1. Trang chủ
  2. » Tất cả

MOT SO NOI DUNG TRONG QUAN DIEM, DUONG LOI

16 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết của Đại hội 8 tháng 6/1996 đã đề ra: “trong hoàn cảnh mới, chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh x

Trang 1

Một số nội dung cơ bản trong quan điểm, đường lối, chính sách của đảng và nhà

nước ta về kinh tế, văn hóa, đối ngoại

1 Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn vói nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế” Anh (chị) hãy làm

sáng tỏ quan điểm trên của Đảng?

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bắt nguồn từ sự nhận thức về quá trình toàn cầu hóa kinh tế Xu thế toàn cầu hóa kinh tế tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế của các nước,

trong đó có Việt Nam Ngay tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đưa ra quan điểm: “Chủ

động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn vói nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế”.

Toàn cầu hóa về kinh tế là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, là giai đoạn chuyển biến về chất của quá trình quốc tế hóa

Toàn cầu hóa về kinh tế thể hiện ở các mặt sau:

Một là, các dòng văn hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực ngày càng vượt qua biên giới

các quốc gia, lưu thông trên phạm vi toàn cầu ngày càng tự do hơn

Hai là, sự liên kết chặt chẽ kinh tế của các nước trên thế giới thành các kênh phân phối lưu thông

các nguồn lực kinh tế toàn cầu, cầu nối này ngày càng ảnh hưởng và kết hợp chặt chẽ với nhau, chứ không phải là sự phát triển cô lập mà các bên không hề có liên quan

Ba là, toàn cầu hóa là sự gia tăng liên kết toàn cầu làm rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia tạo

nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ trước hết về sản xuất và thị trường nhờ tính năng động của thương mại, của sự lưu thông vốn và công nghệ

Bốn là, nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hòa nhập với nhau Sự phát triển

của nền kinh tế các nước trên thế giới và sự vận động của toàn bộ nền kinh tế thế giới ngày càng ảnh hưởng và chế ước lẫn nhau

Toàn cầu hóa là xu thế khách quan gắn liền với xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội, là kết quả tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng Bản chất khách quan của tòan cầu hóa được quy định bởi tính tất yếu khách quan của quá trình quốc tế hóa

Toàn cầu hóa gắn liền với chủ nghĩa tư bản và hiện đang bị chủ nghĩa tư bản, nhất là các tư bản phát triển chi phối, lợi dụng để phục vụ cho mục đích của họ Hay nói cách khác, toàn cầu hóa hiện nay đang trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản

Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội Muốn hay không một vấn đề đặt ra là xác định rõ mối quan hệ giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới, mối quan hệ giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực bên ngoài Chính từ đó mà hình thành nên sự lựa chọn mở rộng quan hệ kinh

tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam là quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản xuất còn yếu nguy cơ tụt hậu ngày càng

xa đang là hiện thực Trong tình hình đó, hội nhập kinh tế quốc tế giúp nước ta có cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế là quan điểm của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện những bước đi vững chắc, đó là :

ÔH THI

Trang 2

Nghị quyết của Đại hội 7 (tháng 6/1991) đã khẳng định “mở rộng, đa phương hoá các quan hệ

kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”.

Nghị quyết của Đại hội 8 (tháng 6/1996) đã đề ra: “trong hoàn cảnh mới, chúng ta chủ trương xây

dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh xuất khẩu”; “điều chỉnh cơ cấu thị truờng để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập quốc tế, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với buớc đi thích hợp”;

Đại hội IX phát triển và nâng cao lên một tầm mới với phương châm “chủ động hội nhập kinh tế

quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi truờng”.

Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đưa ra quan điểm: “Chủ động và tích cực hội nhập

kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn vói nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế”.” Chủ động tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới…”

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tất yếu khách quan, tác động mạnh vào quá trình hình thành các chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia không phân biệt chế độ chính trị hay trình độ phát triển Kế thừa thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và đặc biệt vào những năm 80 của thế kỷ XX tạo ra tiền đề quan trọng cho tất cả các quốc gia, đó là:

Tạo khả năng cho các ngành sản xuất trong việc ứng dụng các công nghệ hiện đại và kỹ thuật do con người tạo ra Nhu cầu xã hội, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng được thỏa mãn với chất lượng cao

Xuất khẩu tăng nhanh, cung luôn vượt cầu, thị trường trở nên chật hẹp, phải đa dạng hóa đa phương hóa các kinh tế đối ngoại, thực hiện phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn

Ngày nay, các định chế tài chính quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều và bao trùm lên phạm vi toàn cầu, góp phần tạo động lực to lớn thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Sự xuất hiện các tổ chức như IMF, AFTA, NAFTA là những ví dụ điển hình của các liên kết kinh tế tài chính thúc đẩy hoạt động kinh tế diễn ra trên phạm vi rộng mang tính toàn cầu Đặc biệt là sự xuất hiện của WTO với tư cách là diễn đàn thương mại đa phương, đã biến WTO thành một “Liên hợp quốc” về thương mại toàn cầu Sự xuất hiện của WTO đã góp phần to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu, làm cho thương mại quốc tế thay đổi mạnh về chất, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc

Toàn cầu hóa về kinh tế tác động rất nhanh sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, kinh tế tăng trưởng cao mở đường cho sự gia tăng nhanh chóng thương mại quốc tế-yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế của thế giới Thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao Góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế Truyền bá và chuyển giao khoa học

và công nghệ trên quy mô ngày càng lớn Tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết: vốn, vật chất, tri thức và kinh nghiệm Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các dân tộc, kích thích các luồng và các dạng giao lưu Toàn cầu hóa làm tăng thêm sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau giữa các nền kinh tế các nước, đồng thời tạo truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới về khoa học công nghệ, tổ chức quản lý…dọn đường cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tòa cầu hóa còn gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về cạnh tranh làm thay đổi cách nghĩ, cách làm và nâng cao sức cạnh tranh đối với mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế cũng đã bộc lộ những mặt tiêu cực về kinh tế, đó

là trên thực tế về lợi ích không chia điều cho các nước mà phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh, sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia… toàn cầu hóa về kinh tế dễ dẫn đến việc đào sâu hố ngăn cách giàu

Trang 3

nghèo và bất công xã hội Làm cho mọi mặt của cuộc sống con người kém an toàn, tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có phần thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các Nhà nước - dân tộc Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam nếu bỏ lỡ thời cơ sẽ bị tụt hậu nguy hiểm Tình trạng cạnh tranh gay gắt dẫn đến tình trạng phá sản, thất nghiệp làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội Dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế, nền kinh tế các quốc gia ngày càng thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, khả năng bất ổn kinh tế cũng gia tăng, bởi lẽ tính lưu động của vốn, đặc biệt là vốn ngắn hạn rất cao Toàn cầu hóa về kinh tế cũng có những mặt tác động xấu đến môi trường sống và xã hội, sự xâm nhập công nghệ lạc hậu, nạn ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội và gia tăng bất bình đẳng trong xã hội Quyền lực nhà nước, dân tộc bị xói mòn và gia tăng quyền lực cho những CTy xuyên quốc gia

Việt nam là một quốc gia đang phát triển, nhu cầu và mục tiêu vươn tới để trở thành một quốc gia công nghiệp có kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, đời sống nhân dân với chất lượng ngày càng cao Một trong những vấn đề then chốt chi phối chủ trương hội nhập hiện nay là chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng XHCN

Hội nhập kinh tế quốc tế đối với nước ta phải trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường

Đại hội XI của Đảng chuyển từ quan điểm “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” được

thông qua từ Đại hội X sang “Chủ động tích cực hội nhập quốc tế” với chủ trương này, hội nhập quốc

tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị,

quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội “Phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao

trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng” là một trong những quan điểm do Đại hội XI của

Đảng xác định Việc xác định quan điểm này dựa trên sự nhận thức sâu sắc của Đảng ta về mối quan

hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế của nước ta trong tình hình mới Với

mục tiêu: giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh và phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội Chủ động hội nhập quốc tế, đó là:

