Đầu tiên là xem xét xu hướng vận động của cuộckhủng hoảng, sau đó áp dụng phân tích hai cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra gầnđây ở các nước mới nổi để khám phá nguyên nhân tại sao những
Trang 1CHƯƠNG 10 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Ở THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC
MỚI NỔI GIỚI THIỆU
Trước năm 2007, hầu hết các ví dụ nổi bật về khủng hoảng tài chính đến từ cácquốc gia bên ngoài nước Mỹ Đặc biệt ở những nền kinh tế mới nổi, đã mở cửa thịtrường với hy vọng tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Tuy nhiên, nhiều nướctrong số đó đã phải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng như cuộc đạisuy thoái của Mỹ
Ấn tượng nhất là cuộc khủng hoảng Mexico 1994, khủng hoảng Đông Á 1997,khủng hoảng Argentina 2001 Điều này đặt ra một câu đố đối với các nhà kinh tế:làm thế nào một quốc gia đang có xu hướng tăng trưởng tích cực lại suy giảmmạnh trong hoạt động kinh tế
Trong chương này, chúng tôi áp dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng của khủnghoảng tài chính đã phát triển ở chương 9 để tìm hiểu nguyên nhân của cuộc khủnghoảng ở các nền kinh tế mới nổi Đầu tiên là xem xét xu hướng vận động của cuộckhủng hoảng, sau đó áp dụng phân tích hai cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra gầnđây ở các nước mới nổi để khám phá nguyên nhân tại sao những cuộc khủng hoảngnày lại làm cho hoạt động kinh tế bị thu hẹp lại
XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC MỚI NỔI
Trang 2Bước 1: Sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính ở các nền kinh tế phát triển có thể được kích hoạt bởi nhiềunhân tố khác nhau, nhưng ở các nước mới nổi, khủng hoảng tài chính phát triểntheo hai con đường cơ bản: (1) sự yếu kém trong quản lý nền tự do hóa/ toàn cầuhóa tài chính; (2) mất cân bằng tài chính nghiêm trọng
1 Quản lý yếu kém tự do hóa/toàn cầu hóa tài chính
Hạt giống của khủng hoảng tài chính ở các nước mới nổi được gieo khi các quốcgia thực hiện tự do hóa hệ thống tài chính bằng cách xóa bỏ những hạn chế, rào cản
Trang 3đối với tổ chức tài chính và thị trường nội địa – gọi là tự do hóa tài chính Đồngthời mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn từ nước ngoài – gọi là toàn cầu hóa tàichính Các nước này thường đạt được một chính sách tài khóa vững chắc trướckhủng hoảng, ví dụ: thâm hụt ngân sách của Mexico chỉ có 0.7% GDP – một con
số mà các nước phát triển sẽ khao khát Thậm chí các nước khu vực Đông Á cònthặng dư ngân sách
Người ta thường nói rằng, “văn hóa tín dụng” ở các thị trường mới nổi là hết sứcyếu kém với sự lỏng lẻo trong giám sát hệ thống ngân hàng, thiếu hiệu quả trongviệc sàng lọc và giám sát người đi vay Bùng nổ cho vay do tự do hóa tài chínhđược đánh dấu bằng các hoạt động cho vay vô cùng rủi ro, gieo rắc những khoản lỗkhổng lồ Quá trình toàn cầu hóa tài chính như thêm dầu vô lửa vì nó cho phép cácngân hàng trong nước đi vay nước ngoài Ngân hàng trả lãi suất cao nhằm thu hútnguồn vốn quốc tế để nhanh chóng gia tăng các khoản cho vay Các dòng vốn tiếptục được kích thích bởi các chính sách của chính phủ như là neo (fix) giá trị củađồng nội tệ với đồng đôla, tạo cảm giác thoải mái cho nhà đầu tư nước ngoài
