Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua bài tiểu luận này, chỉ ra sự cần thiết của IAS 37 đối với việc quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-*** -ĐINH NGUYỄN TRẦN QUANG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
VÀ PHÂN TÍCH NỘI DUNG CỦA IAS 37 – PROVISONS, CONTINGENT LIABILITIES,
CONTINGENT ASSETS
TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-*** -ĐINH NGUYỄN TRẦN QUANG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
VÀ PHÂN TÍCH NỘI DUNG CỦA IAS 37 – PROVISONS, CONTINGENT LIABILITIES,
CONTINGENT ASSETS
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS PHẠM QUANG HUY
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 1
1.5 Kết cấu đề tài 1
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA IAS 37 2
2.2 Giới thiệu IAS 37 2
2.2 Quá trình hình thành của IAS 37 2
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG CỦA IAS 37 4
3.1 Mục đích 4
3.2 Phạm vi áp dụng 4
3.3 Hạch toán kế toán 5
3.3.1 Định nghĩa các khoản dự phòng, các khoản nợ khác và nợ tiềm tàng 5
3.3.2 Các tiêu chuẩn ghi nhận các khoản dự phòng 6
3.3.3 Các khoản nợ tiềm tàng 10
3.3.4 Các tài sản tiềm tàng 10
3.4 Công bố 10
3.4.1 Các khoản dự phòng 10
3.4.2 Các khoản nợ tiềm tàng 11
3.4.3 Các tài sản tiềm tàng 11
3.4.4 Các trường hợp ngoại lệ 11
CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 12
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Vấn đề nghiên cứu:
Bài tiểu luận này trình bày quá trình phát triển và phân tích nội dung của IAS
37 – Provisions, Contingent Liabilities, Contingent Asset – Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 37 – Các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng Làm rõ các quy định phương pháp kế toán phù hợp và yêu cầu công bố cho tất cả các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng để giúp người sử dụng hiểu được bản chất, thời điểm và số lượng các khoản này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua bài tiểu luận này, chỉ ra sự cần thiết của IAS 37 đối với việc quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng như nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày,… nhằm đảm bảo rằng các thông tin được trình bày trên Báo cáo tài chính được thể hiện đúng bản chất và giá trị của nó
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài tiểu luận này tập trung và phân tích chuẩn mực IAS 37 và từ đó đưa ra kết luận so sánh với VAS 18
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng phương pháp phân tích định tính dựa trên các tài liệu, văn bản đã được ban hành để đưa ra cái nhìn khái quát về IAS 37 từ đó có liên hệ đến Việt Nam
1.5 Kết cấu đề tài:
Chương 1 – Tổng quan đề tài
Chương 2 – Quá trình hình thành của IAS 37
Chương 3 – Nội dung của IAS 37
Chương 4 – Áp dụng tại Việt Nam
Chương 5 – Kết luận
Trang 5CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA IAS 37
2.1 Giới thiệu IAS 37 - Các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng:
IAS 37 – Các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng
và tài sản tiềm tàng Hướng dẫn việc ghi nhận, xác định giá trị và công bố các thông tin phù hợp với bản chất, thời gian và số liệu để đảm bảo tính chính xác của các thông tin đó
2.2 Quá trình hình thành của IAS 37:
Bản dự thảo của IAS 37 được công bố lần đầu tiên bởi tổ chức Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC – International Accounting Standards Committee) vào
tháng 8 năm 1997 dưới tên gọi “Exposure Draft E59 Provisions, Contingent
Liabilities and Contingent Assets” nhằm mục đích thu thập ý kiến đóng góp của các
chuyên gia, các tổ chức về việc ban hành một chuẩn mực kế toán quốc tế quy định
về các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng
Bản dự thảo đã nhận được ý kiến của các tổ chức như IFAA – International Forum of Actuarial Associations, FASC – Financial Accounting Standards Committee of the American Accounting Association
