PHẦN MỞ ĐẦUSau gần 30 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Báo chí đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả. Vai trò của báo chí ngày càng nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Trước tình hình đó, ngày 17101997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22CTTW về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Đây chính là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 1261999. Điều này cho thấy, Nhà nước ta đã thể hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện, tình hình mới.Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lực quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định. Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ; làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăng bài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấp thông tin sai lệch v.v... Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý về báo chí mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn phát triển sinh động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây.Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Chính vì vậy mà tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với báo chí” cho tiểu luận của mình.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Sau gần 30 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng ViệtNam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng Báochí đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc;tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả Vai tròcủa báo chí ngày càng nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quátrình đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí Trước tình hình đó,ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã ban hành Chỉ thị 22-CT/TW về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnhđạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Đây chính là động lực để kỳ họp thứ
5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtBáo chí ngày 12-6-1999 Điều này cho thấy, Nhà nước ta đã thể hiện sự cốgắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện, tìnhhình mới
Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao nănglực quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu
ổn định Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đốitượng phục vụ; làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thịhiếu tầm thường, đăng bài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuầnphong mỹ tục; nhiều địa phương vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trởhoạt động của phóng viên, cung cấp thông tin sai lệch v.v Trong khi đó,dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý về báo chí mà chủ yếu là phápluật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn phát triển sinh động tronglĩnh vực báo chí thời gian gần đây
Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nângcao hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn
Chính vì vậy mà tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với báo chí” cho tiểu luận của mình.
Trang 2CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ
1.1 Quản lý Nhà nước đối với báo chí
1.1.1 Khái niệm và các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống
xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổchức xã hội, là diễn đàn của nhân dân lao động Báo chí không chỉ làm nhiệm
vụ thông tin mà còn thực hiện công tác tuyên truyền làm cho các hoạt động xãhội phát triển theo định hướng của nhà cầm quyền và bình ổn xã hội Như vậybáo chí cũng là hình thức hoạt động cần sự quản lý của Nhà nước
Nói đến quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định vàphù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Với vai trò là thiết chế trungtâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo chocông dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự
do ngôn luận, tự do báo chí Nhà nuớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảobáo chí phát triển, đáp ứng các nhu cầu về thông tin của nhân dân, đóng gópvào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh chống các thếlực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận, tự do báo chí để đưa ra cácluận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây mất an ninhchính trị và trật tự trong nước
Hay nói cách khác, “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng nhưbất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công vụ quốc giacủa bộ máy Nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp Nó là sự tác động
có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực Nhà nướcđối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm
Trang 3quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thựchiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội,thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân”
Các hoạt động của báo chí xét trên hình diện chung có ảnh hưởng rấtlớn đến đời sống xã hội Vì vậy, muốn đảm bảo được các hoạt động này đivào khuôn khổ đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật, chúng ta cần có nhữngnguyên tắc quản lý phù hợp Sau đây là những nguyên tắc cơ bản trong quản
lý Nhà nước đối với báo chí
* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân
Tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là mộtnguyên tắc hiến định
Điều 2, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định: “Nhà nướctạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự
do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình” VàĐiều 4 luật này cụ thể hóa như các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận nhưsau: “Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thếgiới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài,ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức,
cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin; phátbiểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng vàthực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối vớicác tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên củacác tổ chức đó”
Để đảm bảo nguyên tắc này, Nhà nước cần phải luôn tạo ra những cơchế pháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động báo chí nhằm phục vụ tốtnhất nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, Nhà nướccũng cần đề ra một phương thức hướng các hoạt động báo chí tuân thủ pháp
Trang 4luật, nhằm tạo điều kiện tốt để các cơ quan chức năng Nhà nước thuận lợi hơntrong việc quản lý.
* Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động báo chí một cách bình đẳng của tất cả công dân
Bằng hoạt động của mình, báo chí đã góp phần đáng kể vào việc ổnđịnh chính trị, phát triển kinh tế và định hướng dư luận xã hội một cách tíchcực Ở nước ta, pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với báo chí là công cụkhá quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc hiện đại, nhânvăn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học, công nghệ của nhânloại, đảm bảo cho quá trình hội nhập môi trường thông tin, báo chí toàn cầuđược nhanh chóng và thành công Với điều kiện đó, hoạt động báo chí ngàynay có những tiến bộ rõ rệt và đáp ứng khá tốt nhu cầu thông tin của mọingười dân quan tâm Tất cả thành quả này của báo chí cần được phổ cập đếntoàn thể các đối tượng thụ hưởng khác nhau trong xã hội Đây được xem nhưmột nguyên tắc biểu hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chấtlượng dân trí Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sungnăm 1999 đã quy định: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngân sách, tạo điềukiện cho xuất bản, phát hành báo chí đến với nhân dân các vùng có điều kiệnkinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khókhăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”
* Kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo chí, tự
do ngôn luận làm trái pháp luật
Từ khi ra đời cho đến ngày nay, báo chí luôn có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia và cả quốc tế bởi tínhquần chúng của nó Nhất là ngày nay, vấn đề tôn trọng quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận trên báo chí luôn được đặt ra và xem như quyền cơ bản của conngười mà các thể chế chính trị và hình thức nhà nước buộc phải tôn trọng Ýthức được vấn đề này, các thế lực thù địch và ngoại bang luôn tìm cách lợidụng báo chí và các diễn đàn nhân dân làm cơ sở cho việc chống phá Nhà
Trang 5nước ta, chống phá công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, chống phá sựnghiệp đại đoàn kết nhân dân Đây là những hành vi vô cùng nguy hiểm làmthiệt hại đến lợi ích cả một quốc gia dân tộc Cho nên, Nhà nước ta luôn luôn
đề ra kim chỉ nam cho hoạt động của mình trước tình hình lợi dụng đó là kiênquyết đấu tranh và đấu tranh đến cùng để chống lại các hành vi đầy mưu đồnày Vì vậy, trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Báo chí sửa đổi, bổsung năm 1999 một mặt khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí củacông dân, mặt khác đã tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để những âmmưu này khi quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ phápluật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế,cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Không ai được lạm dụng quyền tự do báochí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước,tập thể và công dân” Đây được xem như quan điểm chung nhất nhằm nghiêmcấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí để pháhoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực và tuyêntruyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước;chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc; gây rối trật tự công cộng, xâm phạm đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ côngdân, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.Mọi hành vi vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật
1.1.2 Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với báo chí
Cách mạng Tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo xâydựng hệ thống văn bản pháp lý tạo cơ sở cho việc quản lý Nhà nước đối vớibáo chí Ngày 10-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh về việc duy trì tạm thờicác luật lệ hiện hành, nhưng nêu rõ: “Những điều khoản trong các luật cũđược tạm thời giữ lại do sắc lệnh này, chỉ thi hành khi nào không trái vớinguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính phủ dân chủ cộng hòa”
Và cũng từ thời điểm này, vấn đề hoạt động báo chí, ngôn luận rất đượcNhà nước ta quan tâm Vì vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Trang 6hoà được thành lập, Hiến pháp đầu tiên 1946 ra đời đã ghi nhận quyền tự dobáo chí, tự do ngôn luận của công dân Đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980,Hiến pháp 1992 đều quy định về tự do báo chí, ngôn luận; không ai được xâmphạm đến quyền này của nhân dân và cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền
tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân
Tính đến nay đã có gần 50 văn bản được Nhà nước ta ban hành liênquan đến báo chí như: Sắc lệnh 41 ngày 29-3-1946 về chế độ kiểm duyệt báochí; Sắc lệnh số 282 ngày 14-12-1956 về chế độ báo chí, Luật số 100/SL-L-
002 ngày 20-5-1957 quy định chế độ báo chí (Luật Báo chí 1957); Nghị định
số 197/TTg ngày 9-7-1957 quy định chế độ và quyền lợi của người làm báochuyên nghiệp và Nghị định số 298/TTg ngày 9-7-1957 quy định chi tiết thihành Luật Báo chí năm 1957; Nghi định số 133/HĐBT ngày 20-4-1992 củaHội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí về các mặt; Chỉthị 63/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí-xuất bản; Nghị định số 384/HĐBT về tăng cường công tác quản lý báo chí-xuất bản; Thông tư số 131/TT-VP ngày 20-11-1990 của Bộ Văn hóa - Thôngtin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnh một số tiêuchuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí, Bộ luật Hình sự 1999, Bộluật Dân sự 1995… Mặc dù các văn bản này không đồng bộ và mang tính phổquát, thể hiện các quan điểm khác nhau của Nhà nước ta đối với báo chí trongtừng giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở pháp lý
để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lýNhà nước đối với báo chí của mình
Ngày 28-12-1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí và ngày 2-1-1990,Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo chí nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957 Đến ngày
12-6-1999, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Báo chí và có hiệu lực đến ngày nay
Trang 7Luật Báo chí năm 1990 vừa kế thừa những nguyên tắc đúng đắn củaLuật Báo chí năm 1957, vừa bổ sung và hoàn thiện một bước luật pháp củaNhà nước ta về báo chí Luật Báo chí năm 1990 cũng phản ánh những thayđổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của nước ta trong sự nghiệp đổi mới
do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo
Song song đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 51/2002/NĐ-CPngày 26-4-2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Báo chí Trong nghị định này, đã đi sâu vào quy địnhmột số điểm mới của Luật Báo chí hiện hành
Nhìn chung, hai văn bản pháp luật hiện hành này đã khắc phục đượcmột số nhược điểm của các văn bản trước, định hình cho chức năng quản lýbáo chí bằng các cơ sở pháp lý rất cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ
1.1.3 Cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí
Ở Việt Nam, việc xác định cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chímang tính lịch sử, bởi lẽ từ khi ra đời, nước ta đã 4 lần ban hành Hiến pháp:gồm Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 Mỗikhi Hiến pháp mới ra đời, cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mỗi
cơ quan Nhà nước sẽ có những thay đổi cơ bản Chính vì vậy mà qua mỗi thời
kỳ, cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí cũng có sự thay đổi cả về têngọi lẫn phạm vi thẩm quyền quản lý Ở đây chúng ta không thể đi ngược lạilịch sử để đi tìm hiểu cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí qua từng thời
kỳ khác nhau mà chỉ tìm hiểu cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước đốivới báo chí từ Hiến pháp 1992 và Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999đến hiện nay
Theo quy định của Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 1999, các cơ quan quản
lý Nhà nước về báo chí ở Trung ương và địa phương được quy định như sau:
1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí
2- Bộ Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về báo chí
Trang 83- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước vềbáo chí theo quy định của Chính phủ.
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin đểthực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về báo chí
4- Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiệnquản lý Nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp củaChính phủ"
Như vậy ở Trung ương, cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước đốivới báo chí là Chính phủ và Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin vàTruyền thông) Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước đối với báo chí trênphạm vi cả nước bằng việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến báochí Với cương vị là người người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
sẽ thực hiện một số nhiệm vụ quản lý của mình liên quan đến báo chí trên cơ
sở đệ trình của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyềnthông) để kịp thời giải quyết các vấn đề cấp bách quan trọng vượt quá thẩmquyền của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông)