Thứ nhất, chủ động triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế mạnh mẽ, toàn diện hơn, phát huy

tư cách là thành viên tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới

Thứ hai, chủ động cùng các nước đối tác triển khai mạnh mẽ và hoàn thiện các khuôn khổ quan

hệ, nhất là với các đối tác hàng đầu, mang tầm chiến lược hoặc có nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam nhằm đưa các khuôn khổ này đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững trong thập niên tiếp theo của thế kỷ

Thứ ba, trên cơ sở thẳng thắn nhìn nhận các vấn đề còn tồn tại trong công tác đối ngoại thời gian

qua, chúng ta cần chủ động tìm kiếm các biện pháp khắc phục Chủ động tìm kiếm các cơ chế phối hợp một cách chặt chẽ và hiệu quả giữa các Bộ, ngành, địa phương, đoàn thể và doanh nghiệp trong quản

lý và triển khai các hoạt động đối ngoại

Thứ tư, chủ động kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công

việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam

Tích cực hội nhập quốc tế, đó là:

Trang 4

Một là, tích cực nghiên cứu, tìm giải pháp thúc đẩy giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn tại về

biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng trên tinh thần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, duy trì cục diện quan hệ ổn định với các nước liên quan, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới

Hai là, tích cực huy động và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ chiến lược tăng trưởng

mới, vì sự phát triển bền vững của đất nước

Ba là, tích cực rà soát, đôn đốc đàm phán và triển khai các thoả thuận đã ký với đối tác Tích cực

hơn nữa trong công tác nghiên cứu, thông tin, dự báo nhằm theo sát được các diễn biến tình hình quốc

tế và khu vực, nắm bắt kịp thời các vấn đề phát sinh để đưa ra những kiến nghị, đối sách sâu sắc và kịp thời

Bốn là, tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với

những thách thức an ninh phi truyền thống và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền

Như vậy, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là sự thể hiện khả năng tự chủ về kinh tế, trước hết là sự tự chủ về đường lối và các quyết sách phát triển Độc lập tự chủ về kinh tế trước hết là độc lập tự chủ về đường lối chủ trương, chính sách kinh tế Phải có sức mạnh nội tại của nền kinh tế nước ta và các yếu tố có thể xem như đã đạt được mức cần thiết để đảm bảo yêu cầu tự chủ về kinh tế

Để hiện thực hoá quan điểm trên do Đại hội XI của Đảng xác định, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế; theo đó, chúng ta cần nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế, chú trọng đưa các quan hệ đối tác đã được thiết lập đi vào chiều sâu, xây dựng các mối quan hệ thực chất,

ổn định lâu dài Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro trong điều kiện Việt Nam là thành thành viên WTO Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 Đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn FDI, ODA, FPI, tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị,

có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt

Tăng cường khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tạo vị thế cho nước ta hội nhập quốc tế sâu

rộng Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế

của đất nước Hội nhập quốc tế tích cực và chủ động nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của nền

kinh tế thế giới đối với nền kinh tế nước ta Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối

ngoại trong hội nhập quốc tế là một trong những nội dung quan trọng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ

giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế của nước ta trong tình hình mới

Tóm lại, Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn vói nâng

cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế là chủ trương đúng đắn và sáng suốt của đảng ta Việc

xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở nước ta có mối quan hệ chặt chẽ, tác động thúc đẩy lẫn nhau Nền kinh tế độc lập tự chủ là cơ sở để mở rộng hội nhập quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau Giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng XHCN trong quá trình hội nhập

quốc tế Mặt khác, hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế là điều kiện cần thiết để xây

dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; nó cho phép chúng ta tận dụng được ngoại lực để phát huy nội lực, đẩy nhanh tăng trưởng, phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của nền kinh tế nước ta trong khu vực và thế giới./

Trang 5

2 Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định: “Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Anh (chị) hãy

làm sáng tỏ quan điểm trên của Đảng Liên hệ thực tế ở địa phương?

Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người nhằm duy trì

khả năng sinh tồn của con người và tiến bộ công bằng xã hội.“Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững,

tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” là quan điểm

của Đảng ta tại Đại hội lần thứ X nhằm khẳng định chính sách nhất quán trong việc thực hiện cam kết chung quốc tế tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường Đồng thời, từ quan điểm trên chính là

cơ sở để xây dựng các nguyên tắc của quốc gia về phát triển bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên,

đặc điểm kinh tế xã hội và thể chế chính sách ở Việt Nam.

Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của

sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững

về môi trường

Phát triển bền vững về kinh tế quá trình phát triển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên

cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, tránh được sự suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại gánh nợ nần cho các thế hệ mai sau

Phát triển bền vững về xã hội là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao tình trạng dân trí, tạo sự đồng thụân và an sinh xã hội

Phát triển bền vững về môi trường là quá trình phát triển đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định gắn với khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái, hủy hoại môi trường mà còn nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường

Định hướng chiến lược Phát triển kinh tế 2011-2020 tại Đại hội lần thứ XI cũng khẳng định:

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược

Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức

Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết Phát triển bền vững là

cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh

và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế -

xã hội

Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững

Thực trạng phát triển bền vững ở Việt nam trong những năm qua đã đạt được một số thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Đó là:

Một là, về kinh tế những năm qua đã tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định Tổng

sản phẩm trong nước liên tục tăng Cơ cấu kinh tế cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, từng bước hiện đại hóa Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP ngày càng tăng và năng lực nội sinh cũng được cải thiện đáng kể

Trang 6

Hai là, về xã hội với kết quả tăng trưởng kinh tế đã đưa đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư

Chi số phát triển con người (HDI) tăng nhanh, tuổi thọ bình quân đạt 71 tuổi, ngang bằng với các nước

có thu nhập trung bình Cùng vối nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước quan tâm đến giải quyết việc làm Xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tốt Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh tính theo chuẩn nghèo quốc tế và theo chuẩn nghèo quốc gia

Ba là, về môi trường đã hình thành được hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường từ trung ương đến

cấp cơ sở và ban hành được hệ thống pháp luật khá đồng bộ Nhờ đó, công tác bảo vệ môi trường đạt kết quả tốt hơn Độ che phủ rừng đã tăng nhanh Các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến đổi mới công nghệ, xây dựng hệ thống xử lý chất thải

Tuy nhiên, thực trạng phát triển bền vững ở Việt nam trong những năm qua cũng có những mặt hạn chế, yếu kém cả ba mặt, đó là:

Về kinh tế với sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, tài nguyên và lao động, phần đóng góp của khoa học công nghệ còn nhỏ bé Nguồn thu ngân sách nhà nước chủ yếu dựa vào bán tài nguyên và thuế nhập khẩu Hiệu quả họat động của các doanh nhiệp nhất là doanh nghiệp nhà nước thấp

Về xã hội thì thu nhập bình quân chưa vượt ngưỡng của nước có thu nhập thấp Khỏang cách giàu

nghèo gia tăng, kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững Tình trạng thầt nghiệp thiếu việc làm còn cao Chất lượng đào tạo giáo dục còn thấp, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng

Về môi trường chưa có sự kết hợp hài hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với khai thác hợp lý, sử

dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Môt trường sinh thái đang bị hủy hoại, suy thoaío

và xuống cấp nghiêm trọng Công tác bảo vệ môi trường thiếu có sự phối kết hợp giữa các vùng, liên vùng, quốc gia và tòan cầu, giữa trung ương và địa phương, nhất là cấp huyện và cấp xã

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tư nhiên

Quan điểm: “Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” “Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.

Nguyên tắc: Để đạt được mục tiêu trên cần quán triệt những nguyên tắc chính trong quá trình phát triển bền vững như sau: con người là trung tâm của phát triển, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn trước mắt; phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường; khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước; phát triển bền vững là sự nghiệp của tòan đảng, các cấp chính quyền, các

bộ, ngành, địa phương, các cơ quan doanh nghiệp, đòan thể xã hội, cộng đồng dân cư và mọi người dân; gắn chạt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững; kết hợp chạt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Nhũng lĩnh vực cần ưu tiên để phát triển bền vững là:

