1.3 Nâng cao năng lực điều hành, hiệu quả quản lý và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp 75
3.2.1.4 Tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp 75
3.2.1.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo kiến thức về chứng khoán cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư 76
3.2.2 Nhóm giải pháp phát triển thị trường sơ cấp 77
3.2.2.1 Xây dựng chính sách khuyến khích phát hành trái phiếu doanh nghiệp 77
3.2.2.2 Chuẩn hóa thông tin và hệ thống công bố thông tin, tăng cường tính minh bạch cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp 78
3.2.2.3 Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn làm cơ sở tham chiếu cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp 79
3.2.2.4 Khuyến khích phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm chuyên nghiệp 80
3.2.2.5 Đa dạng hóa các loại trái phiếu doanh nghiệp 82
3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển thị trường thứ cấp 82
3.2.3.1 Xây dựng hệ thống giao dịch chuyên biệt cho thị trường TPDN 83
3.2.3.2 Phát triển thị trường phi tập trung (OTC) 84
3.2.3.3 Phát triển các định chế tài chính trung gian, các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà tạo lập thị trường 86
3.2.3.4 Giải pháp hạn chế rủi ro trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp 87
3.2.4 Giải pháp đối với doanh nghiệp 88
Kết luận Chương 3 91
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 4- HASTC Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
- OTC Thị trường giao dịch phi tập trung
- TPCQĐP Trái phiếu chính quyền địa phương
- TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
Hình 2.1 Chỉ số VN – Index năm 2008 Hình 2.2 Tỷ trọng thị trường trái phiếu trên GDP của Việt Nam so với các nước khu
vực Đông Á Hình 2.3 Giá trị và tỷ trọng thị trường TPDN Việt Nam năm 2005 – 2007 Hình 2.4 Quy mô thị trường TPDN Việt Nam so sánh với các nước khu vực Đông Á
Trang 5MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ
TÀI
au hơn 20 năm kể từ 1986 - thời điểm đánh dấu sự bắt đầu của quá trình chuyển đổi
nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được những thành quả
to lớn về mọi mặt rất đáng được ghi nhận Nền kinh tế Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng
trưởng cao và ổn định, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, vai trò và vị thế
của Việt Nam ngày càng được khẳng định và củng cố vững chắc hơn trên trường thế
giới Tuy vậy, để có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra trong chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2020 là phấn đấu đưa nước ta về cơ bản trở
thành một nước công nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiếp tục duy trì tốc độ
tăng trưởng GDP hàng năm bình quân ở mức cao thì một trong những yếu tố đóng vai
trò quan trọng cho sự thành công đó là nguồn vốn cho đầu tư phát triển Bên cạnh đó, với
sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đã mở ra cánh cửa hội nhập ngày càng sâu rộng cho nền kinh tế Việt Nam nói
chung và các doanh nghiệp (DN) Việt Nam nói riêng Đi kèm với những cơ hội là những
thách thức không nhỏ mà không phải bất cứ DN nào cũng có thể dễ dàng vuợt qua nếu
không có tiềm năng tài chính và nội lực vững mạnh Điều đó cũng đồng nghĩa với việc
để có thể đứng vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như thị
trường quốc tế vẫn còn không ít vấn đề đặt ra cần phải sớm giải quyết cho bản thân mỗi
DN như đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật công nghệ, tiết kiệm chi phí, nâng cao
năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng nghề
nghiệp cho người lao động … Để làm được những điều đó đòi hỏi các DN phải có tiềm
lực tài chính vững mạnh, phải không ngừng gia tăng và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
cho đầu tư phát triển Hiện nay, Việt Nam có khoảng 350.000 DN và phấn đấu đến 2010
nước ta sẽ có khoảng 500.000 DN với nhiều loại hình khác nhau Như vậy nhu cầu bổ
sung vốn để tái sản xuất và đầu tư cho những năm sắp tới là rất lớn và không thể chỉ
trông chờ vào nguồn lợi nhuận giữ lại từ phía DN mà cần phải huy động từ bên ngoài
S
theo nhiều hình thức như phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, vay tín dụng … Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy từ trước đến nay là phần lớn các DN Việt Nam vẫn còn thói quen vay vốn theo cách truyền thống từ ngân hàng hoặc tìm kiếm các nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi của nhà nước hơn là tự huy động trên thị trường bằng cách phát hành chứng khoán nợ Với thói quen này vô tình các DN đã bỏ qua một kênh dẫn vốn quan trọng đó là trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Bởi chi phí vốn huy động trái phiếu luôn thấp hơn chi phí phát hành cổ phiếu hoặc vay ngân hàng
Có thể thấy rằng với sự ra đời và đi vào hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian qua đã khẳng định sự cần thiết và tính tất yếu phải tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn mới cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và các DN nói riêng Thế nhưng thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian vừa qua, đặc biệt là giai đoạn phát triển quá nóng trong hai năm 2006 – 2007 cho thấy các DN vẫn còn quá chú trọng vào việc huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu mà chưa quan tâm đến những tiện ích cũng như lợi thế của việc tài trợ vốn thông qua phát hành TPDN Trong khi TPDN được đánh giá là một kênh huy động vốn tích cực và hiệu quả, thị trường TPDN giữ một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường vốn nhưng nó vẫn chưa thu hút được sự quan tâm đúng mức từ phía các DN Vậy đâu là những nguyên nhân?
Năm 2008, thị trường tài chính Việt Nam cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng và tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, do đó khả năng huy động vốn để tái sản xuất và đầu tư phát triển của các DN cũng bị ảnh hưởng đáng kể Thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục mất điểm khiến cho việc huy động vốn cổ phần càng trở nên khó khăn hơn, trong khi lãi suất trên thị trường tín dụng lại không ngừng gia tăng từ những tháng đầu năm 2008 khiến cho khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của các DN không hề dễ dàng Trong bối cảnh đó, một số DN đã tính đến phương án huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu Phát hành TPDN đã thực sự trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả, là sự lựa chọn hấp dẫn và mang lại nhiều lợi ích cho các DN
Về mặt chính sách, phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam nói chung và thị
trường TPDN nói riêng cũng đã được Chính phủ quan tâm và cụ thể hóa trong “Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” Năm
2009, Chính phủ định hướng sẽ huy động một lượng vốn lớn qua thị trường trái phiếu
Trang 6đồng thời bảo lãnh cho các DN huy động vốn thông qua phát hành TPDN Bộ Tài chính
cũng đưa ra một số định hướng nhằm phát triển thị trường TPDN như: khuyến khích DN
huy động vốn trực tiếp trên thị trường, hạn chế sự phụ thuộc vào việc cấp vốn qua kênh
tín dụng, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý …
Mặc dù TPDN đang nhận được sự quan tâm từ phía nhà nước lẫn DN, giao dịch
trên thị trường TPDN Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông
Nam Á nhưng các tổ chức tài chính chuyên nghiệp vẫn chưa xếp thị trường TPDN Việt
Nam vào loại thị trường phát triển và cho rằng vẫn còn tồn tại một số yếu tố kìm hãm sự
phát triển đi lên của thị trường này Để phát triển thị trường TPDN Việt Nam tương xứng
với tiềm năng của nó, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế
trong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập, góp phần thành công vào sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, vẫn còn không ít vấn đề liên quan đến thị
trường TPDN cần được quan tâm xem xét dưới nhiều góc độ Hơn lúc nào hết, việc đi
vào nghiên cứu cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng, phân tích đánh giá nguyên nhân và
những mặt hạn chế còn tồn tại trong quá trình phát triển của thị trường TPDN, từ đó đề
xuất những cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện và thúc đẩy thị
trường TPDN phát triển, góp phần nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trung – dài hạn
cho các DN là vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý
luận lẫn thực tiễn
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:
“PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM” để
làm Luận văn Thạc sĩ kinh tế
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến trái phiếu doanh
nghiệp và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu
doanh nghiệp ở một số nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở đó, đề tài đi vào
nghiên cứu đánh giá thực trạng, tìm hiểu các nguyên nhân, phân tích những mặt còn tồn
tại của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm
hoàn thiện và phát triển bền vững thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trong thời
gian tới, góp phần từng bước phát triển thị trường vốn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát
triển ngày càng cao cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu tổng quát kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Tuy nhiên, đây cũng là một lĩnh vực nghiên cứu rất mới và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của nhiều yếu tố, nhiều lĩnh vực khác nhau Do giới hạn về thời gian và chuyên ngành nghiên cứu nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở tầm vĩ mô, trên cơ sở tập hợp phân tích số liệu hoạt động của thị trường
từ năm 1994 đến năm 2008, từ đó nhận định tình hình chung và đề ra những giải pháp hoàn thiện về cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam phát triển hơn nữa Đề tài không đi sâu vào những nghiệp vụ chi tiết của thị trường
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là nghiên cứu tổng hợp
cơ sở lý luận, phương pháp thống kê lịch sử và phương pháp tổng hợp, so sánh để đánh giá thực trạng hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở quán triệt quan điểm học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mac – Lê nin, từ đó vận dụng kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực
và trên thế giới làm cơ sở để đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam phát triển hơn
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, các danh mục bảng biểu, kết luận và phụ lục; đề tài được chia thành 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1 TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 7CHƯƠNG 1 TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG
TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
1.1 Trái phiếu
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu
Trái phiếu là công cụ nợ dài hạn do Chính phủ hoặc doanh nghiệp phát hành nhằm
huy động vốn dài hạn Đó là giấy chứng nhận nợ dài hạn mà tổ chức phát hành trái phiếu
cam kết với người mua trái phiếu sẽ thanh toán lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho
người nắm giữ trái phiếu vào một ngày xác định trong tương lai Khi mua trái phiếu thì
người nắm giữ trái phiếu – trái chủ chính là người cho vay, còn tổ chức phát hành trái
phiếu là người đi vay Trái phiếu chính là sự chứng nhận về mặt pháp lý thể hiện mối
liên hệ giữa người cho vay và người đi vay
Thông thường, trái phiếu có những đặc điểm chủ yếu sau:
* Mệnh giá:
Là giá trị danh nghĩa được thể hiện trên trái phiếu mà tổ chức phát hành cam kết
sẽ hoàn trả cho người sở hữu trái phiếu vào ngày đáo hạn
* Lãi suất trái phiếu:
Mỗi trái phiếu đều có một mức lãi suất mà tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh
toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày xác định và có thể
theo định kỳ Trái phiếu phát hành với mức lãi suất danh nghĩa được xác định bởi
các điều kiện thị trường tại thời điểm chào bán trái phiếu Lãi suất thường được
công bố theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá của trái phiếu Số tiền lãi trái
phiếu được tính bằng mệnh giá trái phiếu nhân với lãi suất trái phiếu Thông
thường, thời hạn trả lãi của trái phiếu được quy định một năm hoặc nửa năm một
lần
* Giá trái phiếu:
Đây là số tiền thực tế mà nhà đầu tư bỏ ra để được quyền sở hữu trái phiếu Trái
phiếu có thể được mua bằng mệnh giá, cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá (còn gọi
là giá chiết khấu) Dù vậy, tiền lãi trả cho các trái chủ luôn được xác định trên
mệnh giá trái phiếu; đồng thời, trái chủ sẽ được hoàn trả vốn gốc ban đầu bằng với mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn
* Kỳ hạn của trái phiếu:
Kỳ hạn cho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ trái phiếu nhận được tiền lãi định kỳ và thời điểm mà tổ chức phát hành phải hoàn trả khoản vốn gốc ban đầu cho các nhà đầu tư trái phiếu theo mệnh giá trái phiếu Kỳ hạn của trái phiếu thường được phân thành 3 loại: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trái phiếu ngắn hạn có thời hạn từ 1 – 5 năm, trái phiếu trung hạn có thời hạn từ 5 – 10 năm, trái phiếu dài hạn có thời hạn được xác định
là trên 10 năm Kỳ hạn trái phiếu có ý nghĩa rất quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn trái phiếu Kỳ hạn trái phiếu càng dài thì giá trái phiếu càng biến động lớn do sự ảnh hưởng của biến động lãi suất thị trường Hay nói cách khác, sự biến động của giá trái phiếu thì phụ thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu ) Trái phiếu trên thị trường tài chính có rất nhiều loại, tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà trái phiếu sẽ được phân thành các loại tương ứng Nếu căn cứ vào tiêu chí đối tượng phát hành và mục đích phát hành, trái phiếu được phân thành hai loại là trái phiếu chính phủ
và trái phiếu doanh nghiệp Theo đó, trái phiếu chính phủ (TPCP) là loại trái phiếu do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích cân đối ngân sách, tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và được đảm bảo bằng ngân sách quốc gia hoặc ngân sách địa phương Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu được đánh giá an toàn nhất, hầu như không có rủi ro vì nó được đảm bảo bằng nguồn vốn ngân sách Trong khi