Riêng đối với báo chí, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin vàTruyền thông) có các trách nhiệm và quyền hạn:
+ Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới báo chítrong cả nước, văn phòng đại diện cơ quan thường trú ở nước ngoài của các
cơ quan báo chí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
+ Quản lý các loại hình báo chí trong cả nước bao gồm báo in, báo nói,báo hình, báo điện tử, thông tấn và thông tin trên mạng;
+ Chủ trì giao ban báo chí, quản lý thông tin của báo chí theo quy địnhcủa pháp luật về báo chí;
+ Thực hiện chế độ phát ngôn cung cấp thông tin cho báo chí theo phâncấp và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ;
Trang 9+ Ban hành quy chế tổ chức hội thi về báo chí;
+ Quy định về báo lưu chiểu, quản lý kho lưu chiểu báo chí quốc gia;+ Cấp, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động báochí; giấy phép xuất bản đặc san, số phụ, phụ trương, chương trình đặc biệt,chương trình phụ; thẻ nhà báo; cấp phép cho báo chí xuất bản ở nước ngoàiphát hành tại Việt Nam;
+ Quy định về việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước,phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động của báo chí ViệtNam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí của người nước ngoài, tổchức nước ngoài tại Việt Nam;
+ Thỏa thuận về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Biên tập, Phó TổngBiên tập, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc các
cơ quan báo chí;
+ Quy định tiêu chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ người đứng đầu cơquan báo chí
Ở địa phương, trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với báo chí thuộc về
Uỷ ban Nhân dân các cấp tỉnh theo sự phân cấp của Chính phủ Đây là các cơquan Nhà nước có sự can thiệp một cách trực tiếp, sâu sắc nhất đối với việcquản lý Nhà nước đối với báo chí thông qua các Sở Thông tin - Truyền thông
và các bộ phận trực thuộc
1.1.4 Ý nghĩa của việc quản lý Nhà nước đối với báo chí
Báo chí với tư cách là công cụ quan trọng về công tác tư tưởng, chínhtrị của Đảng, với sự đa dạng của các loại hình báo chí và những lợi thế riêng
có, báo chí hoàn toàn có khả năng đóng góp rất tích cực, có hiệu quả vào sựnghiệp giữ vững và tăng cường sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.Trong những năm qua, hoạt động của báo chí nước ta đã và đóng góp rất lớncho sự phát triển và hội nhập thế giới trên mọi lĩnh vực Song song đó vẫncòn tồn đọng nhiều vấn đề phát sinh cần sự điều chỉnh sâu sắc của các cơquan chuyên trách
Trang 10Quản lý Nhà nước đối với báo chí là một chức năng thật sự cần thiếtcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nó đáp ứng nguyện vọng của đông đảoquần chúng nhân dân trong xã hội Bới lẽ vấn đề tự do báo chí và tự do ngônluận trên báo chí là một nhu cầu có thực của xã hội, nó đánh giá tiêu chuẩnphát triển về các quyền tự nhiên mang tính nhân bản trong toàn xã hội Nhucầu về tự do báo chí, ngôn luận sẽ vẫn còn tiếp tục tiếp diễn và có ảnh hưởngrất lớn đến tình hình trị an, trật tự xã hội của đất nước Bên cạnh dó, trên bìnhdiện quốc tế, các thông tin mà báo chí cung cấp cũng như các hoạt động liênquan đến báo chí cũng có những ảnh hưởng nhất định đến vấn đề an ninhchính trị của toàn cầu
Với thực trạng như thế, quản lý Nhà nước đối với báo chí sẽ có các ýnghĩa to lớn khi vừa đảm bảo được trật tự an ninh, an toàn xã hội vừa đảmđảm bảo tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của côngdân Ngoài ra trước tình hình xuyên tạc của các thế lực thù địch, quản lý Nhànước đối với báo chí sẽ làm cho báo chí hoạt động và phát triển theo đúng chủtrương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh tích cực, làm thất bạicác âm mưu sử dụng diễn đàn của nhân dân cho chiến lược diễn biến hòa bìnhtrên phương diện thông tin đại chúng và văn hóa xã hội
1.1.5 Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở một số quốc gia
Tùy theo điều kiện lịch sử, quan niệm về vấn đề tự do báo chí và hoàncảnh xã hội mà các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các cách thức quản lý Nhànước đối với báo chí khác nhau Tuy nhiên tựu trung lại, trong nỗ lực chung,tất cả các nước đều cố gắng xây dựng các quy phạm pháp luật mà trong đóxác lập, đảm bảo một cách cao nhất quyền tự do báo chí, ngôn luận Songsong đó cũng đảm bảo hoạt động của báo chí không phương hại đến lợi íchquốc gia, tổ chức, các thành phần và cá nhân khác nhau trong xã hội Sau đây