Về kinh tế cần duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định, có hiệu quả và bền vững Thay đổi mô

hình sản xuất và tiêu dung theo hướng than thiện với môi trường Thực hiện quá trình “công nghiệp

hóa sạch” thúc đẩy thay thế công nghệ sản xuất lạc hậu, tốn nhiều năng lượng, tiết kiệm tài nguyên

thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải có hiệu quả Phát triển bền vững các vùng các địa phương, nâng cao trách nhiệm, năng lực về phát triển bền vững cho các cấp chính quyền địa phương, thúc đẩy vai trò đầu tàu của các vùng kinh tế trọng điểm, thu hút rộng rãi nhân dân tham gia vào phát triển bền vững ở địa phương mình

Trang 7

Về xã hội cần tập trung nỗ lực để xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Giảm mức gia tăng dân số và tạo them nhiều việc làm cho nhân dân lao động Định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm phát triển bền vững các đô thị, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng Phát triển số lượng, nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cải thiện điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống

Về tài nguyên và môi trường cần chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước Khai thác và sử dụng hợp

lý, bền vững tài nguyên khóang sản Bảo vệ môi trường biển, eo biển và hải đảo Bảo vệ và phát triển rừng Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, phòng và chống thiên tai

Tổ chức thực hiện phát triển bền vững thông qua hòan thiện tổ chức bộ máy và phát huy vai trò của Nhà nước trong tổ chức thực hiện phát triển bền vững Huy động tòan dân thực hiện phát triển bền vững và hợp tác quốc tế để phát triển bền vững

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững theo nội dung sau:

Một là, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát

triển kinh tế nhanh, bền vững Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững

Hai là, phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước

công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh

tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu

Ba là, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn

với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi thế từng vùng gắn với thị trường; Xây dựng nông thôn mới;

Bốn là, phát triển các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và

các dịch vụ có giá trị gia tăng cao Phấn đấu khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng GDP và gấp ít nhất 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất sản phẩm vật chất; tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân 5 năm đạt 8 - 8,5%/năm

Năm là, tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu

phát triển của đất nước Hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng cả nước Phát triển có trọng tâm, trọng điểm và đầu tư tập trung, dứt điểm, kiên quyết hoàn thành những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt theo hướng hiện đại và tương đối đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, các khu công nghệ cao, các khu công nghiệp, khu kinh tế

Sáu là, phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn Phát huy tiềm năng,

thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng; đồng thời tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các vùng để các vùng đều phát triển, từng bước giảm bớt chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cư giữa các vùng

Trang 8

Tại Tây Ninh, kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội VIII Văn kiện tại Đại hội Đảng bộ lần thứ IX đánh giá về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế đã đưa kinh tế phát triển tương đối tòan diện, tiếp tục tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, lợi thế trong từng ngành Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng bình quân hằng năm 7% Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 16,8% Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân hằng năm 21,5% Hoạt động tín dụng tài chính có bước phát triển quan trọng Họat động xuất khẩu, nhập khẩu tiếp tục chuyển biến tích cực Kinh tế nhiều thành phần được quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện phát triển cả về quy mô và chất lượng Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư

Tuy nhiên, trong phát triển kinh tế ở Tây Ninh vẫn còn một số hạn chế, yếu kém đó là: Kinh tế tuy tăng trưởng nhưng chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, cơ cấu chuyển dịch chậm sản xuất nông nghiệp chưa ổn định, còn chịu nhiều yếu tố rủi ro, diện tích một số cây trồng chính chưa phát triển theo kế hoạch, thấp so với chỉ tiêu đề ra Kinh tế hợp tác xã tăng chậm, quy mô, chất lượng, hiệu quả họat động chưa cao Lợi thế biên giới, cửa khẩu chưa được đầu tư phát triển và khai thác đúng mức Xây dựng cơ bản có nhiều mặt hạn chế, yếu kém, kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu với các loại phương tiện vận tải có tải trọng lớn hiện nay Hầu hết cơ sơ sản xuất công nghiệp quy

mô nhỏ, sử dụng nhiều lao động, công nghiệp lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường trên các tuyến sông rạch, nhất là sông Vàm Cỏ Đông việc xử lý nước thải của các nhà máy không đảm bảo gây ô nhiễm trầm trọng môi trường nước làm phát sinh và phát triển lục bình kín cả mặt sông gây tắc nghẽn lưu thông của các phương tiện thủy nội địa, ảnh hướng rất lớn về phát triển kinh tế của tỉnh Việc khai thác khóang sản không được kiểm sóat gây nên tình trạng hũy hoại nguồn đất và gây sạt lỡ bờ sông làm thiệt hại tài sản của nhân dân Đây cũng chính là nguyên nhân của sự phát triển không bền vững đem lại

