Nội dung Chương III: Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng bao gồm các bài:+ Bài 1: Nguyên hàm + Bài 2: Một số phương pháp tìm nguyên hàm + Bài 3: Tích phân + Bài 4: Một số phương pháp tính
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN i
http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Hải Linh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii
http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài
1 2 Mục đích nghiên cứu
2 3 Giả thuyết khoa học 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Tư duy 4
1.1.1 Tư duy là gì? 4
1.1.2 Các giai đoạn của quá trình tư duy
4 1.1.3 Đặc điểm cơ bản của tư duy 5
1.1.4 Các loại hình tư duy
7 1.2 Tư duy sáng tạo
7 1.2.1 Khái niệm sáng tạo……… 7
1.2.2 Khái niệm tư duy sáng tạo 8
1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của TDST
8 1.3 Những hoạt động trí tuệ thường gặp trong môn Toán cần rèn luyện cho HS
16 1.3.1 Phân tích và tổng hợp 16
1.3.2 Khái quát hóa và đặc biệt hóa
17 1.3.3 So sánh, tương tự 17
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1.5 Kết luận chương 1 27
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ NGUYÊN HÀM, TÍCH PHÂN
2.2.1 Vận dụng nguyên tắc “phân nhỏ” để rèn luyện cho HS thói quen phântích, tổng hợp trong quá trình giải toán 30
2.2.2 Vận dụng nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa” để rèn luyện cho HSthói quen đặc biệt hóa, khái quát hóa trong quá trình giải toán 39
2.2.3 Vận dụng nguyên tắc “sao chép” để rèn luyện cho HS thói quen tương
tự hóa trong quá trình giải toán 50
2.2.4 Rèn luyện cho HS biết nhìn bài toán theo nhiều góc độ, phương diệnkhác nhau 532.2.5 Hướng dẫn HS phân tích bài toán, tìm ra mối liên hệ với các kiến thức
đã học để tìm ra cách giải độc đáo tuy đã biết những cách giải khác 63
2.3 Kết luận chương 2 68
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm
70 70
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm
71 3.4 Hình thức tổ chức thực nghiệm sư phạm 71
72
3.5.1 Phân tích định lượng 72
3.5.2 Phân tích định tính 77
3.6 Kết luận chương 3 77
KẾT LUẬN 79
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iii
http://www.lrc.tnu.edu.vn
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Giáo viênHọc sinhPhương pháp dạy họcSách giáo khoa
Tư duy sáng tạo
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv
http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra khảo sát chất lượng học tập môn toán học kì I
năm học 2014 - 2015 của hai lớp 12A1 và 12A2, trường THPT Nguyễn Huệ 71
và lớp 12A2, trường THPT Nguyễn Huệ 75
Trang 9MỞ ĐẦU
Đào tạo nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề Đó là đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thựchiện nhiệm vụ này, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và sáchgiáo khoa ở mọi bậc học, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳngđịnh [9]: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáodục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướnghiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng,đạo đức, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức tráchnhiệm xã hội”
Luật Giáo dục đã quy định [15]: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học nănglực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” và “Phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củahọc sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Như vậy, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục nước ta là đào tạo ra được những con người lao động phát triển toàn diện về mọi mặt, không những có kiếnthức mà còn biết vận dụng các kiến thức trong công việc Hoạt động dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh (HS) những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đặc biệt quan tâm đến việc hình thành và phát triển tư duy sáng tạo (TDST) cho
HS một cách hiệu quả Vì vậy, việc rèn luyện và phát triển TDST cho HS phổ thông
là hết sức quan trọng