Giống như trường hợp của Hoa Kỳ, sự bùng nổ cho vay sẽ kết thúc sau khi xảy ramột cuộc khủng hoảng Tổn thất đáng kể trong một thời gian dài làm suy yếu bảngcân đối của ngân hàng và khiến các ngân hàng phải cắt giảm cho vay Ở thị trườngcác nước mới nổi, Bảng cân đối ngân hàng suy yếu gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến hoạt động kinh tế và hoạt động cho vay hơn là ở các nước phát triển – nơi cóthị trường chứng khoán tinh vi, khu vực tài chính phi ngân hàng lớn mạnh có khảnăng đón lấy cơ hội khi ngân hàng hoảng loạn Vì vậy, khi ngân hàng ngừng chovay, không có 1 “người chơi” nào khác xuất hiện để giải quyết vấn đề lựa chọn đốinghịch và rủi ro đạo đức (thể hiện bởi các mũi tên chỉ từ yếu tố đầu tiên trong dòngđầu tiên của hình 1 )
Trang 4Câu chuyện từ bùng nổ cho vay đến khủng hoảng cho vay khi thực hiện tự do hóa/toàn cầu hóa tài chính ở các nước mới nổi là điều không thê tránh khỏi Nhưng nóchỉ xảy ra với một hệ thống quản lý yếu kém Cụ thể hơn nếu một quốc gia thựchiện những quy tắc thận trọng, giám sát chặt chẽ để hạn chế những hoạt động quárủi ro, thì sự bùng nổ và sụp đổ cho vay sẽ không xảy ra (boom and bust) Tại saocác nước mới nổi lại tồn tại những yếu kém đặc trưng, điều này được thảo luận ởchương 8, theo đó lợi ích kinh doanh đã đánh đổ quá trình tự do hóa tài chính Mụcđích của các chính trị gia và nhà giám sát là bảo vệ lợi ích của những người nộpthuế (những tập đoàn nộp thuế cao), vì những người nộp thuế này hầu như đềuphải chịu chi phí giải cứu ngân hàng nếu thiệt hại xảy ra.
Một khi thực hiện tự do hóa tài chính, các ngân hàng sẽ muốn ngăn chặn sự giámsát đối với hoạt động của họ, và khi đó những nhà giám sát sẽ không hành động vìlợi ích cộng đồng Lợi ích kinh doanh của ngân hàng thường đóng góp nhiều chocác cuộc vận động của chính trị gia, do đó ngân hàng có thể thuyết phục các chínhtrị gia nới lỏng các quy định ngăn chặn họ tham gia vào các chiến dịch có rủi rocao Sau tất cả, nếu chủ sở hữu ngân hàng đạt được sự tăng trường và mở rộng chovay, họ sẽ trở nên giàu có, ngược lại nếu gặp rắc rối, chính phủ sẽ đứng ra bảolãnh Ngoài ra, những lợi ích kinh doanh này có thể đảm bảo rằng các cơ quangiám sát thậm chí với các quy định cứng rắn thì cũng thiếu nguồn lực để thực hiện
2 Mất cân bằng tài chính nghiêm trọng
Chi tiêu chính phủ cũng có thể đặt nền kinh tế ở các nước mới nổi vào con đườngdẫn đến khủng hoảng tài chính Ví dụ như khủng hoảng Argentina 2001 – 2002,khủng hoảng Nga 1998, Ecuador 1999, Thổ Nhĩ Kỳ 2001
Willie Sutton – một tên cướp nhà băng nổi tiếng được hỏi: “Tại sao lại cướp ngânhàng”, ông ta trả lời “vì ở đó có tiền” Chính phủ ở các nước mới nổi đôi khi cócùng suy nghĩ như vậy Khi đối mặt với tình trạng mất cân bằng tài chính và không
Trang 5có khả năng trang trải nợ, họ thường dổ ngọt hoặc bắt buộc các ngân hàng mua nợcủa chính phủ Các nhà đầu tư mất niềm tin vào khả năng trả nợ của chính phủ, dẫnđến bán tháo trái phiếu khiến giá trái phiếu giảm mạnh Các ngân hàng mà giữ cáckhoản nợ này phải đối mặt với một khoản lỗ lớn bên phía tài sản của bảng cân đối
do giá trị tài sản giảm, các tổ chức này có ít tài nguyên để cho vay, dẫn đến chovay cũng giảm Tình hình này có thể nghiêm trọng hơn, nếu sự thiếu hụt nguồnvốn dẫn đến hoảng loạn ngân hàng, trong đó nhiều ngân hàng phá sản cùng mộtlúc Kết quả của sự mất cân bằng tài chính nghiêm trọng là làm suy yếu hệ thốngngân hàng dẫn đến vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức (thể hiện bởi mũitên từ yếu tố đầu tiên trong dòng thứ 3 của hình 1)
3 Các yếu tố khác
