1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sang kien kinh nghiem giai toan co loi van cho HS lop 1 - Copy

18 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 888 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn những lớp trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐĂK LĂK

- o o o 

-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH

LỚP 1

Tác giả : Nguyễn Thị Hợp

Năm học : 2013 - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài: Trang 3

II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài: Trang 3 III Đối tượng nghiên cứu: Trang 4

IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trang 4

V Phương pháp nghiên cứu: Trang 4

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Trang 4 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN: Trang 5

a.Thuận lợi – khó khăn

b.Thành công – hạn chế

c.Mặt mạnh – mặt yếu

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra

CHƯƠNG III: MỘT SỐ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: Trang 7 a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

c Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp

d Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG IV: NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Trang 17

C PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

I Kết luận: Trang 17

II Kiến nghị : Trang 18

Trang 3

A Phần mở đầu.

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Chương trình Toán tiểu học là chiếc ‘ chìa khóa ‘ duy nhất mở cửa cho cánh cổng khoa học , là

công cụ cần thiết cho con người hiện đại Mặt khác, Toán tiểu học còn đóng vai trò quan trọng

trong việc hình thành nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện học sinh “Lớp 1 là móng,

cấp 1 là nền “ Bước đầu mở đường cho trẻ bước vào thế giới đa màu sắc của toán học, phát triển

tư duy, trí tuệ, khả năng suy luận và diễn đạt đúng bằng lời Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học về những con số, hình học, đại lượng cơ bản, … Từ những phép tính đơn giản hay những bài toán có lời giải phức tạp

Trong dạy - học Toán ở Tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng Học sinh phải tư duy một cách tích cực và sử dụng linh hoạt các kiến thức đã có vào các tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh , phải biết suy nghĩ, năng động, sáng tạo Tuy nhiên trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn những lớp trước, các

em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chính xác với phép tính, với các yêu cầu của bài toán đưa ra, nên thường vướng mắc về vấn đề trình bày bài giải: sai sót do viết không đúng chính tả, sai sót mà học sinh thường mắc là không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán, nên đã lựa chọn sai phép tính, dẫn đến sai yêu cầu bài toán

Với những lý do đó, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, việc học toán và giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết

Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo viên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng, hiểu sâu được bản chất của vấn đề, mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận toán lôgic thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán Từ những căn cứ đó tôi đã

lựa và thực hiện sáng kiến "Phương pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”

II MỤC TIÊU-NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn

Hỗ trợ học sinh đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán

 Hình dung ra phép tính của bài toán đơn bằng 1 phép tính công ( trừ ) với nội dung chính là thêm bớt đơn vị

 Biết trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số

 Tìm ra hướng giải thích hợp cho bài toán

Trang 4

III - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU,

Là những bài tập thuộc mạch kiến thức “giải toán có lời văn” trong chương trình lớp 1 ở Tiểu học

IV- GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

 Trong chương trình toán1

 Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

 Từ tiết 81 cho đến tiết 108

V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi căn cứ vào các tài liệu chuẩn như:

 Toán 1- sách giáo khoa

 Mục tiêu dạy học môn toán 1-sách giáo viên

 Chuẩn kiến thức kĩ năng toán 1

 Phương pháp dạy các môn học ở lớp 1

 Một số tài liệu khác của nhà xuất bản giáo dục

Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

- Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu ,sách giáo khoa và những sáng kiến kinh nghiệm của các năm trước để tích lũy vốn kiến thức hạn chế của mình

- Đánh giá quá trình dạy toán - Loại bài giải toán có lời văn từ những năm trớc và những năm gần đây

- Từ thực nghiệm để nắm bắt được chất lượng học sinh cũng như tính khả thi của bài toán

- Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu

- Trao đổi, dự giờ lớp khác để học hỏi thêm kinh nghiệm

- Nắm vững nội dung bài và tìm ra phương pháp dạy học phù hợp nhất, dễ hiểu nhất

B Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Giải toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán xoay quanh với các con số, các đại lượng cơ bản, các yếu tố đại số và hình học có trong chương trình

Vì vậy, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng thể hiện ở các vấn đề sau:

 Các khái niệm và các quy tắc trong sách giáo khoa nói chung đều được hình thành thông qua việc giải toán Giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính

Trang 5

toán Qua đó mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em

về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục, sửa chữa

 Việc kết hợp giữa học và dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kiến thức đó trong cuộc sống

 Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho

và cái phải tìm , chúng bổ sung và thống nhất với nhau tạo nên hệ logic toán học

 Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo và những phẩm chất cần thiết của con người lao động hiện đại của xã hội mới

Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực và linh hoạt vì các

em cần phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái

đã cho và cái phải tìm; Suy luận, nêu lên những phán đoán, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra , và rút ra những kết luận,

Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó, tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo , tư duy sắc bén

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN

I THỰC TRẠNG:

Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học với 8 năm kinh nghiệm dạy lớp 4, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn , riêng phần giải toán có lời văn

ở lớp 4 là phần khó, các dạng đề chưa tường minh, cần các em tìm hiểu Vậy nhưng một khi các em

đã mất gốc thì có dạy – học thế nào cũng không thể bù đắp nổi lỗ hổng ấy – Lớp 1 : giải toán có lời văn ở lớp 1 là tiền đề , bước đệm cho sự nghiệp học hành sau này của các em Riêng năm nay được phân công dạy lớp 1, cũng như qua điều tra ở các năm học trước, các em học sinh còn lơ mơ, khá bối rối khi gặp dạng toán có lời văn, các em xác định sai mục đích của đề ,thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính dẫn đến viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ

Trang 6

hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn GV phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂM HỌC 2012-2013

câu lời giải

HS viết đúng phép tính

HS viết đúng đáp số

HS giải đúng cả 3

bước

a) Thuận lợi – khó khăn

* Thuận lợi:

- Đa số các em trong lớp đều ngoan, có ý thức, vươn lên trong học tập

- Phụ huynh quan tâm hơn đến việc học tập của các em và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của nhà trường

* Khó khăn

Phú Lộc là một xã nhỏ, xa trung tâm thành phố, đa số các em là con nông dân chưa được tiếp xúc nhiều với công nghệ hiện đại Nhiều hộ gia đình còn khó khăn về mặt kinh tế nên việc đầu tư về thời gian cũng như đồ dùng học tập do đó, việc học của các em chưa được quan tâm đúng mức gây ảnh hưởng phần nào tới chất lượng giáo dục

Dự kiến năm 2015 sẽ thay đổi sách giáo khoa – chương trình giáo dục, hiện tại các nguồn sách mới được đưa về áp dụng học, vậy nên chất lượng giảng dạy cũng như học tập có phần hạn chế

b) Thành công – hạn chế

*Thành công:

- Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn Kết quả bài toán đúng

- Đa số học sinh ham học, có hứng thú với môn Toán nói chung và và ‘ Giải bài toán có lời văn nói riêng’

- Học sinh phần nào áp dụng được vào thực tiễn

*Hạn chế:

- Trình bày bài làm chưa được sạch sẽ

- Một số học sinh chưa biết viết lời giải sao cho phù hợp

Trang 7

- Phần nhỏ học sinh chưa hiểu nội dung giải toán có lời văn dẫn đến không làm được bài

c) Mặt mạnh – mặt yếu

*Mặt mạnh:

Đây là lứa tuổi học sinh chuyển tiếp từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập, khả năng

tư duy và tri giác của các em rất tốt Vì vậy giáo viên cần có các phương pháp dạy tốt nhất để nâng cao nền móng cho các em ngay từ lớp 1

*Mặt yếu :

Học sinh mới bước vô môi trường học đường còn nhiều bỡ ngỡ, rụt rè trong sinh hoạt tập thể cũng như học tập Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy cũng như tiếp thu bài của các em

II NGUYÊN NHÂN – YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

* Từ phía giáo viên:

- Giáo viên chưa thực sự yêu nghề, tâm huyết với giảng dạy

- Chủ quan với những bước đệm cơ bản, khiến học sinh chưa năm bắt được vấn đề

- Chưa có phương pháp rèn kĩ năng giải toán cho học sinh

* Từ phía học sinh:

- Các em còn chưa đam mê với môn toán

- Do mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang tính trực quan là chủ yếu

- Chưa biết phân tích về và nhận dạng bài toán

- Tư duy thiếu linh hoạt, quan sát, trí tượng tượng đều phát triển chậm

- Chưa có phương pháp học đúng đắn

* Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc

đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán

Vì vậy học sinh không làm đúng cũng là điều dễ hiểu

Vậy làm thế nào để học sinh nắm được cách giải một cách chắc chắn chính xác và nhanh chóng?