đó, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) là loại trái phiếu do các DN phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá có mức rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ, vì vậy lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp thường cao hơn lãi suất của trái phiếu chính phủ ở cùng kỳ hạn
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu
Nhìn chung, giá của bất cứ loại chứng khoán nào cũng đều chịu sự ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu trên thị trường, do đó ngoài cung và cầu, giá trái phiếu còn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố sau:
* Năng lực tài chính của tổ chức phát hành trái phiếu
Trang 8Năng lực tài chính của tổ chức phát hành trái phiếu là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến giá của trái phiếu Đây là yếu tố thường thu hút sự quan tâm rất lớn của các
nhà đầu tư Vì vậy giá của trái phiếu sẽ có biến động rõ rệt trên thị trường chứng khoán
nếu các tổ chức phát hành gặp khó khăn về khả năng tài chính Thông thường; trái phiếu
của những DN lớn, uy tín lâu năm và có tiềm lực tài chính vững mạnh thì có giá cao hơn
trái phiếu của những DN nhỏ, thương hiệu yếu và năng lực tài chính hạn chế
* Sự biến động của lãi suất thị trường
Lãi suất thị trường là một yếu tố đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến việc
định giá các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với
các trái phiếu đang tồn tại sẽ có sự thay đổi, dòng vốn sẽ luân chuyển vào nơi có mức lợi
nhuận cao hơn, khi đó giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm Nếu lãi suất trên thị
trường bắt đầu giảm thấp hơn lãi suất trái phiếu thì giá trái phiếu sẽ tăng cao hơn mệnh
giá của nó Ở một khía cạnh khác, nếu người ta dự đoán lạm phát sẽ tăng kéo theo giá
của trái phiếu giảm thì việc tăng lãi suất có thể được coi là tín hiệu đẩy lùi lạm phát của
chính phủ Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực
của triển vọng lạm phát được cải thiện
* Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
Trái phiếu có thời gian đáo hạn khác nhau sẽ có lãi suất khác nhau Hầu hết các
nhà đầu tư đều mong muốn được lãi suất cao trong thời gian dài Khi số tiền của nhà đầu
tư chịu rủi ro trong một khoảng thời gian dài thì họ mong muốn được số tiền lãi lớn hơn
so với khi đầu tư trong ngắn hạn Do đó, nếu trái phiếu có thời gian đáo hạn càng ngắn
thì giá của trái phiếu sẽ càng tăng trên thị trường do độ rủi ro của nó càng thấp Ngược
lại, nếu thời gian đáo hạn của trái phiếu càng dài thì giá của nó sẽ càng giảm vì mức rủi
ro càng cao Mối quan hệ giữa lãi suất và thời gian đáo hạn của trái phiếu được gọi là
đường cong lãi suất Đường cong lãi suất thường có 4 dạng: dạng thông thường, dạng
dốc, dạng đảo ngược và dạng phẳng
* Quyền mua lại hoặc bán lại của trái phiếu
Trái phiếu kèm quyền mua lại cho phép người phát hành mua lại trái phiếu trước
thời gian đáo hạn đã được công bố Quyền mua lại thường có lợi cho tổ chức phát hành
khi nó đảm bảo cho tổ chức phát hành được mua lại trái phiếu theo quyền lựa chọn nếu
họ có khả năng vay tiền với lãi suất thấp hơn lãi suất trái phiếu đang lưu hành Tuy nhiên
điều này lại gây ra bất lợi cho người nắm giữ trái phiếu, bởi vì tổ chức phát hành thường mua lại trái phiếu khi lãi suất trái phiếu đã phát hành cao hơn lãi suất của trái phiếu phát hành mới Quyền mua lại có thể gây khó khăn cho việc bán trái phiếu, do đó trái phiếu kèm quyền mua lại thường có giá thấp hơn và lãi suất cao hơn so với các trái phiếu khác
có cùng kỳ hạn
Tương tự, trái phiếu kèm quyền bán lại cho phép chủ sở hữu trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho tổ chức phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Thông thường, nhà đầu tư chỉ bán lại trái phiếu khi lãi suất thị trường tăng hoặc khi họ cần vốn
và giá bán lại thường bằng mệnh giá Vì vậy loại trái phiếu này thường có giá cao hơn và lãi suất thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
* Khả năng chuyển đổi của trái phiếu
Đây là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành cho phép nó có khả năng được chuyển đổi thành cổ phiếu vào một thời điểm nào đó trong tương lai Vì vậy, trái phiếu này thường có giá cao hơn so với trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
* Dự kiến về lạm phát
Nếu lạm phát được dự kiến tăng trong tương lai thì lãi cố định trả cho trái phiếu chỉ được thanh toán theo lãi suất danh nghĩa Do đó giá thị trường của trái phiếu có lãi suất cố định sẽ giảm Ngược lại, nếu lạm phát được dự kiến sẽ giảm thì giá của trái phiếu
có lãi suất cố định sẽ tăng
1.2 Trái phiếu doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và tính chất của trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốn trung dài hạn cho đầu tư phát triển Doanh nghiệp sẽ phát hành trái phiếu khi có nhu cầu huy động vốn lớn để tài trợ cho việc đầu tư mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong trường hợp không đủ điều kiện hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, hoặc tùy thuộc vào chiến lược quản lý vốn của mỗi doanh nghiệp
Về bản chất, trái phiếu doanh nghiệp chính là giấy xác nhận nợ của doanh nghiệp phát hành, trong đó doanh nghiệp phát hành trái phiếu là người đi vay còn người mua trái phiếu (trái chủ) chính là người cho vay Trái phiếu doanh nghiệp chính là sự chứng nhận về mặt pháp lý, ghi nhận sự liên hệ giữa quyền của chủ nợ đối với doanh nghiệp và những nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải thực hiện
Trang 9Thông thường, trái phiếu doanh nghiệp được trả lãi theo thời hạn một năm hoặc
nửa năm một lần Trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các trái
chủ được quyền ưu tiên thanh toán trước các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường và cổ
phiếu ưu đãi
1.2.2 Phân loại trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú về chủng loại lẫn hình thức, đáp
ứng được mọi nhu cầu và thị hiếu của DN cũng như của các nhà đầu tư trên thị trường
Sau đây là một số loại TPDN chủ yếu, được phân loại theo các tiêu chí khác nhau
* Căn cứ vào tính chất ghi danh của trái phiếu:
- Trái phiếu vô danh:
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên người chủ sở hữu trên bề mặt
trái phiếu cũng như trên sổ sách của tổ chức phát hành Đây là loại trái phiếu được đính
kèm theo phiếu lĩnh lãi coupon Người sở hữu trái phiếu sẽ cắt phần cuống phiếu trả lãi
tương ứng và đem đến tổ chức phát hành hoặc ngân hàng được tổ chức phát hành ủy
quyền để nhận lãi Đến thời điểm đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu trình giấy chứng
nhận sở hữu trái phiếu để nhận lại vốn gốc tương đương với mệnh giá Trái phiếu vô
danh có thể được chuyển nhượng một cách dễ dàng, bất kỳ người nào nắm giữ trái phiếu
trong tay đều có quyền hưởng lãi và quyền được thanh toán trái phiếu Người nắm giữ
trái phiếu có thể nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn hoặc có thể bán chúng trên thị
trường thứ cấp trước ngày đáo hạn
- Trái phiếu ghi danh:
Là loại trái phiếu có ghi rõ họ tên và địa chỉ của người chủ sở hữu trái phiếu trên
bề mặt trái phiếu và trong sổ sách của tổ chức phát hành Vì tên người sở hữu được ghi
trên trái phiếu nên việc chuyển nhượng chỉ có thể thực hiện bằng cách ký hậu và đăng ký
với tổ chức phát hành Đến ngày thanh toán lãi, đại lý công ty phát hành sẽ gửi séc hoặc
tiền mặt hoặc chuyển khoản để trả tiền lãi cho chủ sở hữu trái phiếu
* Căn cứ vào tính chất đảm bảo của trái phiếu:
- Trái phiếu có bảo đảm:
Đây là loại trái phiếu mà nếu DN muốn phát hành chúng thì phải có tài sản thế
chấp đảm bảo Trong trường hợp DN bị phá sản, những người nắm giữ trái phiếu này sẽ
được bảo vệ ở mức độ cao bằng chính những tài sản đã thế chấp Tài sản thế chấp có thể
là bất động sản, máy móc thiết bị, nhà xưởng, các loại chứng khoán mà DN đang nắm giữ …
- Trái phiếu không có bảo đảm:
Là loại trái phiếu mà khi phát hành chỉ dựa vào uy tín của DN và không đưa ra một tài sản gì để đảm bảo Loại trái phiếu này thường được phát hành bởi những DN lớn
và có danh tiếng trên thị trường Thương hiệu sẽ là một đảm bảo có giá trị cho DN khi phát hành trái phiếu Trong trường hợp DN không đủ khả năng trả nợ và lâm vào tình trạng phá sản, những người nắm giữ loại trái phiếu này sẽ được thanh toán sau các trái chủ của trái phiếu có bảo đảm nhưng trước các cổ đông
* Căn cứ vào những quyền kèm theo của trái phiếu:
- Trái phiếu có thể mua lại trước hạn:
Đây là loại trái phiếu có kèm điều khoản cho phép DN được mua lại trái phiếu trước thời điểm đáo hạn với mức giá cao hơn mệnh giá của trái phiếu trong trường hợp
DN không còn nhu cầu vay vốn nữa hoặc trong trường hợp lãi suất thị trường giảm thấp hơn lãi suất của trái phiếu lúc phát hành Điều đó sẽ giảm thiểu thiệt hại cho DN vì không phải trả lãi quá cao Về phía người mua trái phiếu thì đây là một bất lợi, do đó giá bán của loại trái phiếu này thường rẻ hơn những trái phiếu không có cùng đặc tính
- Trái phiếu có thể bán lại trước hạn:
Loại trái phiếu này cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho DN trước thời điểm đáo hạn Điều đó có tác dụng loại bỏ được rủi ro về lãi suất cho chủ sở hữu trái phiếu Nhà đầu tư trái phiếu có thể tránh được một khoản thua lỗ khi lãi suất thị trường gia tăng làm cho giá trái phiếu giảm xuống Với đặc tính này, trái phiếu kèm quyền bán lại thường có giá bán cao hơn những trái phiếu không có đặc tính tương tự
- Trái phiếu có thể chuyển đổi:
Đây là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ nó có quyền chuyển đổi trái phiếu
thành cổ phiếu sau một khoảng thời gian được xác định trước Tùy theo lựa chọn của mình và tình hình thị trường mà nhà đầu tư quyết định có chuyển đổi trái phiếu hay không Thông thường, những người nắm giữ trái phiếu thực hiện việc chuyển đổi khi DN đạt kết quả kinh doanh tốt và cổ phiếu tăng giá hoặc có tiềm năng tăng giá mạnh trên thị trường Khi đó nhà đầu tư sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ chênh lệch giá Việc
Trang 10chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu còn phụ thuộc vào giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển
đổi Đây là loại trái phiếu rất được thị trường ưa chuộng và thường được các DN lựa
chọn khi quyết định phát hành TPDN để huy động vốn nợ dài hạn
- Trái phiếu kèm chứng quyền:
Là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ nó được quyền mua kèm một lượng cổ
phiếu nhất định tương ứng với lượng trái phiếu mà họ nắm giữ với một mức giá nhất
định trong một khoảng thời gian xác định Giống như trái phiếu chuyển đổi, quyền mua
kèm này được xác định ngay khi trái phiếu được phát hành
* Căn cứ vào cách xác định lãi suất trái phiếu:
- Trái phiếu có lãi suất ổn định:
Là loại trái phiếu truyền thống được phát hành phổ biến ở tất cả các thị trường
trên thế giới Nó ràng buộc DN phải trả lãi cố định trong suốt thời gian trái phiếu lưu
hành với định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm một lần
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi:
Trái phiếu có lãi suất thả nổi được hiểu là loại trái phiếu mà lãi suất sẽ được điều
chỉnh theo sự biến động của lãi suất thị trường Trong trường hợp lãi suất thị trường có
sự biến động mạnh liên tục, trái phiếu có lãi suất cố định gây ảnh hưởng bất lợi cho
người phát hành khi lãi suất thị trường giảm và cho nhà đầu tư khi lãi suất thị trường
tăng Với loại trái phiếu này, thông thường lãi suất được điều chỉnh định kỳ một năm
hoặc 6 tháng một lần để theo kịp và phản ánh đúng diễn biến của lãi suất thị trường
* Ngoài ra, trên thị trường còn có những loại TPDN khác như: trái phiếu thu
nhập, trái phiếu chiết khấu …
- Trái phiếu thu nhập:
Là loại trái phiếu mà việc thanh toán lợi tức tuỳ thuộc vào mức lợi nhuận mà DN
đạt được hàng năm và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu Loại trái phiếu này
được trả lãi trước thuế trong khi cổ phiếu ưu đãi thì được trả cổ tức sau thuế Thông
thường, đây là loại trái phiếu thường được phát hành khi DN gặp khó khăn về tài chính
hoặc cần huy động vốn cho dự án
- Trái phiếu chiết khấu:
Trái phiếu chiết khấu là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ và giá bán của nó
được căn cứ vào lãi suất thị trường ở thời điểm phát hành, giá này thường thấp hơn mệnh
giá nên còn gọi là giá chiết khấu Tuy nhiên, các trái chủ vẫn được nhận lại vốn gốc bằng với mệnh giá ở thời điểm trái phiếu đáo hạn
1.2.3 Ưu điểm của phương thức tài trợ vốn bằng trái phiếu doanh nghiệp
Nhu cầu về vốn là một trong những nhu cầu được xem là bức xúc nhất hiện nay của
DN, nhằm mục đích huy động vốn để tài trợ cho đầu tư phát triển, mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên cả thị trường quốc tế cũng như thị trường nội địa; đặc biệt sau khi Việt Nam
đã trở thành thành viên chính thức của WTO Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng của thị trường tài chính, các DN ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận với những nguồn vốn tài trợ hơn dưới nhiều hình thức khác nhau, nhu cầu về vốn của DN cơ bản được đáp ứng trên cả phương diện khối lượng, thời hạn cũng như những yêu cầu khác phù hợp với đặc thù của mỗi DN Ngoài khoản lợi nhuận giữ lại, DN có nhiều hình thức để huy động vốn trung và dài hạn như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng, tín dụng thương mại từ nhà cung cấp, thuê tài chính …Mỗi hình thức đều có những ưu và nhược điểm riêng Tùy vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình, các DN có thể lựa chọn phương án huy động vốn phù hợp Tuy nhiên, xét về mặt tổng thể, việc tài trợ bằng TPDN thường có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức tài trợ vốn khác
Thứ nhất, phát hành trái phiếu doanh nghiệp sẽ giúp cho các doanh nghiệp huy động được một lượng vốn lớn với chi phí sử dụng vốn thấp hơn so với vốn cổ phần,
đồng thời giới hạn trách nhiệm của DN đối với các khoản nợ khi phát hành trái phiếu cũng ít bị ràng buộc hơn so với khi phát hành cổ phiếu Chẳng hạn, tại Việt Nam, trong trường hợp tài trợ bằng vốn cổ phần, DN thường cam kết với các cổ đông mức cổ tức vào khoảng 12 – 15%/năm, thậm chí có thể đến mức 20%/năm Để đạt được mức cổ tức như vậy thì lợi nhuận sau thuế của DN phải đạt mức tối thiểu từ 20 – 25% trên vốn chủ