Trong việc rèn luyện TDST cho HS phổ thông, môn toán đóng vai trò rất quantrọng Việc rèn luyện TDST cho HS trong học toán có ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng dạy học vì đó là điều kiện tốt để HS tiếp thu kiến thức, rèn luyện khả năng vậndụng toán, giúp HS phát triển tư duy toán học và các phẩm chất trí tuệ khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 1 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 10Vấn đề bồi dưỡng và phát triển TDST cho HS đã được nhiều tác giả trong vàngoài nước quan tâm, nghiên cứu Với tác phẩm “Sáng tạo toán học” nổi tiếng, nhàtoán học kiêm tâm lý học G.Polya đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quátrình sáng tạo toán học Trong tác phẩm “Tâm lý năng lực toán học của học sinh”,Krutecxiki đã nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của HS Đặc biệt là giáo sưGenrich Saulovich Altshuller- người Nga, kỹ sư, nhà sáng chế, nhà văn viết truyệnkhoa học viễn tưởng là người khai sinh ra phương pháp luận sáng tạo TRIZ (lí thuyếtgiải các bài toán sáng chế) được truyền bá cho mọi người từ cuối những năm 60 củathế kỉ trước Trong 40 nguyên tắc sáng tạo của Altshuller, việc vận dụng một sốnguyên tắc để giải toán như: nguyên tắc “phân nhỏ”, nguyên tắc giải “thiếu” hoặc
“thừa”, nguyên tắc “sao chép” sẽ được chúng tôi đề cập rõ hơn ở chương 2 trong luậnvăn này Ở nước ta, các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Bá Kim, VũDương Thụy, Tôn Thân, Phạm Gia Đức… đã có nhiều công trình nghiên cứu về lýluận và thực tiễn liên quan đến vấn đề phát triển TDST cho HS phổ thông
Hiện nay, việc bồi dưỡng và phát triển TDST cho HS trong hoạt động dạy họctoán đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, việc phát triển TDST cho
HS thông qua dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân ở trường THPT lại chưa cónhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu cụ thể
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn này là: "Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân".
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất được một số biện pháp sư phạm nhằm góp phần pháttriển TDST cho HS THPT thông qua dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân
3 Giả thuyết khoa học
Nếu dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân theo định hướng phát triển TDSTcho HS, thì có thể phát triển được khả năng TDST cho HS và nâng cao chất lượngdạy học toán ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tư duy,
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình giáo dục nhằm phát triển TDST và cách
thức khai thác bài tập theo hướng phát triển TDST cho HS thông qua dạy học chủ đềnguyên hàm, tích phân
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi nội dung nguyên hàm,
tích phân lớp 12 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học
môn toán, tâm lý học, lý luận dạy học môn toán; các sách báo, các bài viết, các côngtrình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài
- Điều tra, quan sát: Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên (GV) và việc học
của HS trong quá trình khai thác các bài tập sách giáo khoa
- Thực nghiệm sư phạm: Thể hiện các biện pháp sư phạm đã được đề ra qua
một số giờ dạy thực nghiệm ở một số lớp học thực nghiệm và lớp học đối chứng trêncùng một lớp đối tượng
7 Cấu trúc luận vănNgoài phần "Mở đầu" và "Kết luận", nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho họcsinh THPT thông qua dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tư duy
1.1.1 Tư duy là
gì? “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát
hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm,phán đoán, suy lý” [16]
Theo Từ điển Triết học [25]: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận Tư duy xuất hiện trong quá trìnhhoạt động sản xuất xã hội của con người, tư duy được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên những vấn đề nhận định và tìm cách giải quyết chúng”
Theo quan niệm của Tâm lý học [10]: “Tư duy là một quá trình tâm lý thuộcnhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác
Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quyluật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”
Tổng hợp các quan niệm trên, ta có thể hiểu: tư duy là sản phẩm của bộ nãocon người và là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan Nó chỉ nảy sinhkhi gặp hoàn cảnh có vấn đề Kết quả của tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và đượcthể hiện qua ngôn ngữ
1.1.2 Các giai đoạn của quá trình tư duy
- Bước 1: Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy
- Bước 2: Huy động trí tuệ, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết
và cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi
- Bước 3: Xác minh giả
định chính xác hoá và giải quyết vấn đề, nếu giả thuyết không phù hợp thì phủ định
nó và hình thành giả thuyết mới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5
http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Bước 4: Quyết định, đánh giá kết quả, đưa vào sử dụng
Sơ đồ của quá trình tư duy được minh họa như sau [20] :
Hình 1.1 Các giai đoạn của quá trình tư duy.
