1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020

64 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả mong muốn luận văn sẽ góp một phần nhỏ trong chiến lược phát triển bền vững du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng của tỉnh Bình Thuận, đồng thời xây dựng ngành d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

-

TRƯƠNG THỊ HẢI THUẬN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG

CHO TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2014 - 2020

TRƯƠNG THỊ HẢI THUẬN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG CHO TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2014 - 2020

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học : TIẾN SĨ LƯU THANH TÂM

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM

ngày 08 tháng 02 năm 2015

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

1 PGS TS Nguyễn Phú Tụ Chủ tịch

2 PGS TS Vũ Ngọc Bích Phản biện 1

3 TS Lại Tiến Dĩnh Phản biện 2

4 TS Lê Quang Hùng Ủy viên

5 TS Mai Thanh Loan Ủy viên, Thư ký

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được

sửa chữa (nếu có)

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: TRƯƠNG THỊ HẢI THUẬN Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 23/10/1978 Nơi sinh: TP PHAN THIẾT Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh MSHV: 1341820071

I- Tên đề tài:

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG CHO TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2014 - 2020

II- Nhiệm vụ và nội dung:

- Tổng hợp các số liệu, biên hội và kế thừa các nghiên cứu, tài liệu liên quan

- Phân tích, đánh giá tiềm năng phát triển của ngành du lịch nói chung và phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2014-2020

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm định hướng phát triển bền vững du lịch sinh thái của Bình Thuận Trong đó chú trọng đến các giải pháp về du lịch sinh thái

III- Ngày giao nhiệm vụ: 31/7/2014

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/1/2015 V- Cán bộ hướng dẫn: TIẾN SĨ LƯU THANH TÂM

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Trương Thị Hải Thuận - tác giả luận văn cao học này Tôi xin cam

đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận

văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

(Ký và ghi rõ họ tên)

TRƯƠNG THỊ HẢI THUẬN

LỜI CÁM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Công nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh (Hutech) đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý

báo trong suốt thời gian tôi học tại trường, đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Lưu Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này nhờ vậy mà tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Tiếp theo tôi xin chân thành cảm ơn Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận; các Ban ngành Công ty Cổ phần Du lịch Bình Thuận; Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và tập thể lớp 13SQT11 đã luôn giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn này

Trong suốt thời gian làm luận văn, tuy tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, luôn tiếp thu ý kiến đóng góp của thầy hướng dẫn và bạn bè cũng như các anh chị trong lĩnh vực du lịch Bình Thuận, tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp và phản hồi quý báu của quý Thầy, Cô và bạn đọc

Trang 4

TÓM TẮT

Bình Thuận là địa phương có tiềm năng phát triển du lịch so với các địa phương

khác trong cả nước Là một tỉnh giàu tài nguyên về biển, rừng, khoáng sản, còn là nơi

ẩn chứa nhiều di tích lịch sử, cảnh quan, văn hóa, v.v … Với những lợi thế sẵn có và

sự cố gắng không ngừng của chính quyền, nhân dân, ngành du lịch tỉnh Bình Thuận

trong những năm qua phát triển vượt bậc, trở thành một trong những vùng du lịch hấp

dẫn nhất trong cả nước và khu vực (Theo kết quả xếp hạng tháng 11 năm 2010 của Tạp

chí Traveler’s thuộc National Geographic (Mỹ), bãi biển Mũi Né của Việt Nam nằm

trong nhóm xếp hạng 100 bãi biển nổi tiếng thế giới) Nhưng hiện nay Bình Thuận có

nhiều hạn chế về giao thông đối ngoại (không có sân bay, không có cảng biển, đường

bộ từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bình Thuận mất quá nhiều thời gian) và chưa đa

dạng các loại hình du lịch Thực trạng khai thác du lịch ở Bình Thuận trong những năm

qua còn nhiều bất cập, tập trung vào khai thác tài nguyên sẵn có mà chưa đầu tư, bảo

vệ, tôn tạo một cách thỏa đáng dẫn đến hậu quả là tình trạng xuống cấp của các điểm

tham quan du lịch, chưa khai thác hết giá trị tiềm năng du lịch cũng như chưa hấp dẫn

khách du lịch trong nước và quốc tế Với những tồn tại và hạn chế nói trên, để phát

triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng, việc nghiên cứu phát triển du lịch

sinh thái Bình Thuận là hết sức cần thiết và cấp bách Dưới đây tóm tắt những kết quả

nghiên cứu của Luận văn:

 Phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch sinh thái bền vững thông qua

việc tổng hợp và khái quát các khái niệm, nguyên tắc, tiêu chuẩn về du lịch sinh

thái và phát triển du lịch bền vững làm cơ sở khoa học, lý luận nghiên cứu của luận

văn

 Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn và phát triển du lịch sinh thái bền vững của các

điểm du lịch sinh thái ở Việt Nam nhằm tìm ra những giải pháp hợp lý có thể áp

dụng cho phát triển du lịch sinh thái ở Bình Thuận một cách bền vững

 Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh Bình Thuận, phản

ánh những thành công và những hạn chế còn tồn tại, những vướng mắc giữa chính

sách và thực thi, những mặt yếu kém trong phát triển du lịch chưa được giải quyết để qua đó tổng kết, đánh giá về tiềm năng, hạn chế du lịch của Tỉnh

 Mô tả thực trạng phát triển du lịch, đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của phát triển du lịch sinh thái Trên cơ sở đó đề xuất sơ bộ các giải pháp cơ bản, kiến nghị hướng đi đúng cho ngành du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận trên con đường đạt đến

sự bền vững

 Trên cơ sở nêu những lý luận và thực tiễn, đi sâu phân tích đánh giá hiện trạng phát triển du lịch chung cũng như phát triển du lịch sinh thái bền vững của tỉnh Bình Thuận từ năm 1991 đến 2013, luận văn sẽ tập trung đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2014-

2020

Tác giả mong muốn luận văn sẽ góp một phần nhỏ trong chiến lược phát triển bền vững du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng của tỉnh Bình Thuận, đồng thời xây dựng ngành du lịch sinh thái của tỉnh Bình Thuận có thương hiệu uy tín trong nước và thế giới

Trang 5

ABSTRACT

Binh Thuan is a place, which has tourism development potential compared with

other regions in the country This province is rich in natural resources of the sea, forests

and minerals It also has hidden charm of historical places, landscapes, cultural beauty,

etc With the available advantages and the continuing efforts of the government,

people, Binh Thuan Provincial Tourism in the past years has had outstanding

development It has become one of the most attractive tourist areas in the country and

in the region (According to the ranking of Traveler’s Magazine - National Geographic

(USA) in November 2010, Mui Ne beach in Vietnam was ranked in the top 100

world-famous beaches.)

However,Binh Thuan currently still has many restrictions on outbound traffic (no

airport, no seaport, road traffic from Ho Chi Minh City to Binh Thuan Province takes

too much time) Forms of tourism here are not diverse enough The currently status of

Binh Thuan tourism operation in recent years has many shortcomings It only focuses

on exploiting the available resources without adequately investment, protection, and

embellishment This leads to many consequences such as the degradation of the tourist

attractions, inadequate exploitation of tourism potential value as well as not enough

attractive tourism to domestic and international tourists Because of those existing

restrictions and limitations above, to develop tourism in general and ecotourism in

particular, the research for development of ecotourism in Binh Thuan is extremely

urgent and essential The following summarizes the research results of the Thesis:

 Suggest sustainable development in general and sustainable ecotourism

development in particular through the synthesis and generalization of concepts,

principles, standards for ecotourism and sustainable tourism development Those

are the research theoretical and scientific bases of the Thesis

 Research the practical experience of sustainable ecotourism development of

ecotourism attractions in Vietnam to find reasonable solutions that can be applied

to the development of eco-tourism in Binh Thuan in a sustainable way

 Analyze and assess the status of tourism development in Binh Thuan Reflect the successes and limitations existing, the problems between policy and implementation, the unresolved weaknesses in tourism development Through which we summarize and evaluate the provincial potential and limitations of tourism

 Describe the currently status of tourism development Assess the positive and negative impact of ecotourism development On that basis, we propose basic preliminary solutions; recommend the right approach for the ecotourism sector of Binh Thuan Province on the way reaching sustainability

 Based on outlining the theoretical and practical points, we pay attention to the analysis and assessment of the current state of tourism development in general

as well as the development of sustainable ecotourism in Binh Thuan Province from 1991 to 2013 As a result, this Thesis will focus on proposing solutions to develop sustainable ecotourism for Binh Thuan Province in the period 2014-

2020

The author wishes that this Thesis would contribute a small part to the strategy of sustainable tourism development in general and sustainable ecotourism development in particular for Binh Thuan Province as well as to the building of ecotourism industry of Binh Thuan Province to have a respected brand in the country and in the world

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT v

MỤC LỤC vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xii

DANH MỤC CÁC BẢNG xiii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ xiv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu đề tài 4

7 Tổng quan đề tài 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI ……… 6

1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và du lịch sinh thái 6

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững 6

1.1.2 Khái niệm về du lịch sinh thái 7

1.1.3 Một số định nghĩa về Du lịch sinh thái ở Việt Nam………… ….… 8

1.2 Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái…… 9

1.2.1 Những nguyên tắc của DLST bền vững 9

1.2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 11

1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển DLST bền vững……… 12

1.3.1.Tiêu chuẩn về kinh tế 13

1.3.2 Tiêu chuẩn về xã hội, con người 13

1.3.3 Tiêu chuẩn về môi trường 13

1.4 Tài nguyên du lịch sinh thái……… 13

1.4.1 Khái niệm tài nguyên DLST 13

1.4.2 Môi trường và hệ sinh thái 15

1.4.2.1 Khái niệm môi trường.………15

1.4.2.2 Hệ sinh thái môi trường……… ………15

1.4.2.3 Đa dạng sinh học……… …… 15

1.4.3 Đặc điểm của tài nguyên DLST 16

1.5 Tính tất yếu của hoạt động DLST dựa vào cộng đồng góp phần phát triển bền vững……… 16

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DLST CỦA TỈNH BÌNH THUẬN 19

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội của tỉnh Bình Thuận 19

2.1.1 Tổng quan về địa lý kinh tế 19

2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh 21

2.1.2.1 Lĩnh vực kinh tế……… ………21

2.1.2.2 Lĩnh vực văn hóa - xã hội……… …………25

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận 27

2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên của tỉnh 27

2.2.1.1 Các hệ sinh thái điển hình ở tỉnh Bình Thuận……….27

2.2.1.2. Các KBTTN nội địa - một dạng tài nguyên DLST quan trọng… 30

2.2.1.3. Hệ thống khu bảo tồn biển – hải đảo _ một dạng tài nguyên DLST độc đáo ở tỉnh Bình Thuận 33

2.2.1.4 Các cảnh quan thiên nhiên-danh thắng khác của Bình Thuận 36

2.2.2 Tài nguyên DLST nhân văn tỉnh Bình Thuận 38

2.2.2.1 Các di tich lịch sử-văn hóa 38

2.2.2.2 Các lễ hội tiêu biểu 39

2.2.2.3 Các loại hình nghệ thuật, ca múa nhạc, sân khấu hiện đại và truyền thống:……….……… 40

2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận……… 40

2.3.1 Vị trí địa lý kinh tế DL của Bình Thuận với tình hình tăng trưởng….40 2.3.1.1 Cở sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch……….40

2.3.1.2 Lực lượng lao động trong ngành du lịch……….42

2.3.2 Các giai đoạn phát triển của DLST Bình Thuận………… …… ….43

Trang 7

2.3.3 Tình hình kinh doanh du lịch và DLST ở tỉnh Bình Thuận….………43

2.3.3.1 Lượt khách……… ……43

2.3.3.2 Ngày khách và mùa thời vụ trong DLST ở tỉnh Bình Thuận…… 50

2.3.3.3 Đánh giá tình hình hoạt động phát triển DLST tỉnh Bình Thuận…51 2.3.3.4 Tình hình đầu tư phát triển DLST……… …………53

2.4 Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Bình Thuận ……… ……… 57

2.4.1 Tác động môi trường của DLST Bình Thuận ……… …57

2.4.2 Quy hoạch phát triển bền vững cho DLST Bình Thuận … … … …58

2.5 Đánh giá kết quả về khách DLST đến tỉnh Bình Thuận …….………… 59

2.6 Đánh giá chung về hoạt động phát triển DLST tại tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua……….61

2.6.1 Thuận lợi……… ……… ……61

2.6.2 Những khó khăn và tồn tại……… …… ……61

2.7 Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch Bình Thuận đến năm 2020…… 63

2.7.1 Các căn cứ để dự báo……… ……… …….63

2.7.2 Dự báo về lượng du khách …… ……….…63

2.7.3 Dự báo doanh thu ngành du lịch tỉnh đến năm 2020……….64

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2014-2020 66

3.1 Các cơ sở đề xuất giải pháp phát triển 66

3.1.1 Cơ sở mang yếu tố Quốc tế……… …….66

3.1.2 Cơ sở mang yếu tố quốc gia …… ………… ……….…66

3.2 Những quan điểm và mục tiêu chính khi đề xuất giải pháp DLST tỉnh Bình Thuận……… ……….66

3.2.1 Những quan điểm phát triển theo các nội dung liên quan đến DLST 66

3.2.1.1 Quan điểm về sinh thái môi trường 66

3.2.1.2 Quan điểm về kinh tế 67

3.2.1.3 Quan điểm về đẩy mạnh phát triển các sản phẩm DLST 68

3.2.1.4 Quan điểm tập trung đẩy mạnh phát triển DLST văn hóa lịch sử vốn là thế mạnh nổi trội của tỉnh 68

3.2.1.5 Quan điểm chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động DLST………68

3.2.2 Mục tiêu chủ yếu về phát triển DLST……… ……….68

3.2.3 Định hướng phát triển DLST theo lãnh thổ của tỉnh Bình Thuận … 69

3.2.3.1 Tổ chức không gian sinh thái 69

3.2.3.2 Định hướng về phát triển sản phẩm DLST và tổ chức các tuyến điểm DLST của tỉnh 73