sở hữu, trong khi nếu huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu thì mức lãi suất phải trả cho các trái chủ chỉ vào khoảng 9 – 10%/năm Điều đó xuất phát từ nguyên nhân
là mức độ rủi ro khi đầu tư trái phiếu thường thấp hơn so với cổ phiếu Dù kết quả hoạt động của DN như thế nào thì lợi tức trả cho các trái chủ vẫn được đảm bảo theo đúng định kỳ, trong khi cổ tức thanh toán cho các cổ đông thì lại phụ thuộc vào mức lợi nhuận sau thuế đạt được của DN Trong trường hợp DN lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản, quyền ưu tiên thanh toán các khoản nợ từ việc thanh lý tài sản còn
Trang 11lại của công ty luôn thuộc về các trái chủ, còn các cổ đông với tư cách là chủ sở hữu DN
thì họ có khả năng bị mất một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn đầu tư nếu giá trị tài sản DN
không còn sau khi đã thanh toán hết cho các chủ nợ Mặt khác, việc huy động nguồn vốn
thông qua phát hành trái phiếu có thể giúp DN giảm được chi phí sử dụng vốn do lãi suất
trả cho các trái chủ được tính vào chi phí của DN nên số thuế thu nhập mà DN phải nộp
sẽ được giảm đi, trong khi phần cổ tức thanh toán cho các cổ đông là phần thu nhập còn
lại sau khi DN đã nộp thuế Hay nói cách khác, chi phí sử dụng vốn từ trái phiếu là chi
phí không phải chịu thuế còn chi phí vốn cổ phần là chi phí phải chịu thuế Bên cạnh đó,
TPDN là công cụ huy động vốn có thời hạn nên trách nhiệm của DN đối với các trái chủ
sẽ được chấm dứt khi trái phiếu đáo hạn, còn cổ phiếu thể hiện đặc tính sở hữu DN một
cách lâu dài nên DN phải có trách nhiệm đối với các cổ đông trong suốt thời gian DN tồn
tại
Thứ hai, việc tài trợ bằng trái phiếu doanh nghiệp có thể tránh được tình trạng
pha loãng quyền sở hữu của các cổ đông – là nguyên nhân làm giảm thị giá cổ phiếu,
có thể tạo thêm gánh nặng cho các cổ đông hiện hành Khi phát hành cổ phiếu, sự xuất
hiện của các cổ đông mới có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện hữu, lợi
ích của họ ít nhiều cũng bị chia sẻ Hơn nữa, việc xuất hiện của các cổ đông mới đồng
nghĩa với khả năng kiểm soát DN bị ảnh hưởng do quyền biểu quyết của các cổ đông
tăng lên, trong khi nếu huy động vốn thông qua kênh TPDN thì sẽ hạn chế được tình
trạng này, quyền kiểm soát DN sẽ không bị ảnh hưởng
Thứ ba, phát hành trái phiếu doanh nghiệp tài trợ thường có lợi hơn so với vốn
vay ngân hàng Việc huy động vốn thông qua TPDN sẽ đảm bảo cho DN được sử dụng
nguồn vốn ổn định và dài hạn hơn so với đi vay ngân hàng Nếu các khoản vay ngân
hàng thường là các khoản vay ngắn hạn và bị không chế bởi hạn mức tín dụng thì TPDN
lại rất đa dạng về thời hạn và không bị hạn chế về quy mô, tùy vào sự lựa chọn của các
DN Trong một số trường hợp, thông qua kênh phát hành trái phiếu, DN có thể huy động
được khối lượng vốn lớn một cách dễ dàng nếu có phương án sử dụng vốn hợp lý và khả
thi, đảm bảo được khả năng thanh toán lợi tức và hoàn trả vốn gốc đúng hạn cho các trái
chủ Như vậy, có thể thấy rằng phát hành trái phiếu là hiệu quả hơn trong trường hợp tài
trợ cho vốn dài hạn với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu về vốn của DN cho các mục tiêu
khác nhau, còn vốn vay ngân hàng chỉ thật sự phù hợp cho những khoản vay ngắn hạn và
có quy mô nhỏ Bên cạnh đó, việc tài trợ qua kênh phát hành TPDN cũng có chi phí thấp hơn so với vay vốn ngân hàng, đặc biệt đối với những DN lớn và có danh tiếng trên thị trường Danh tiếng, uy tín thương hiệu, kinh nghiệm hoạt động lâu năm sẽ là những đảm bảo giá trị cho DN trong việc tiếp cận thị trường TPDN với chi phí thấp hơn so với chi phí vốn vay ngân hàng
Thứ tư, phát hành trái phiếu doanh nghiệp đòi hỏi thời gian ít hơn so với đi vay ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếu Nếu thời gian cần thiết để phát hành trái phiếu từ
khâu chuẩn bị đến khi hoàn tất giao dịch chỉ mất bình quân khoảng 8 tuần thì việc đi vay ngân hàng hay phát hành cổ phiếu sẽ phải mất nhiều thời gian hơn từ khâu chuẩn bị cho đến khi xét duyệt hồ sơ Hơn nữa, để vay được vốn từ ngân hàng, các DN phải có báo cáo kế hoạch sử dụng vốn và phương án sản xuất kinh doanh khả thi cụ thể để ngân hàng thẩm định đồng thời phải có tài sản thế chấp cho những khoản vay đó Ngoài ra DN còn phải tuân thủ những quy định do ngân hàng đề ra trong việc sử dụng vốn vay Như vậy khả năng chủ động trong việc vay và sử dụng vốn của DN sẽ bị giảm sút vì phải phụ thuộc vào sự đánh giá của ngân hàng cũng như những quy định do các tổ chức tín dụng
Trang 12trường này Việc phát hành trái phiếu do chính DN thực hiện hay thông qua các tổ chức
tài chính trung gian dước các hình thức: bảo lãnh phát hành, đấu thầu hay đại lý phát
hành Điểm khác biệt cơ bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp ở chỗ trên thị
trường sơ cấp thì các DN thu được tiền từ việc phát hành trái phiếu còn trên thị trường
thứ cấp thì không Bởi vì, thị trường thứ cấp là nơi diễn ra giao dịch mua đi bán lại các
loại TPDN đã được phát hành trên thị trường sơ cấp giữa các tổ chức và nhà đầu tư cá
nhân với nhau Thị trường TPDN sơ cấp và thị trường TPDN thứ cấp có những điểm
khác nhau cơ bản về nội dung và mục đích hoạt động, nhưng giữa hai thị trường này
luôn luôn tồn tại một mối quan hệ vô cùng khăng khít với nhau, trong đó thị trường
TPDN sơ cấp là cơ sở, tiền đề cho thị trường thứ cấp và ngược lại thị trường TPDN thứ
cấp lại là động lực thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển Do vậy để thị trường TPDN
hoạt động bền vững và hiệu quả, nhất thiết cần có sự tồn tại và phát triển song hành của
cả hai thị trường TPDN sơ cấp và thị trường TPDN thứ cấp
1.3.2 Vai trò của việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Xét trong mối tương quan với các bộ phận khác của thị trường tài chính thì thị
trường TPDN giữ một vai trò hết sức quan trọng do nó là một bộ phận cơ bản của thị
trường vốn dài hạn Thị trường TPDN là một kênh chủ yếu để huy động các nguồn vốn
trung và dài hạn cho các DN trong nền kinh tế Vì vậy, sự tạo lập và phát triển thị trường
TPDN có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính nói chung
và thị trường trái phiếu nói riêng
* Đối với nền kinh tế:
Thị trường TPDN với tư cách là một kênh huy động vốn trung và dài hạn, tài trợ
cho hoạt động sản xuất và tái sản xuất mở rộng; có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế TPDN trở thành công cụ tự do hóa nền kinh tế bởi nó có thể
cho phép các chủ thể trong nền kinh tế huy động một cách tự do và trực tiếp nguồn vốn
nhàn rỗi từ trong công chúng để đầu tư phát triển Thị trường TPDN tạo điều kiện cung
cấp cho nền kinh tế nguồn vốn dài hạn cho các nhu cầu đầu tư dài hạn cần thiết, đáp ứng
theo cả hai tiêu chí về thời hạn sử dụng và chi phí sử dụng vốn phù hợp với nhu cầu của
nền kinh tế; từ đó góp phần điều hòa, nâng cao hiệu quả của việc phân phối và tái phân
phối các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, đồng thời giảm sức ép và sự tập trung đối
với hệ thống ngân hàng
* Đối với các doanh nghiệp:
Sự ra đời của thị trường TPDN đã mở ra cho các DN một kênh huy động vốn mới linh hoạt và hiệu quả hơn so với các kênh huy động vốn truyền thống Khi DN có nhu cầu về vốn để đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh thì DN có thể phát hành trái phiếu ra thị trường để huy động vốn Đây là những nguồn vốn được đảm bảo và có khả năng sử dụng dài hạn Các DN không phải chịu sức ép về thời gian hoàn trả vốn vay như khi vay vốn ngân hàng, bởi lẽ vốn vay ngân hàng thông thường là những khoản vay ngắn hạn và có điều kiện trong khi vốn huy động trên thị trường TPDN đều là những khoản vay dài hạn (thường là 5 năm, 10 năm, thậm chí 20 năm)
Mặt khác, trong trường hợp DN có vốn nhàn rỗi và chưa sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì DN hoàn toàn có thể đầu tư vào trái phiếu để tìm kiếm lợi nhuận Với việc nắm giữ những trái phiếu này, DN có thể chuyển chúng thành tiền mặt trên thị trường thứ cấp khi cần thiết
* Đối với nhà đầu tư:
Thị trường TPDN có chức năng chuyển các khoản tiết kiệm thành vốn đầu tư; một mặt huy động nguồn vốn nhàn rỗi tài trợ cho nền kinh tế; mặt khác tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân chưa đủ điều kiện hoạt động kinh doanh có thể đầu tư vốn vào thị trường chứng khoán Nếu như thị trường TPDN mở ra cho các DN một phương thức tài trợ vốn linh hoạt và hiệu quả thì nó cũng tạo cho các nhà đầu tư nhiều cơ hội lựa chọn để
đa dạng hóa các loại tài sản trên danh mục đầu tư của mình Bằng cách mua và nắm giữ những trái phiếu với thời gian đáo hạn rất đa dạng, người đầu tư có thể thu hồi lại số vốn của mình sau một thời hạn 3 năm, 5 năm, 10 năm hay có thể đến 20 năm
1.3.3 Những thành viên của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.3.3.1 Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành trái phiếu là những tổ chức có nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn bằng cách phát hành trái phiếu để bán cho các nhà đầu tư Trên thị trường TPDN, chủ thể phát hành chính là các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, có 3 hình thức tổ chức DN cơ bản: DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần Ngoài ra, ở các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường còn tồn tại các loại hình DN khác như DN nhà nước và hợp tác xã Trong các loại hình DN nêu trên thì công ty cổ phần là chủ thể chiếm vị trí quan trọng nhất Đây là chủ
Trang 13thể tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn trên thị trường chứng khoán thông qua việc phát
hành cổ phiếu và TPDN
1.3.3.2 Chủ thể đầu tư
Chủ thể đầu tư trên thị trường TPDN bao gồm các nhà đầu tư cá nhân và các nhà
đầu tư có tổ chức Nhà đầu tư cá nhân thường là những hộ gia đình, những người có vốn
tiết kiệm nhàn rỗi; thay vì đem gửi khoản tiền này vào ngân hàng thì họ đầu tư vào trái
phiếu để có thể nhận được tiền lãi và các khoản chênh lệch giá khi bán trái phiếu Đối
với các nhà đầu tư có tổ chức, bao gồm các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm,
ngân hàng…; đây là những tổ chức có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm về chứng
khoán Các tổ chức đầu tư sẽ sử dụng số vốn huy động được từ dân chúng để tạo ra lợi
nhuận bằng việc đầu tư vào trái phiếu trên thị trường TPDN
1.3.3.3 Các tổ chức tài chính trung gian
Nếu như đối với thị trường hàng hóa thông thường là nơi mà các hoạt động mua
bán diễn ra một cách trực tiếp thì ở thị trường TPDN thường đòi hỏi phải có những tổ
chức tài chính trung gian – những tổ chức đứng giữa người mua và người bán trái phiếu
* Tổ chức bảo lãnh phát hành:
Là tổ chức đứng ra giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước và sau khi
chào bán trái phiếu như chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành, phân phối trái phiếu…
Thông thường để phát hành trái phiếu thì các DN cần phải được sự bảo lãnh của một
hoặc một số tổ chức bảo lãnh phát hành Các tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh
hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành Phí bảo lãnh
phát hành chính là mức chênh lệch giữa giá bán trái phiếu cho nhà đầu tư và số tiền mà
DN phát hành nhận được Hoạt động bảo lãnh phát hành về cơ bản gồm các hoạt động
sau:
- Nghiên cứu và tư vấn cho các tổ chức phát hành chứng khoán về cách thức phát
hành, cơ cấu phát hành, định giá chứng khoán
- Hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết cho đợt phát hành
- Thỏa thuận hợp tác với các nhà bảo lãnh phát hành khác và các công ty chứng
khoán, thực hiện công tác tiếp thị phân phối chào bán chứng khoán
- Quản lý, phân phối và thanh toán chứng khoán
- Thực hiện công việc hỗ trợ cho thị trường và các dịch vụ sau khi phát hành
* Đại diện người sở hữu trái phiếu:
Đại diện người sở hữu trái phiếu là tổ chức có vai trò rất quan trọng khi phát hành trái phiếu Đây là tổ chức sẽ thay mặt cho những người sở hữu trái phiếu để tiến hành đàm phán các vấn đề liên quan đến quyền lợi của các trái chủ với tổ chức phát hành Đó
là quyền hưởng lãi, quyền được thanh toán vốn gốc khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, quyền giám sát các cam kết về nợ vay của tổ chức phát hành… Trước khi tiến hành một đợt phát hành trái phiếu ra công chúng, các DN phải tìm được một tổ chức đứng ra làm đại diện người sở hữu trái phiếu và ký hợp đồng với tổ chức này Đại diện người sở hữu trái phiếu sẽ được hưởng phí do tổ chức phát hành chi trả tùy theo khối lượng trái phiếu phát hành
* Tổ chức kinh doanh trái phiếu:
Bao gồm các công ty chứng khoán và các tổ chức khác được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật Đây là các tổ chức chủ yếu hoạt động trên thị trường thứ cấp; có chức năng làm trung gian môi giới cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua bán trái phiếu để hưởng phí môi giới và thực hiện các giao dịch mua bán trái phiếu cho chính mình để kiếm lợi nhuận Các tổ chức kinh doanh trái phiếu này còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ khác như tư vấn đầu tư và các dịch vụ có liên quan đến hoạt động giao dịch trái phiếu Các tổ chức kinh doanh trái phiếu đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu trên thị trường
1.3.4 Phương thức phát hành và hình thức giao dịch trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.3.4.1 Phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Phương thức phát hành TPDN là hình thức để DN đưa trái phiếu ra bán cho các nhà đầu tư Thông thường có hai phương thức phát hành phổ biến:
Trang 14* Phát hành riêng lẻ
Phát hành riêng lẻ là phương thức phát hành mà trong đó trái phiếu được bán
trong phạm vi một số người nhất định, thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức với
những điều kiện (khối lượng phát hành) hạn chế và không tiến hành bán một cách rộng
rãi ra công chúng Việc phát hành trái phiếu riêng lẻ thường chịu sự điều chỉnh của Luật
công ty và trái phiếu phát hành như vậy không phải là đối tượng giao dịch tại Sở giao
dịch chứng khoán
* Phát hành ra công chúng
Phát hành ra công chúng là việc phát hành trái phiếu rộng rãi ra công chúng với
quy mô và khối lượng lớn Do phát hành ra công chúng có sự ảnh hưởng đến nhiều đối
tượng nên việc phát hành trái phiếu ra công chúng phải chịu sự chi phối của pháp luật về
chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán cấp