Các yếu tố khác góp phần trong giai đoạn đầu tiên của cuộc khủng hoảng Ví dụ:nhân tố precipitating “thiếu thận trọng” (xuất hiện trong cuộc khủng hoảngMexico) làm tăng lãi suất đối với huy động nước ngoài, hoặc như chính sách thắtchặt tiền tệ của Mỹ Khi lãi suất tăng, các tổ chức có rủi ro cao sẵn sàng trả lãi suấtcao, dẫn đến vấn đề lựa chọn đối nghịch càng nghiêm trọng hơn Ngoài ra, lãi suấtcao làm giảm dòng tiền của doanh nghiệp, buộc họ phải tìm kiếm nguồn vốn trênthị trường quốc tế, nơi mà vấn đề bất cân xứng thông tin xảy ra nhiều hơn Tăng lãisuất huy động nước ngoài kích thích lãi suất trong nước tăng có thể làm tăng nguy
cơ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức (thể hiện bởi mũi tên từ nhân tố thứ 2trong dòng đầu tiên của hình 1)
Thị trường tài sản ở các nước mới nổi không lớn như ở các nước phát triển, nên nóđóng vai trò ít nổi bật hơn trong cuộc khủng hoảng tài chính Giá tài sản trên thịtrường chứng khoán giảm làm giá trị tài sản ròng giảm và làm tăng vấn đề lựa chọnđối nghịch Có ít tài sản thế chấp để người cho vay có thể nắm giữ, làm gia tăngvấn đề rủi ro đạo đức Giá trị tài sản ròng giảm, chủ sở hữu doanh nghiệp có ít tài
Trang 6sản để mất nên họ tham gia vào các hoạt động rủi ro hơn là họ đã từng làm trướckhủng hoảng Giá tài sản giảm trực tiếp hoặc gián tiếp làm trầm trọng thêm vấn đềlựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức bằng cách làm suy yếu bảng cân đối củangân hàng (thể hiện bởi mũi tên từ nhân tố thứ 3 trong dòng đầu tiên của hình 1)Giống như các nước phát triển, khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái hoặcmột công ty lớn phá sản, người ta trở nên thiếu chắc chắn về lợi nhuận của các dự
án đầu tư Ở các nước mới nổi, hệ thống chính trị nổi tiếng không ổn định cũng lànguồn gốc của sự bất ổn Khi những bất ổn gia tăng, sẽ trở nên khó khăn trong việcsàng lọc những rủi ro tính dụng tốt trong số những cái xấu và khó khăn trong việcgiám sát những người đi vay, một lần nữa lại làm cho vấn đề rủi ro đạo đức và lựachọn đối nghich nghiêm trọng hơn (thể hiện bởi mũi tên từ nhân tố thứ 4 trongdòng đầu tiên của hình 1)
Bước 2: Khủng hoảng tiền tệ
Những người tham gia trên thị trường ngoại hối nhận thấy một cơ hội đó là đánhcuộc vào sự mất giá của tiền tệ có thể thu về một khoản lợi nhuận khổng lồ Điềunày được trình bày trong chương 18, một đồng tiền được cố định so với đồng đôla
Mỹ, trở thành đối tượng của một cuộc tấn công đầu cơ Khi tiền tệ tràn ngập thịtrường, cung vượt xa cầu, đồng tiền mất giá trầm trọng, khủng hoảng tiền tệ xảy ra(bước 2 hình 1) Lãi suất huy động cao, bất ổn gia tăng làm giá tài sản giảm Sựmất cân bằng tài chính nghiêm trọng và sự suy yếu của bảng cân đối ngân hàng làhai yếu tố chủ chốt dẫn đến tấn công đầu cơ và đẩy nền kinh tế lao vào vòng lẩnquẩn của khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng tài chính, suy thoái
1 Suy giảm trong bảng cân đối ngân hàng châm ngòi cho khủng hoảng tiền tệ
Trang 7Khi ngân hàng và các tổ chức tài chính khác gặp khó khăn, chính phủ có một sốlựa chọn hạn chế: bảo vệ đồng tiền bằng cách tăng lãi suất để thu hút dòng vốnvào, nhưng nếu chính phủ tăng lãi suất ngân hàng phải trả thêm tiền để duy trì ngânsách Điều này làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận dẫn đến rũi ro vỡ nợ Vì vậy, khi
hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn, chính phủ và NHTW đứng trước 1 lựachọn khó khăn (between a rock and a hard place): nếu tăng lãi suất nhiều, nó sẽphá hủy những ngân hàng vốn đã suy yếu và tiếp tục làm suy yếu thêm nền kinh tế.Nếu không tăng lãi suất thì không thể duy trì giá trị đồng tiền