3.2.3.3 Định hướng về thị trường nguồn khách 74

3.2.3.4 Quy hoạch và tổ chức không gian phát triển du lịch sinh thái 75

3.3 Một số giải pháp cơ bản để phát triển DLST tại tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 76

3.3.1 Nhóm giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên DLST nhân văn 76

3.3.1.1 Giải pháp bảo vệ hệ sinh thái-môi trường 76

3.3.1.2 Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên DLST nhân văn 78

3.3.2 Nhóm giải pháp phát triển 78

3.3.2.1 Giải pháp phát triển sản phẩm DLST 78

3.3.2.2 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ DLST 80

3.3.2.3 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực Du lịch-DLST 81

3.3.2.4 Giải pháp xúc tiến quảng bá hoạt động DLST 84

3.3.2.5 Giải pháp về mở rộng hội nhập quốc tế một cách toàn diện 86

3.3.2.6 Giải pháp tăng cường tổ chức quản lý về các hoạt động DLST 87

3.4 Một số kiến nghị 90

3.4.1 Đối với tỉnh 90

3.4.2 Đối với các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch 90

3.4.3 Đối với người dân và cộng đồng địa phương 90

KẾT LUẬN 91

NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA ĐỀ TÀI….……… 92

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 93

Trang 8

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI……….……… 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DLST Du lịch sinh thái PTBV Phát triển bền vững HST Hệ sinh thái WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

WTTC Theo Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (World Tourism

and Travel Council)

UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization)

BTTN Bảo tồn thiên nhiên KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên VQG Vườn quốc gia ĐDSH Đa dạng sinh học

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Bình Thuận đến năm 2013 20

Bảng 2.2: Đơn vị hành chính cơ sở của tỉnh Bình Thuận tính đến năm 2013 20

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của Bình Thuận năm 2010-2013 21

Bảng 2.4: Các tài nguyên du lịch hệ sinh thái ven biển 28

Bảng 2.5: Các tài nguyên hệ sinh thái khô hạn-cồn cát 30

Bảng 2.6: Các loại hình kinh doanh ven biển 37

Bảng 2.7: Số cơ sở của các cơ sở lưu trú và số buồng, giường của khách sạn xếp theo tiêu chuẩn sao 40

Bảng 2.8: Tình hình khách du lịch quốc tế đến tỉnh Bình Thuận từ 2008-2013…… 45

Bảng 2.9: Cơ cấu số lượng lượt khách quốc tế theo nước……… 46

Bảng 2.10: Tình hình khách du lịch nội địa đến tỉnh Bình Thuận từ 2008-2013…… 47

Bảng 2.11: Số ngày khách phục vụ của tỉnh Bình Thuận từ 2008-2013………50

Bảng 2.12: Tình hình doanh thu và lượt khách du lịch đến điểm DLST Bàu Trắng từ 2011 – 2013……….59

Bảng 2.13: Dự báo lượng du khách tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 63

Bảng 2.14: Dự báo doanh thu ngành du lịch thành phố Phan Thiết thời kỳ 2015-2020 64

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Hình 1.1: Sơ đồ Sự tiếp cận của PTBV là nền tảng của DLST (UNWTO, 2009) 7

Hình 1.2: Sơ đồ DLST là một khái niệm của PTBV (UNWTO, 2009) 8

Hình 2.1: Biểu đồ Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2008-2013 45

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cách đây gần 20 năm, vào ngày 24/10/1995, một sự kiện nhật thực toàn phần

đã giúp cho du khách trong và ngoài nước biết đến tỉnh Bình Thuận là một trong

những điểm đến hấp dẫn Với lợi thế được thiên nhiên ưu đãi như có biển xanh, cát

trắng, nắng vàng, bãi biển đẹp, đồi cát hoang sơ, quyến rũ, cảnh quan thiên nhiên

thơ mộng Nắm bắt được lợi thế này, nhiều năm qua Bình Thuận đã tập trung ưu

tiên phát triển du lịch và xem đây là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương

Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển Ngành du lịch ở

nước ta tuy được thành lập từ 09/7/1960 đến nay nhưng do ảnh hưởng của chiến

tranh và cấm vận nên không có điều kiện phát triển nhanh Các ngành nghề kinh

doanh trong du lịch đã bị thiệt hại nặng nề, công suất phòng cho thuê có thời kỳ

giảm xuống còn 20% - 30% và một số khách sạn đã phải tạm ngưng hoạt động Mặt

khác, sự phát triển du lịch không đồng đều, chỉ tập trung ở những trung tâm, thành

phố lớn hay các địa phương có cảnh quan nổi tiếng và còn nhiều tỉnh khác chưa

phát triển mặc dầu có tiềm năng lớn

Bình Thuận là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của Việt Nam

hiện nay Nếu so với các trung tâm du lịch lớn khác của Việt Nam như: Hạ Long,

Huế, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu, … thì ngành du lịch Phan Thiết - Bình Thuận

còn khá non trẻ Nhưng Bình Thuận có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa các trung

tâm du lịch lớn ở phía Nam như: thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha

Trang Không chỉ phát huy tối đa tiềm năng lợi thế sẵn có, ngành du lịch Bình

Thuận còn nhanh chóng bắt nhịp với xu thế của xã hội trong việc tạo ra những sản

phẩm du lịch đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của du khách Một trong những sản

phẩm hấp dẫn đó là loại hình du lịch sinh thái

Phát triển du lịch sinh thái không chỉ góp phần giúp người dân địa phương

tăng thêm nguồn thu nhập mà còn là giải pháp tốt nhất để góp phần đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, với tài nguyên du lịch khá phong phú, nhưng chưa có chiến lược và các giải pháp tích cực để đảm bảo cho ngành du lịch sinh thái phát triển bền vững Để đạt nhịp độ tăng trưởng cao; đồng thời đảm bảo yêu cầu bảo tồn, nâng cấp và phát huy các giá trị tài nguyên nhằm phục vụ yêu cầu phát triển du lịch trước mắt và khả năng cạnh tranh lâu dài cần xây dựng định hướng chiến lược phát triển và đề xuất các giải pháp thiết thực nhưng khả thi để du lịch sinh thái thực sự là ngành mũi nhọn của tỉnh

Trước yêu cầu nói trên, nhằm đảm bảo phát triển du lịch sinh thái bền vững về các góc độ kinh tế - môi trường – xã hội, tác giả chọn đề tài “ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG CHO TỈNH BÌNH THUẬN THỜI KỲ 2014-

2020” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của mình với mong

muốn góp phần thúc đẩy phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng ở địa phương

Ngoài ra, mảnh đất Bình Thuận còn chính là quê hương của tác giả Với lòng

yêu quê hương tha thiết, tác giả hy vọng đề tài nghiên cứu: “ Phát triển du lịch sinh

thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2014-2020” sẽ đóng góp một phần nhỏ

nhoi của mình giúp cho du lịch của tỉnh Bình Thuận phát triển đúng tiềm năng và đáp ứng được nhu cầu du lịch của thời đại

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn này là nghiên cứu tiềm năng du lịch thiên nhiên để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho ngành du lịch tương đối còn non trẻ ở Bình Thuận Với những giải pháp tổng hợp này sẽ giúp cho du lịch Bình Thuận điều chỉnh những bước đi hợp lý ở hiện tại và tiếp tục xác lập những định hướng quy hoạch phát triển theo mục tiêu bền vững của hoạt động du lịch trong tương lai

Việc nghiên cứu của đề tài này là nêu những lý luận và thực tiễn về nội dung phát triển du lịch sinh thái bền vững Trên cơ sở lý luận đó, đi sâu phân tích đánh giá hiện trạng phát triển du lịch chung cũng như phát triển du lịch sinh thái bền

Trang 11

vững của tỉnh Bình Thuận từ năm 2008 đến 2013 Căn cứ vào những cơ sở phân

tích của tác giả và định hướng của ngành, tác giả sẽ tập trung đề xuất các giải pháp

và kiến nghị cụ thể nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận

thời kỳ 2014 - 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian đề tài giới hạn nghiên cứu toàn cảnh hoạt

động của du lịch Bình Thuận trong khoảng thời gian từ năm 2008-2013 nhằm xây

dựng định hướng và giải pháp phát triển trong những năm tiếp theo

- Phạm vi không gian:đề tài được giới hạn trong phạm vi địa giới toàn cảnh hoạt

động của du lịch tỉnh Bình Thuận để các giải pháp đưa ra có tính gắn kết và bao

quát hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp định tính

- Phương pháp khảo sát thực địa tại địa bàn tỉnh Bình Thuận đến các khu du

lịch trọng điểm để thẩm tra, quan sát và đánh giá sự phân bố khách du lịch, hiện

trạng các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái đang được khai thác Từ đó có các nhận

định đúng đắn về thực trạng hoạt động liên quan ngành du lịch sinh thái của Tỉnh

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: thông qua việc thu thập các dữ liệu,

thông tin, các bài báo chính thức của các đơn vị quản lý chuyên ngành du lịch từ

Trung ương đến địa phương (Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Thương mại và Du

lịch Bình Thuận,…), các cơ quan ban ngành của Bình Thuận (Sở Văn hóa Thông tin,

Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ

Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê Bình Thuận,… ), các tài

liệu lịch sử, địa chí của các vùng đất trong tỉnh, các sách giáo trình đã học và các

bài báo của tác giả thuộc tỉnh Bình Thuận, … Ngoài ra còn tham khảo các tài liệu

nước ngoài để đối chiếu, phân tích, tổng hợp từ đó giúp cho việc xây dựng phát

triển du lịch sinh thái bền vững của tỉnh Bình Thuận có tính sát hợp hơn

- Phương pháp chuyên gia: tác giả gặp trực tiếp Giám đốc Sở Văn hóa, Thể

thao và Du lịch Bình Thuận; Các nhà quản lý trực tiếp các khu du lịch của tỉnh để được

tư vấn thêm về thực trạng hiện tại và các giải pháp tương lai sắp tới của Bình Thuận

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Nêu được những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Việt Nam và thế giới; những tiêu chuẩn và nguyên tắc cũng như đề ra quy trình nhằm phân tích đánh giá hoạt động phát triển du lịch sinh thái bền vững của một vùng lãnh thổ

- Đúc kết kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái bền vững của một số nước

có điều kiện tự nhiên kinh tế tương đồng với Việt nam thuộc khu vực và trên thế giới, qua đó liên hệ đối chiếu với thực tiễn của Việt Nam nói chung và Bình Thuận nói riêng để làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp cụ thể cho phát triển du lịch sinh thái bền vững của Bình Thuận

- Đề xuất được các giải pháp theo từng nhóm cụ thể để phát triển du lịch sinh thái bền vững đến năm 2020 của tỉnh BìnhThuận

6 Kết cấu đề tài

Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển bền vững và du lịch sinh thái Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái của tỉnh Bình Thuận Chương 3: Định hướng chiến lược và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2014-2020

7 Tổng quan đề tài

Du lịch sinh thái là một khái niệm khá mới ở Việt Nam Nhiều cơ quan ban ngành đã và đang xây dựng các dự án về DLST cho một số tỉnh, đặc biệt là tỉnh Bình Thuận Hiện nay có nhiều đề tài, công trình khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực du lịch sinh thái như:

- Phạm Trung Lương, “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam”

Báo cáo đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội, nghiên cứu những vấn đề lý luận và

Trang 12

thực tiễn phát triển du lịch sinh thái, đã trình bày tiềm năng, hiện trạng cùng một số

giải pháp phát triển DLST ở Việt Nam, 1998

- Lê Huy Bá, “ Nghiên cứu tiềm năng và các giải pháp phát triển bền vững du

lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, đã trình bày

những vấn đề như: hoạt động du lịch sinh thái, tài nguyên cảnh quan, sử dụng hợp

lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong phát triển du lịch sinh thái, thực trạng và

giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Đồng Nai, 2006

- PGS TS Phan Huy Xu, “ Phát triển du lịch Việt Nam: Tiềm năng – cơ hội

thách thức”, Tạp chí Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí

Minh, trình bày tổng thể du lịch Việt Nam đang phát triển với tiềm năng sẵn có và

cơ hội, thử thách trong tương lai sắp tới, 2002

Tuy nhiên, đến bây giờ vẫn còn ít công trình nghiên cứu nào mang tính học

thuật chuyên sâu về du lịch sinh thái mặc dù nhu cầu trong nước rất nhiều, các cơ

quan quản lý nhà nước cũng ban hành khá nhiều văn bản cho công tác này Việc

phát triển DLST ở Việt Nam vẫn còn mang tính đơn lẻ và bột phát, tiềm năng khai

thác và phát triển DLST trong những năm vừa qua chưa cao

Đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về du lịch sinh thái của Tỉnh

Bình Thuận do đó tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển du lịch sinh thái bền

vững cho tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2014-2020” để làm luận văn thạc sĩ của mình

một mặt để thực hiện công trình khoa học nhằm hoàn thành khóa học thạc sĩ của

nhà trường, mặt khác để đóng góp những giải pháp thiết thực cho quê hương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và du lịch sinh thái:

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững:

Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Do đó, năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Phát triển bền vững: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế

hệ tương lai"

Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức ở Cộng hòa Nam Phi đã thống nhất khái niệm “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sựu phát triển đó là sự phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường"

Bền vững về kinh tế: kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển

văn hoá-xã hội, với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ

Bền vững về xã hội: phát triển kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi

với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội

Bền vững về tài nguyên và môi trường: sử dụng các dạng tài nguyên thiên

nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng Môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại

Trong phát triển bền vững, điều cần chú ý nhất là thỏa mãn các nhu cầu hiện tại và không làm tổn hại đến sự thỏa mãn các nhu cầu trong tương lai, đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống Như vậy, phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội một cách bền vững

Trang 13

nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn phải đảm bảo những điều kiện môi trường

thiết yếu cho con người đang tồn tại và cho các thế hệ sẽ tồn tại

1.1.2 Khái niệm về du lịch sinh thái:

Du lịch sinh thái được quan niệm là một loại hình du lịch bền vững gắn với

môi trường thiên nhiên Các khái niệm phổ biến về DLST mà các nhà nghiên cứu về

du lịch đã đưa ra và được đa số các diễn đàn quốc tế về DLST thừa nhận như:

Hector Ceballos-Lascurain-một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái

định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “DLST là du lịch đến những

khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt:

nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang

dã, cũng như những biểu thị văn hóa được khám phá trong những khu vực này”.