là khái quát một cách sơ lược hoạt động quản lý Nhà nước đối với báo chí ởmột số quốc gia tiêu biểu
Trang 11Thụy Điển:
Luật Tự do báo chí năm 1949 của Thụy Điển quy định cấm mọi hìnhthức kiểm duyệt trước khi xuất bản; bất kỳ tạp chí nào xuất bản ít nhất 4 lầnmột năm phải có biên tập viên, người này phải chịu trách nhiệm hoàn toàn vềnội dung ấn phẩm theo luật pháp; sẽ là phạm luật nếu lần tìm nguồn thông tin
cơ sở của một bài báo được đảm bảo không được tiết lộ tên (không nguồncung cấp thông tin nào có nguy cơ bị trừng phạt hoặc bị gây khó dễ); các tàiliệu chính thức là công khai cho công dân với một số ngoại lệ (các tài liệu nóitrên là những tài liệu nhận được hoặc lấy từ các cơ quan chính quyền địaphương hoặc trung ương Các cơ quan này có nghĩa vụ phải cho bất kỳ aimuốn có thông tin về việc xử lý một vấn đề nào đó được xem tài liệu của cơquan đó) Rõ ràng là quyền tiếp cận tài liệu đã tạo cơ hội tốt cho các phươngtiện thông tin kiểm tra xem xét các chính sách và nhân viên Nhà nước sửdụng quyền hạn của họ như thế nào
Nguyên tắc cơ bản đằng sau Luật Tự do báo chí Thụy Điển là báo chíphải được hưởng quyền tự do ở mức cao nhất có thể được nhằm thực hiệnchức năng kiểm soát của nó trong xã hội
Tại Thụy Điển, các tổ chức báo chí đã thỏa thuận với nhau về cácnguyên tắc cơ bản của đạo đức nghề nghiệp nhằm đạt một trong những mụcđích là giảm đến mức tối thiểu nhu cầu phải viện đến pháp luật Bản Quy ướcđạo đức nhà báo đã được Câu lạc bộ Các nhà báo thông qua lần đầu tiên năm
1923 và bản Quy ước hiện nay được thông qua năm 1997 Bản quy ước nhằmduy trì những tiêu chuẩn đạo đức cao cả nói chung, đặc biệt nhằm bảo về sựtoàn vẹn của cá nhân chống lại việc xâm phạm vào đời sống riêng tư, bôi nhọhoặc tuyên truyền gây tổn thương khác Một phần đặc biệt dành để chống lạiviệc quảng cáo trên báo và những tác động thái quá từ bên ngoài nhằm đánhlừa độc giả Có một ủy ban đặc biệt theo dõi loại hành động phi pháp này
Trang 12Mỹ:
Theo Hiến pháp nước Mỹ thì chính phủ không nắm hệ thống cácphương tiện thông tin đại chúng mà giao cho tư nhân để đảm bảo quyền tự dongôn luận và tự do báo chí Tuy nhiên, các nhà báo hoạt động nghề nghiệpphải tuân theo quy tắc báo chí (do Hội các Chủ bút nước Mỹ quy định) vàQuy tắc về Vô tuyến truyền hình (thông qua từ ngày 9-6-1958) Quy tắc Báochí Mỹ thể hiện “lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí” gồm 7 yêu cầuhoạt động nghề nghiệp là: 1 Trách nhiệm; 2 Tự do báo chí; 3 Sự độc lập; 4.Lòng thành, sự xác thực, đúng đắn; 5 Sự vô tư; 6 Sự bảo đảm tôn trọngthanh danh; 7 Giữ thuần phong mỹ tục
Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ có tiểu ban về thông tin của Hạ viện để phântích và kiểm tra các thông tin báo chí trong thời gian có các cuộc khủnghoảng Ủy ban Liên bang về thông tin của Mỹ có chức năng không chỉ thuầntúy điều phối về kỹ thuật Nó được quyền 3 năm một lần cấp giấy phép hoạtđộng cho các đài phát thanh và truyền hình dựa trên những đánh giá về hoạtđộng của các đài này
Năm 1917, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật về tội do thám và năm sau
là đạo luật về tội bạo động Theo các luật này, người bị coi là tội phạm nếu có
ý thức viết và truyền đi “các phóng sự và ý kiến không đúng”, “cản trở hoạtđộng của các lực lượng vũ trang hoặc hỗ trợ của đối phương” Theo Đạo luật
về an ninh đối nội được thông qua năm 1959, Thượng viện Mỹ đã thành lập
Ủy ban McCarthy - một cơ quan điều tra các hoạt động bị coi là chống Mỹ,trong đó có thông tin trên báo chí Năm 1953, Bộ luật Hình sự của Mỹ được
bổ sung thêm điều cho phép xử việc đăng các tài liệu mà chính phủ cho là bímật Song song đó, liên quan đến nhân thân con người, nước Mỹ cũng rấtthận trọng cho phép công bố khi liệt “quảng cáo lừa bịp”, “làm giả hàng hóa”,
“không có khả năng thanh toán những cam kết tài chính” vào những loạithông tin bị đánh giá là phỉ báng
Trang 13Nhật Bản:
Chính phủ Nhật không có cơ quan chức năng quản lý báo chí nhưngHiệp hội Báo chí Nhật Bản về phương diện nghề nghiệp lại phát huy chứcnăng giám sát Hội đồng Báo chí quốc gia gồm 6 thành viên là những nhà báo
uy tín có vai trò uốn nắn, rút kinh nghiệm nếu có tờ báo hay nhà báo nào viphạm đạo đức nghề báo Danh dự nhà báo là do chính nhà báo tự chịu tráchnhiệm nếu bị kiện mà nhà báo thấy mình sai thì phải “tự xử”, tức là viết bàixin lỗi trên mặt báo, nghiêm trọng hơn thì từ chức hoặc chuyển nghề Mộttrong những yêu cầu hàng đầu của phóng viên báo chí Nhật Bản là phải tôntrọng sự thật khách quan, nếu ai bịa tin giả có thể bị phạt, thậm chí còn bị tòasoạn đuổi việc