phép Sau khi phát hành trên thị trường sơ cấp, trái phiếu sẽ được giao dịch tại Sở giao
dịch chứng khoán nếu đáp ứng được các quy định của Sở giao dịch chứng khoán Doanh
nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông
tin công khai và chịu sự giám sát riêng theo quy định của pháp luật chứng khoán
1.3.4.2 Các hình thức giao dịch trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp
* Giao dịch trái phiếu trên thị trường tập trung:
Trái phiếu được giao dịch trên thị trường có tổ chức có thể được chuyển sang tiền
mặt một cách dễ dàng Trên thị trường tập trung, kết quả yết giá và giao dịch được công
bố trên hệ thống máy tính, hệ thống này được kết nối với các thành viên và các tổ chức
đầu tư, đồng thời được công bố ra công chúng
Thị trường tập trung có một số chức năng chính như: cung cấp mốc phát hành, lập
đường cong lãi suất và hạn chế phân đoạn thị trường Ngoài ra, thị trường tập trung còn
tạo ra chuẩn mực phát hành, đưa ra chỉ dẫn đáng tin cậy về tỷ lệ lãi suất thị trường trong
một khoảng thời gian đáo hạn nhất định, làm cơ sở cho việc định giá trái phiếu mới phát
hành Bằng việc sử dụng các tỷ lệ lãi suất hình thành trên thị trường chứng khoán tập
trung, DN có thể quyết định và đưa ra tỷ lệ lãi suất phù hợp cho trái phiếu mới phát hành
trên cơ sở tham chiếu tỷ lệ lãi suất trên thị trường thứ cấp tại thời điểm đó Điều này đảm
bảo cho tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp và có tác dụng tăng cầu trái phiếu Mặt
khác, khi các nhà đầu tư giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung thì giá cả của
trái phiếu sẽ được quyết định theo phương pháp cạnh tranh, các nhà đầu tư nhỏ sẽ được bảo vệ, công chúng có thể tin cậy vào tỷ lệ lãi suất trên thị trường Việc giao dịch trên thị trường tập trung còn làm giảm chi phí đặt lệnh của các bên tham gia giao dịch và duy trì cân bằng giá trên thị trường
* Giao dịch trái phiếu trên thị trường phi tập trung (OTC):
Giao dịch trái phiếu trên thị trường phi tập trung (OTC) có vai trò quan trọng không kém gì trên thị trường tập trung Trái phiếu được giao dịch trên thị trường OTC do các nguyên nhân:
- Có quá nhiều trái phiếu được phát hành nên về mặt kỹ thuật không thể niêm yết tất cả trái phiếu trên thị trường tập trung
- Phương pháp giao dịch trái phiếu rất phức tạp không phù hợp với giao dịch trên thị trường tập trung thông thường Vì vậy giao dịch thỏa thuận phổ biến hơn giao dịch cạnh tranh
Thị trường OTC bao gồm đông đảo các nhà môi giới và nhà kinh doanh chứng khoán Các nhà môi giới/giao dịch có thể mua bán trái phiếu với tư cách nhà môi giới của khách hàng (đại lý) hoặc nhà giao dịch (cho chính mình) Khi giao dịch, các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán không gặp nhau mà họ sử dụng máy tính và điện thoại
để thực hiện hoạt động mua bán Các nhà môi giới/giao dịch khi nhận được lệnh từ khách hàng hoặc khi giao dịch cho khách hàng của công ty môi giới sẽ trở thành nhà tạo lập thị trường và đặt mức giá hiện tại cho tất cả các chứng khoán OTC dưới hình thức của nhiều nguồn thông tin, chẳng hạn như hệ thống truyền thông điện tử và thông báo ra công chúng hàng ngày Dù vậy, đối với tất cả các nhà giao dịch trái phiếu thì nguồn thông tin tốt nhất chính là các mối quan hệ của họ trong hoạt động kinh doanh với nhau
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.3.5.1 Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi hoạt động của nền kinh
tế, đặc biệt là đối với thị trường tài chính Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái… có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình hoạch định chiến lược phát triển của hệ thống tài chính nói chung và thị trường TPDN nói riêng Ngược lại, những chính sách tiền tệ lại có sự tác động đáng kể đối với
Trang 15quá trình điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô Để đảm bảo cho thị trường tài chính nói
chung và thị trường TPDN nói riêng phát triển lành mạnh, Chính phủ phải không ngừng
duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định với những chính sách quản lý tài chính – tiền tệ
thật sự hợp lý và hiệu quả, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư đồng thời khuyến khích họ
gắn bó thường xuyên và mật thiết cùng với thị trường
1.3.5.2 Khung pháp lý và hệ thống quản lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Để thị trường TPDN hoạt động và phát triển bền vững, yêu cầu đặt ra là cần phải có
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý nhà nước để cùng nhau ban hành một
khung pháp lý thật sự hoàn chỉnh, đồng bộ và thống nhất, tạo hành lang pháp lý an toàn
cho các chủ thể tham gia thị trường Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh thị trường TPDN cũng phải được sửa đổi và bổ sung thường xuyên nhằm kịp thời
tháo gỡ những vướng mắc và khó khăn, tạo điều kiện hỗ trợ tối đa cho thị trường trong
từng giai đoạn phát triển
Tương tự như khung pháp lý, hệ thống quản lý cũng là một nhân tố có vai trò không
kém phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển của thị trường TPDN Để khuyến
khích và thúc đẩy thị trường TPDN phát triển một cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể đầu tư cũng như các chủ thể khác trên thị
trường, nhất thiết phải có một hệ thống quản lý, giám sát thật chặt chẽ và đầy đủ dưới
nhiều hình thức quản lý khác nhau nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi
vi phạm thị trường, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp xử lý thích đáng đủ sức phòng
ngừa và răn đe, đảm bảo cho các giao dịch trên thị trường luôn diễn ra một cách công
bằng, cạnh tranh và minh bạch
1.3.5.3 Gây dựng lòng tin cho công chúng đầu tư đối với thị trường
Lòng tin của công chúng đầu tư là một trong những yếu tố có khả năng ảnh hưởng
lớn đến sự tồn tại và phát triển của thị trường TPDN Vì vậy để thị trường TPDN hoạt
động thuận lợi, minh bạch và hiệu quả; cần có những chính sách gây dựng được lòng tin
của các nhà đầu tư đối với thị trường, giảm thiểu những rủi ro mà thị trường có thể mang
lại cho các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch trên thị trường TPDN Để làm được điều
đó, về phía DN khi quyết định phát hành trái phiếu ra thị trường cần xây dựng kế hoạch
và phương án sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo có thể thực hiện tốt và đúng hạn những
nghĩa vụ tài chính đã cam kết với nhà đầu tư.Về phía nhà nước, cần có những chính sách
khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường TPDN Việt Nam; đồng thời tạo điều kiện thông thoáng để các nhà đầu tư có thể chuyển lợi nhuận ra nước ngoài một cách thuận lợi phù hợp theo thông lệ quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức WTO
1.3.5.4 Phát triển thị trường sơ cấp
Như đã biết, thị trường sơ cấp là thị trường giao dịch lần đầu các trái phiếu do DN phát hành Trên thị trường sơ cấp, vốn của các nhà đầu tư được chuyển giao cho các DN khi các nhà đầu tư quyết định đầu tư vào trái phiếu Thị trường sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng,
đó là chức năng huy động vốn cho các DN và là tiền đề cho hoạt động của thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của thị trường TPDN với những ưu điểm vượt trội so với những phương thức huy động vốn khác như chi phí sử dụng vốn thấp hơn, khả năng chủ động cao hơn và khối lượng vốn huy động được cũng lớn và đa dạng hơn Do đó, để tạo động lực thúc đẩy thị trường TPDN phát triển, cần khuyến khích DN đa dạng hóa hình thức phát hành với nhiều loại hình trái phiếu khác nhau như trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu được quyền mua lại trước hạn, trái phiếu chuyển đổi phát hành ra quốc tế… Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần bảo lãnh cho các DN nhà nước đủ điều kiện phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để tăng khả năng thu hút vốn trên thị trường Đồng thời cần khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức bảo lãnh phát hành đưa TPDN ra phát hành, niêm yết và giao dịch trên thị trường ngoài nước
1.3.5.5 Phát triển thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi thực hiện giao dịch, mua bán TPDN đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Khác với thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp dù không giữ vai trò trực tiếp trong việc huy động vốn nhưng lại là động lực thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển vì nó tạo ra tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành Do vậy thị trường thứ cấp cũng có sự ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển của thị trường TPDN Về phía DN, việc phát triển thị trường thứ cấp sẽ giúp cho quá trình phát hành trái phiếu diễn ra dễ dàng, từ đó tiết kiệm được chi phí huy động vốn cũng như chi phí phát hành Về phía nhà đầu tư, nếu thị trường thứ cấp phát triển sẽ thu hút được sự tham gia của các nhà đầu tư vào thị trường TPDN do tính thanh khoản của trái phiếu
Trang 16luôn được đảm bảo Để nâng cao khả năng thanh khoản cho trái phiếu, nhất thiết phải
xây dựng và phát triển thị trường thứ cấp tương xứng và phù hợp với thị trường phát
hành, ứng dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại, tiên tiến vào hệ thống giao dịch, thông
tin thị trường Mặt khác, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch trái phiếu, cần phải
phát triển thị trường phi tập trung (OTC) cho tất cả các tổ chức, cá nhân có nhu cầu giao
dịch với nhiều hình thức khác nhau một cách dễ dàng và thuận lợi
1.3.5.6 Xây dựng hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ
Trên thị trường TPDN, đặc biệt là thị trường thứ cấp, để mọi giao dịch và thanh
toán diễn ra một cách nhanh chóng, chính xác và linh hoạt, đòi hỏi cần có sự kết nối
thành một hệ thống giữa các thành viên trên Sở giao dịch chứng khoán với nhau Trong
quá trình hình thành và phát triển thị trường TPDN không thể thiếu vắng vai trò của hệ
thống đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ Với quy mô thị trường và khối lượng giao
dịch ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức một hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh
toán bù trừ thật tốt; có chức năng tổng hợp, quản lý và thanh toán cho cả chứng khoán
lẫn tiền mặt, như thế việc theo dõi và giám sát các giao dịch trái phiếu sẽ được diễn ra
một cách dễ dàng, thuận lợi và tập trung hơn
1.3.6 Rủi ro khi đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, TPDN được đánh giá là có mức rủi ro thấp hơn so với cổ
phiếu Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, TPDN vẫn có thể mang đến cho nhà đầu tư
một số rủi ro khi đầu tư trên thị trường TPDN
* Rủi ro lãi suất:
Giá của TPDN luôn thay đổi theo hướng ngược lại với lãi suất thị trường Khi lãi
suất thị trường tăng thì giá trái phiếu giảm và ngược lại khi lãi suất thị trường giảm thì
giá trái phiếu tăng Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro chính mà nhà đầu tư có thể
gánh chịu khi đầu tư vào TPDN
* Rủi ro tái đầu tư:
Giả định rằng các dòng tiền nhận được từ trái phiếu được tái đầu tư, thu nhập từ
những hoạt động tái đầu tư được gọi là lãi trên lãi và phụ thuộc vào mức lãi suất thị
trường tại thời điểm tái đầu tư cũng như vào chiến lược tái đầu tư Đó là rủi ro khi lãi
suất tái đầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống Rủi ro này sẽ lớn hơn đối với những
thời kỳ nắm giữ dài hơn Rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có những hiệu ứng triệt tiêu
nhau Khả năng thay đổi tỷ lệ tái đầu tư theo một chiến lược do những thay đổi lãi suất trên thị trường được gọi là rủi ro tái đầu tư
* Rủi ro thanh toán:
Rủi ro thanh toán còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải khi DN phát hành trái phiếu mất khả năng thanh toán đúng hạn vốn gốc và lãi đã cam kết với nhà đầu tư Nếu như trái phiếu chính phủ được xem là không có rủi ro thanh toán thì đối với TPDN đây là loại rủi ro rất đáng lo ngại Rủi ro TPDN gắn liền với hệ số tín nhiệm DN và được đánh giá bởi các công ty xếp hạng tín nhiệm
* Rủi ro lạm phát:
Rủi ro lạm phát còn gọi là rủi ro sức mua, phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền mà trái phiếu mang lại Lạm phát càng cao thì lãi suất thực của trái phiếu càng giảm, do đó rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu càng cao Tuy nhiên, rủi ro lạm phát có thể thấp hơn trong trường hợp đầu tư vào trái phiếu có lãi suất thả nổi do lãi suất của trái phiếu thả nổi có khuynh hướng tăng theo sự gia tăng của lạm phát
* Rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản là rủi ro về khả năng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt trong trường hợp cần thiết Rủi ro thanh khoản phụ thuộc vào mức chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán trái phiếu Nếu mức chênh lệch này càng lớn thì rủi ro thanh khoản của trái phiếu càng cao và ngược lại Tuy vậy, rủi ro thanh khoản sẽ không đáng ngại khi nhà đầu tư có ý định nắm giữ trái phiếu cho đến ngày đáo hạn
* Rủi ro tỷ giá:
Nếu nhà đầu tư khi mua trái phiếu có mệnh giá bằng ngoại tệ nhưng đến khi đáo hạn lại được thanh toán bằng nội tệ thì có thể gặp rủi ro trong trường hợp đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ Điều đó phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái trên thị trường vào thời điểm thanh toán Rủi ro này được gọi là rủi ro về tỷ giá
1.4 Khảo sát thị trường trái phiếu doanh nghiệp của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Cùng với quá trình xây dựng và phát triển thị trường TPDN Việt Nam, bên cạnh việc phân tích và đánh giá thực trạng tình hình thị trường trong nước thì vấn đề nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc phát triển thị trường TPDN là hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 171.4.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số quốc gia
* Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ:
Thị trường TPDN Mỹ đã trở thành thị trường phát hành phi chính phủ lớn nhất
thế giới kể từ những năm 1920 Đa số các DN đều áp dụng phương thức phát hành
TPDN để huy động vốn, chủ yếu là các trái phiếu có thời gian đáo hạn từ 2 năm đến 50
năm Thị trường TPDN Mỹ là thị trường phi tập trung giữa các nhà kinh doanh và công
chúng Ngày nay, thị trường TPDN là một trong những khu vực lớn nhất trên thị trường