Năm 1991, đã xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh thái "Du lịch sinh thái là

loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt

nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật

cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo,1991)

Đối với các tổ chức quốc tế, định nghĩa về DLST do Hiệp hội Du lịch Sinh

thái quốc tế (The Internation Ecotourism society) đưa ra hiện được sử dụng khá phổ

biến như sau: “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu vực thiên nhiên là nơi

bảo tồn môi trường và cải thiện được phúc lợi cho nhân dân địa phương”

Hình 1.1: Sơ đồ Sự tiếp cận của Phát triển bền vững là nền tảng của DLST

(UNWTO, 2009)

1.1.3 Một số định nghĩa về Du lịch sinh thái ở Việt Nam:

Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược

quốc gia về phát triển DLST đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là

hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “Du lịch

sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.

Trong luật Du lịch Việt Nam do Quốc hội thông qua năm 2005, có một định

nghĩa khá ngắn gọn về du lịch sinh thái “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa

vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.

Hình 1.2: Sơ đồ DLST là một khái niệm của PTBV (UNWTO, 2009)

Trang 14

Hay một dạng mở rộng khác của du lịch sinh thái về văn hóa bản địa: “Du lịch

văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của

cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”

Nhìn chung các khái niệm về du lịch sinh thái đang sử dụng tại Việt Nam đều

có sự thống nhất trên quan điểm về nội dung đề cập là: thiên nhiên, bản sắc văn hóa,

trách nhiệm và lợi ích của cộng đồng và phát triển bền vững, tuy nhiên còn đề cập

chung chung và chưa toàn diện

Theo đó, du lịch sinh thái là hình thức phát triển du lịch bền vững Nội dung

hoạt động diễn ra trong môi trường thiên nhiên, không chỉ là loại hình du lịch thiên

nhiên hấp dẫn, mà còn là du lịch có trách nhiệm, hỗ trợ các mục tiêu bảo vệ môi

trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng và có tính giáo

dục nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, duy trì các nguồn

tài nguyên du lịch, tiến tới phát triển bền vững Mục đích lớn nhất của DLST là góp

phần tăng trưởng kinh tế, xã hội của quốc gia và địa phương Đây có thể coi là mục

tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển của du lịch sinh thái

Tóm lại, du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi

trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và đặc

điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích

hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách quan gây ra và tạo ra

lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực

1.2 Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:

1.2.1 Những nguyên tắc của Du lịch sinh thái bền vững:

Các cơ sở nền tảng ban đầu làm kim chỉ nam cho hoạt động DLST bao gồm:

- Nghiên cứu và bảo tồn các giá trị thiên nhiên, giá trị văn hóa

- Tăng cường nội dung giáo dục môi trường

- Tổ chức đồng bộ và chuyên nghiệp về nghiệp vụ du lịch và lữ hành nhằm

giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường

- Hướng mọi khả năng đến việc góp phần bảo vệ môi trường

Từ đó du lịch sinh thái khi hướng đến mục tiêu bền vững đã xây dựng các

nguyên tắc cơ bản sau đây:

a Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn Cân đối hài hòa trong việc sử dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển du lịch sinh thái

b Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… (chủng loài các hệ động thực

vật, bản sắc văn hóa dân tộc,…) vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí hàng đầu trong

hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu

c Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản

và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả Tác động giảm thiểu mức tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường

d Trong quá trình khai thác họat động DLST, cần phối hợp mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, vì trách nhiệm của DLST là đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương như là một sự đầu tư gián tiếp cho bảo tồn, góp phần tạo tính tương tác bền vững cho hoạt động DLST từ địa bàn sở tại

e Phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch của địa phương, vùng và của quốc gia

f Tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.Với sự tham gia tích cực của cộng đồng sở tại không chỉ đem lại lợi ích cho riêng cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn góp phần tăng cường khả năng đáp ứng tính đa dạng sản phẩm của DLST

g Triển khai các họat động tư vấn các nhóm lợi ích và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh

h Marketing du lịch một cách trung thực và có trách nhiệm Phải cung cấp cho

du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của

du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách

Trang 15

i Tổ chức đào tạo các thành viên quản lý, chuyên nghiệp hóa các nhân viên phục

vụ trong họat động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch

1.2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:

Theo từ nguồn của Phạm Trung Lương, 2002 Du lịch sinh thái những vấn đề

về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội thì xuất phát

từ nguyên tắc và mục tiêu của DLST, có thể tổng quát hóa các điều kiện để phát

triển DLST theo năm nội dung cơ bản sau đây:

- Điều kiện thứ nhất: để có thể tổ chức tốt được loại hình DLST tại một điểm

đến điều kiện trước tiên là ở đó phải tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình

với tính đa dạng sinh học cao, có sức hấp dẫn du khách Sinh thái tự nhiên được

hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu khu vực và các động thực vật

bao gồm: Sinh thái tự nhiên; Sinh thái động vật; Sinh thái thực vật; Sinh thái nông

nghiệp điển hình; Sinh thái khí hậu; Sinh thái nhân văn

Các yếu tố sinh thái đặc thù nêu trên góp phần nổi bật tính chất DLST là loại

hình du lịch dựa vào thiên nhiên Tuy nhiên ngày nay DLST cũng còn phát triển

hoạt động dưới nhiều loại hình khác như: du lịch sinh thái vùng nông thôn, du lịch

trang trại điển hình, du lịch sinh thái văn hóa

- Điều kiện thứ hai: nói lên tính chất quản lý tổ chức của con người nghĩa là:

+ Đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhân viên tác nghiệp trong hoạt động DLST

Vì để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái,

người hướng dẫn viên du lịch ngoài khả năng về ngôn ngữ truyền đạt, còn là người

có am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng sở tại Yếu tố này

rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST Trong

nhiều trường hợp, cần thiết phải có sự cộng tác của người địa phương để có những

hiểu biết tốt nhất truyền đạt đến cho du khách

+ Đòi hỏi người quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể Trước đây các

nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có

bất kỳ cam kết nào cho việc bảo tồn hoặc quản lý các khu thiên nhiên, họ chỉ đơn

giản là tạo cho du khách cơ hội để nhận biết những giá trị tự nhiên và văn hóa mặc

cho sau này những giá trị này suy giảm hay vĩnh viễn biến mất Ngược lại các nhà điều hành và quản lý DLST luôn có sự cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu bảo tồn thiên nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tác quản lý với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và khách du lịch

- Điều kiện thứ ba: mục đích hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do

hoạt động DLST gây ra cho tự nhiên và môi trường, do đó DLST phải tính đến điều

kiện “sức chứa” hoặc “sức tải” Khái niệm sức chứa được hiểu ở 4 khía cạnh: vật lý,

sinh học, tâm lý học và xã hội học Sức chứa về khía cạnh vật lý được hiểu là lượng

khách tối đa mà điểm đến DLST có thể tiếp nhận, điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ

- Điều kiện thứ tư: thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách DLST

Việc thỏa mãn những mong muốn của khách DLST với những kinh nghiệm, hiểu biết mới về tự nhiên, văn hóa bản địa là một công việc rất phức tạp nhưng nó lại là yêu cầu thực sự cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của DLST Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách phải là ưu tiên hàng đầu chỉ đứng sau công tác bảo tồn những giá trị sinh thái tự nhiên và giá trị xã hội

- Điều kiện thứ năm: vì khách DLST luôn có nhu cầu và tư duy cao trong việc

thưởng ngoạn, đã biến loại hình du lịch này thành loại du lịch trí thức, tư duy tiên tiến Do đó phải xây dựng mẫu khách du lịch sinh thái điển hình, họ là những du khách quan tâm thực sự đến giá trị tự nhiên và nhân văn ở khu vực thiên nhiên hoang dã

1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển Du lịch sinh thái bền vững:

Cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững của một chủ thể du lịch là những tiêu chuẩn hoặc yếu tố được dùng để đánh giá quá trình hoạt động, để so sánh về mặt không gian và thời gian ở phạm vi vĩ mô hoặc vi mô của nền kinh tế xã hội Các

Trang 16

nhóm tiêu chuẩn hoặc yếu tố dùng làm cơ sở để đánh giá sự phát triển DLST theo

hướng bền vững bao gồm 3 tiêu chuẩn chính như sau:

1.3.1 Tiêu chuẩn về kinh tế:

- Mức tăng trưởng kinh tế do quá trình phát triển đem lại

- Mức đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương

- Sự phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển kinh tế

xã hội của quốc gia và địa phương

1.3.2 Tiêu chuẩn về xã hội, con người:

- Sự khai thác hợp lý các giá trị văn hóa-xã hội

- Giáo dục, xây dựng, phục hồi và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc

- Sự hưởng thụ về văn hóa, mức sống và sinh hoạt của cộng đồng được cải

thiện

1.3.3 Tiêu chuẩn về môi trường:

- Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên

- Sức chứa của các điểm đến DLST, mật độ phát triển cho phép

- Quản lý môi trường của những hoạt động phát triển, quản lý chất thải

- Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái bằng việc giáo dục nâng cao nhận

thức tôn trọng, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái cho các địa phương tham gia vào

hoạt động phát triển

Các tiêu chuẩn đánh giá nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho việc định

lượng và định tính về những hoạt động phát triển cho một quốc gia, một vùng, một

tỉnh và từng doanh nghiệp như: giúp cho các nhà hoạch định chiến lược và đề ra

chính sách, xác định nhiệm vụ, mục tiêu phát triển DLST bền vững; giúp đưa ra các

quyết định, chương trình hoạt động để đạt được nhiệm vụ và mục tiêu phát triển bền

vững

1.4 Tài nguyên du lịch sinh thái:

1.4.1 Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái: tài nguyên DLST là một khái

niệm rất rộng bao gồm các yếu tố cơ bản để tạo nên các điểm, các tuyến hoặc khu

DLST; có thể bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân

văn, các công trình do nhân loại tạo nên có thể được sử dụng để nhằm thỏa mãn cho nhu cầu về DLST

Khái niệm về tài nguyên du lịch, theo Luật Du lịch 2005: “ Là cảnh quan thiên

nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là các yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch,

đô thị du lịch”

Có hai loại tài nguyên du lịch:

- Tài nguyên du lịch thiên nhiên: bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa

mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

- Tài nguyên du lịch nhân văn: bao gồm các truyền thống văn hóa, các yếu tố

văn hóa, văn nghệ nhân gian, di tích lịch sử - cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Như vậy rõ ràng tài nguyên DLST lấy cơ sở từ nguồn tài nguyên thiên nhiên

và văn hóa – nhân văn bản địa Tuy nhiên các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể nào đó và các giá trị văn hóa nhân văn bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó Cũng như các giá trị thiên nhiên, các giá trị văn hóa bản địa chỉ trở thành tài nguyên DLST một khi nó được khai thác để tạo ra sản phẩm phục vụ cho mục đích phát triển du lịch

Nhìn chung tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú, thông thường người

ta đưa vào khai thác và phục vụ một số dạng tài nguyên DLST chính bao gồm:

 Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù và tập trung chú ý đến những nơi có tính

đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (như ở các vườn

quốc gia, khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển…)

Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, làng hoa, vườn trang trại…)

Trang 17

 Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển có sự gắn kết với sự tồn

tại của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác truyền thống, các lễ hội,

các sinh họat truyền thống của cộng đồng…

Các di sản văn hoá bản địa truyền thống (gồm văn hoá vật thể và phi vật thể)

1.4.2 Môi trường và hệ sinh thái:

1.4.2.1 Khái niệm môi trường:

- Về khía cạnh sinh thái học, theo Vũ Trung Tạng (2000) thì “Môi trường là

một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,…

mà ở đó, cá thể, quần thể, loài, … có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các

phản ứng thích nghi của mình”

- Trong Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (1993): “ Môi trường

bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với

nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát

triển của con người và thiên nhiên”

1.4.2.2 Hệ sinh thái môi trường:

Hệ sinh thái môi trường (Environmental ecosystem) là một hệ thống bao gồm

các quần xã sinh vật và con người, có cùng các điều kiện môi trường bao quanh nó

với sự tương tác lẫn nhau, liên tục không ngừng mà kết quả của sự tác động đó

quyết định đến chiều hướng phát triển của quần xã và sinh cảnh của toàn hệ

Các Hệ sinh thái chủ yếu bao gồm: HST rừng nhiệt đới; HST núi cao; HST

đất ngập nước; HST sông, hồ, suối thác; HST nông nghiệp (vườn, trang trại); HST

biển, đảo; HST đồng cỏ tự nhiên Phần lớn các hệ sinh thái này thường tập trung

quanh các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên nên việc khai thác các tiềm

năng DLST để phục vụ phát triển du lịch thường gắn với các khu vực này

1.4.2.3 Đa dạng sinh học:

Công ước Quốc tế về đa dạng sinh học định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự

khác biệt trong mọi cơ thể sống có từ mọi nguồn, từ các HST ở đất liền, ở biển và ở

các HST khác ở nước, và mọi tổ hợp sinh thái mà các cơ thể sống là thành phần

hợp thành; Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài và

các HST Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các chủng quần, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người”

Nói ngắn gọn, đa dạng sinh học là mức độ phong phú của thiên nhiên sống, là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất Đa dạng sinh học có ba mức độ chính: đa dạng di truyền; đa dạng loài; đa dạng sinh thái