Đến tháng 9 năm 1998, IAS 37 chính thức được ban hành bởi IASC dưới tên
gọi “Provisions, Contingent Liabilities and Contingent Assets”, áp dụng cho kỳ kế
toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 07 năm 1999 trở về sau Nó thay thế cho các mục trong IAS 10 – Contingencies and Events Occurring After the Balance Sheet Date
có liên quan đến các khoản mục dự phòng
Tháng 4 năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB – International Accounting Standards Board) thông báo rằng các chuẩn mực và hướng dẫn đã ban hành vẫn tiếp tục được áp dụng cho đến khi được sửa đổi hoặc thu hồi
Kể từ đó, IAS 37 và các hướng dẫn kèm theo đã được điều chỉnh theo các Chuẩn mực dưới đây:
- IAS 8 – Chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và sai sót
- IAS 10 – Sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán
- IAS 16 – Tài sản, máy móc, thiết bị
- IAS 39 – Công cụ tài chính, ghi nhận và đo lường
Trang 6- IFRS 3 – Hợp nhất kinh doanh
- IFRS 4 – Hợp đồng bảo hiểm
- IFRS 5 – Tài sản vô hình nắm giữ để bán và ngừng hoạt động
- Hợp đồng bảo lãnh tài chính – Sửa đổi IAS 39 và IFRS 4
- IAS 1 – Trình bày báo cáo tài chính
- IFRS 3 – Hợp nhất kinh doanh (sửa đổi)
- IFRS 9 – Công cụ tài chính
Vào ngày 30 tháng 06 năm 2005, IASB ban hành Dự thảo sửa đổi IAS 37 với
tên gọi “Exposure Draft Amendments to IAS 37 Provisions, Contingent Liabilities
and Contingent Assets”, đây là kết quả của dự án “Short-term Convergence” và
giai đoạn 2 của dự án “Business Combinations” nhằm mục đích loại bỏ các điểm
khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRSs – International Financial Reporting Standards) và Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận ở Mỹ (US GAAP – US generally accepted accounting principles)
Qua các lần sửa đổi, IAS 37 này đã được cập nhật đến 31 tháng 12 năm 2010
Trang 7CHƯƠNG 3: NỘI DUNG CỦA IAS 37 3.1 Mục đích:
Chuẩn mực này quy định phương pháp kế toán phù hợp và các yêu cầu công bố cho tất cả các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng để giúp cho người sử dụng thông tin hiểu được bản chất, thời điểm và số liệu của các khoản này
Chuẩn mực này đưa ra các điều kiện cần phải được thực hiện để ghi nhận một khoản dự phòng Những điều kiện này cần giúp cho doanh nghiệp đạt được tính nhất quán và khả năng so sánh trong việc hạch toán các khoản
dự phòng, chẳng hạn như bỏ chi phí hoa hồng và các chi phí về môi trường, tái cơ cấu
Chuẩn mực này hướng dẫn cho người lập báo cáo tài chính xác định cho một nghĩa vụ cụ thể khi nào thì:
- Lập dự phòng cho nghĩa vụ đó
- Chỉ công bố thông tin
- Không làm gì cả
3.2 Phạm vi áp dụng:
Chuẩn mực này được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong việc hạch toán kế toán các khoản dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng ngoại trừ:
- Các hợp đồng đồng thông thường, ngoại trừ những hợp đồng có rủi ro lớn
- Những khoản mực đã được quy định trong các chuẩn mực khác
Chuẩn mực này không áp dụng với công cụ tài chính (bao gồm cả bảo lãnh) thuộc phạm vi quy định của của IFRS 9 – Công cụ tài chính
Khi có một chuẩn mực kế toán đề cập đến một loại dự phòng, tài sản tiềm tàng và nợ tiềm tàng cụ thể thì doanh nghiệp phải áp dụng chuẩn mực
đó Ví dụ:
- Hợp đồng xây dựng (Tham chiếu tại IAS 11)
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (Tham chiếu tại IAS 12)
- Thuê tài sản (Tham chiếu tại IAS 17) Trừ trường hợp tài sản thuê hoạt động
có rủi ro lớn thì áp dụng chuẩn mực này
- Lợi ích của nhân viên (Tham chiếu tại IAS 19)
Trang 8- Hợp đồng bảo hiểm (Tham chiếu tại IFRS 24)
Một vài khoản cũng có thể xem là các khoản dự phòng phải trả do có liên quan đến việc ghi nhận doanh thu Ví dụ như khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo lãnh để nhận được một khoản phí, lúc này cũng có thể xem là khoản doanh thu chưa thực hiện Tuy nhiên, IAS 37 không giải quyết việc ghi nhận doanh thu và căn cứ vào IAS 18 – Doanh thu để xác định các trường hợp được áp dụng các tiêu chuẩn để ghi nhận doanh thu
Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản dự phòng đối với hoạt động tái
cơ cấu doanh nghiệp (kể cả trường hợp ngừng hoạt động) Nếu việc tái cơ cấu phù hợp các định nghĩa về ngừng hoạt động thì phải trình bày bổ sung theo IFRS 5 – Tài sản dài hạn nắm giữ để bán và ngừng hoạt động và IFRS 3 – Hợp nhất kinh doanh quy định về việc lập dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp khi hợp nhất kinh doanh
3.3 Hạch toán kế toán:
3.3.1 Định nghĩa các khoản dự phòng, các khoản nợ khác và nợ tiềm tàng như sau:
Một khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị và thời gian Tính không chắc chắn sẽ giúp phân biệt giữa dự phòng phải trả với các khoản nợ phải trả khác
Một khoản nợ là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những sự kiện trước đây
Một khoản nợ tiềm tàng là:
- Một nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ và sự tồn tại của nghĩa vụ này sẽ chỉ được xác nhận bởi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai
mà doanh nghiệp hoàn toàn không kiểm soát được, hoặc
- Một nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ nhưng không được ghi nhận vì:
o Không chắc chắc có sự giảm sút về lợi ích kinh tế doa phải thanh toán nghĩa vụ nợ, hoặc
o Số tiền của nghĩa vụ nợ không thể xác định một các đáng tin cậy và đầy đủ
Trang 9Các khoản dự phòng có thể được phân biệt với các khoản nợ khác như phải trả thương mại và các khoản thanh toán luỹ kế do có sự không chắc chắn về thời gian và giá trị của khoản chi cho việc thanh toán trong tương lai Nhìn chung, tất cả các khoản dự phòng là tiềm tàng vì những khoản này không chắc chắn về mặt thời gian và giá trị Tuy nhiên, trong phạm vi chuẩn mực này, thuật ngữ “tiềm tàng” được sử dụng cho các khoản nợ và tài sản không được ghi nhận do:
- Sự tồn tại của những khoản đó được xác nhận bởi những dự kiện tương lai không chắc chắn và không thể kiểm soát được hoặc,
- Chúng không đáp ứng được các tiêu chí ghi nhận
3.3.2 Các tiêu chuẩn ghi nhận các khoản dự phòng:
Theo chuẩn mực này, một khoản dự phòng nên được ghi nhận khi:
- Doanh nghiệp có một nghĩa vụ hiện tại (pháp lý hoặc ngầm hiểu) phát sinh từ một sự kiện trước đây (sự kiện phát sinh nợ)
- Sự giảm sút về lợi ích kinh tế và dòng tiền có thể xảy ra do yêu cầu phải thanh toán cho nghĩa vụ đó
- Có thể ước tính một cách đáng tin cậy về nghĩa vụ của khoản nợ
Trong rất ít các trường hợp (ví dụ như một vụ kiện), có thể không rõ là liệu doanh nghiệp có một nghĩa vụ nợ hiệnt ại hay không Trong những trường hợp như vậy, một sự kiện trước đây được cho là làm phát sinh nghĩa
vụ nợ hiện tại nếu có bằng chứng sẵn có là khả năng xảy ra chắc chắn hơn khả năng không xảy ra, thì một nghĩa vụ hiện tại hiện hữu vào ngày kết thúc
kỳ kế toán năm
Một nghĩa vụ pháp lý thường phát sinh từ một hợp đồng hoặc quy định pháp luật Một nghĩa vụ mang tính ngầm hiểu phát sinh chỉ khi nào có hai điều kiện dưới đây:
- Doanh nghiệp chứng tỏ cho các bên khác thấy bằng một cách thức đã được xác lập từ trước, những chính sách đã ban hành hoặc một báo cáo hiện tại đủ chi tiết rằng doanh nghiệp sẽ chấp nhận những trách nhiệm cụ thể
- Kết quả là, doanh nghiệp đã tạo ra cho các bên khác một hy vọng có cơ sở rằng doanh nghiệp sẽ chịu những trách nhiệm đó
Trang 10Giá trị được ghi nhận là dự phòng sẽ phải là một ước tính hợp lý nhất cho những chi phí cần có để thanh toán nghĩa vụ hiện tại vào ngày kết thúc
kỳ kế toán năm Việc ước tính hợp lý nhất của các nhà quản lý thường mang tính xét đoán căn cứ vào thông tin có sẵn và kinh nghiệm Các trường hợp không chắc chắn cần được xem xét khi thực hiện ước tính
Ví dụ: Một doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng có kèm chính sách bảo hành Nếu mọi sản phẩm bán ra đều có hỏng hóc nhỏ, chi phí bảo hành