trái phiếu Mỹ theo cả hai phương diện về số lượng DN phát hành cũng như về giá trị trái
phiếu đang lưu hành
Trên thị trường TPDN Mỹ có một khu vực thị trường đặc biệt dành cho các công ty
nước ngoài phát hành trái phiếu bằng USD gọi là thị trường trái phiếu Yankee Trái
phiếu Yankee có các đặc điểm tương tự như TPDN trong nước, trừ đặc điểm về tổ chức
phát hành và thuế Nhà đầu tư nước ngoài được miễn nộp thuế cho phần lãi của trái
phiếu Yankee, trái phiếu Yankee trở thành trái phiếu duy nhất ở Mỹ mà nhà đầu tư nước
ngoài có thể mua mà không bị đánh thuế
Thị trường thứ cấp cho TPDN ở Mỹ gồm hai loại: Sở giao dịch chứng khoán và thị
trường OTC Trên thị trường OTC thường diễn ra các giao dịch TPDN với khối lượng
lớn giữa các nhà đầu tư có tổ chức và nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp Đặc biệt, thị
trường DN không quy định về việc công bố thông tin ra công chúng về các giao dịch
thực hiện cũng như giá đặt mua và đặt bán như là trên thị trường trái phiếu chính phủ
Mỹ
* Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Nhật Bản:
Giữ vai trò quan trọng trên thị trường TPDN ở Nhật là Bond Floatation
Committee (Kisaika) gồm 43 tổ chức có nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn cho việc phát
hành trái phiếu, giám sát kỳ hạn và tổng giá trị trái phiếu phát hành, kiểm soát các đợt
phát hành ra công chúng để tránh tình trạng thao túng thị trường
Hệ thống định mức tín nhiệm TPDN ở Nhật chính thức ra đời vào năm 1977
Ngoài những tổ chức định mức tín nhiệm lớn của nước ngoài như Moody’s và Standard
& Poor’s, nhiều tổ chức định mức tín nhiệm lớn ở Nhật đã được thành lập nhưng chỉ có
công ty Mikuni là tổ chức định mức tín nhiệm độc lập Trước năm 1983, các công ty
Nhật xem việc phát hành trái phiếu chuyển đổi ra nước ngoài là một kênh huy động vốn
rất hấp dẫn Từ năm 1983 đến nay, do việc nới lỏng các quy định về phát hành trái phiếu chuyển đổi cùng với xu thế giảm lãi suất trên thị trường trong nước, các công ty Nhật lại chuyển sang phát hành trái phiếu chuyển đổi trên thị trường nội địa
Trong những năm 1990, lãi suất ngân hàng ở Nhật đã giảm xuống rất thấp và đạt mức kỷ lục là 0,5% vào tháng 9/1995 Điều này khiến cho các nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức rút vốn ra khỏi ngân hàng và chuyển sang đầu tư vào thị trường trái phiếu Hầu hết các đợt phát hành TPDN đều có lãi suất cố định với thời hạn từ 3 – 5 năm Đối với các nhà đầu tư muốn có lãi suất coupon cao hơn, một số công ty hàng đầu (như Tepco, NTT) còn kéo dài thời hạn trái phiếu lên 10 – 20 năm Tổng giá trị TPDN
đã phát hành trên thị trường trái phiếu Nhật đạt 6,95 ngàn tỷ yên vào năm 1995 và 10 ngàn tỷ yên vào năm 1996 Khối lượng TPDN lưu hành trên thị trường trái phiếu Nhật Bản đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây và đạt 773,97 tỷ USD vào năm 2007,
trong khi con số này ở năm 2005 là 743,87 tỷ USD và năm 2006 là 706,93 tỷ USD (theo Asia Bond Monitor 2008)
* Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Trung Quốc:
Trung Quốc bắt đầu phát hành trái phiếu xây dựng vào những năm 1950, nhưng phải đến năm 1981 khi Trung Quốc bắt đầu thời kỳ cải cách và mở cửa nền kinh tế thì chính phủ mới bắt đầu chủ trương xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu Cùng với
sự xuất hiện của trái phiếu kho bạc tài trợ cho thâm hụt ngân sách trong giai đoạn 1981 –
1985 là việc phát hành trái phiếu của các DN địa phương vào năm 1982 và trái phiếu ngắn hạn của các DN nhà nước vào năm 1986, góp phần nâng cao tỷ trọng của trái phiếu lên hơn 90% lượng giao dịch Đặc biệt từ khi Trung Quốc ban hành “Quy chế tạm thời
về việc phát hành trái phiếu công ty” vào ngày 27/3/1987 thì việc phát hành TPDN được quản lý thống nhất, do vậy số lượng trái phiếu phát hành ngày càng tăng Tổng giá trị trái phiếu phát hành năm 1981 là 48,7 triệu nhân dân tệ (NDT), năm 1985 là 65,5 triệu NDT, đến năm 1994 đạt 113,3 tỷ NDT và hiện nay tổng giá trị TPDN phát hành lên tới hàng ngàn tỷ NDT mỗi năm
Việc phát hành TPDN ở Trung Quốc bị kiểm soát chặt chẽ hơn sau khi Trung Quốc ban hành “Các quy định hành chính đối với TPDN” vào năm 1993 Cho đến năm
1996, TPDN Trung Quốc được đánh giá là có tính thanh khoản thấp Số lượng TPDN niêm yết trên Sở giao dịch Thượng Hải và Thẩm Quyến rất ít và không được giao dịch
Trang 18thường xuyên (đến năm 1996 chỉ có 5 TPDN được niêm yết tại Sở giao dịch Thượng Hải
và 1 TPDN được niêm yết tại Sở giao dịch Thẩm Quyến) Trước tình trạng đó, chính phủ
Trung Quốc đã tiến hành những cải cách nhằm vực dậy thị trường TPDN như: định giá
TPDN căn cứ vào TPCP, nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu, xây dựng các tổ chức
định mức tín nhiệm, quy định các DN muốn niêm yết trái phiếu trên Sở giao dịch thì
phải thõa mãn một số điều kiện nhất định; chẳng hạn, DN phát hành từ 1 tỷ NDT trở lên
thì phải có định mức tín nhiệm AAA Nhờ vậy số lượng DN phát hành trái phiếu ra thị
trường gia tăng đáng kể, TPDN phát hành không chỉ được niêm yết tại Sở giao dịch
chứng khoán mà còn có thể được giao dịch trên cả thị trường OTC Hiện nay, tỷ lệ dư nợ
TPDN Trung Quốc bằng 35% thị trường và chiếm 19% GDP Quy mô thị trường TPDN
Trung Quốc cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian gần đây, thể hiện qua sự
gia tăng liên tục của giá trị trái phiếu phát hành trên thị trường Nếu như giá trị TPDN
phát hành trên thị trường trong hai năm 2005, 2006 lần lượt là 64,07 tỷ USD và 105,55
tỷ USD thì con số này ở năm 2007 đã đạt 156,71 tỷ USD, tăng 144,59% so với năm
2005 và tăng 48,47% so với năm 2006 (theo Asia Bond Monitor 2008)
* Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc:
Thị trường trái phiếu Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai ở Châu Á sau thị trường
trái phiếu Nhật Bản Tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành trên thị trường tính đến cuối
năm 2007 đã đạt 1.313,81 tỷ USD Trước năm 1997, thị trường trái phiếu Hàn Quốc vẫn
còn nhiều bất cập Sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á 1997, Hàn Quốc đã
tiến hành một số biện pháp cải tổ nhằm phục hồi và phát triển thị trường trái phiếu quốc
gia nói chung và thị trường TPDN nói riêng
Trái phiếu doanh nghiệp đầu tiên được phát hành vào năm 1963 Khi đó chính phủ
Hàn Quốc nhận thấy nhu cầu cần phải phát triển thị trường vốn với vai trò là kênh huy
động vốn trong nước và Luật khuyến khích thị trường vốn năm 1968 đã được ban hành
nhằm hỗ trợ cho việc phát triển thị trường trái phiếu Vào những năm 1970, Chính phủ
Hàn Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp để tạo môi trường thuận lợi cho việc phát hành
TPDN, đáng chú ý nhất là hệ thống đảm bảo cho TPDN và một số cải cách về hệ thống
thuế Cùng với việc thành lập Hệ thống tín thác đầu tư chứng khoán và hệ thống bảo lãnh
phát hành, thị trường TPDN Hàn Quốc bắt đầu được hình thành Vào những năm 1980,
chính phủ đã bãi bỏ giới hạn về phát hành TPDN đảm bảo, ban hành hợp đồng mua lại,
cho phép áp dụng chế độ tự quản khi phát hành TPDN và cho phép phát hành tín phiếu
có lãi suất thả nổi Các biện pháp này có tác dụng kiểm soát khối lượng phát hành trên thị trường TPDN so với toàn bộ thị trường trái phiếu Hàn Quốc Trên cơ sở đó, TPDN dài hạn với lãi suất thả nổi đã được phát hành từ năm 1980 và các giao dịch trái phiếu theo hợp đồng mua lại xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1984 Trên thị trường TPDN Hàn Quốc, trái phiếu bảo đảm chiếm một tỷ trọng lớn và thường được coi là mức chuẩn cho toàn bộ thị trường trái phiếu Lợi suất TPDN kỳ hạn 3 năm được lấy làm mức chuẩn, mức chuẩn này duy trì ở mức 13% cho đến năm 1987, sau đó bắt đầu tăng do lạm phát
và sự bùng nổ trên thị trường bất động sản trong nước Trong suốt thời kỳ tín dụng bất
ổn vào cuối năm 1991, lợi suất TPDN kỳ hạn 3 năm này tăng lên tới 19,56% và đến tháng 3/1993 giảm xuống còn 11% do nhu cầu vay vốn của các DN giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế mạnh Đến năm 1994, chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nên lợi suất trái phiếu đã tăng lên mức từ 13 – 14% Vào thời kỳ 1989 – 1994, trong 5 loại trái phiếu lưu hành trên thị trường trái phiếu Hàn Quốc (TPCP, TPCQĐP, TPDN nhà nước, trái phiếu ngân hàng trung ương và TPDN) thì TPDN chiếm tỷ trọng lớn nhất
là 38% với tổng giá trị là 126,87 tỷ Won (tương đương với 157 tỷ USD)
Có thể thấy rằng cho đến trước năm 1997, thị trường TPDN Hàn Quốc không theo nguyên tắc thị trường, vai trò và sự ảnh hưởng của nó trong hệ thống tài chính Hàn Quốc vẫn còn rất mờ nhạt Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á năm 1997, chính phủ Hàn Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường trái phiếu và đã đề ra nhiều giải pháp tích cực để vực dậy thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng Thị trường trái phiếu chính phủ đã có những thay đổi căn bản, trái phiếu chính phủ 3 năm được phát hành theo mô hình trái phiếu chính phủ Mỹ để xác định lãi suất tham chiếu cho toàn thị trường Quy trình phát hành trái phiếu cũng được thay đổi nhằm tăng tính minh bạch của thị trường hơn Cơ chế phát hành theo tỷ giá định trước được thay thế bằng cơ chế xác định giá theo cung cầu thị trường, hệ thống đấu giá điện tử được thiết lập nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho thị trường trái phiếu Hệ thống định mức tín nhiệm được hình thành theo quy chuẩn và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị trường TPDN Hàn Quốc Với những giải pháp tích cực và mang tính đột phá như trên, thị trường TPDN Hàn Quốc
đã có những chuyển biến rất rõ nét, TPDN đã thực sự trở thành một trong những công cụ
Trang 19huy động vốn trung dài hạn quan trọng và hiệu quả cho các DN khi có nhu cầu tài trợ
vốn Cơ cấu thị trường trái phiếu Hàn Quốc trong năm 2006 đã có sự thay đổi đáng kể so
với thời kỳ trước khủng hoảng tài chính năm 1997, trong đó TPDN chiếm tỷ trọng là
15,13%, TPCP chiếm tỷ trọng 31,61%, trái phiếu bình ổn tiền tệ chiếm tỷ trọng 19,69%,
trái phiếu do các định chế tài chính phát hành chiếm tỷ trọng 20,52%, trái phiếu đặc biệt
và TPCQĐP chiếm tỷ trọng 13,06% toàn thị trường
Bảng 1.1: Cơ cấu các loại trái phiếu lưu hành ở Hàn Quốc (nghìn tỷ KRW)
Trái phiếu chính phủ 23,3 41,6 71,2 90,2 170,5
Trái phiếu bình ổn tiền tệ 30,0 45,7 66,4 83,9 142,5
Trái phiếu doanh nghiệp 61,3 122,7 143,1 162,7 131,0
Trái phiếu tài chính 28,9 48,5 73,0 104,4 115,7
Trái phiếu khác 28,8 86,2 86,6 139,9 116,4
Nguồn: Bank of Korea, Financial Supervisory Service
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Có thể thấy rằng, đối với Việt Nam từ trước đến nay, việc huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi tài trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế chủ yếu thông qua hệ thống ngân
hàng Ngân hàng đã trở thành kênh tài trợ vốn truyền thống cho hoạt động đầu tư phát
triển của các DN Đây là một thực tế không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn phổ biến ở
hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là ở một số nước trong khu vực Tuy nhiên,
sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á cách đây hơn 10 năm đã chỉ ra rằng nền
kinh tế không nên quá lệ thuộc và đặt gánh nặng vào hệ thống ngân hàng Việc lệ thuộc
vào hệ thống ngân hàng sẽ gây ra những thiệt hại và rủi ro khôn lường cho cả hệ thống
ngân hàng và thị trường tài chính quốc gia khi nền kinh tế xuất hiện một số trục trặc và
bất ổn từ trong hệ thống tài chính Hậu quả rõ nhất của tình trạng này là sẽ tạo ra hiện
tượng “sai lệch kép”, đó là sai lệch về kỳ hạn và sai lệch đồng tiền Bởi vì hầu hết các
khoản vay của ngân hàng đều là ngắn hạn thì không thể sử dụng để cung cấp cho các nhu
cầu đầu tư dài hạn, đồng thời việc sử dụng quá nhiều nguồn tiền từ nước ngoài để cho
vay trong nước có thể gây ra những rủi ro cho hệ thống ngân hàng khi có những biến
động về tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối Trước khủng hoảng, nhiều nước Châu
Á đã quá phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng khi khu vực này cung cấp đến 80% nợ tài chính, còn thị trường trái phiếu chỉ chiếm khoảng 20%, trong khi con số này ở Nhật, Úc vào khoảng 30 – 40% và ở Mỹ là trên 60% Sau khủng hoảng, các nước Châu Á nhận ra rằng cần phải có một thị trường vốn phong phú và đa dạng hơn để đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ quốc gia Một trong những giải pháp quan trọng là phải phát triển toàn diện thị trường trái phiếu nhằm hỗ trợ tốt hơn cho nhu cầu vốn đầu tư dài hạn của nền kinh tế Với những nỗ lực cải cách và tái tổ chức hệ thống tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, cải thiện chính sách vĩ mô… các nước Châu
Á đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ trong việc phát triển thị trường TPDN Trong khi đó, mặc dù thị trường trái phiếu Việt Nam, đặc biệt là TPDN đã có sự phát triển mạnh mẽ trong vài năm trở lại đây, song vẫn chưa đủ đảm bảo cho sự phát triển vững chắc và sự an toàn của thị trường tài chính Do đó, việc rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm tránh lặp lại những sai lầm từ các nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia Châu Á; đồng thời làm cơ sở để phát triển thị trường TPDN trở thành một kênh huy động vốn dài hạn hữu hiệu, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vững chắc trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng – thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong tương lai là việc làm hết sức ý nghĩa và cần thiết đối với Việt Nam trong thời điểm hiện nay Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển thị trường TPDN như sau:
Một là, minh bạch hóa chính sách vĩ mô và ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
phát trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát Kiềm chế lạm phát là điều kiện tiên quyết để thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả
Hai là, sự phát triển của thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói
riêng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc gia Vai trò
và sự chi phối của thị trường TPDN sẽ ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như của cả hệ thống tài chính
Ba là, thị trường TPDN có thể thay thế một phần và giảm sức ép cho thị trường vốn