1.4.3 Đặc điểm của tài nguyên Du lịch sinh thái:

a Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên

có giá trị vô cùng to lớn và đặc sắc

b Tài nguyên DLST rất nhạy cảm với các tác động

c Tài nguyên DLST có thời gian khai thác khác nhau

d Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác ngay tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch

e Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Tuy nhiên để có điều kiện khai thác tài nguyên DLST một cách hiệu quả đòi hỏi phải có được một hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi, đồng bộ, từ đó mới tạo nên các tuyến điểm du lịch nối đến các vùng tài nguyên hấp dẫn này

1.5 Tính tất yếu của hoạt động DLST dựa vào cộng đồng góp phần phát triển bền vững:

 Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động DLST và khách du lịch Sự tiếp xúc ngắn ngủi giữa du khách và người dân bản địa có thể góp phần làm cho trải nghiệm DLST trở nên hoàn hảo hoặc ngược lại Sự tham gia của cộng đồng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển DLST Điều này được xem là thách thức và cũng là cơ hội lớn cho cả cộng đồng địa phương và các bên tham gia Do đó, cần xây dựng những định hướng phát triển phù hợp cùng với những hành động kịp thời nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham gia của họ vào phát triển DLST

 Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST rất cần thiết là vì:

Trang 18

- Cộng đồng địa phương chính là người đầu tiên tiếp xúc khai thác sử dụng và

có kinh nghiệm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở địa phương

qua nhiều thế hệ Do đó, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia

trong hoạt động DLST thì có thể họ sẽ cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với quản lý

bền vững các nguồn tài nguyên này

- Nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển DLST thì họ sẽ

càng có thiện cảm với hoạt động DLST và những kết quả đạt được từ hoạt động này

cũng sẽ cao hơn

- Kinh nghiệm và những hiểu biết về các nguồn tài nguyên bản địa của người

dân địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLST

- Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách hàng

ngày, do đó nếu người dân có thái độ tích cực với đối với hoạt động DLST thông

qua việc cùng tham gia, hưởng lợi và cùng quyết định thì điều này sẽ mang lại

những nguồn lợi đáng kể cho chính họ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu du khách

 DLST dựa vào cộng đồng là loại hình tập trung vào sự tham gia của người

dân địa phương trong việc quản lý DLST và phân phối lợi nhuận Loại hình DLST

này phải được tổ chức bởi người dân địa phương và vì người dân địa phương, gắn

trách nhiệm của họ với việc quản lý, khai thác và bảo tồn các tài nguyên DLST tự

nhiên và nhân văn bản địa DLST dựa vào cộng đồng cũng hỗ trợ cho cho việc phân

phối một cách công bằng lợi nhuận thu được từ DLST như là một nguồn thu nhập

thứ hai Phần lớn lợi nhuận do DLST mang lại thuộc về địa phương Mục đích của

DLST dựa vào cộng đồng bao gồm 5 nội dung cơ bản như sau:

- Bảo tồn các nguồn tài nguyên văn hóa và thiên nhiên

- Tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác cho cộng đồng

- Thúc đẩy và trao quyền cho các cộng đồng nhằm xây dựng quyền sở hữu các

nguồn tài nguyên

- Đảm bảo chất lượng thỏa mãn cho du khách

- Đảm bảo sự quản lý theo hướng du lịch sinh thái bền vững

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nước ta hiện nay, ngành du lịch đang dần trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp của ngành vào GDP quốc gia ngày càng tăng Nên ở Chương 1 tác giả đã khái quát các vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận của việc phát triển du lịch sinh thái và một số khái niệm về du lịch bền vững Với những vai trò to lớn của mình, kết hợp với việc thực hiện đúng các nguyên tắc đảm bảo phát triển du lịch bền vững hy vọng trong tương lai không xa, ngành du lịch của nước ta nói chung và ngành du lịch của tỉnh nói riêng sẽ có những bước tiến nhảy vọt, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước nhưng vẫn đảm bảo phát triển du lịch sinh thái ổn định, bền vững cho chúng ta hôm nay và cho chúng ta mai sau

Phát triển du lịch sinh thái bền vững tuy là một vấn đề còn tương đối mới ở nước

ta nói chung và tỉnh Bình Thuận nói riêng, nhưng đối với các nước trên thế giới thì họ

đã đạt được những thành công ban đầu trong việc thực hiện đường lối phát triển bền vững ngành du lịch Là nước đi sau, chúng ta may mắn nhận được sự giúp đỡ cũng như đúc kết được cho mình những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững mà

họ đã đạt được để từ đó có thể áp dụng một cách linh hoạt vào công cuộc phát triển bền vững ngành du lịch nước ta

Thực trạng phát triển hoạt động du lịch sinh thái của tỉnh Bình Thuận sẽ được phân tích trong chương 2

Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH

THÁI CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội của tỉnh Bình Thuận:

2.1.1 Tổng quan về địa lý kinh tế:

Bình Thuận là một tỉnh ven biển duyên hải cực Nam Trung Bộ có tọa độ địa

lý từ 10033’42” đến 11033’18” vĩ độ Bắc và từ 107023’41” đến 108052’42” kinh độ

Đông, với vị trí địa lý là phía Đông Bắc và Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận; phía Bắc và

Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà

Rịa-Vũng Tàu, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm

phía Nam và phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông Ngoài khơi có Đảo Phú Quý

cách Thành phố Phan Thiết 120 km Trung tâm tỉnh là thành phố Phan Thiết

Tỉnh nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh cách Phan Thiết

khoảng 200 km về phía đông bắc và thành phố Nha Trang cách Phan Thiết khoảng

250 km về phía nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.518 km về phía nam

Nơi xa nhất tỉnh là xã Phan Dũng ở huyện Tuy Phong thuộc phía Bắc; xã Tân

Thắng ở huyện Hàm Tân thuộc phía Nam; xã Vĩnh Hảo ở huyện Tuy Phong thuộc

phía Đông và phía Tây là xã Trà Tân ở huyện Đức Linh

Bình Thuận có quốc lộ 1A với chiều dài đi qua là 178km; chiều dài đường sắt

thống nhất Bắc – Nam là 180km chạy qua các tỉnh phía Bắc và phía Nam cả nước;

quốc lộ 28 nối liền Bình Thuận với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền

với Trung tâm dịch vụ dầu khí và Bà Rịa Vũng Tàu

Tỉnh có đường bờ biển dài 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná thuộc

tỉnh Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Và

diện tích vùng lãnh hải 52.000 km2, là một trong những vùng biển giàu nguồn lợi

hải sản

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 7.813 km2

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Bình Thuận đến năm 2013

Tỉnh

Tổng Diện tích

tự nhiên

(nghìn ha)

Trong đó Đất SX

Nông nghiệp

Đất Lâm nghiệp

Đất Chuyên dùng

54,593

7

7,762

1

(Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận)

- Bình Thuận gồm 1 Thành phố và 8 huyện với 127 xã, phường, thị trấn

Bảng 2.2: Đơn vị hành chính cơ sở tỉnh Bình Thuận tính đến năm 2013

Tỉnh Thành phố Quận Thị xã Huyện Phường Thị trấn Xã Bình Thuận 1 - 1 8 19 12 96

(Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận)

- Về dân số tỉnh trung bình (tính đến năm 2013) là gần 1.201.239 người

- Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc – tây nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển, đồng bằng phù sa, vùng đồi gò

và vùng núi thấp

- Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiều nắng, nhiều gió, không có mùa đông và khô hạn nhất cả nước Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô đã dẫn đến sự hình thành

đa dạng và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên du lịch mà những nơi khác không có được

Những đặc điểm về lịch sử hình thành, vị trí địa lý lãnh thổ, địa hình địa mạo và sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Thuận đã tạo ra sự phong phú, đa dạng với tính pha trộn của các hệ sinh thái tại chỗ với tính đa dạng sinh thái cao của các vùng lân cận như Nam Tây Nguyên, vùng duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ Đây là những yếu tố cơ bản tạo nên tài nguyên du lịch và DLST đặc sắc của tỉnh Bình Thuận, đảm bảo cho sự phát triển DLST bền vững của tỉnh trong tương lai

Trang 20

2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh:

Về tình hình kinh tế – xã hội, Bình Thuận là tỉnh phát triển còn chậm và không

đồng đều giữa các khu vực Về mật độ dân số (tính đến năm 2013) là 154 người/

km2, thấp hơn mức bình quân các tỉnh duyên hải Nhưng có sự phân bố dân số

không đều, nơi có mật độ dân số đông nhất là thành phố Phan Thiết với 1.077

người/km² và nơi có mật độ dân cư thấp nhất là huyện Bắc Bình với 66

người/km² (Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận - 2013)

Tỉnh Bình Thuận có lợi thế về tài nguyên đất đai và vị trí địa lý nên đã có

bước phát triển vượt trội Một số chỉ tiêu kinh tế chính của tỉnh như sau:

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của Bình Thuận từ năm 2010

đến năm 2013

Dân số trung bình (1.000 người) 1.175 1.180,3 1.193,5 1.201

Mật độ dân số (người/ km²) 150 151 153 154

Tổng thu ngân sách (tỷ đồng) 6.870 7.820 7.487 7.436

Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 219 283 318 372

Doanh thu từ du lịch (tỷ đồng) 2.500 3.351 4.372 5.474

Tốc độ tăng GDP (%) 11,5 9,7 9,6 8,6

Bình quân GDP/ người (USD) 1.058 1.177 1.402 1.566

( Nguồn : Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Thuận )

2.1.2.1 Lĩnh vực kinh tế

Theo nguồn từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Thuận ngày 07/8/2014 về

thông tin chỉ tiêu Kinh tế-Xã hội thì 6 tháng đầu năm kinh tế – xã hội Bình Thuận

có nhiều khởi sắc

Trong điều kiện tỉnh tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tình hình kinh tế xã

hội của tỉnh trong năm tiếp tục ổn định và có nhiều mặt chuyển biến tích cực, nhiều

chỉ tiêu tăng so với cùng kỳ năm trước Tổng sản phẩm trong tỉnh 6 tháng đầu năm

2014 ước tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước Trong đó nhóm ngành nông-lâm

nghiệp và thủy sản tăng 4,8%; công nghiệp-xây dựng tăng 6,7% (công nghiệp tăng

5,8%, xây dựng tăng 8,7%); dịch vụ tăng 10,5%

Công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh năm 2010) trong 6 tháng ước thực

hiện 8.569 tỷ đồng, đạt 41,2% so với kế hoạch, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm

trước Trong đó công nghiệp khai khoáng đạt 379,5 tỷ đồng (tăng 13,7%); công nghiệp chế biến chế tạo đạt 5.541,8 tỷ đồng (tăng 6,1%); sản xuất và phân phối điện đạt 2.573,8 tỷ đồng (tăng 20,8%); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải đạt 73,9 tỷ đồng (tăng 8,2%) Một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ

năm trước như: khai thác cát xây dựng, đá xây dựng, thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, nước đá, nước máy sản xuất, muối hạt, hàng may mặc, điện sản xuất Bên cạnh

đó, một số sản phẩm giảm như: gạch nung, nước mắm, nhân hạt điều, đường

Du lịch

Theo nguồn từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Thuận ngày 09/9/2014 về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh thì 6 tháng đầu năm 2014 đã có một số chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả khả quan

Hoạt động kinh doanh du lịch tiếp tục phát triển, chất lượng tổ chức các

chương trình trong dịp Tết, lễ, các ngày kỷ niệm, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch được nâng lên, nhiều hoạt động diễn ra sôi động, nhộn nhịp để lại ấn tượng tốt đẹp cho du khách Đảm bảo công tác an ninh trật tự, an toàn du khách, vệ sinh an toàn thực phẩm, … tại các khu, tuyến, điểm du lịch Dự ước 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đón 1.863 ngàn lượt khách, đạt 50,4% so với kế hoạch, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; tổng doanh thu ước đạt 3.185 tỷ đồng, đạt 53,1% kế hoạch, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước

Phát triển nông nghiệp, nông thôn Sản xuất vụ Đông Xuân 2013-2014 thuận lợi, diện tích gieo trồng cây hàng

năm 46.747 ha, đạt 110,8% so với kế hoạch vụ, tăng 8,9% so với vụ Đông Xuân năm trước Trong đó nhóm cây lương thực đạt 39.954 ha, đạt 120,7% kế hoạch vụ,

tăng 7,5% (riêng lúa 35.903 ha, đạt 119,3% kế hoạch vụ, tăng 6,7%) Sản lượng

Trang 21

lương thực vụ Đông Xuân đạt 252,4 ngàn tấn, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm

trước, trong đó lúa đạt 221 ngàn tấn, tăng 9,9% (năng suất lúa bình quân đạt 61,5

tạ/ha, năm trước đạt 59,8 tạ/ha)

Diện tích các cây trồng lợi thế tiếp tục phát triển, trong 6 tháng đầu năm toàn

tỉnh đã trồng mới 1.957 ha thanh long và 100 ha cao su Chương trình xã hội hóa

giống lúa và mô hình cánh đồng lúa năng suất cao tiếp tục triển khai, đã thực hiện

358 ha giống lúa xác nhận và triển khai được 1.854 ha sản xuất lúa theo mô hình

cánh đồng năng suất cao Tiếp tục thực hiện chương trình sản xuất thanh long theo

tiêu chuẩn VIETGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices), đến nay đã cấp

giấy chứng nhận được 7.468,6 ha, đạt 99,6% kế hoạch

Tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, phòng chống cháy

rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, chống lấn chiếm đất lâm nghiệp và chống

người thi hành công vụ Tăng cường kiểm tra, truy quét chống phá rừng tại các

điểm nóng và vùng giáp ranh Giao khoán bảo vệ rừng 94.073 ha, đạt 81,3% kế

hoạch, trong đó giao khoán cho đồng bào thiểu số 86.431 ha

Sản lượng hải sản khai thác ước thực hiện 78,6 ngàn tấn, đạt 42,1% kế hoạch

và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước Chỉ đạo nghiêm công tác bảo vệ nguồn lợi

thủy sản Quản lý chặt chẽ nghề giã cào bay, ngăn chặn sử dụng chất nổ, xung điện,

chất độc để đánh bắt hải sản Hoạt động nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, sản

lượng ước thực hiện 5.493 tấn, đạt 43,2% kế hoạch, bằng cùng kỳ năm trước Hoạt

động sản xuất tôm giống tương đối thuận lợi, sản lượng tôm giống sản xuất tăng

3,7% so với cùng kỳ năm trước

Thương mại, dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước 6 tháng đầu năm 2014 là 124,4 triệu USD,