là 1 triệu USD, nếu tất các các sản phầm đều có hỏng hóc lớn, chi phí bảo hành là 4 triệu USD Kinh nghiệm của doanh nghiệp và những ước tính trong tương lai cho thấy rằng 75% hàng hoá không bị hỏng hóc, 20% hàng hoá bị hỏng hóc nhỏ, 5% hàng hoá bị hỏng hóc lớn Từ đó ước tính được chi phí sửa chữa trong trường hợp này là:
(75% x 0) + (20% x 1 triệu USD) + (5% x 4 triệu USD) = 400.000 USD
Trong việc ước tính hợp lý nhất thì việc xét đoán cần có bằng chứng rõ ràng, chẳng hạn dựa trên:
- Số tiền cần thiết để thanh toán cho một nghĩa vụ
- Thời gian thanh toán
- Liệu có những trường hợp khác có khả năng xảy ra hay không
- Khả năng xảy ra cho những trường hợp khác là gì
Chuẩn mực này quy định rằng các rủi ro và các yếu tố không chắc chắn liên quan đến các sự kiện và các tình huống cần phải được xem xét đến để đạt được sự ước tính hợp lý nhất về một khoản dự phòng như sau: “Rủi ro thể hiện sự thay đổi kết quả Việc điều chỉnh rủi ro có thể làm tăng giá trị và các khoản nợ đã được đánh giá Cần phải thận trọng trong việc xét đoán trong các điều kiện không chắc chắn để không làm thu nhập hay tài sản bị tăng lên và chi phí hay các khoản phải trả bị giảm xuống Tuy nhiên, yếu tố không chắc chắn không biện minh được cho việc tạo ra các khoản dự phòng phải trả quá mức hoặc cố ý khai khống cho các khoản nợ phải trả Ví dụ: Nếu các khoản chi phí dự tính cho một rủi ro nào đó được ước tính trên cơ sở thận trọng thì không nên chủ quan xem kết quả đó là có khả năng xảy ra hơn các trường hợp thực tế khác Cần chú ý để tránh đánh giá trùng lặp đối với rủi ro
và sự không chắc chắn để dẫn đến làm tăng các khoản dự phòng phải trả”
Trang 11Các khoản dự phòng phải trả cần phải được chiết khấu theo giá trị hiện tại khi ảnh hưởng của các khoản chiết khấu là trọng yếu
Một số hoặc tất cả các khoản chi cần có để thanh toán một khoản dự phòng có thể được dự tính là được hoàn trả bởi một bên khác (bảo hiểm, các điều khoản bồi thường, nhà cung cấp…) Những khoản hoàn trả này được ghi nhận như sau:
- Ghi nhận một khoản hoàn trả khi gần như chắc chắn rằng khoản hoàn trả đó
sẽ nhận được khi doanh nghiệp thanh toán nghĩa vụ nợ Giá trị được ghi nhận cho việc hoàn trả không được vượt quá giá trị khoản dự phòng
- Hạch toán khoản hoàn trả như một tài sản tách biệt
- Chi phí liên quan đến các khoản dự phòng có thể được trình bày sau khi trừ
đi giá trị được ghi nhận cho một khoản hoàn trả trong báo cáo thu nhập Các khoản dự phòng cần được xem xét lại vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm và được điều chỉnh để phản ánh mức ước tính hợp lý nhất theo hiện tại Một khoản dự phòng chỉ được sử dụng cho các khoản chi theo ghi nhận ban đầu cho khoản dự phòng
Chuẩn mực này hướng dẫn việc áp dụng nguyên tắc ghi nhận và đo lường trong ba trường hợp cụ thể, đó là: lỗ hoạt động trong tương lai, hợp đồng có rủi ro lớn và tái cơ cấu:
- Các khoản dự phòng không được ghi nhận cho những khoản lỗ của hoạt động kinh doanh trong tương lai Cho dù có sự giảm sút của các lợi ích kinh
tế trong tương lai được dự tính, dự phòng đối với những khoản lỗ của hoạt động kinh doanh trong tương lai không được ghi nhận vì không có một sự kiện quá khứ tạo ra một nghĩa vụ hiện tại Tuy nhiên, dự tính về các khoản lỗ hoạt động trong tương lai là dấu hiệu cho thấy rằng một tài sản dành cho hoạt động có thể bị giảm giá trị, khi đó, IAS 36 – Tổn thất tài sản sẽ được áp dụng
- Nghĩa vụ hiện tại theo một hợp đồng rủi ro lớn cần được ghi nhận và đo lường như một khoản dự phòng Một hợp đồng rủi ro lớn là một hợp đồng có chi phí không thể tránh khỏi để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vượt quá những lợi ích kinh tế dự tính sẽ thu được theo hợp đồng
- Tái cơ cấu là một kế hoạch do ban quản lý lập và kiểm soát làm thay đổi một cách cơ bản phạm vi kinh doanh hoặc cách thức tiến hành hoạt động kinh