vay ngân hàng Vì vậy, sự phát triển của thị trường TPDN phải được thực hiện cùng với việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng trong sự phát triển đồng bộ của hệ thống tài chính
Trang 20Bốn là, phát triển thị trường trái phiếu chính phủ là nền tảng để phát triển thị trường
TPDN Để giảm chi phí giao dịch thì cần phải chuẩn hóa các loại TPCP về mệnh giá, kỳ
hạn, lãi suất, điều khoản trái phiếu và phát hành một cách đều đặn theo một cơ chế thống
nhất, lịch biểu rõ ràng trên cơ sở đấu giá công khai thông qua hệ thống giao dịch điện tử
Hơn nữa, cùng với việc quản lý và tách bạch được giao dịch mua bán lại (repo) và giao
dịch mua đứt bán đoạn sẽ tạo điều kiện để thị trường trái phiếu có thể xây dựng được
đường cong lãi suất chuẩn làm cơ sở cho việc phát hành/giao dịch TPDN cũng như cổ
phiếu và các công cụ phái sinh khác
Năm là, lãi suất tham chiếu giữ vai trò quan trọng trong việc xác lập giá cả thị
trường TPDN Để có lãi suất tham chiếu phản ánh đúng quy luật thị trường, chính phủ
cần bãi bỏ các phương pháp xác định lãi suất áp đặt và không tuân theo quy luật thị
trường (như việc quy định mức lãi suất trần) Cần phải xác định lãi suất thông qua quan
hệ cung cầu trên cơ sở đấu giá công khai
Sáu là, để TPDN có thể phát hành thành công, cần lưu ý vai trò của các nhà kinh
doanh trái phiếu sơ cấp Bên cạnh đó, để tăng cường tính thanh khoản cho trái phiếu đã
phát hành trên thị trường sơ cấp thì phải chú trọng phát triển hệ thống các nhà tạo lập thị
trường Cần đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu tập trung, nâng cao hiệu quả hoạt
động của thị trường trái phiếu chuyên biệt
Bảy là, minh bạch hóa hệ thống thông tin và công bố thông tin để nâng cao hình
ảnh và uy tín của DN; tăng cường niềm tin cho các nhà đầu tư đối với thị trường TPDN,
khuyến khích họ gắn bó tích cực, thường xuyên và lâu dài cùng với thị trường
Tám là, hình thành và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm làm cơ sở để đánh
giá rủi ro tín dụng và xác định lãi suất yêu cầu đối với từng loại trái phiếu có mức rủi ro
tín dụng khác nhau
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thị trường TPDN là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời trong sự phát triển của thị trường vốn và hệ thống tài chính quốc gia Việc hình thành và phát triển thị trường TPDN sẽ mang lại nhiều lợi ích trên nhiều phương diện đối với nền kinh tế, đối với DN và cho cả nhà đầu tư Với những ưu thế vượt trội so với các hình thức huy động vốn khác (vay nợ ngân hàng, phát hành cổ phiếu), TPDN thực sự trở thành một kênh tài trợ vốn tích cực và hiệu quả, là sự lựa chọn hấp dẫn và mang lại nhiều lợi ích cho các
DN nói riêng và nền kinh tế nói chung Bên cạnh đó, việc khảo sát thị trường TPDN ở một số quốc gia đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm tránh lặp lại những sai lầm từ các nước đi trước trong việc phát triển thị trường TPDN là việc làm hết sức cần thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Việc nghiên cứu kinh nghiệm và tham khảo những bài học rút ra từ các quốc gia này là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường TPDN tại Việt Nam sẽ được tác giả
đề cập trong Chương 3
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Khái quát quá trình phát triển doanh nghiệp Việt Nam
Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước chính thức được khởi xướng từ Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới
tư duy và cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, Việt Nam đã
đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực phát
triển kinh tế đất nước Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng cao và ổn
định với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1990 – 2008 đạt 7,55% (xem Bảng
2.1), được xếp vào nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người
của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2008
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tăng trưởng
bình quân Tốc độ tăng
trưởng (%) 5,10 9,54 6,79 6,84 7,04 7,24 7,69 8,43 8,17 8,48 6,23 7,55%
GDP/người
(USD) 105 288 391 413 440 492 552 636 723 835 1030 13,6%
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả
Với những thành quả đã đạt được trong phát triển kinh tế, đời sống của người dân
cũng không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt Nếu năm 1990, GDP trên đầu
người của Việt Nam chỉ khoảng trên 100 USD thì đến năm 2007 GDP/ người đã đạt 835
USD, tăng hơn 8 lần Năm 2008, GDP trên đầu người ước tính đạt khoảng 1.030
USD/người Với mức thu nhập này, năm 2008 đánh dấu mốc phát triển của nền kinh tế
Việt Nam lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo (nhóm nước có thu nhập thấp)
theo cách phân loại của Ngân hàng thế giới Bên cạnh đó, chính sách đổi mới cũng đã
đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của khối ASEAN, tham gia khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA) và APEC, thực hiện hiệu quả Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ thì một cột mốc rất đáng ghi nhớ, đánh dấu quá trình hội nhập ngày càng toàn diện của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế toàn cầu, đó là sự kiện Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006 sau nhiều năm nỗ lực đàm phán
Góp phần vào việc tạo nên những thành quả chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới, không thể không nói tới vai trò và sự đóng góp của cộng đồng DN Việt Nam trong nền kinh tế Đây được xem là lực lượng chủ đạo và giữ vai trò then chốt trong việc tạo nên sức mạnh nội tại và sự tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế quốc dân Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và triển khai Luật doanh nghiệp đi vào thực tế cuộc sống, cộng đồng DN Việt Nam đã có sự phát triển lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng và ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội đất nước Theo kết quả điều tra thực trạng DN năm 2006 của Tổng cục thống
kê, tính đến ngày 31/12/2005, số DN thực tế đang hoạt động trên cả nước là 113.352
DN, tăng 23,54% so với 31/12/2004 và gấp 2,7 lần so với năm 2000 Bình quân của thời
kỳ 2001 – 2005, số DN thực tế hoạt động tăng 28%, tức khoảng 14.213 DN Xu hướng gia tăng này tiếp tục được giữ vững và đạt 131.318 DN vào cuối năm 2006, tăng 15,85%
so với thời điểm cuối năm 2005 (xem bảng 2.2) Mức đóng góp của DN vào nền kinh tế
ngày càng tăng, riêng năm 2005 đóng góp tới 53% GDP của cả nước Đầu tư của DN năm 2005 cũng chiếm tới 55% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và đã góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp cho nền kinh tế Nếu như trong năm 2003, các DN đã giải quyết được việc làm cho 517 ngàn lao động thì con số này ở năm 2004 là 595 ngàn và năm 2005 là 473 ngàn lao động
Bảng 2.2 Số lượng DN đang hoạt động vào 31/12 hàng năm
Số lượng DN 72.012 91.756 113.352 131.318 189.548 315.000 Tốc độ tăng (giảm) 27,42% 23,54% 15,85% 44,34% 66,18%
Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ Kế hoạch & đầu tư
Trang 22Theo số liệu từ Cục phát triển DN – Bộ kế hoạch & đầu tư, tính đến thời điểm cuối
năm 2008, cả nước có khoảng 350.000 được thành lập với tổng số vốn đăng ký khoảng
1.500 ngàn tỷ đồng, trong đó DN vừa và nhỏ chiếm 96,5% tổng số DN đã đăng ký kinh
doanh, đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, thu hút khoảng 50% tổng số lao động
và chiếm 17,46% tổng số nộp ngân sách Nếu loại trừ số DN đã giải thể và bị thu hồi
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (khoảng 35.000 DN) thì số DN hiện đang hoạt
động trên cả nước vào khoảng 315.000 DN Như vậy, tỷ lệ DN tồn tại và hoạt động sau
17 năm (tính từ năm 1991 đến nay) là 82,5% Riêng trong năm 2008, cả nước có khoảng
65.800 DN đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký ước đạt 484,2 ngàn tỷ đồng,
bằng 113% về số lượng và 107,79% về số vốn đăng ký so với năm 2007 Trung bình
trong năm 2008, mỗi tháng có khoảng 5.484 DN thành lập mới trong khi con số này ở
năm 2007 là 4.321 DN Về mặt chính sách, mục tiêu phát triển DN đến năm 2010 đạt
500.000 DN làm ăn có hiệu quả, trong đó DN nhỏ và vừa chiếm khoảng 90% cũng đã
được Chính phủ phê duyệt trong Chiến lược quốc gia về phát triển DN Để có thể thực
hiện hiệu quả mục tiêu đạt 500.000 DN vào năm 2010, kế hoạch phát triển DN nhỏ và
vừa 5 năm (2006 – 2010) cũng đã chính thức được triển khai trên tất cả các tỉnh, thành
trong cả nước theo Quyết định số 236/2006/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ Kế
hoạch đã xác định rõ quan điểm phát triển DN nhỏ và vừa với những mục tiêu tổng quát
như: đẩy nhanh tốc độ phát triển DN nhỏ và vừa, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các DN nhỏ và vừa đóng góp ngày càng nhiều
vào sự tăng trưởng của nền kinh tế …
Mặc dù só sự tăng trưởng rất ấn tượng về mặt số lượng và đóng góp ngày càng tích
cưc vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng như vào ngân sách, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập cá nhân, góp phần đáng kể trong việc huy động nguồn lực đầu tư để phát triển
kinh tế - xã hội đất nước… nhưng về mặt tổng thể, DN Việt Nam vẫn được đánh giá là
có quy mô nhỏ (xem bảng 2.3), vốn ít, năng lực cạnh tranh yếu, công nghệ còn lạc hậu,
kinh nghiệm thương trường chưa nhiều, trình độ quản trị DN và sự am hiểu về hệ thống
luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, một số không ít DN vẫn còn tâm
lý ỷ lại và trông chờ vào sự ưu đãi, bao cấp của nhà nước (nhất là các DN quốc doanh)
Sự yếu kém và hạn chế trong việc minh hóa thông tin tài chính cũng là một rào cản
không nhỏ đối với các DN trong việc tiếp cận các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài và trên thị trường tài chính
Bảng 2.3 Quy mô vốn của DN tại thời điểm 31/12/2006
Trang 23kênh huy động vốn quan trọng này Đối với các DN lớn, cũng cần đẩy nhanh quá trình
cổ phần hóa, huy động thêm nguồn vốn từ xã hội để nâng cao chất lượng nguồn vốn Có
thể khẳng định năm 2009 là thời điểm khó khăn, một bộ phận DN có thể bị đào thải phải
ngừng sản xuất hoặc chuyển hướng kinh doanh Tuy nhiên, đây sẽ là thời điểm để thử
thách, khẳng định bản lĩnh DN và xét về tổng thể sẽ làm cho cơ cấu DN hợp lý hơn, giúp
nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế một cách lâu dài và bền vững
2.2 Thực trạng thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu Việt Nam
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ
chế thị trường được phản ánh khá rõ nét qua diễn biến của quá trình chuyển đổi trong
lĩnh vực tài chính Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng thị trường
tài chính với cơ cấu ngày càng hoàn thiện Hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính,
trong đó có thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu đã đóng góp một phần không
nhỏ cho công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng mở cửa và
hội nhập Thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu giữ một vai trò đặc biệt trong
việc phân bổ hữu hiệu các nguồn vốn trong nền kinh tế Phát triển lành mạnh thị trường
chứng khoán và thị trường trái phiếu là một nhân tố quan trọng nhằm đảm bảo ổn định vĩ
mô, tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế, nhất là trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.1 Thị trường chứng khoán
Chính thức ra đời và đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đến nay đã được hơn 8 năm,
thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có những bước phát triển cả về quy mô lẫn
chất lượng So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tuy còn non trẻ nhưng TTCK
Việt Nam bước đầu đã góp phần hình thành một mô hình thị trường vốn tương đối toàn
diện, tạo lập và vận hành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Đồng thời
khẳng định rõ được vị thế và vai trò là kênh huy động vốn quan trọng cho các DN đại
chúng cũng như hỗ trợ hiệu quả cho hệ thống ngân hàng trong việc cân đối tổng thể
Điều đó đã được khẳng định với tổng vốn hóa trên thị trường đến nay đã chiếm khoảng
trên 25% GDP, bình quân lượng vốn giao dịch một ngày khoảng trên 600 tỷ đồng đối với
cổ phiếu Trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khoảng 25 – 27% Tuy nhiên, từ cuối
năm 2007, đặc biệt là từ đầu năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn
biến phức tạp, một số nền kinh tế lớn đang lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo
những tác động tiêu cực làm cho thị trường chứng khoán sụt giảm Trong nước, dưới sức
ép lạm phát, đặc biệt là giá nguyên liệu đầu vào tăng trong khi lãi suất cho vay vẫn ở mức cao tác động đến chi phí sản xuất và lợi nhuận của các công ty niêm yết Trong 9 tháng đầu năm, hoạt động của các công ty chứng khoán rất khó khăn do dịch vụ tư vấn phát hành, cổ phần hóa và niêm yết giảm sút dẫn đến việc một số công ty bị thua lỗ lớn
và có khả năng dẫn đến nguy cơ phá sản, sáp nhập trong thời gian tới Trong khi đó, hoạt động của các tổ chức tín dụng, nhập khẩu hàng hóa, tỷ giá và giá vàng vẫn còn chứa đựng các yếu tố bất lợi có thể tác động gián tiếp đến giá cổ phiếu, giá trị giao dịch trên thị trường Các yếu tố đó đã có tác động không nhỏ đến yếu tố tâm lý của nhà đầu tư khiến TTCK Việt Nam không tránh khỏi sự mất điểm Nằm ngoài dự đoán của tất cả các chuyên gia và nhà đầu tư, TTCK Việt Nam năm 2008 đã giảm giá ở mức độ kinh hoàng nhất trong lịch sử hình thành và phát triển kể từ tháng 7/2000 Chỉ số chứng khoán của
cả hai sàn TP HCM và Hà Nội liên tục mất điểm, kéo theo khối lượng và giá trị giao dịch giảm thấp Nếu như khởi đầu năm 2008, chỉ số VN – Index đạt 927,02 điểm (ngày 02/01/2008) thì đến khi kết thúc phiên giao dịch cuối cùng vào ngày 31/12/2008, chỉ số
VN – Index đã giảm 65,9% giá trị, tương đương 611,4 điểm so với mức điểm của phiên giao dịch cuối năm 2007 và còn 315, 62 điểm, trong đó ngày 10/12/2008 VN – Index xác lập chỉ số thấp nhất trong năm là 286,85 điểm Đây là mức mất điểm kỷ lục của chỉ số
VN – Index kể từ khi TTCK Việt Nam đi vào hoạt động và được đánh giá là mức giảm điểm mạnh nhất trên thế giới Cùng với xu thế đó, HaSTC – Index cũng đã mất đi 217,22 điểm (giảm 67,39%) sau 248 phiên giao dịch của năm 2008, tại phiên đóng cửa ngày 31/12/2008 chỉ số này chỉ còn 105,12 điểm Như vậy trong năm 2008, chỉ số giá chứng khoán VN – Index đã bị mất gần 70% giá trị so với năm 2007 Giá trị vốn hóa thị trường