đạt 47,9% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng thủy sản

đạt 50,4 triệu USD (tăng 30,5%); hàng nông sản đạt 11,8 triệu USD (giảm 46,2%);

hàng hóa khác 62,2 triệu USD (tăng 5,2%) Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: hải sản

đông lạnh 7.029 tấn (tăng 15,5%), hải sản khô 615 tấn (tăng 13,1%), nhân hạt điều

168 tấn (giảm 40,2%) Xuất khẩu dịch vụ du lịch 6 tháng ước đạt 64,4 triệu USD,

đạt 53,7% kế hoạch, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng ước đạt 54 triệu USD, giảm 2,6% so cùng kỳ

năm trước, trong đó máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đạt 43,2 triệu USD (tăng

6,1% so với cùng kỳ năm trước)

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước thực hiện 10.815 tỷ đồng, đạt 38,6% kế hoạch, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước Tổ chức thành công Hội chợ triễn lãm Công thương vùng kinh tế Đông Nam Bộ năm 2014 Tham gia các hội chợ-triển lãm trong nước để quảng bá thương hiệu, sản phẩm lợi thế của tỉnh nhằm mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu

Mạng lưới bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, mật độ các điểm phục vụ bình quân đạt 1,5km/điểm; tổng số thuê bao điện thoại các loại: 1.648 ngàn thuê bao, mật độ 139,6 thuê bao/100 dân; tổng số thuê bao Internet 56,3 ngàn thuê bao,

tỷ lệ người sử dụng Internet là 34,2% đạt 97,8% kế hoạch

Hoạt động vận tải ổn định, khối lượng luân chuyển hàng hóa đường bộ đạt 235

triệu tấn km (tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước), luân chuyển hàng hóa đường thủy đạt 2.881 ngàn tấn km (tăng 13,6%), hành khách đường bộ đạt 434,5 triệu người km (tăng 11,7%), hành khách đường thủy đạt 2.822 ngàn lượt người km (tăng 14,7%) Công tác tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn giao thông, bảo vệ công

trình giao thông, hành lang an toàn đường bộ được duy trì thường xuyên

Tài chính – Tín dụng

Thu ngân sách nhà nước:

Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2014 ước thực hiện 3.233 tỷ

đồng, đạt 50% so với dự toán năm, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước Trong đó thu nội địa 1.805 tỷ đồng, đạt 47% so với dự toán, tăng 6,6% so cùng kỳ năm trước

(bao gồm: thu thuế và phí 1.709 tỷ đồng, đạt 50,2%, tăng 6,1%; thu tiền sử dụng

đất 96 tỷ đồng, đạt 22,3%, tăng 15,9%)

Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm thực hiện 3.040 tỷ đồng, đạt 49,5% dự toán năm, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước Công tác điều hành chi

Trang 22

ngân sách đã bám sát Nghị quyết HĐND tỉnh, đảm bảo cho kịp thời tiền lương, phụ

cấp và trợ cấp cho các đối tượng

Hoạt động tín dụng trên địa bàn ổn định và triển khai kịp thời chính sách tín

dụng và các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ

thị trường Tiếp tục mở rộng tín dụng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tiếp

cận vay vốn ngân hàng với mức lãi suất cho vay giảm dần

2.1.2.2 Lĩnh vực văn hóa – xã hội

Giáo dục và đào tạo

Hệ thống trường, lớp được quan tâm đầu tư xây dựng kiên cố hóa Chất lượng

giáo dục có sự chuyển biến tích cực, công tác phổ cập giáo dục được tập trung chỉ

đạo Toàn tỉnh tiếp tục duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

mức độ 1 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đặc biệt triển khai công tác phổ cập

giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đạt kết quả khả quan

Y tế

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật của ngành Y tế tiếp tục được đầu tư

Hoàn thành và đưa vào sử dụng công trình Bệnh viện Hàm Thuận Bắc và Khoa ung

bướu – Bệnh viện đa khoa tỉnh Tiếp tục thi công các hạng mục, công trình bệnh

viện Phú Quý và Bệnh viện Y dược học cổ truyền – Phục hồi chức năng, phấn đấu

hoàn thành đưa vào sử dụng vào quý IV/2014

Các bệnh truyền nhiễm được giám sát chặt chẽ, nhất là dịch sởi, sốt xuất

huyết, tay chân miệng Tính đến ngày 16/6/2014, có 94 trường hợp sốt phát ban và

sởi, trong đó mắc bệnh sởi 24 ca; sốt xuất huyết 235 ca; tay chân miệng 139 ca và

không có tử vong Các đơn vị y tế dự phòng tỉnh, huyện đã chủ động tích cực triển

khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền,

vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh Chỉ tiêu các

chương trình mục tiêu y tế quốc gia cơ bản đạt tiến độ Công tác khám chữa bệnh

đáp ứng được nhu cầu nhân dân Các cơ sở khám chữa bệnh công lập triển khai thực

hiện tốt Luật Bảo hiểm y tế Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tiếp tục được tăng

cường Công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ sở hành nghề y dược tư nhân luôn được quan tâm, duy trì thường xuyên

Văn hóa – Thể dục, thể thao Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc được quan tâm tăng

cường công tác quản lý và xử lý vi phạm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ

karaoke, vũ trường, quán bar Trong tỉnh hoàn thành sơ kết Phong trào “Toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2013 và triển khai nhiệm vụ phong trào

năm 2014

Xúc tiến xây dựng Đề án Quy hoạch hình thành trung tâm du lịch – thể thao biển mang tầm quốc gia theo kết luận của Bộ chính trị Hoạt động thể dục thể thao tổ chức thành công các giải thể thao truyền thống vào dịp lễ, Tết gắn với phục vụ phát triển du lịch Tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ VII/2014 Duy trì tốt các giải thể thao có lợi thế biển như lướt ván buồm, diều lượn thể thao, đua thuyền truyền thống, … thu hút đông đảo du khách và nhân dân Công tác đảm bảo an toàn các bãi tắm biển, hồ bơi; hoạt động thể thao trên biển được tăng cường nhất là tập trung kiểm tra các hoạt động mô-tô nước

Lao động – Xã hội Giải quyết việc làm 6 tháng đầu năm 2014 ước khoảng 11.000 lao động, đạt

45,8% kế hoạch, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước Đưa 30 lao động làm việc ở nước ngoài, cung ứng 1.800 lao động cho các doanh nghiệp Ước 6 tháng đầu năm

2014 đã đào tạo cho 6.500 người, đạt 50% so với kế hoạch năm và tăng 165,1% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó dạy nghề lao động nông thôn 5.000 người đạt 50%

so với kế hoạch và bằng 230% so với cùng kỳ năm 2013 (Nguồn: Cục Thống kê, Sở

Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Thuận)

Mặc dù các chỉ tiêu trung bình về kinh tế tổng hợp của tỉnh chưa cao, tuy nhiên với lợi thế về du lịch đã được xác định là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch, DLST, nếu có kế hoạch phát triển hợp lý, gắn với những bước khai thác một cách đồng bộ và hiệu quả chắc chắn ngành kinh tế du lịch sẽ sớm trở thành kinh tế mũi

nhọn góp phần thúc đẩy phát triển toàn diện về kinh tế xã hội của tỉnh

Trang 23

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận:

2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên của tỉnh:

Những đặc điểm về lịch sử hình thành, vị trí địa lý lãnh thổ, địa hình địa

mạo và sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Thuận đã tạo ra sự

phong phú, đa dạng vốn có cùng với tác động có tính chất pha trộn của các hệ

sinh thái tại chỗ với tính đa dạng sinh thái cao của các vùng lân cận như Nam

Tây Nguyên, vùng duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ Đây chính là

những yếu tố cơ bản tạo nên tài nguyên DLST đặc sắc của tỉnh Bình Thuận

2.2.1.1 Các hệ sinh thái điển hình ở tỉnh Bình Thuận:

Hệ sinh thái là một hệ thống mở hoàn chỉnh, bao gồm tập hợp các quần xã

sinh vật và khu vực sống của sinh vật còn được gọi là sinh cảnh Các hệ sinh

thái chính của tỉnh Bình Thuận hiện hữu gồm có:

- Nhóm hệ sinh thái rừng nhiệt đới: HST rừng kín thường xanh - á nhiệt

đới phát triển trên núi cao trung bình có mùa đông lạnh ẩm; HST rừng kín

thường xanh á nhiệt đới trên núi cao trung bình có mùa đông mát ẩm; HST

rừng kín thường xanh nhiệt đới phát triển trên núi thấp có mùa khô nóng; HST

rừng thưa cây họ dầu rụng lá về mùa khô phát triển trên vùng đồi gò và thung

lũng; HST rừng kín nửa rụng lá về mùa khô phát triển trên vùng gò đồi và

thung lũng; HST rừng kín thường xanh nhiệt đới nóng ẩm phát triển trên vùng

thấp; HST rừng savan ven biển gió mùa - khô hạn (HST savan)

Trong các HST rừng á nhiệt đới nêu trên, các HST rừng kín và thưa giáp

Lâm Đồng đang được các công ty du lịch lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh

bước đầu đưa vào khai thác theo loại hình DLST khám phá rừng kết hợp với

tham quan hồ nước, thác nước Riêng HST rừng Savan ven biển được khai thác

khá sớm ở các khu vực Mũi Né, Hàm Tiến và Hòa Thắng dưới dạng các tour

DLST tham quan đồi cát bay, trượt cát, khám phá rừng Savan

- Nhóm Hệ sinh thái đất ngập nước: HST ngập mặn ven biển; HST rừng

ngập mặn cửa sông ven biển, bãi lầy kết hợp với phân bố các cồn cát; HST

đầm phá ven biển; HST hồ nước; HST các kiểu thực vật trên vùng trũng và

đồng bằng ngập nước; HST san hô; HST biển; HST các đảo nhỏ độc lập; HST vùng quần đảo nhỏ, bao gồm một đảo lớn và một số đảo nhỏ chung quanh

Hệ sinh thái biển đảo ở tỉnh Bình Thuận quan trọng nhất phải kể đến là khu vực đảo Phú Quý và đảo Cù Lao Câu, đây là hai khu vực được Bộ Nông nghiệp chọn xây dựng thành hai KBTB lớn của quốc gia để bảo tồn đa dạng sinh học cho tỉnh; hiện khu vực Cù Lao Câu đã được khai thác dưới loại hình DLST lặn–khám phá san hô, cá ở rạn đá, rất được du khách quốc tế ưa chuộng

- Nhóm hệ sinh thái vùng cát ven biển: tổng diện tích nhóm đất cát, cồn cát ven biển và đất mặn phân bố dọc theo bờ biển từ Nam Tuy Phong đến Hàm Tân là 146,5 nghìn ha chiếm 18,22 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Hệ sinh thái vùng cát ven biển là một trong những đặc trưng nhất ở tỉnh Bình Thuận, những đồi cát bán hoang mạc với nhiều đồi cát di động như những

“tiểu sa mạc Trung Đông thu nhỏ” gắn liền với hệ sinh thái độc đáo bao quanh

là HST savan cây bụi cùng với các hồ nước ngọt tự nhiên Hệ sinh thái cát ven biển gồm: HST đất cồn cát trắng vàng ven biển; HST nhóm đất cát biển; HST đất cát đỏ ven biển, riêng nhóm cát đỏ ven biển có lịch sử phát triển và tuổi hình thành lâu đời so với nhóm cồn cát trắng vàng và hầu như chỉ có ở tỉnh Bình Thuận Với màu sắc đỏ tươi, lại biến đổi hình dạng trong ngày nên những cồn cát đỏ di động hiện là dạng tài nguyên thiên nhiên đặc thù của Bình Thuận đang có sức thu hút lớn đối với du khách trong và ngoài nước ưa chuộng Các khu, điểm tham quan du lịch điển hình hệ sinh thái biển là:

Bảng 2.4: Các tài nguyên du lịch hệ sinh thái ven biển

1 Bãi biển Bình Thạnh Xã Bình Thạnh

2 Bãi biển Cà Ná Xã Vĩnh Tân

3 Bãi biển Cam Bình Xã Tân Phước

4 Bãi biển Đồi Dương Xã Hòa Minh

5 Bãi biển Thương Chánh Hưng Long

6 Bãi biển Gành – Hòn Lao Mũi Né

Trang 24

7 Bãi biển Hà Lãng Xã Tân Thắng

8 Bãi biển Hòn Lan Xã Tân Thành

9 Bãi biển Hòn Rơm Mũi Né

10 Bãi biển Hòn Tranh Xã Tam Thanh

11 Bãi biển Lạch Vũng Môn Xã Hòa Thắng

12 Bãi biển Long Sơn suối nước Long Sơn

13 Bãi biển Mỹ Sơn Xã Sơn Mỹ

14 Bãi biển Rặng Hàm Tiến

15 Bãi biển Thuận Quý – Khe Gà Xã Thuận Quý

16 Bãi biển Tiến Thành Tiến Thành

17 Bãi biển Hố Lỡ Tiến Thành

19 Bãi đá con Bảy Màu Xã Bình Thạch

20 Bãi Doi Dừa Xã Ngũ Phụng

21 Bãi Hòn Nghề Xã Hòa Thắng

22 Bãi nhỏ Ngành Gianh Xã Tam Thanh

23 Khu BTTN Đảo Cù Lao Câu Xã Phước Thề

24 Khu bảo tồn biển đảo Phú Quý Phú Quý

(Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và Du lịch)