Các nhà đầu cơ trên thị trường ngoại hối nhận ra những khó khăn ở khu vực tàichính trong nước và việc chính phủ tăng lãi suất để bảo vệ đồng nội tệ là quá tốnkém nên cuối cùng chính phủ chấp nhận từ bỏ và phá giá đồng nội tệ Họ đặt cượcmột điều chắc chắn rằng đồng nội tệ nhất định giảm giá, các nhà đầu cơ bắt đầutham gia vào trò chơi “feeding frenzy – cá lớn nuốt cá bé” và bán đồng nội tệ nhằmtìm kiếm những khoản lợi nhuận khổng lồ Những vụ mua bán này làm giảm dần
dự trữ ngoại hối của quốc gia vì chính phủ phải dùng nguồn ngoại tệ dự trữ để muanội tệ Một khi dự trữ ngoại hối của NHTW cạn kiệt, chu kỳ kết thúc Không cònnguồn lực để can thiệp vào thị trường ngoại hối và chấp nhận để cho đồng nội tệmất giá
2 Mất cân bằng tài chính châm ngòi cho khủng hoảng tài chính
Chúng ta có thể thấy rằng, mất cân bằng tài chính dẫn đến suy yếu bảng cân đốingân hàng và tạo ra cuộc khủng hoảng tiền tệ Tuy nhiên, mất cân bằng tài chínhcũng có thể trực tiếp gây ra cuộc khủng hoảng Khi ngân sách chính phủ thâm hụtmột cách mất kiểm soát , nhà đầu tư trong nước và nước ngoài bắt đầu nghi ngờ
về khả năng trả nợ của chính phủ, khi đó họ sẽ bán đồng nội tệ và kéo tiền ra khỏiquốc gia Tình hình tài chính mất kiểm soát là kết quả của cuộc tấn công đầu cơtrên tiền tệ, mà cuối cùng dẫn đến sự phá giá đồng tiền
Trang 8Bước 3: Khủng hoảng tài chính
Ngược lại với các nước phát triển, các nước mới nổi có nhiều hợp đồng nợ ngoại tệ(thường là USD) dẫn đến tình trạng gọi là bất cân xứng tiền tệ (currencymismatch) Đồng nội tệ đột ngột giảm giá hoặc mất giá sẽ làm gia tăng gánh nặng
nợ bằng nội tệ của các công ty trong nước Ví dụ như trường hợp mất giá của đồngpeso, sẽ mất nhiều peso hơn để trả cho các khoản nợ bị đôla hóa Hầu hết công tyđều định giá hàng hóa và dịch vụ của họ bằng đồng nội tệ, nên khi peso mất giálàm gia tăng giá trị nợ liên quan đến tài sản và làm giảm giá trị tài sản ròng Điềunày làm trầm trọng thêm vấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch đã trình bàytrước đó (giai đoạn 3 hình 1)
Bây giờ, chúng ta đã thấy được cấu trúc thị trường nợ ở các nước mới nổi ảnhhưởng thế nào đến việc phá giá tiền tệ và sau đó đẩy nền kinh tế rơi vào khủnghoảng Một cuộc khủng hoảng tiền tệ, mà kết quả của nó là đồng nội tệ mất giá,bảng cân đối ngân hàng suy yếu làm gia tăng rủi ro đạo đức và lựa chọn đốinghịch Các nhà kinh tế thường gọi cuộc khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng tàichính là cuộc “khủng hoảng kép”
Đồng tiền bị phá giá dẫn đến lạm phát cao, dẫn đến áp lực tăng giá nhập khẩu Một
sự gia tăng đáng kể trong cả lạm phát thực tế và lạm phát kỳ vọng làm lãi suấttrong nước tăng lên, kết quả làm tăng các khoản thanh toán lãi suất Điều này đồngnghĩa với lưu lượng tiền mặt của công ty giảm, dẫn đến vấn đề bất cân xứng thôngtin vì các công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn nước ngoài để tài trợ cho việcđầu tư Phân tích thông tin bất cân xứng để thấy rằng rủi ro đạo đức và lựa chọnđối nghịch gây ra sự suy giảm trong hoạt động kinh tế và hoạt động đầu tư Như đãchỉ ra trong hình 1, điều này có nghĩa là có nhiều con nợ không có khả năng trả nợ,gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng Lãi suất tăng mạnh ảnh hưởng tiêu cực đếnlợi nhuận và bảng cân đối ngân hàng, trong khi giá trị các khoản nợ bằng ngoại tệ
Trang 9lại tăng do đồng tiền mất giá Như vậy, có thể thấy, bảng cân đối ngân hàng bị siếtchặt cả hai phía: giá trị tài sản giảm trong khi giá trị nợ lại tăng.