từ mức 30 tỷ USD vào cuối năm 2007 chỉ còn 13 tỷ USD vào cuối năm 2008, tương đương 17% GDP, giảm nhiều so với mức vốn hóa 40% GDP năm 2007 Mức vốn huy động qua TTCK trong năm 2008 ước tính khoảng 25 ngàn tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với năm 2007 là 127 ngàn tỷ đồng Trong 10 tháng đầu năm 2008, có 27 đợt IPO, trong
đó có 24 đợt bán đấu giá cổ phần hóa với tổng số vốn huy động hơn 6.500 tỷ đồng Cũng trong năm 2008, có thêm 76 công ty niêm yết trên TTCK, nâng tổng số lên gần 330 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 19% GDP Trong năm 2008, có thêm 13 công ty quản lý quỹ được cấp phép, nâng tổng số lên
Trang 2441 công ty quản lý quỹ Bên cạnh đó cũng có thêm 5 quỹ đầu tư chứng khoán với tổng số
vốn điều lệ gần 2.000 tỷ đồng …
Hình 2.1: Chỉ số VN – Index năm 2008
(Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán TP HCM)
Mặc dù vậy, để TTCK phát triển ổn định và bền vững, ngày càng đóng góp hiệu
quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội thì việc quản lý điều hành các cơ chế chính sách tài
chính tiền tệ của nhà nước một cách đồng bộ là rất quan trọng trong thời điểm hiện nay
Do vậy trong thời gian tới, nhiệm vụ trọng tâm chiến lược của Chính phủ là phải xác lập
phạm vi quản lý nhà nước đối với TTCK thông qua biện pháp phát triển nhanh, mạnh, có
tổ chức và thu hẹp phạm vi thị trường tự do, coi trọng việc mở rộng quy mô là ưu tiên
hàng đầu Một mặt, sử dụng hiệu quả và nâng cấp thị trường TP HCM và Hà Nội xứng
tầm để thúc đẩy và phát triển DN niêm yết Mặt khác, nhà nước cần có những giải pháp
mạnh, dùng quyền biểu quyết tại các DN nhà nước nắm giữ trên 51% cổ phần để buộc
các DN này lên sàn Đây sẽ là đòn bẩy thúc đẩy thị trường phát triển mạnh mẽ trong thời
gian tới Bên cạnh đó, cần có sự đánh giá lại chiến lược phát triển dài hạn TTCK Việt
Nam và tạo điều kiện để từ đó đẩy mạnh lộ trình phát triển của TTCK Việt Nam mà chủ
yếu là hai thị trường TP HCM và Hà Nội Tuy nhiên trong thời gian tới, các nhu cầu về
thị trường mới như thị trường tương lai, thị trường quyền chọn, thị trường hàng hóa …
sẽ phát triển, vì vậy cần phải có sự đầu tư quy hoạch để chủ động phát triển thị trường
một cách nhanh chóng và phù hợp theo đúng định hướng mà Chính phủ đã đề ra
2.2.2 Thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu ở Việt Nam bao gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp (bao gồm cả trái phiếu ngân hàng thương mại), chứng chỉ tiền gửi và các chứng khoán nợ có giá trị khác Cho đến nay, thị trường trái phiếu Việt Nam được đánh giá là vẫn còn trong giai đoạn đầu của sự phát triển Trong các loại trái phiếu đã được phát hành và giao dịch tại Việt Nam thì trái phiếu chính phủ chiếm ưu thế trên thị trường với 84,54% thị phần, nhưng hoạt động vẫn còn manh mún, kém hiệu quả và chịu ảnh hưởng lớn bởi chính sách áp chế tài chính của chính phủ So với các nước trong khu vực, thị trường trái phiếu Việt Nam có cấu trúc và được tổ chức khá đơn giản, nhỏ về quy mô, nghèo nàn về sản phẩm, kém về thanh khoản, thiếu tổ chức định mức tín nhiệm và hoạt động thiếu chuyên nghiệp cả về cơ chế xác định lãi suất thị trường lẫn cơ chế xác định giá trái phiếu cạnh tranh Năm 2005, thị trường trái phiếu Việt Nam chiếm tỷ trọng chỉ có 0,18% tổng trái phiếu phát hành trên thị trường các nước mới nổi ở Đông Á Năm 2007, giao dịch trên thị trường trái phiếu Việt Nam tăng 98,11%, mức tăng cao nhất so với mức trung bình 21,1% của các nước mới nổi ở Đông Á Tuy nhiên, tỷ trọng thị trường trái phiếu Việt Nam so với các nước mới nổi khác cũng chỉ được nâng lên và đạt 0,27% Trong hai năm 2006 và 2007, thị trường trái phiếu DN Việt Nam có sự tăng trưởng vuợt bậc với tốc độ tăng tương ứng là 306,16% và 251,33% đã đưa tỷ trọng thị trường TPDN của Việt Nam từ 2,48% lên mức 15,46% toàn thị trường trái phiếu, vượt cả Trung Quốc và Philippine Khối lượng giao dịch trong năm 2008 đạt 1992,4 triệu trái phiếu (cả TPCP và TPDN) với tổng giá trị 189.108,4 tỷ đồng, gấp 2,427 lần so với tổng giá trị giao dịch trái phiếu của cả năm 2007; giao dịch bình quân phiên đạt 762,5 tỷ đồng Về quy mô, Việt Nam hiện có thị trường trái phiếu khiêm tốn nhất khu vực, tỷ trọng thị trường trái phiếu trong GDP vẫn ở mức thấp, chỉ chiếm 13,72% so với tỷ lệ trung bình 63,13% của các nước mới nổi ở Đông Á Giá trị trái phiếu đang lưu hành cũng ở mức thấp; tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành năm 2007 chỉ là 9,79 tỷ USD (tương đương 160.000 tỷ VND), trong đó TPCP đạt khoảng 8,28 tỷ USD, chỉ bằng 6% so với Thái Lan và 11% so với Indonesia; TPDN đạt giá trị 1,51 tỷ USD, chiếm khoảng 15,46% dung lượng toàn thị trường, thấp hơn so
với bình quân các nước mới nổi tại Đông Á (27,51%) (Phụ lục 1 & 2)
Trang 25Việt Nam T rung Quốc Nhật Bản Hàn Quốc T hái Lan Singapore
Hình 2.2: Tỷ trọng thị trường trái phiếu trên GDP của Việt Nam
so với các nước khu vực Đông Á (Nguồn: Asia Bond Monitor 2008)
Hiện nay, về cơ bản hệ thống cơ chế chính sách đối với hoạt động thị trường trái
phiếu đã được ban hành tương đối đầy đủ, bao quát hầu hết các hoạt động phát hành và
giao dịch trái phiếu, tạo nền tảng cần thiết để khuyến khích, thúc đẩy, đa dạng hóa các
hình thức huy động vốn trung dài hạn thông qua phát hành trái phiếu phục vụ cho các
nhu cầu đầu tư Về mặt tổ chức thị trường, các hoạt động phát hành và giao dịch của thị
trường trái phiếu đã được quy tụ về một đầu mối nhằm hình thành một thị trường có tính
tập trung và chuyên môn hóa cao, tạo thuận lợi nhất cho việc phát triển thị trường Đến
thời điểm trước ngày 02/6/2008, trái phiếu chính phủ được giao dịch chủ yếu tại HASTC
(148 loại) và tại HOSE (409 loại) Theo quyết định 352/QĐ-UBCK, kể từ ngày
02/6/2008 trái phiếu chính phủ niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM được
chuyển ra niêm yết và giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà
Nội, các giao dịch phát hành và niêm yết trái phiếu mới được tập trung thực hiện trên
TTGDCK Hà Nội, từng bước hình thành sàn giao dịch thống nhất cho việc phát hành (thị
trường sơ cấp) cũng như giao dịch (thị trường thứ cấp) đối với trái phiếu Kể từ khi chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 02/6/2008, thị trường trái phiếu chuyên biệt đã thể hiện rõ
tầm quan trọng của mình với khối lượng và giá trị giao dịch luôn chiếm từ 50% tổng
giao dịch của HASTC trở lên Tính đến ngày 31/12/2008, trên thị trường trái phiếu niêm
yết, khối lượng đã gia tăng đáng kể với 275 mã trái phiếu chuyển niêm yết từ Sở giao
dịch chứng khoán TP HCM (HOSE), nâng tổng số mã trái phiếu giao dịch trên HASTC
lên 527 mã trái phiếu với tổng giá trị niêm yết gần 162.539,3 tỷ đồng, đạt trên 11% GDP
Về mặt điều hành thị trường, năm 2008 thị trường trái phiếu có nhiều biến động Lãi suất TPCP tiếp tục được điều hành linh hoạt, theo sát diễn biến thực tế của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường vốn, từng bước phối hợp nhịp nhàng với điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và làm cơ sở cho các hoạt động huy động vốn trong giai đoạn hiện nay
2.3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
2.3.1 Cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Sự hình thành và phát triển thị trường TPDN Việt Nam gắn liền với những thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến thị trường trái phiếu nói chung và thị trường thị trường TPDN nói riêng Thời gian qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành hành loạt các văn bản nhằm từng bước xây dựng khuôn khổ pháp lý cho sự hình thành và phát triển thị trường TPDN
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến việc phát hành và giao dịch các loại trái phiếu đã được ban hành từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với các quy định về phát
hành trái phiếu của công ty cổ phần trong Luật Công ty 1990 Thế nhưng trên thực tế chưa có DN nào phát hành TPDN theo luật này Năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 120/CP ngày 17/9/1994 kèm theo quy chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ
phiếu DNNN ra thị trường thì thị trường TPDN mới chính thức được hình thành Quy chế này hướng dẫn các vấn đề có liên quan đến việc phát hành, mua bán, chuyển nhượng, các hình thức thanh toán, lãi suất trái phiếu và các vấn đề khác có liên quan Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng văn bản này vào trong thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế như: phương thức phát hành chưa phù hợp với thông lệ chung của thị trường trái phiếu (chưa quy định việc phát hành theo phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành, chưa gắn việc phát hành với niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung); chưa bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch về thông tin khi phát hành TPDN Ngoài ra, Nghị định này đưa ra những quy định về điều hành lãi suất còn mang nặng tính hành chính, làm giảm tính chủ động của DN và chưa thực sự gắn với thị trường Điều kiện phát hành quá chặt chẽ, không khuyến khích DN thực hiện huy động vốn trên thị trường như phải có lãi 3 năm trước khi phát hành, trái phiếu bắt buộc phải có
Trang 26tổ chức bảo lãnh thanh toán Vì vậy, việc phát hành TPDN để huy động vốn cho các DN
theo Nghị định này vẫn còn rất hạn chế và chưa phổ biến Cùng với Nghị định 120/CP,
trong năm 2004, Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) cũng đã ban hành Quyết
định 212/QĐ/NH1 ngày 22/9/1994 về thể lệ phát hành trái phiếu Ngân hàng thương
mại, Ngân hàng đầu tư và hướng dẫn việc phát hành trái phiếu của các tổ chức tín dụng
Để chuẩn bị cho sự ra đời của Thị trường chứng khoán (TTCK) ở nước ta, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và TTCK
Nội dung của Nghị định này hướng dẫn về việc phát hành chứng khoán ra công chúng,
giao dịch chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và TTCK
Năm 1999, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 10 đã thông qua Luật Doanh nghiệp
vào ngày 12/6/1999 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000) để thay thế cho Luật Công ty 1990
Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999 thì việc phát hành trái phiếu ra thị trường của
các DN đã chính thức được điều chỉnh theo Luật này thay cho Luật Công ty 1990
Năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003
về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm thay thế cho Nghị định
48/1998/NĐ-CP, trong đó điều chỉnh sâu hơn việc phát hành TPDN ra công chúng, các điều kiện
niêm yết TPDN cũng như TPCP tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, Nghị
định này vẫn còn một số bất cập và hạn chế nhất định Nghị định 144/2003/NĐ-CP đặt
ra yêu cầu và các tiêu chuẩn của thị trường chứng khoán khi DN phát hành trái phiếu ra
công chúng như điều kiện tài chính của tổ chức phát hành, công bố thông tin … trong
khi về phương diện DN thì Luật Doanh nghiệp chưa có hướng dẫn về vấn đề này, dẫn
đến các DN thường rất lúng túng trong quá trình chuẩn bị và thực hiện phát hành huy
động vốn Phạm vi điều chỉnh của Nghị định 144/2003/NĐ-CP chỉ quy định việc phát
hành trái phiếu ra công chúng (có từ 50 nhà đầu tư tham gia trở lên, được bảo lãnh phát
hành) Như vậy, toàn bộ hoạt động phát hành TPDN theo hình thức riêng lẻ (cho dưới 50
nhà đầu tư) của Công ty cổ phần, Công ty TNHH, DN có vốn đầu tư nước ngoài cho đến
thời điểm năm 2003 vẫn chưa có khung pháp lý điều chỉnh
Năm 2004, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 75/2004/TT-BTC ngày
23/7/2004 về phát hành TPDN ra công chúng Theo đó, các DN khi phát hành trái phiếu
ra công chúng để huy động vốn phải đăng ký với UBCKNN Điều kiện để được phát
hành trái phiếu bao gồm: có vốn điều lệ tối thiểu 10 tỷ đồng; hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi, lợi nhuận sau thuế liền trước năm đăng ký là số dương và không lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký phát hành; có tổ chức bảo lãnh phát hành
Để xử lý những tồn tại trong quy định về phát hành TPDN, nhất là về phương diện
phát hành TPDN riêng lẻ, trong năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 về việc phát hành TPDN thay thế cho Nghị định
120/CP ngày 17/9/1994 Nghị định 52/2006/NĐ-CP có hiệu lực chính thức từ ngày 01/7/2006 đã mở ra một bước ngoặc mới cho sự phát triển của thị trường TPDN Theo
đó, chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các DNNN như trước đây mà còn có các công ty TNHH, công ty CP và DN có vốn đầu tư nước ngoài với một nguyên tắc chung
là các DN tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm và công khai minh bạch thông tin Với Nghị định này, DN chỉ cần có thời gian hoạt động tối thiểu 1 năm kể từ ngày chính thức hoạt động; có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm liền kề năm phát hành phải có lãi và có phương án phát hành trái phiếu được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua là có thể triển khai việc phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển Với những quy định khá thông thoáng, Nghị định 52/2006/NĐ-CP không chỉ tạo điều kiện cho DN huy động vốn ngoài thị trường, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, giảm áp lực cho các NHTM mà còn làm tăng tính thanh khoản của TPDN do Nghị định này yêu cầu các
tổ chức phát hành phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư nên khuyến khích các nhà đầu tư xem việc đầu tư vào TPDN như là một kênh đầu tư an toàn, hấp dẫn và có hiệu quả
Cùng với Nghị định 52/2006/NĐ-CP, một văn bản quy phạm pháp luật khác cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của thị trường TPDN đã được ban
hành trong năm 2006, đó chính là Luật Chứng khoán Luật Chứng khoán đã được Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ 9 – Quốc hội khóa XI và có
Trang 27Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và Nghị định 52/2006/NĐ-CP đều đã có những
quy định khá cởi mở nhằm tạo thuận lợi cho DN phát hành trái phiếu để huy động vốn,
tạo hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham
gia trên thị trường, góp phần thúc đẩy TTCK nói chung và thị trường trái phiếu doanh
nghiệp nói riêng phát triển một cách lành mạnh, ổn định, minh bạch và hiệu quả hơn