Hệ sinh thái khô hạn và cồn cát, loại địa hình này chiếm 18,22% diện tích

tự nhiên của tỉnh và được phân bố dọc ven biển từ huyện Tuy Phong đến Hàm

Tân Khu vực có diện tích lớn nhất về loại địa hình này là ở huyện Bắc Bình

dài 52km, rộng 20km Địa hình chủ yếu là những đồi cát lượn sóng Đặc biệt

Bình Thuận có những cồn cát đỏ đặc trưng rất hấp dẫn khách tham quan, du

lịch Dạng địa hình này có thể khai thác tiềm năng du lịch tham quan, vui chơi

và các hoạt động trên cát ở gần biển, liên quan đến biển và có thể kết hợp du

lịch sinh thái và du lịch Canh nông vùng cát

Bảng 2.5: Các tài nguyên hệ sinh thái khô hạn – cồn cát

1 Đồi Cát Bay P Hàm Tiến

2 Đồi Cát Trinh Nữ Xã Hòa Thắng

(Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và Du lịch)

- Nhóm hệ sinh thái nông nghiệp: là một tổng thể bao gồm môi trường và

những quần thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi, cây rừng), các sinh vật gây hại (sâu, chuột, cỏ dại, sinh vật gây bệnh cho vật nuôi, v.v ), các sinh vật có ích,

đất, nước, khí hậu, con người, môi trường này được hình thành và biến đổi đều

do hoạt động của con người

Qua quá trình phát triển, ngày nay HST nông nghiệp đã được nhìn nhận là tài nguyên DLST độc đáo, các tổ chức du lịch nhiều nơi đã tập trung khai thác để tạo nên các sản phẩm DLST nông thôn, DLST vườn trại hấp dẫn nhất là các vùng nông nghiệp nhiệt đới Ở Bình Thuận, đặc biệt các vùng nông thôn, các vùng chuyên canh nông nghiệp như Hàm Thuận Bắc-Nam, Đức Linh-Tánh Linh, DLST kiểu tham quan vườn cây ăn trái như nho, thanh long, xoài,… đã bắt đầu xuất hiện và phát triển mặc dù chưa được hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó, song ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách du lịch quốc tế

2.2.1.2 Các khu bảo tồn thiên nhiên nội địa - một dạng tài nguyên du lịch sinh thái quan trọng:

Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có:

- Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (Tánh Linh)

- Khu bảo tồn thiên nhiên núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam)

Nhìn chung các Khu bảo tồn thiên nhiên nội địa kể trên là những tổ hợp tài nguyên DLST quan trọng góp phần phát triển hoạt động DLST của tỉnh

 Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (huyện Tánh Linh):

Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông nằm ở vùng đất thấp Nam Trung Bộ Việt Nam cao 1302m Không khí ở đây trong lành, thoáng mát Khu Núi Ông

có 23.194ha rừng Các kiểu rừng chính tại khu bảo tồn gồm rừng thường xanh,

Trang 25

rừng rụng lá và nửa rụng lá Ngoài ra còn có trảng cỏ, trảng cây bụi, trảng cây

bụi có cây gỗ rải rác ở những vùng thấp Tổng số có 332 loài thực vật bậc cao

có mạch đã được ghi nhận tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông Về khu hệ

động vật của Núi Ông, theo dự án đầu tư có 52 loài thú, 96 loài chim, 21 loài

bò sát, 7 loài ếch nhái và 22 loài cá đã được ghi nhận Trong đó có 25 loài thú

vừa có giá trị khoa học, vừa mang giá trị quý hiếm Cu li, khỉ, cầy, nai, hoẵng,

bò tót, sơn dương là những loài quý hiếm đáng kể đến ở Núi Ông Số liệu

khảo sát mới nhất của Viện điều tra quy hoạch rừng cho biết: Khu bảo tồn

thiên nhiên Núi Ông có 1.070 loài thực vật thuộc 4 ngành, 49 bộ, 149 họ và

560 chi Trong đó có nhiều loại gỗ nằm trong danh mục gỗ quý hiếm của Việt

Nam như: căm xe, cẩm, trầm hương và lim xanh “Đây thực sự là nguồn lợi

kinh tế to lớn và vô cùng quý giá của tài nguyên quốc gia." - ông Trần Minh

Tuấn – Giám đốc KBTTN Núi Ông cho biết

Về tài nguyên cảnh quan tự nhiên: Tọa lạc ở huyện Tánh Linh giáp với

tỉnh Đồng Nai là hồ Biển Lạc Gọi là Hồ Biển Lạc là vì hồ quá rộng cho nên

người ta cho rằng biển đã lạc vào rừng Hồ ở giữa rừng già rộng đến 1.000 ha

Về mùa mưa nước từ sông La Ngà đổ vào nước hồ dâng lên chiếm diện tích

3.000 ha Rừng già có nhiều gỗ quý như trắc, cẩm lai, giáng hương, căm xe,

gõ, và không biết bao nhiêu là loại phong lan rừng Ngoài ra còn có các thảm

thực vật và các loại động vật quý hiếm Trong khu rừng già gần Biển Lạc có

một ngọn thác đẹp tên là Thác Bà Đây là một thắng cảnh kết hợp với Biển Lạc

là nơi tham quan và du lịch hấp dẫn ở vùng núi rừng phía Tây Nam Bình

Thuận Suối nước nóng có thể dùng cho loại hình du lịch nghỉ dưỡng chữa

bệnh, làm phong phú thêm các dạng tài nguyên du lịch của vùng

Hồ Biển Lạc là một địa chỉ dã ngoại kết hợp khai thác với các dạng sản

phẩm như khám phá hệ sinh thái rừng xanh mưa ẩm nhiệt đới, đi bộ trong

rừng, xem vườn chim quanh Biển Lạc, du lịch khảo sát rất lý thú vì du khách

có thể ngồi thuyền dạo chơi giữa bốn bể trời nước mênh mông cùng với núi

rừng bát ngát, tham quan các hồ, thác nước nổi tiếng Với nguồn tài nguyên du

lịch hết sức phong phú và độc đáo, Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông sẽ là nơi triển vọng phát triển DLST trong một vài năm sắp tới của tỉnh Bình Thuận

 Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Cú (huyện Hàm Thuận Nam):

Núi Tà Cú là điểm leo núi hấp dẫn, một thắng cảnh kỳ thú của đất Bình Thuận Núi Tà Cú cao gần 649m nằm ven quốc lộ 1A, cách thành phố Phan Thiết khoảng 30km về phía đông nam Phong cảnh nơi đây thật hữu tình với bờ biển dài, đá núi muôn hình, rừng xanh bao quanh Khu du lịch núi Tà Cú lâu nay vốn là nơi có khí hậu lý tưởng, rất thuận lợi cho việc nghỉ dưỡng với tổng diện tích hơn 250.000m2, bao gồm cả rừng, núi và biển trong quần thể sinh thái phong phú, đa dạng Từ năm 2003 đến nay, núi Tà Cú còn nổi tiếng với hệ thống cáp treo, giúp du khách có thể vừa ngắm cảnh một vùng đồng bằng cực Nam Trung Bộ vừa tận hưởng không khí trong lành của vùng rừng nguyên sinh ngay bên dưới Núi Tà Cú còn được biết đến là Khu rừng bảo tồn thiên nhiên quốc gia, có thảm động, thực vật phong phú với hệ thực vật bước đầu được ghi nhận có 751 loài thuộc 465 chi của 129 họ, 4 ngành thực vật; Động vật hiện có

178 loài với 77 họ thuộc 28 bộ hơn chục loài quý hiếm, có tên trong sách Đỏ của thế giới như: thằn lằn đá, thằn lằn chân ngón, gà gô, diều núi, voọc bạc Trường Sơn, chà vá chân đen…, các loại cây quý và trên 150 loại cây thuốc Tồn tại các kiểu hệ sinh thái rừng đặc trưng trong đó quan trọng và độc đáo nhất là hệ sinh thái rừng thưa họ Dầu ven biển, rừng Sến cổ thụ khá tập trung, hiện là điểm khai thác khám phá thiên nhiên cho du khách tham quan Về tài nguyên cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa lịch sử: nổi

tiếng phải kể đến danh thắng Chùa Núi (còn gọi là Chùa Linh Sơn Trường

Thọ) và chùa Hố Dầu Khu chùa Núi rộng 16 ha có tượng phật nằm “Thích Ca

nhập niết bàn”, dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn là tượng phật nằm được xem lớn nhất ở Đông Nam Á … Hiện đây là một trong những nơi hành hương nổi tiếng, hằng năm cứ vào dịp rằm tháng giêng ÂL, hành hương kéo dài suốt cả tháng Tiếp đến là quần thể Hải Đăng Khe Gà, tọa lạc tại đảo Khe

Gà, thuộc vùng biển xã Tân Thành (Hàm Thuận Nam), đảo đá có diện tích 5ha

Trang 26

Ngọn hải đăng là công trình kiến trúc đồ sộ bằng đá granitte xanh tinh xảo,

tháp hải đăng cao 35m, độ cao tính từ mặt đất lên đến chóp đèn là 41,5m Là di

tích kiến trúc độc đáo vừa là thắng cảnh nổi tiếng của Bình Thuận, thu hút

đông đảo khách tham quan du lịch, nhất là các tour DLST vùng biển

Một tài nguyên quý giá khác là suối nước khoáng nóng Bưng Thị nằm

cạnh dãi rừng tràm hoang dã, chất lượng nước khoáng tốt có thể khai thác cho

hoạt động du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh Ngoài ra trong Khu bảo tồn thiên

nhiên còn có các hệ thống bưng bàu và hồ nước rất phong phú, lớn nhất phải kể

đến là Bưng Bà Tùng (151ha), đây là khu đất ngập nước nhỉ từ các động cát

chảy quanh năm, chỉ cách đường quốc lộ 1A khoảng 4km

Vị trí của Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú rất thuận lợi cho khai thác du

lịch, nằm sát đường quốc lộ 1A, phía sau tiếp giáp với đường quốc lộ dọc ven

biển Hiện tại ở khu vực dọc biển từ Thuận Quý đến Tân Thành đã hình thành

trên 14 khu Resort lớn, nhiều dự án khác đang được chính quyền địa phương

phê duyệt đầu tư, hứa hẹn trong tương lai với định hướng phát triển DLST

2.2.1.3 Hệ thống khu bảo tồn biển – hải đảo _ một dạng tài nguyên du

lịch sinh thái độc đáo ở tỉnh Bình Thuận:

 Khu Bảo tồn biển Cù Lao Câu (huyện Tuy Phong):

Cù Lao Câu là hòn đảo nhỏ, nằm sát bờ, phần nổi của đảo có diện tích

khoảng 1,5km2 Khu bảo tồn biển lấy Cù Lao Câu làm trung tâm và thủy vực

bao gồm từ đảo đến Vĩnh Hảo-Cà Ná và vùng biển bao quanh

 Về đặc điểm đa dạng sinh học:

- Quần xã san hô: theo tiến sĩ Chu Tiến Vĩnh_Phó Tổng cục trưởng

Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT) nhận xét Cù Lao Câu đã được các nhà

khoa học nghiên cứu và đánh giá là vùng biển có các rạn san hô còn giữ được

độ bao phủ cao, trên 225 loài san hô đã được xác định Đây cũng là nơi có rùa

biển đẻ và đặc biệt là loài trai tai tượng khổng lồ phân bố khắp khu vực này

Ngoài ra khu vực Cù Lao Câu còn có rất nhiều các loài cá cảnh biển hiếm có

Vì vậy, nếu kết hợp với giữ gìn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái để phục vụ

cho du lịch lặn biển, hoặc ngắm san hô qua tàu đáy kính có thể mang lại lợi ích về kinh tế cho ngư dân sống xung quanh khu bảo tồn này

- Cá sống ở rạn san hô: đã xác định được 211 loài thuộc 87 giống và 35

họ Giống loài cá sống ở rạn khu vực Cù Lao Câu đã bổ sung được 54 loài loài mới cho bảng danh mục cá biển Việt Nam

- Quần xã rong biển: theo tài liệu điều tra ở đây có 163 loài

- Động vật đáy: ngoài san hô, loài thân mềm được xem là động vật đáy

đa dạng nhất trên các rạn san hô Số loài giáp xác ở vùng biển Cù Lao Câu có

46 loài trong đó có nhiều loài có lối sống cộng sinh chặt chẽ với san hô, đây cũng là vùng phân bố của các loài giáp xác quý hiếm như Tôm hùm, Cua biển

 Về tiềm năng du lịch biển :

Cù Lao Câu cách bờ biển nơi gần nhất khoảng 8km Cảnh quan trên đảo hoang sơ, chung quanh có nhiều bãi tắm đẹp cát trắng mịn, đảo còn nguyên dáng vẻ hoang sơ với thảm thực vật phong phú, đa dạng; khí hậu trong lành, mát mẻ, nước ở đây trong xanh nhìn thấu đáy Những vách đá dựng sát biển, có nơi tạo thành các hang động đầy bí ẩn lôi cuốn du khách dừng chân Nếu khai thác sẽ là những sản phẩm du lịch độc đáo

Một tiềm năng du lịch to lớn khác trong DLST biển đảo chưa được quan tâm là cảnh quan dưới nước Vùng nước Cù Lao Câu ít chịu ảnh hưởng của các dòng chảy đất liền nên quanh năm hầu như trong suốt Với lợi thế rạn san hô phân bố nhiều nơi với mật độ phủ, tính đa dạng sinh học cao và giàu có nguồn cá cảnh, cùng với địa hình đáy rất đa dạng Đặc biệt ở phía Đông của đảo, sự tồn tại một số bãi cạn xen kẻ nơi biển sâu là điều kiện lý tưởng để hình

thành các khu lặn khám phá biển (hiện nay công ty Scuba –Vĩnh Hảo đã bước

đầu khai thác tour lặn khám phá san hô phục vụ du khách quốc tế và nội địa)

Về di tích lịch sử trên đảo ở khu vực bãi Miếu hiện có 3 miếu thờ Ông Nam Hải, lưu giữ được hơn 40 bộ cốt cá Voi lớn Hằng năm đến rằm tháng 4