Trong hoàn cảnh này, hệ thống ngân hàng thường phải đối mặt với cuộc khủnghoảng ngân hàng, trong đó nhiều ngân hàng gần như phá sản (như Mỹ trong cuộcĐại suy thoái) Khủng hoảng ngân hàng và các nhân tố góp phần vào thị trường tíndụng giải thích cho vấn đề rủi ro đạo đức là lựa chọn đối nghịch, đồng thời cũnggiải thích cho sự sụp đổ của hoạt động kinh tế và hoạt động cho vay do hậu quảcủa cuộc khủng hoảng
Áp dụng những phân tích trên để nghiên cứu hai trong số nhiều cuộc khủng hoảngtài chính đáng chú ý ở thị trường các nước mới nổi Đầu tiên là xem xét cuộckhủng hoảng của Hàn Quốc (1997 – 1998) vì nó minh họa cho trường hợp khủnghoảng tài chính xuất phát từ: “Hệ thống quản lý yếu kém nền tự do hóa/toàn cầuhóa tài chính” Hai là xem xét cuộc khủng hoảng của Argentina (2001 – 2002),theo đó cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ “Sự mất cân bằng tài chính (fiscalimbalance)” nghiêm trọng
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HÀN QUỐC (1997 – 1998)
Trước năm 1997, HQ là một trong những nền kinh tế thành công trong lịch sử,từng được gọi là “Asian Miracle” – thuật ngữ dùng để chỉ một quốc gia từng rấtnghèo nàn, sau đó lại có nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng Năm 1960, bảy nămsau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, thu nhập hàng năm trên đầu người ở HQdưới 2.000$ - ngang bằng với Somalia Suốt giai đoạn sau chiến tranh, HQ theođuổi chiến lược định hướng xuất khẩu, điều này đã giúp HQ trở thành một trongnhững nền kinh tế lớn nhất thế giới, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm gần 8% từ năm
1960 – 1997 Đến năm 1997, thu nhập bình quân trên đầu người ở HQ đã tăng gấp
10 lần
Trang 10Nhìn vào biểu đồ có thể thấy trước năm 1997 HQ đã đạt được những nguyên tắc cơbản của kinh tế học vĩ mô với tỷ lệ lạm phát dưới 5%, tăng trưởng GDP thực gần7% và tỷ lệ thất nghiệp thấp, ngân sách chính phủ thặng dư nhẹ - điều mà hầu hếtcác nước phát triển đều không thể đạt được.
1 Quản lý yếu kém nền tự do hóa/ toàn cầu hóa tài chính
Đầu những năm 90, HQ tiến hành tự do hóa thị trường tài chính bằng cách gỡ bỏnhững hạn chế đối với các tổ chức tài chính, đồng thời toàn cầu hóa thị trường tàichính thông qua việc mở cửa thị trường vốn để thu hút nguồn vốn từ nước ngoài.Điều này dẫn đến một sự bùng nổ cho vay, trong đó tín dụng ngân hàng ở khu vựcphi tài chính tư nhân gia tăng nhanh chóng với tỷ lệ đi vay vốn nước ngoài gần20%/năm Vì các chính sách điều tiết yếu kém và thiếu chuyên môn trong việc sànlọc, giám sát người đi vay, nên tổn thất của các khoản cho vay bắt đầu tăng lên ănmòn giá trị ròng của ngân hàng (vốn)
Biểu đồ tỷ lệ lạm phát ở Hàn Quốc năm 1995 – 1999
Trang 11Biểu đồ tỷ lệ tăng trưởng GDP thực ở HQ năm 1995 – 1999
2 Sai lầm của quá trình tự do hóa/toàn cầu hóa tài chính: Khủng hoảng Hàn Quốc và khủng hoảng mô hình tập đoàn kinh tế Chaebols
Lợi ích kinh doanh (powerful business interests) là một trong những nguyên nhân
dẫn đến quản lý yếu kém nền tự do hóa tài chính Không quốc gia nào có thể minhchứng cho điều này rõ ràng hơn trường hợp của HQ cuối những năm 90, tức làtrước khi khủng hoảng tài chính xảy ra, khi đó Chaebols thống trị nền kinh tế HQvới doanh thu gần 50% GDP của cả nước
Trang 12Biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp ở Hàn Quốc năm 1995 – 1999
Các Chaebol đóng vai trò quan trọng trong chính trị HQ và được cho rằng quá lớn
để có thể sụp đổ “too big to fail” Được sự bảo hộ của chính phủ, các Chaebol biếtrằng họ sẽ nhận được sự hỗ trợ hoặc tín dụng trực tiếp từ chính phủ khi họ gặp rắcrối, và có thể giữ lại toàn bộ lợi nhuận nếu họ sau đó trả hết các khoản hỗ trợ tíndụng đó Điều này khiến cho các Chaebol đi vay một cách điên rồ và trở thànhnhững tập đoàn kinh tế có đòn bẩy cao