Như vậy, Tây Ninh cần phải có những giải pháp, nhiệm vụ thiết thực để tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững, đó là:

Một là, đối với nông nghiệp cần đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất, chuyển dịch cơ

cấu cây trồng từng bước hình thành nông nghiệp sạch và mở rộng thị trường cho sản phẩm;

Hai là, phát triển công nghiệp gắn với phát triển dịch vụ, phát triển đô thị và bảo vệ môi trường

sinh thái Nâng cao hiệu quả quản lý theo kế hoạch đối với các công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến Nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cơ quan kiểm soát việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường;

Ba là, phát huy lợi thế biên giới, đẩy mạnh phát triển kinh tế mậu biên, thị trường xuất khẩu nhằm

đảm bảo đầu ra tiêu thụ các sản phẩm đã qua chế biến, tạo bước phá về đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông phù hợp với quy hoạch có định hướng phát triển đến năm 2020, nhằm đáp ứng lưu lượng phương tiện vận tải ngày càng cao phục vụ cho các khu kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp hoặc dịch vụ du lịch

Tóm lại, việc “phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” theo quan điểm chỉ đạo tại văn kiện Đại hội X của Đảng

vừa phù hợp với các điều kiện cam kết quốc tế tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường của Việt nam, đồng thời giải quyết các thách thức lớn mang tính tòan cầu, đó là: Sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trái đất và sự gia tăng dân số, đói nghèo cùng các tệ nạn xã hội

Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng ta nhằm xây dựng một nước Việt Nam Giàu mạnh, phát triển

ổn định và bền vững trong hôm nay và ngay cả mai sau, phù hợp với mục tiêu của Đảng ta đề ra là xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./

Trang 9

3 Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần

xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nhiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân, các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề

xã hội?

Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp lớn nhằm phát triển kinh

tế xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: Các vấn đề chính sách xã

hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nhiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân, các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội.

Xã hội là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loài người nhằm phân biệt với “cái tự nhiên” Vấn đề xã hội là tất cả những vấn đề liên quan đến con người, các nhóm người, cộng động người về tồn tại và phát triển Chính sách là những quy định, quyết định đã được nhà nước thể chế hóa nhằm điều chỉnh quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội của con người để giải quyết những vấn đề đang đặt

ra, thực hiện những mục tiêu đã đựợc xác định trước

Hiểu về xã hội, chính sách và các vấn đề của xã hội chúng ta có thể rút ra để đi đến tiếp cận về chính sách xã hội Chính sách xã hội là những quy định, quyết định được thể chế hóa bởi nhà nước, trở thành công cụ để tác động vào những quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển tòan diện con người

Đặc điểm của chính sách xã hội là loại chính sách nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra thực hiện những mục tiêu đã xác định trước đó là thực hiện công bằng, bình đẳng cho con người nhất là những nhóm yếu thế

Không một chế độ xã hội nào phát triển ổn định, tiến bộ, văn minh mà lại để các vấn đề xã hội diễn

ra không kiểm soát được Giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự ổn định, phát triển, tiến bộ, văn minh của một chế độ xã hội

Thực tiễn kinh nghiệm qua công cuộc đổi mới hơn 20 năm ở Việt nam cho thấy rằng, chính sự phát triển kinh tế không tự nó giải quyết các vấn đề xã hội mà còn làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết Tuy sau đổi mới kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng lại xuất hiện hang lọat các vấn đề xã hội cần giải quyết như; Đạo đức, lối sống, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, tham nhũng, môi trường ô nhiễm, tai nạn giao thông…

Quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt nam luôn phải đấu tranh và đương đầu với giặc ngoại xâm, thiên tai bão, lụt…từ đó đã hình thành nên thuyền thống hết sức tốt đẹp như: Anh hùng, dũng cảm, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, uống nước nhớ nguồn…Hiện tại trên phạm vi cả nước những gia đình liệt sĩ, thương, bệnh binh, gia đình có công với đất nước, nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam và bao nạn nhân do thiên tai lũ lụt cần được quan tâm, chăm sóc Tiếp tục quan tâm, chú ý giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách xã hội, rõ ràng là yêu cầu tất yếu để phát huy truyền thống nhân văn của Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Cơ sở đầu tiên để xây dựng chính sách xã hội là phải coi con người như là trung tâm, như đích hướng tới của mọi chính sách Ở đây, con người được hiểu như tổng hòa các quan hệ xã hội Chính sách xã hội phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho sự phát triển tòan diện của mỗi cá nhân con người cũng như của cả cộng đồng người

Để đề ra và thực hiện chính sách xã hội phải nghiên cứu những khác biệt của xã hội và sai lệch xã hội Đây chính klà một trong những cơ sở khoa học quan trọng giúp phát hiện những vấn đề xã hội đang đặt ra Bên cạnh những sai lệch trong cơ cầu xã hội, cần phải nghiên cứu và làm rõ những khác biệt trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Cần chú ý đến đặc điểm lịch sử và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc, kế thừa được những tinh hoa mà lịch sử hàng ngàn năm cha ông đã tích

Trang 10

lũy được Chí có như vậy, chính sách xã hội mới có cơ sở để hiện thực hóa và phát huy tối đa tác dụng của nó

Hệ thống chính sách xã hội nhằm tác động điều chỉnh cơ cấu xã hội bao gồm:

Chính sách xã hội dành cho giai cấp công nhân đó là tiền lương, tiền thưởng, chính sách việc làm, chống thất nghiệp, phúc lợi xã hội, đảm bảo xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, vệ sinh an tòan lao động …;

Chính sách xã hội dành cho giai cấp nông dân đó là chính sách đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm, đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm y tế, hệthống dịch vụ thương mại, hệ thống cấp nước và chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội;

Chính sách xã hội dành cho tầng lớp trí thức đó là những chính sách nhằm tạo điều kiện cho trí thức phát huy tốt nhất khả năng trí tuệ của mình thông qua việc đầu tư khoa học, đầu tư áp dụng các thảnh tựu kinh tế, kỷ thuật và khoa học vào sản xuất, quan tâm và tạo điều kiện cho trí thức phát triển tối đa khả năng sang tạo của mình

Chính sách xã hội dành cho các nhà doanh nghiệp là tạo môi trường pháp lý thuận lợi để họ phát triển sản xuất kinh doanh, giúp họ vay vốn, thuê mặt bằng, tham gia thị trường trong nước và quốc tế Giúp họ thực hiện các chế độ, chính sách phù hợp cho công nhân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ

và thợ

Chính sách xã hội về nghề nghiệp nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa các nghề về thu nhập, điềui kiện lao động, điều kiện đảm bảo Chú ý những nghề mà người lao động dễ bị ảnh hưởng sức khỏe về cả thể chất lẫn tinh thần và bất bình đẳng trong thu nhập đó là các bảo hiểm nghề nghiệp, chính sách phòng chống các tai nạn thương tích, vệ sinh môi trường lao động

Chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc ít người là giúp đỡ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục và an sinh xã hội

Quan điểm và một số chính sách xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách hiện nay ở nước ta là:

Cương lĩnh của Đảng CSVN đã chỉ rõ phương hướng lớn của chính sách xã hội là: “Phát huy nhân

tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”

Theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển

năm 2011) Đảng ta cũng khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động

lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội”.

Từ phương hướng chung trên, cần nắm rõ một số quan điểm cơ bản sau đây trong quá trình triển khai thực thi các chính sách xã hội

Một là, coi chính sách xã hội là hệ thống công cụ tác động một cách toàn diện, bao trùm lên tất cả

các mặt của đời sống xã hội;

Ngày đăng: 23/09/2016, 16:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w