âm lịch, để cầu tế cho một mùa đánh bắt cá bội thu, ngư dân các vạn chài làng

Phước Thể, Vĩnh Hảo tập trung tổ chức lễ hội cầu ngư (cúng Vạn) du khách

Trang 27

đến dịp này sẽ được chứng kiến một lễ hội đặc sắc, mang đậm dấu ấn tâm linh

của cư dân vùng biển

Khu bảo tồn biển Cù Lao Câu hội đủ các điều kiện tối ưu để phát triển

loại hình DLST biển- đảo trên cả ba tuyến: tuyến bờ và mép nước, trên mặt

nước và đáy đại dương Hiện tại đang là một điểm DLST lặn biển khám phá

san hô đầu tiên được đưa vào tour khai thác thu hút khá lớn lượng khách quốc

tế và nội địa đến từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận

 Khu Bảo tồn biển Đảo Phú Quý (huyện Phú Quý) :

Diện tích tự nhiên đảo chính đo được là 32km2, chiều dài khoảng

7,5km, chiều rộng khoảng 4,5km Cách Phan Thiết khoảng 56,7 hải lý về phía

Đông Nam Đảo được bao quanh bằng một vành đai đá đen cùng đá san hô

rộng và dày Địa hình bên trong của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn

núi chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44,9m)

Phú Quý là một quần đảo, được bao bọc xung quanh bởi 10 đảo lớn

nhỏ, lớn nhất trong các đảo nhỏ phải kể đến hòn Tranh diện tích tự nhiên

khoảng 270ha, nơi rộng nhất khoảng 400m, dài nhất chừng 1000m, cách đảo

lớn khoảng 900m về phía Đông Nam Hòn Tranh hiện là địa điểm được ưa

thích, lựa chọn của du khách du lịch sinh thái

Ở Phú Quý đã phát hiện được 70 loài thực vật trên cạn, 72 loài tảo biển,

134 loài san hô cứng và 15 loài nhuyễn thể Động vật chủ yếu là lớp chim và

bò sát như Chim cu, Chim yến, … Về san hô cứng chủ yếu tập trung ở bãi

Gành Hang, bãi lạch Dù (xã Tam Thanh) và các vùng phụ cận San hô ở Phú

Quý tập trung thành cụm lớn ở mực nước sâu, lúc còn nhỏ chúng kết thành

những khóm cây đa dạng, có màu trắng đục tuyệt đẹp Trong quá trình sinh

trưởng phát triển chúng liên kết khối lại với nhau thành những cụm lớn và trồi

lên mặt biển tạo thành những đảo nhỏ san hô rất lạ mắt Đặc biệt ở Phú Quý có

nhiều loại Đồi mồi có giá trị kinh tế cao, ở đây còn phát hiện bãi tập kết của

Rùa biển đến đẻ trứng theo mùa

Về tiềm năng du lịch: Xung quanh đảo có nhiều bãi tắm tốt với bãi cát

trắng mịn nằm trong vịnh nhỏ, đáng kể là bãi tắm vịnh Triều Dương, bãi tắm Hòn Tranh do ở xa khu dân cư nên ở đây chưa bị con người tác động nhiều và còn giữ được vẻ hoang sơ, nguyên thủy Trên bờ có những vách đá đen cấu tạo như chồng chất về phía biển tạo nên những hang động kỳ thú; dưới nước là những bãi san hô tập trung, ở đây có thể khai thác các loại hình du lịch lặn biển khám phá, câu cá, chèo thuyền và nghỉ dưỡng cao cấp Một số cảnh quan đồi núi đẹp khác như mũi Cây Thẻ, mũi Gành Hang, bãi Láng hay bãi Trâu ở Long Hải Đây là những tài nguyên du lịch sinh thái có giá trị, sẽ là những cơ sở để phát triển DLST ở đảo Phú Quý trong tương lai

Về di tích lịch sử: Đảo Phú Quý có nhiều danh lam thắng cảnh khá nổi

tiếng như chùa Linh Quang, vạn An Thạnh, nhiều đền chùa miếu mạo khác như: dinh Thầy, miếu Bà Công chúa Bàng Tranh Do sống xa cách đất liền, cư dân hội tụ của nhiều vùng miền đã tạo cho Phú Quý những nét văn hóa rất khác

lạ với văn hóa đất liền, nhờ đó đã hình thành một dạng tài nguyên văn hóa phi vật thể rất đặc trưng, khá đặc sắc được du khách và người dân bản xứ ưa thích

2.2.1.4 Các cảnh quan thiên nhiên-danh thắng khác của tỉnh Bình Thuận:

Tỉnh Bình Thuận có đường bờ biển dài 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt giáp

Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gắn liền với sự phân bố khá đồng đều của các cảnh quan danh thắng thiên nhiên đặc sắc, bãi biển hoang sơ, sạch mịn với phong cảnh hữu tình, những núi đá, eo vịnh, những thác nước, hồ đầm, khe suối đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên hết sức độc đáo của vùng Cụ thể gồm:

+ Các bãi biển, thác, suối nước khoáng và nước nóng:

Bãi biển Bình Thạnh; bãi Ghềnh Son; cụm bãi biển Vĩnh Thuỷ-Đồi

Dương và Thương Chánh (Phan Thiết); bãi biển Rạng-Hàm Tiến; bãi sau Mũi

Né-Hòn Rơm; bãi Hòn Hồng-Lạch Chùa-Vũng Môn; bãi biển Thuận Quý-Khe

Gà (Hàm Thuận Nam); biển Đồi Dương (Hàm Tân); suối Tiên (Hàm Tiến); động cát bay Mũi Né; cảnh quan Bàu Trắng (Bắc Bình); thác Bà (Tánh Linh);

Trang 28

thác Đầu Trâu, Trượt, Mưa Bay, Reo, hồ Đa Mi, Các suối nước khoáng, nước

nóng: như suối nước khoáng Vĩnh Hảo (Tuy Phong), suối nước khoáng ĐaKai

(Đức Linh) Ở Hàm Thuận Nam có suối nước khoáng Văn Lâm, Phong Điền;

suối nước nóng Bưng Thị Suối nước khoáng Núi Bà (Hàm Thuận Bắc)…

+ Các Cù lao nhỏ:

- Hòn Bà (Hàm Tân): là một đảo nhỏ nhô cao giữa biển, cách bờ biển

Lagi, huyện Hàm Tân 2km về phía Đông Trên hòn Bà hiện còn nhiều cây cổ

thụ Hiện nay hòn Bà là một trong những thắng cảnh đẹp, là điểm hành hương

và du lịch thu hút nhiều khách tham quan khi đến vùng Hàm Tân

- Hòn Nghề (Hoà Thắng - Bắc Bình): là một đảo nhỏ diện tích khoảng

350m2, đảo có hình thù rất giống Rùa biển đang bơi, cách bờ khoảng 400m

Nơi đây hàng năm được ngư dân khu vực Hoà Thắng tổ chức lễ hội cúng cầu

ngư, kết hợp với đền thờ Ông Nam Hải (cá Voi) trong vùng

Theo kết quả điều tra của tác giả, các loại hình kinh doanh ven biển là các

Khu du lịch, Khu nghỉ dưỡng, Khách sạn, Nhà hàng, quán giải khát, trong đó

có các dịch vụ như: các dịch vụ thể thao dưới biển (lướt ván buồm, ván diều,

môtô nước, cano); các dịch vụ massage; sân golf; tắm bùn khoáng Các loại

hình kinh doanh này tăng đáng kể về số lượng so với năm 2008

Bảng 2.6: Các loại hình kinh doanh ven biển

STT Địa điểm điều tra Nhà

hàng

Cơ sở Lưu trú

Thể thao dưới biển

Massage Tắm

bùn khoáng

Golf

1 Hàm Tiến, Phan Thiết 12 28 9 15 3

2 Mũi Né, Phan Thiết 7 16 5 5

3 Hòn Rơm, Phan Thiết 9 8 2 3

4 Phú Hài, Phan Thiết 3 7 2 2 1

5 Tiến Thành, Phan Thiết 5 6

2.2.2 Tài nguyên DLST nhân văn tỉnh Bình Thuận:

Thiên nhiên ưu đãi cho tỉnh Bình Thuận không những về cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn để lại cho tỉnh Bình Thuận suốt từ hải đảo Phú Quý đến vùng đất liền những tài nguyên nhân văn quý giá mang tầm giá trị quốc gia và khu vực đó là một nền văn hóa Chămpa phát triển rực rỡ trước khi lụi tàn, những di sản vật thể để lại không thể kể hết được phân bố tương đối đều khắp trên lãnh thổ của tỉnh Đây là tiền đề vững chắc để phát triển du lịch sinh thái văn hóa bản địa trong tương lai

2.2.2.1 Các di tich lịch sử-văn hóa:

a/ Các tháp Chăm nổi tiếng:

Trong gần 2.000 năm tồn tại và phát triển, vương quốc Chăm Pa đã sáng tạo ra nền văn hóa đặc sắc từng vang bóng một thời, dãi đất từ Ninh Thuận cho đến Bình Thuận có hàng chục di tích nhóm đền tháp Chăm Tháp Chăm được xây bằng gạch, kỹ thuật sử dụng gạch đất nung thật tuyệt diệu và tinh vi Cụ thể những cụm tháp nổi tiếng ở tỉnh Bình Thuận bao gồm:

- Nhóm đền tháp Poshanư (Tháp Phố Hài): nằm trên đồi cao khoảng

50m, dưới chân đồi là biển cả, Pôshanư là nhóm đền tháp Chăm có vị trí quan trọng so với các di tích kiến trúc ở Bình Thuận cũng là nơi diễn ra lễ hội Tết Kate của người Chăm ở Bình Thuận

- Ba nhóm tháp mới được phát hiện gần Phan Thiết: Tháp bà Châu Rế; Tháp làng Ghọ; Tháp Pô Ptao Yang Tôm

- Nhóm các đền thờ và di tích văn hóa Chăm ở Bình Thuận: đền thờ Pô

Klông Mơh Nai; đền thờ Pô Nít; đền thờ công chúa Bàng Tranh (hay Vàng

Chanh); vòng thành Sông Lũy, bảo tàng Chăm (Phan Thanh-Bắc Bình)

Trang 29

b/ Các đình – chùa - miếu:

Một số chùa tiêu biểu được khách hành hương thăm viếng hàng năm

gồm: Đình Xuân An (tại Chợ Lầu, Bắc Bình); đình Xuân Hội (Sông Luỹ, Bắc

Bình); đình Làng Đức Thắng, Đức Nghĩa (Phan Thiết); đình làng Phú Hội

(Hàm Thuận Bắc); miếu Bình Thạnh; Chùa Hang Cổ Thạch Tự (Tuy Phong);

chùa Linh Sơn Tự (chùa Núi Tà Cú, Hàm Thuận Nam); Linh Quang Tự (Tam

Thanh, Phú Quý); dinh Thầy Thím (Tân Hải, Hàm Tân); Ở Phan Thiết có dinh

vạn thờ cá Voi Thần Nam Hải; Ngoạ du sào và mộ chí sỹ Nguyễn Thông; di

tích Dục Thanh; bia chiến thắng Hoài Đức-Bắc Ruộng (Tánh Linh)

c/ Các di tích lịch sử nổi tiếng khác:

Chi nhánh bảo tàng Hồ Chí Minh: nơi lưu giữ và trưng bày những hiện

vật, hình ảnh về cuộc đời hoạt động của Bác Hồ, đặc biệt nơi đây có di tích

Dục Thanh, là ngôi trường mà Bác đã dừng chân dạy học vài năm trước khi ra

đi tìm đường cứu nước; khu căn cứ kháng chiến Lê Hồng Phong (Bình Thuận)

2.2.2.2 Các lễ hội tiêu biểu:

a/ Lễ hội dân gian của người Chăm và dân tộc khác: lễ Suk Yâng

(tháng 9 theo lịch Chăm); lễ Rija Nưga (lễ tống ôn), lễ Plao Paxah (cúng hoa

màu), lễ Pơh Păng Yang (khai mương đắp đập), lễ Kap Hlâu Krong (cầu mưa

thuận gió hòa), lễ Pô Bphum (cúng ruộng đất); lễ tết Thần Lúa của người

K’Ho, lễ tết Nhô Vrê R’He-mừng lúa trĩu hạt, lễ cúng Thần Lúa của người

Churu và người Mạ,…

b/ Lễ hội dân gian người Việt và người Hoa: lễ hội dinh Thầy Thím

(rằm tháng 9 âm lịch); lễ hội Nghinh Ông của người Hoa (hạ tuần tháng 7 Âm

lịch); lễ Nghinh Ông Nam Hải; lễ giỗ tổ chùa Cổ Thạch (25 tháng 5 âm lịch);

lễ giỗ tổ chùa Núi Tà Cú (5 tháng 10 âm lịch)

c/ Lễ hội tôn giáo: lễ Phật Đản, Vu Lan, lễ rước bà Thiên Hậu, lễ Trung

Thu, Tam Nguyên, Giáng Sinh, Phục Sinh …

d/ Lễ của các ngành nghề: như nghề may, nghề cá, nghề bạc, nghề

mộc, nghề làm bánh tráng, nghề rang hạt dưa, nghề đúc đồng…

e/ Các làng nghề:

i/ Làng nghề truyền thống cổ: gồm có làng nghề làm gốm Xóm Giàn,

Xóm Gọ, Xóm Nồi (Trí Đức–Bắc Bình); dệt thổ cẩm ở làng Chăm Phan Hoà (Bắc Bình); nghề đúc đồng với hai sản phẩm đặc biệt là chuông và tượng đồng ở Xuân Phong - Đại Nẫm (Phan Thiết); nghề kim hoàn; nghề làm nhạc cụ dân tộc Chăm của ông Cả Vỗ (Bắc Bình), …

ii/ Làng nghề thủ công dân gian: nghề làm nước mắm ở các địa

phương đã làm nên tên tuổi sản phẩm nước mắm của tỉnh Bình Thuận phải kể đến các nơi: Phan Rí, Liên Hương, Mũi Né, Phú Hài, Phan Thiết Nghề làm bánh tráng Chợ Lầu, Phan Rí; nghề chế biến hạt dưa là các làng nghề như Hàm Đức, Phú Long, Chợ Lầu,… Nghề làm cốm tại Hàm Thuận Bắc, Phan Thiết,…