Những năm 90, các Chaebol không còn kiếm ra tiền Từ năm 1993 – 1996, tỷ suấtsinh lợi trên tài sản ROA (một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợitrên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp) của 30 Chaebol hàng đầu không quá 3%(trong khi ROA của tập đoàn Mỹ lúc bấy giờ là 15 – 20%) Năm 1996, ngay trướccuộc khủng hoảng, ROA giảm xuống mức 0.2% Hơn nữa chỉ có 5 Chaebol là cólợi nhuận, các chaebol còn lại ROA không bao giờ vượt quá 1%, thậm chí ROAcòn âm trong nhiều năm liền Trước tình trạng lợi nhuận quá thấp trong khi đònbẩy tài chính quá cao, bất kỳ ngân hàng nào cũng sẽ muốn thu hồi (pull-back) cáckhoản vay đối với các tập đoàn này nếu không có mạng lưới đảm bảo của chính
Trang 13phủ Ngân hàng biết rằng chính phủ sẽ chi trả cho các khoản vay nếu Chaebolkhông có khả năng trả nợ, do đó các nhân hàng tiếp tục cho vay Tuy nhiên nguồntài chính của các NHTM trong nước cũng không đủ thỏa mãn lòng tham của cácchaebol Các chaebol cho rằng cách giúp họ thoát khỏi khó khăn đó là tiếp tục tăngtrưởng, và họ cần một lượng lớn ngân sách để thực hiện điều đó Thậm chí khi HQkhoe khoang rằng tỷ lệ tiết kiệm trên 30% thì cũng không đủ tài trợ cho kế hoạch
mở rộng của các chaebol Vì vậy chaebols đã tìm đến thị trường vốn quốc tế
Các chaebol khuyến khích chính phủ HQ đẩy nhanh quá trình mở cửa thị trườngtài chính để thu hút vốn nước ngoài Năm 1993, chính phủ cho phép các ngân hàngnội địa thực hiện cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời cho phép các tổ chức tài chínhvay không giới hạn các khoản vay nước ngoài ngắn hạn nhưng lại hạn chế cáckhoản vay dài hạn như là một phương tiện để quản lý dòng vốn chảy vào quốc gia.Nhưng điều này thực ra không có ý nghĩa kinh tế Dòng vốn ngắn hạn khiến nềnnền kinh tế ở các nước mới nổi trở nên mong manh về tài chính vì nó sẽ dể dàngchảy khỏi quốc gia khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu nào của khủng hoảng Tuy nhiênđiều này lại hoàn toàn có ý nghĩa về mặt chính trị Các chaebol cần tiền, và sẽ dểdàng hơn để vay vốn ngắn hạn với lãi suất thấp vì các khoản vay dài hạn sẽ đem lạinhiều rủi ro cho các chủ nợ nước ngoài Kết quả là các ngân hàng HQ đã mở thêm
28 chi nhánh ở nước ngoài để dể dàng tiếp cận nguồn vốn
Mặc dù các tổ chức tài chính HQ đã tiếp cận được nguồn vốn quốc tế, nhưng cácchaebol vẫn còn 1 vấn đề Đó là họ không được phép sở hữu ngân hàng thươngmại, do đó họ không thể nhận được tất cả các khoản vay ngân hàng cần thiết Tuynhiên, có một loại hình tổ chức tài chính đặc biệt có khả năng cung cấp được cáckhoản vay họ cần, đó là loại hình ngân hàng bán buôn (merchant bank) Ngân hàngbán buôn là tổ chức tài chính thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán(underwriting securities), cho thuê (leasing) và cho vay ngắn hạn Thông qua việc
Trang 14phát hành trái phiếu, thương phiếu và vay từ thị trường liên ngân hàng trong nướchoặc thị trường nước ngoài để tài trợ cho các khoản vay của mình Vào thời điểmcuộc khủng hoảng xảy ra, các ngân hàng bán buôn được phép đi vay nước ngoài vàhầu như không bị kiểm soát Các chaebol nhận thấy cơ hội của mình và thuyếtphục các quan chức chính phủ cho phép chuyển đổi nhiều công ty tài chính (một sốthuộc sở hữu của chaebol) thành ngân hàng bán buôn Các ngân hàng bán buôn đãchuyển một lượng lớn tiền cho chủ sở hữu của mình là các chaebol để đầu tư vàocác lĩnh vực không sinh lợi (unproductive) như sản xuất ô tô, thép và hóa chất Khicác khoản vay trở nên tệ hại, sân khấu cho cuộc khủng hoảng tài chính đã đượcthiết lập.