2.3.2 Thực trạng quá trình phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của thị trường TPDN Việt Nam gắn liền với các mốc
thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến thị trường
trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng Có thể xem xét quá trình hình thành
và phát triển của thị trường TPDN Việt Nam qua 2 giai đoạn: giai đoạn từ năm 1994 –
2006 và giai đoạn từ năm 2006 đến nay
* Giai đoạn từ năm 1994 – 2006:
Mốc thời gian khởi đầu cho sự hình thành của thị trường TPDN ở Việt Nam gắn
với sự ra đời của Nghị định 120/CP của Chính phủ về phát hành cổ phiếu, trái phiếu
DNNN vào ngày 17/9/1994 Tuy nhiên trên thực tế số lượng các DN huy động vốn qua
phát hành trái phiếu còn rất ít, điều này cho thấy kênh huy động vốn qua phát hành trái
phiếu còn rất hạn chế và quá mới mẻ đối với DN Trong khoảng thời gian này, kênh cấp
vốn cho DN chủ yếu là thông qua tín dụng – ngân hàng hoặc ngân sách nhà nước, hoạt
động huy động vốn trực tiếp trên thị trường hầu như chưa phát triển Các tổ chức phát
hành trong giai đoạn này chủ yếu là các tổ chức tín dụng và rất ít DN phát hành trái
phiếu
Công ty xi măng Hoàng Thạch và Nhà máy xi măng Anh Sơn là hai đơn vị đi tiên
phong trong việc thực hiện Nghị định 120/1994/NĐ-CP Trong năm 1994, Công ty xi
măng Hoàng Thạch đã phát hành 44,45 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 4 năm, Nhà máy xi
măng Anh Sơn phát hành 7,7 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm và 5 năm Năm 1997, đề
án phát hành trái phiếu của Công ty thép Miền Nam được Bộ Tài chính phê duyệt với
khối lượng huy động dự kiến là 9,2 tỷ đồng, thời hạn trái phiếu từ 25 – 30 năm, lãi suất
công bố hàng năm và được tính toán dựa trên kết quả kinh doanh của DN Đối tượng
mua trái phiếu này chủ yếu là CBCNV của công ty Cùng với trái phiếu của những công
ty trên, còn có một khối lượng đáng kể trái phiếu của các tổ chức tín dụng cũng đã được
phát hành theo Quyết định 212/QĐ/NH1 ngày 22/9/1994 của Thống đốc NHNN về việc
ban hành thể lệ phát hành trái phiếu NHTM, Ngân hàng đầu tư và hướng dẫn việc phát hành trái phiếu của các tổ chức tín dụng Từ năm 1998 đến nay, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã liên tục tổ chức các đợt phát hành trái phiếu có kỳ hạn từ 1 – 5 năm Các đợt phát hành đều đạt kết quả cao, huy động được một lượng vốn dài hạn lớn, đáp ứng được nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển Lãi suất qua các đợt phát hành cũng được điều chỉnh sát với lãi suất thị trường để hấp dẫn các nhà đầu tư Khi Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM đi vào hoạt động, trái phiếu của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chính thức được niêm yết tại trung tâm này
Theo Luật Công ty được ban hành năm 1990, các công ty cổ phần được phép phát hành trái phiếu để huy động vốn Khi Luật Doanh nghiệp ra đời vào năm 1999 thay thế cho Luật Công ty cũng có đề cập đến quy định này, tuy nhiên vẫn có rất ít DN vận dụng
để huy động vốn Công ty cổ phần cơ điện lạnh REE đã phát hành trái phiếu chuyển đổi ngày 01/7/1996 với tổng mệnh giá 5 triệu USD lãi suất 4,5%, tiền lãi được thanh toán cuối kỳ vào ngày 31/12/1996, 31/12/1997 và 01/5/1998 Trái phiếu REE được chuyển đổi thành cổ phiếu vào năm 1998 theo hệ số chuyển đổi đã được xác định trước khi phát hành Năm 2001, Công ty cổ phần công nghệ thông tin (EIS) cũng đã phát hành trái phiếu chuyển đổi với tổng mệnh giá 10 tỷ đồng, thời hạn 3 năm, lãi suất 8%/năm và được chuyển đổi vào năm 2004 với hệ số chuyển đổi được xác định trước Tính đến thời điểm cuối năm 2004, cả nước có thêm một số công ty thực hiện phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn như: Công ty tài chính dầu khí (PVFC) phát hành 300 tỷ đồng (2003), Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) phát hành 300 tỷ đồng (2003), Tổng công ty xi măng phát hành 200 tỷ đồng (2003), Công ty tài chính tàu thủy phát hành 50 tỷ đồng (2004), Công ty tài chính cao su phát hành 300 tỷ đồng (2004) Năm
2005, Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) phát hành trái phiếu với tổng mệnh giá là 1.000 tỷ đồng, Tổng công ty điện lực Việt Nam và Tổng công ty Sông
Đà phát hành trái phiếu với cùng tổng giá trị là 200 tỷ đồng Cũng trong năm 2005, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã tổ chức đấu giá phát hành thành công 1.375 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi trong thời gian 7 năm Kết thúc giai đoạn này, Công ty tài chính dầu khí (PVFC) đã trở thành đơn vị “khóa sổ” Nghị định 120/CP trong tháng 6/2006 với tổng giá trị trái phiếu phát hành ra thị trường đạt 700 tỷ đồng
Trang 28Bên cạnh đĩ, trong giai đoạn này, việc phát hành trái phiếu quốc tế để huy động
vốn nước ngồi cũng đã được cụ thể hĩa trong Nghị định 23/CP của Chính phủ ban hành
năm 1994, song trên thực tế chưa cĩ NHTM quốc doanh hay DNNN nào phát hành trái
phiếu theo Nghị định này Nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam cĩ định mức tín nhiệm
rất thấp trên thị trường vốn quốc tế nên mức bù rủi ro đối với trái phiếu Việt Nam rất
cao, dẫn đến chi phí cho việc phát hành cao, vượt quá khả năng chịu đựng của các DN
trong nước
Như vậy cĩ thể thấy rằng, trong giai đoạn 1994 – 2006, dù Nhà nước đã ban hành
những quy định tạo điều kiện cho các DN phát hành trái phiếu để huy động vốn nhưng
trên thực tế phương thức này vẫn chưa được các DN quan tâm và vận dụng một cách phổ
biến, giá trị vốn huy động thơng qua trái phiếu trong giai đoạn này vẫn cịn quá ít so với
nhu cầu và tiềm lực của các DN Thị trường TPDN trong giai đoạn này chỉ mới ở mức
khởi đầu và cịn rất sơ khai Tổng giá trị TPDN lưu hành trên thị trường trong năm 2005
chỉ đạt 110 triệu USD, chiếm tỷ trọng 2,48% tồn thị trường và 0,2% GDP Tuy nhiên,
sự ra đời của thị trường TPDN trong giai đoạn này cĩ ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bước
đầu mở ra và giúp các DN làm quen với một kênh huy động vốn mới với nhiều tiện ích,
là tiền đề để từng bước hồn thiện và phát triển thị trường vốn nĩi chung và thị trường
TPDN nĩi riêng trong những giai đoạn tiếp theo
* Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:
Ngày 19/5/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát hành
TPDN đã mở ra một bước ngoặc mới cho sự phát triển của thị trường TPDN Việt Nam
Chủ thể phát hành trái phiếu được mở rộng hơn, khơng chỉ cĩ DNNN như trước đây mà
cịn cĩ Cơng ty TNHH, Cơng ty cổ phần và DN cĩ vốn đầu tư nước ngồi tham gia Điều
kiện để phát hành TPDN: thời gian hoạt động của DN tối thiểu là 1 năm, năm liền trước
năm phát hành phải kinh doanh cĩ lãi và báo cáo tài chính phải được kiểm tốn Ngay cả
nguyên tắc phát hành cũng thơng thống hơn rất nhiều; các DN cĩ quyền tự vay, tự trả,
tự chịu trách nhiệm và cơng khai minh bạch thơng tin Điều này cũng cĩ nghĩa là nhà
nước khơng cịn can thiệp quá sâu vào việc phát hành trái phiếu của các DN
Nếu như trong giai đoạn trước năm 2006, thị trường TPDN Việt Nam chỉ mới ở
thời kỳ bắt đầu hình thành với quy mơ thị trường nhỏ và khơng đáng kể thì trong giai
đoạn từ năm 2006 đến nay, với sự ra đời của Nghị định 52/2006/NĐ-CP về việc cho
phép DN phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ, thị trường TPDN Việt Nam đã cĩ những bước phát triển vuợt bậc Khối lượng TPDN lưu hành trên thị trường trong năm
2007 đạt giá trị 1,51 tỷ USD trong khi con số này ở hai năm 2005 và 2006 lần lượt là 0,11 tỷ USD và 0,43 tỷ USD Như vậy, tốc độ tăng trưởng của thị trường TPDN trong năm 2006 đạt 306,16% và năm 2007 là 251,33% Đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng
và là mức tăng trưởng cao nhất trong số các nước mới nổi ở khu vực Đơng Á (mức tăng trưởng bình quân của thị trường TPDN ở khu vực Đơng Á trong hai năm 2006, 2007 chỉ
là 17,62% và 20,34%) Với mức tăng trưởng ấn tượng này đã đưa tỷ trọng của thị trường TPDN Việt Nam từ 2,48% trong năm 2005 lên mức 15,46% tồn thị trường trái phiếu trong năm 2007 Bên cạnh đĩ, quy mơ của thị trường TPDN trong giai đoạn này cũng đã được gia tăng và cải thiện đáng kể so với những năm trước đĩ Nếu như trong năm 2005,
tỷ trọng của thị trường TPDN trên GDP chỉ đạt 0,2% thì sang năm 2006 con số này đã tăng lên 0,71%, xu hướng gia tăng này tiếp tục được phát huy và đến năm 2007, tỷ trọng
của thị trường TPDN trên GDP đã đạt 2,12% (xem Phụ lục 1 & 2) Năm 2008, kinh tế
Việt Nam gặp nhiều khĩ khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính tồn cầu cũng như do những khĩ khăn từ trong nội tại của nền kinh tế nên thị trường TPDN cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thì thị trường TPDN Việt Nam vẫn cĩ tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất vào Quý 4/2008 và cũng phát triển nhanh hơn các nước khác nếu tính trong cả năm 2008
0,43 0,11
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Giá trị (tỷ USD) Tỷ trọng (%)
Hình 2.3: Giá trị và tỷ trọng thị trường TPDN Việt Nam năm 2005 – 2007
(Nguồn: Asia Bond Monitor 2008)
Trang 29Trong vòng 2 năm trở lại đây, thị trường TPDN đã có những thay đổi rất đáng ghi
nhận và việc phát hành trái phiếu đang trở thành sự lựa chọn hấp dẫn cho DN để huy
động vốn tài trợ dự án và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây thực sự là kênh
huy động vốn hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích cho DN Đa số các tổng công ty nhà
nước, các tập đoàn kinh tế; đặc biệt, những DN có dự án và công trình với quy mô lớn
nhưng lại không có khả năng tìm được vốn ngắn hạn do những hạn chế trong quy định
cấp vốn cho vay của ngành ngân hàng thì nay đã thấy được tính ưu việt trong việc huy
động vốn thông qua phát hành trái phiếu nên đã tham gia tích cực vào thị trường này
Nếu như trước năm 2006, việc phát hành TPDN chỉ diễn ra lác đác ở một vài DNNN thì
đến năm 2006, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển đột biến trên thị trường TPDN khi
hàng loạt DN phát hành trái phiếu với quy mô lớn Tổng giá trị trái phiếu phát hành
trong năm 2006 lên đến khoảng 22.000 tỷ đồng (bao gồm cả trái phiếu của các NHTM),
trong đó EVN là 6.000 tỷ đồng, Vinashin là 2.600 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Đà là 260
tỷ đồng, Công ty tài chính dầu khí (PVFC) là 365 tỷ đồng, Công ty CP đầu tư hạ tầng kỹ
thuật TP HCM (CII) huy động được 131,5 tỷ đồng, Công ty CP May Nhà Bè (36 tỷ
đồng) …Bên cạnh các DN trên, trong năm 2006, một số tổ chức tín dụng cũng đã tiến
hành huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu với quy mô lớn như: Ngân hàng Đầu
tư – phát triển Việt Nam BIDV (5.000 tỷ đồng), Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển
nông thôn Việt Nam (5.000 tỷ đồng), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu
Long – MHB (1.500 tỷ đồng), Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – SCB (1.000 tỷ
đồng), Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội – MB (220 tỷ đồng)…
Trong năm 2007, thị trường TPDN Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh mẽ cả
về số lượng DN lẫn giá trị trái phiếu phát hành Số lượng DN đã tiến hành huy động vốn
thông qua kênh phát hành trái phiếu trong năm 2007 là khoảng 27 DN (bao gồm cả các
NHTM) với tổng giá trị vốn huy động được vào khoảng 36.000 tỷ đồng Trong số này có
một số DN đã phát hành trái phiếu với quy mô khá lớn như: Vinashin (8.000 tỷ đồng),
Công ty tài chính dầu khí PVFC (1.000 tỷ đồng), Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây
dựng Vinaconex (1.000 tỷ đồng), Tập đoàn công nghiệp than & khoáng sản Việt Nam –
Vinacomin (1.500 tỷ đồng), Lilama (1.500 tỷ đồng), Tổng công ty thương mại Sài Gòn –
Satra (1.000 tỷ đồng), BIDV (3.000 tỷ đồng), Ngân hàng TMCP Sài Gòn SCB (1.400
đồng), Ngân hàng TMCP Á Châu (4.170 tỷ đồng), Techcombank (1.750 tỷ đồng)…
Đáng chú ý là trong đó đã xuất hiện một số gương mặt mới như: Công ty CP Vincom (1.000 tỷ đồng), Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam – VEC (400 tỷ đồng), Công ty CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín – Sacomreal (1.000 tỷ đồng), Công ty CP thủy hải sản Minh Phú (500 tỷ đồng)…
Mặc dù trong năm 2008, thị trường tài chính nói chung và thị trường trái phiếu Việt Nam nói riêng không tránh khỏi ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính thế giới nhưng xét trên tổng thể thì thị trường TPDN Việt Nam vẫn có những bước phát triển nhất định Trong năm 2008, đã có một số DN lựa chọn giải pháp phát hành trái phiếu ra thị trường
để huy động vốn Công ty CP Địa ốc Sài Gòn thương tín (Sacomreal) đã thực hiện 2 đợt phát hành vào tháng 2 và 3/2008 với tổng mệnh giá cả 2 đợt là 850 tỷ đồng Trong tháng 02/2008, Ngân hàng TMCP Á Châu cũng đã phát hành trái phiếu ra thị trường với tổng giá trị đạt 1.350 tỷ đồng Tiếp nối thành công trong năm 2007, Công ty CP Vincom cũng
đã công bố phát hành thành công trái phiếu trong tháng 4/2008 với tổng mệnh giá đạt 2.000 tỷ đồng Trong năm 2008 có 2 gương mặt mới lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường TPDN là Công ty CP Du lịch & thương mại Vinpearl (tháng 5/2008) và Công ty
CP Hoàng Anh Gia Lai (tháng 9/2008) Hai công ty này đã chính thức gia nhập thị trường TPDN bằng việc phát hành ra thị trường 1.000 tỷ đồng trái phiếu cho mỗi công ty trong năm 2008 Bên cạnh đó, một số DNNN cũng đã huy động được vốn từ thị trường TPDN trong năm 2008 như: Công ty tài chính dầu khí PVFC (1.500 tỷ đồng), Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin (650 tỷ đồng), Tổng công ty đường cao tốc Việt Nam (VEC) được Chính phủ bảo lãnh cũng đã phát hành trái phiếu đạt 28% so với
kế hoạch đề ra trong năm 2008
Từ thực tế trên có thể rút ra một số đặc điểm của thị trường TPDN Việt Nam trong thời gian qua như sau:
Một là, chủ thể phát hành TPDN hiện nay rất đa dạng, không chỉ có các DNNN như trước đây mà còn có sự góp mặt của các Công ty cổ phần và DN có vốn đầu tư nước ngoài Nếu như trước năm 2007, những DN có nhu cầu huy động vốn qua thị
trường TPDN thường là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước , các đơn vị đầu ngành hoặc các DNNN đã cổ phần hóa với nhu cầu huy động vốn mỗi đợt từ 500 tỷ đồng trở lên thì gần đây một số công ty cổ phần cũng đã bắt đầu làm quen với hình thức tài trợ vốn này Hiện nay, trên thị trường TPDN, ngoài những gương mặt quen thuộc như Tập đoàn điện