CHƯƠNG III: MỘT SỐ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Trang 8

1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Mức độ 1: Ngay từ buổi đầu đi học các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ- viết

phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ Ban đầu để giúp học sinh dễ thực hiện, sách

VD: Bài 5 trang 46

a)

Chỉ yêu cầu học sinh viết dấu cộng vào ô trống để có : 1 + 2 = 3

b) Đến câu này nâng dần mức độ - học sinh phải viết cả phép tính và kết quả

- Yêu cầu học sinh có thể nhìn từ một tranh vẽ diễn đạt theo 2 cách

VD: Bài 4/77

Trang 9

b) Tương tự

Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới Tất cả là 9 bạn

Cách 1:

Cách 2:

Đến bài 3/ 85 Học sinh quan sát và cần hiểu được:

a)

a)

Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp , tất cả là 9 hộp.

8

Cách 2: Có 1 hộp đa vào chỗ 8 hộp , tất cả là 9 hộp

Lúc đầu có 7 con vịt Sau đó thêm 3 con vịt Vậy có tất cả là 10 con vịt

Lúc đầu trên cànhcó 10 quả Sau đó rụng 2 quả Còn lại trên cành 8 quả

Trang 10

* Giáo viên cần động viên các em diễn dạt _ trình bày miệng ghi đúng phép tính

Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh

Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã đợc làm quen với dạng tóm tắt bằng lời:

Bài 4 /92

B, Có : 5 con cá

Thêm : 2 con cá

Có tất cả : con cá ?

Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải Tuy không yêu cầu cao,tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách , có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa

Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề bài toán

chư-a hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện ( tiết 81- bài toán có lời văn ) Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của HS

Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi, phần cho biết gồm có 2 yếu tố

Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán , phần

tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.( Bài toán- trang 117)

Trang 11

Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên dể giải bài toán có lời văn

Bài giải gồm 3 phần : lời giải, phép tính và đáp số

Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm tắt cần được luyện kỹ

để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác Câu lời giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo điều kiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải

Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạo giải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng.Giáo viên chỉ hướng dẫn cách làm tương tự,thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán

Riêng lớp 1,học sinh chỉ giải toán về thêm,bớt với 1 phép tính cộng hoặc trừ,mọi học sinh đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể

GV dạy cho Hs giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau:

- Đọc kĩ đề bài – Phân tích đề

+ Đề toán cho biết những gì?

+ Đề toán yêu cầu gì?

- Tóm tắt đề bài

- Tìm được cách giải bài toán

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra lời giải và đáp số

Khi giải bài toán có lời văn GV lưu ý cho HS hiểu rõ những điều đã cho,yêu cầu phải tìm,biết chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán học,đó là phép tính thích hợp

• Ví dụ :Có một số quả cam,khi được cho thêm hoặc mua thêm nghĩa là thêm vào,phải làm tính cộng; nếu đem cho hay đem bán thì phải làm tính trừ,

Gv hãy cho HS tập ra đề toán phù hợp với một phép tính đã cho,để các em tập tư duy ngược,tập phát triển ngôn ngữ,tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn

• Ví dụ: với phép tính 4 + 2 = 6.Có thể có các bài toán sau:

- Có 4 con vịt bơi dưới ao, sau đó có thêm 2 con vịt xuống ao.Hỏi có mấy con vịt dưới ao?

- Nhà Thành có 4 con gà mẹ Thành mua thêm 2 con gà Hỏi nhà Thành có tất cả mấy con gà?

- Bạn Nam có 4 chiếc kẹo,chị An cho Nam 2 chiếc nữa.Hỏi bạn Nam có mấy chiếc kẹo?

Ngày đăng: 23/09/2016, 23:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

8  -  4 = 4( hình )                                      15 -  4 = 11( hình ) - sang kien kinh nghiem giai toan co loi van cho HS lop 1 - Copy
8 - 4 = 4( hình ) 15 - 4 = 11( hình ) (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w