3 Suy giảm thị trường chứng khoán và sự thất bại của các doanh nghiệp: bất ổn gia tăng
Nền kinh tế HQ sau đó trải qua một cú sốc tiêu cực liên quan đến giá xuất khẩugây tổn hại đến lợi nhuận biên vốn đã rất thấp và quy mô của các doanh nghiệpvừa và nhỏ gắn liền với Chaebol Ngày 23/01/1997, một cú sốc thứ 2 xuất hiện làmgia tăng bất ổn cho hệ thống tài chính: tập đoàn Hanbo – chaebol lớn thứ 14 tuyên
bố phá sản Thật vậy sự phá sản của Hanbo chỉ là khởi đầu, hơn 5 trong số 30chaebol lớn nhất đã tuyên bố phá sản trong năm Tình trạng xấu đi của bảng cânđối kế toán khu vực tài chính và phi tài chính cùng với sự gia tăng các yếu tố bấtđịnh do các vụ phá sản gây ra đã khiến cho thị trường chứng khoán giảm mạnh hơn50% so với đỉnh của nó
4 Vấn đề lựa chọn đối nghịch - rủi ro đạo đức và sự suy giảm tổng cầu
Sự gia tăng bất ổn, suy giảm giá trị tài sản ròng làm trầm trọng thêm vấn đề bất cânxứng thông tin gây khó khăn trong việc sàn lọc khách hàng tốt trong số nhữngkhách hàng xấu Sự suy giảm trong giá trị tài sản ròng làm giảm giá trị của tài sảnthế chấp và làm gia tăng động lực để thực hiện đầu tư mạo hiểm vì sẽ bị mất ít vốn
Trang 15nếu đầu tư không thành công Sự gia tăng bất ổn và suy giảm thị trường chứngkhoán trước khủng hoảng, cùng với sự suy thoái trong bảng cân đối kế toán củacác ngân hàng, vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức làm cho hoạt độngcho vay giảm sút và nền kinh tế thu hẹp lại.
Sự suy yếu của nền kinh tế cùng với sự suy thoái bảng cân đối kế toán của ngânhàng đủ chín mùi để dẫn nền kinh tế HQ bước vào giai đoạn tiếp theo: khủnghoảng tiền tệ - HQ chính thức rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng
Biểu đồ chỉ số thị trường chứng khoán Hàn Quốc năm 1995 – 1999
5 Khủng hoảng tiền tệ
Bảng cân đối kế toán yếu kém của khu vực tài chính và dòng vốn của nền kinh tế
bị dừng đột ngột, dẫn đến một cuộc tấn công đầu cơ trên tiền tệ HQ là điều khôngthể tránh khỏi Trước sự sụp đổ của đồng path Thái và 42 công ty tài chính ở TháiLan tuyên bố đóng cửa tháng 8/1997, khủng hoảng tài chính bắt đầu lây lan trên thịtrường, liệu rằng những vấn đề tương tự có tồn tại ở các quốc gia Đông Á khác.Ngay sau đó, các nhà đầu cơ nhận ra rằng hệ thống ngân hàng HQ đang gặp rắcrối, NHTW HQ không thể bảo vệ đồng tiền của họ bằng cách tăng lãi suất vì điều