2.2.2.3 Các loại hình nghệ thuật, ca múa nhạc, sân khấu hiện đại và truyền thống:

Với những chương trình biểu diễn đặc thù trong các hoạt động du lịch sinh thái văn hóa phục vụ du khách như: ca múa nhạc truyền thống dân tộc đội văn nghệ Chăm - Bắc Bình, Đoàn ca nhạc kịch Biển Xanh, hò bả trạo, ca múa nhạc kịch hiện đại, đã tạo hứng thú và hấp dân du khách đến thăm

2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận:

2.3.1 Vị trí địa lý kinh tế du lịch Bình Thuận với tình hình tăng trưởng: 2.3.1.1 Cở sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch:

Bảng 2.7: Số cơ sở của các cơ sở lưu trú và số buồng, giường của khách sạn xếp theo tiêu chuẩn sao

Trang 30

cơ sở với 1.248 phòng, 1 sao có 30 cơ sở với 772 phòng, nhà nghỉ du lịch có 52

cơ sở với 1.100 phòng, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê có 18 cơ sở với

242 phòng (Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận-năm 2014)

b/ Cở sở hạ tầng:

Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch Bình Thuận tăng nhanh Cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ hoạt động du lịch như: Đường xá, điện, nước, thông tin liên lạc, cũng đã được Tỉnh quan tâm đầu tư một bước, tập trung ở các khu

du lịch đã và đang quy hoạch Các vấn đề an ninh, trật tự xã hội đặc biệt là vệ sinh môi trường trong hoạt động du lịch được coi trọng và quan tâm thực hiện Hiện nay, với chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch của Tỉnh và sự hấp dẫn về tiềm năng cũng như hiệu quả của kinh doanh du lịch, do vậy đến nay Bình Thuận đã thu hút được 365 dự án đầu

tư vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 8.500 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực đầu tư chủ yếu là cơ sở lưu trú du lịch và một số dự án giải

trí, thể thao (gofl, cáp treo, du lịch lặn biển, khu công viên cá heo )

2.3.1.2 Lực lượng lao động trong ngành du lịch:

Du lịch Bình Thuận trong thời gian qua phát triển nhanh mang tính đột phá, trở thành một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng nhất trong cả nước Các loại hình kinh doanh du lịch phát triển nhanh chóng, thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp và gián tiếp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

Tổng số lao động trong ngành Du lịch hiện nay (năm 2013) là 19.908

người, tăng bình quân trên 10% năm Tuy nhiên, lao động du lịch tăng nhanh về số lượng, nhưng chất lượng còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu Đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh du lịch hiện nay thiếu rất nhiều, chất lượng nhân

Trang 31

viên phục vụ còn rất hạn chế Lao động chưa được đào tạo chiếm tới 44,47%

trong tổng số lao động Trong khi đó, lao động có trình độ đại học và trên đại

học chỉ chiếm 4,59% Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu

cầu phát triển thị trường khách quốc tế

Lực lượng lao động ở khách sạn, nhà hàng là lực lượng chủ yếu tác động

đến du lịch thể hiện như sau:

-Lao động của khách sạn, nhà nghỉ: Tổng số lao động trong các cơ sở

ngành khách sạn năm 2008 có 6.851 người Đến năm 2013 là 12.400 người

-Lao động nhà hàng, ăn uống: Tổng số lao động trong các cơ sở ngành

nhà hàng năm 2008 có 16.800 người Đến năm 2013 là 31.400 người

2.3.2 Các giai đoạn phát triển của du lịch sinh thái Bình Thuận:

Theo Dobias (1989), trên cơ sở nghiên cứu các khu du lịch, du lịch sinh

thái biển và đảo ở khu vực Đông Nam Á đã đưa ra mô hình 5 giai đoạn của chu

trình phát triển các khu du lịch biển bờ và hải đảo như sau:

- Giai đoạn lều trại: các lều trại nhỏ được người dân điạ phương xây dựng

tạm thời nhằm thu hút chủ yếu khách du lịch nội địa và một ít khách DLST “ba

lô” ít tiền Thời kỳ này do hiểu biết về môi trường còn thấp nên đa phần lều trại

đều xây dựng ngay trên bãi biển và bờ đảo, hầu như không có hệ thống thu

gom chất thải, nước thải hầu như không được xử lý, tuy vậy tác động xấu đến

môi trường còn vẫn không đáng kể vì mức mức độ phát triển còn thấp (điển

hình như ở Hòn Rơm-Mũi Né vào năm 1995)

- Giai đoạn nâng cấp hình thành cơ sở nhỏ: người địa phương nâng cấp

các lều trại của họ trên bãi biển để đáp ứng nhu cầu của du khách, người bên

ngoài bắt đầu mua đất để kinh doanh du lịch sinh thái biển Đường sá và điều

kiện cơ sở hạ tầng bắt đầu được cải thiện, tiện nghi lưu trú bắt đầu được nâng

cao, thu hút nhiều đối tượng du khách giàu có hơn Tác động xấu đến môi

trường giai đoạn này vẫn chưa gia tăng (như Hàm Tiến-Mũi Né vào năm 2001)

- Giai đoạn phát triển các resort, khách sạn sang trọng, các khu DLST

biển đảo tiện nghi: giai đoạn này ngày càng có nhiều nhà đầu tư bên ngoài mua

đất và bất động sản của người địa phương để kinh doanh du lịch – du lịch sinh thái, các tài nguyên DLST ven bờ và vùng hải đảo được quan tâm khai thác như các vùng sinh thái ven biển, các rạn san hô, vùng ngư trường gần bờ Hiện tượng gia tăng giá cả tại chỗ cùng với gia tăng lợi nhuận du lịch Bắt đầu xuất

hiện suy thoái môi trường (Mũi Né từ năm 2005, đảo Cù lao Câu 2009)

- Giai đoạn phát triển mạnh khó kiểm soát: đa phần các cơ sở khách sạn, resort, khu DLST là do người bên ngoài sở hữu, họ đẩy mạnh khai thác Du lịch-DLST phát triển mạnh vượt tầm kiểm soát của địa phương, suy thoái mô

trường diễn ra nghiêm trọng (Hòn Rơm-Mũi Né, Đồi Dương-Phan Thiết 2009)

- Giai đoạn suy thoái trầm trọng: suy thoái trầm trọng môi trường và tài nguyên dẫn đến các quy chế kiểm soát môi trường chặt chẽ hơn Nhiều hành động kiểm soát nghiêm ngặt được tiến hành nhằm kiểm soát tình trạng suy

thoái (Mũi Né 2011, Tuy Phong 2011)

2.3.3 Tình hình kinh doanh du lịch và DLST ở tỉnh Bình Thuận: 2.3.3.1 Lượt khách:

Theo báo cáo của lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, dù chịu tác động bất lợi do ảnh hưởng suy thoái kinh tế nhưng năm

2013 vừa qua, du lịch địa phương vẫn đạt các chỉ tiêu cơ bản Trong năm 2013, toàn tỉnh đón được 3.524.837 lượt khách, tăng 12,1% so cùng kỳ, nhờ vậy doanh thu từ du lịch đã thực hiện 5.474 tỷ đồng, tăng 25,2% so với năm trước Tuy nhiên, du lịch Bình Thuận cũng đối diện với nhiều thách thức như các chỉ tiêu đang có tốc độ tăng trưởng chậm lại, tour tham quan thiếu hấp dẫn, tính liên kết chưa chặt chẽ Phấn đấu năm 2014 phải đạt hoặc vượt chỉ tiêu được giao: Đón 3.700.000 lượt khách với doanh thu 6.000 tỷ đồng

a/ Về tình hình khách du lịch quốc tế

Trang 32

Biểu đồ 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Bình Thuận thời

kỳ 2008 - 2013

( Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Bình Thuận)

Bảng 2.8: Tình hình khách du lịch quốc tế đến Bình Thuận từ 2008-2013

Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Lượt

khách

195.156 221.643 250.321 300.060 340.181 380.052

(Nguồn : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận)

Từ số liệu và biểu đồ trên cho thấy tốc độ tăng trưởng du lịch của tỉnh

Bình Thuận trung bình khá cao và phát triển vững chắc nhất là 9 tháng đầu

năm 2014 Trong quý 1 có khoảng 982.000 lượt khách đến tham quan nghỉ

dưỡng tại Bình Thuận, trong đó khách quốc tế có 135.000 lượt đến từ các quốc

gia như Nga, Trung Quốc, Đức, Hàn Quốc, Pháp, Thụy Điển, Mỹ, Anh, Úc, Hà

Lan, Thái Lan, … Và 9 tháng đầu năm 2014 đem lại doanh thu đạt trên 2.010

tỷ đồng có khoảng 282.620 lượt khách, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước và

đạt 70,65% kế hoạch năm

Thời kỳ càng về sau, từ 2008-2013 bước phát triển có tính ổn định hơn,

với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 14,30% Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm

2009, tuy trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, dịch cúm AH1N1 phát

sinh, tình hình thị trường biến động đã tác động không thuận lợi đến hoạt động

du lịch trên phạm vi cả nước Lượng khách quốc tế đến Việt Nam suy giảm, tốc độ giảm bình quân là -11,32% và thành phố Hồ Chí Minh là -7,14% so với

2008 nhưng họat động du lịch ở Bình Thuận vẫn ổn định và có mặt phát triển Toàn tỉnh đón 1.102.700 lượt khách, tăng 10,27% so với cùng kì năm 2008, đạt 50,12% kế hoạch năm Lượng khách du lịch quốc tế khoảng 145.820 lượt, đạt 72,91% kế hoạch năm, tăng 34,8% so với cùng kì năm 2008 Năm 2011, Bình Thuận đón trên 2 triệu lượt khách, tăng 11,04%, trong đó khách quốc tế đạt đến 300.060 lượt Lượt người đến du lịch tỉnh Bình Thuận càng ngày càng nhiều cho thấy ngành du lịch đang trên đà phát triển Năng lực hoạt động tăng nhanh thể hiện qua số công suất sử dụng phòng bình quân của các cơ sở lưu trú đạt 55,56%, trong đó công suất phòng hạng 3 sao, 4 sao đạt trên 70%; hạng 2 sao trở xuống đạt xấp xỉ 50%

Nhìn chung từ biểu đồ trên cho thấy khá rõ về nhịp độ phát triển của tỉnh Bình Thuận đối với các chỉ tiêu về du khách và doanh thu: từ 2008-2010 nhịp

độ phát triển khá đều và tương đối mạnh, từ 2011-2013 tốc độ tăng vượt nhanh

và có vẻ bức phá, rất tích cực nhất là đối với chỉ tiêu doanh thu từ du lịch Khách nước ngoài ngày càng biết đến du lịch Bình Thuận nhiều hơn và theo đà phát triển thuận lợi du lịch quốc tế càng nhiều nước mới xuất hiện Thật vậy trong năm 2008 khách du lịch đến Bình Thuận có 152 nước, các thuộc địa, vùng lãnh thổ thì năm 2011 có 174 nước Cơ cấu số lượt khách quốc tế theo nước có những chuyển biến nhật định như sau:

Bảng 2.9: Cơ cấu số lượng lượt khách quốc tế theo nước

Ngày đăng: 23/09/2016, 22:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ Sự tiếp cận của Phát triển bền vững là nền tảng của DLST - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 1.1 Sơ đồ Sự tiếp cận của Phát triển bền vững là nền tảng của DLST (Trang 13)
Hình 1.2: Sơ đồ DLST là một khái niệm của PTBV (UNWTO, 2009) - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 1.2 Sơ đồ DLST là một khái niệm của PTBV (UNWTO, 2009) (Trang 13)
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của Bình Thuận từ năm 2010 - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của Bình Thuận từ năm 2010 (Trang 20)
Bảng 2.4: Các tài nguyên du lịch hệ sinh thái ven biển - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.4 Các tài nguyên du lịch hệ sinh thái ven biển (Trang 23)
Bảng 2.5: Các tài nguyên hệ sinh thái khô hạn – cồn cát - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.5 Các tài nguyên hệ sinh thái khô hạn – cồn cát (Trang 24)
Bảng 2.6: Các loại hình kinh doanh ven biển - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.6 Các loại hình kinh doanh ven biển (Trang 28)
Bảng 2.8: Tình hình khách du lịch quốc tế đến Bình Thuận từ 2008-2013 - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.8 Tình hình khách du lịch quốc tế đến Bình Thuận từ 2008-2013 (Trang 32)
Bảng 2.13: Dự báo lượng du khách tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Bảng 2.13 Dự báo lượng du khách tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 (Trang 41)
Hình 9. Hải sản tươi sống tại Bình Thuận - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 9. Hải sản tươi sống tại Bình Thuận (Trang 59)
Hình 8.  Ẩm thực phong phú và độc đáo - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 8. Ẩm thực phong phú và độc đáo (Trang 59)
Hình 7. Mực một nắng - đặc sản hàng đầu của Bình Thuận - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 7. Mực một nắng - đặc sản hàng đầu của Bình Thuận (Trang 59)
Hình 12. Biển trời Phú Quý nhìn từ đỉnh núi Cao Cát - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 12. Biển trời Phú Quý nhìn từ đỉnh núi Cao Cát (Trang 60)
Hình 10. Trong xanh biển Cù Lao Câu - Tuy Phong - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 10. Trong xanh biển Cù Lao Câu - Tuy Phong (Trang 60)
Hình 11. Thanh bình đảo Phú Quý - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 11. Thanh bình đảo Phú Quý (Trang 60)
Hình 14: Gành Son - Tuy Phong - Phát triển du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Bình Thuận thời 20142020
Hình 14 Gành Son - Tuy Phong (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w