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của tư
Khi gặp những tình huống mà với vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đãbiết của chúng ta không đủ giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấnđề” Và chúng ta phải cố vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới,hay nói cách khác chúng ta phải tư duy
b) Tính khái quát
Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tượng Do đó, tư duy mang tính khái quát
c) Tính độc lập tương đối của tư duy
Trong quá trình sống, con người luôn giao tiếp với nhau Tư duy của từngngười vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân, vừa chịu sự tác động
Nhận thức vấn đềXuất hiện các liên tưởngSàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Kiểm tra giả thuyết
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6
http://www.lrc.tnu.edu.vn
biến đổi từ tư duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất Do đó,
tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người, mà còn gắn với sự tiến hóacủa xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cáthể của một con người nhất định Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịuảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó và các lýthuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó Mặt khác, tư duy cũng có logic phát triểnnội tại riêng của nó, biểu hiện ở sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểuriêng gắn với mỗi con người Đó chính là tính độc lập tương đối của tư duy
d) Mối quan hệ giữa tƣ duy và ngôn ngữ
Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ Kếtquả tư duy được ghi lại bằng ngôn ngữ Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền vớingôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏhình thức của tư duy Ở thời kỳ sơ khai, tư duy được hình thành thông qua hoạt độngvật chất của con người, và từng bước được ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đếnphức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng Hệ thống các ký hiệu đóthông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ đánhdấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy, và tư duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngônngữ Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếpchủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất
xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động
e) Mối quan hệ giữa tƣ duy và nhận thức
Tư duy là kết quả của nhận thức, đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhậnthức Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng đượcphản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bênngoài được phản ánh một cách riêng lẻ Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể Ởgiai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác sosánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp… những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mốiliên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ranội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm,phạm trù, định luật Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tư duy trừu tượng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7
các loại hình tư duy của con người Tuy nhiên, có thể gặp hai cách phân loại tư duythường được sử dụng
là:
a) Phân loại tƣ duy theo đối tƣợng của tƣ duy: tư duy bao gồm các loại
hình
như: tư duy chính trị, tư duy kinh tế, tư duy văn học, tư duy toán học
b) Phân loại tƣ duy theo đặc trƣng của tƣ duy: tư duy bao gồm các loại
1.2.1 Khái niệm sáng tạo
Theo Từ điển tiếng Việt [26]: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chấthoặc tinh thần, hay sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bóphụ thuộc vào cái đã có”
Theo Trần Thúc Trình [23]: “Đối với người học toán, có thể quan niệm sựsáng tạo đối với họ nếu họ đương đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhậnđược cái mới mà họ chưa từng biết Như vậy, một bài tập cũng được xem như làmang yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đóchi phối (từng phần hay hoàn toàn), tức là nếu người giải chưa biết trước thuậttoán để giải và phải tiến hành tìm kiếm những bước đi chưa biết trước Nhà trườngphổ thông có thể chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng hoạt động sáng tạo theo nội dungnhư vừa trình bày”
Theo [8]: “Sự sáng tạo là quá trình con người xây dựng cái mới về chất bằnghành động trí tuệ đặc biệt, mà không thể xem như là một hệ thống các thao tác hoặchành động được mô tả thật chính xác và được điều hành nghiêm ngặt.”
Tổng hợp các quan niệm trên, ta có thể hiểu sáng tạo một cách đơn giản nhất,
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8
http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Khái niệm tư duy sáng
tạo Theo các nhà tâm lý học [15]: “Tư duy sáng tạo luôn bắt đầu bằng một tình
Theo Tôn Thân [19]: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ýtưởng mới, độc đáo và có hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề”
Từ một vài trích dẫn ở trên, ta có thể hiểu: TDST là tư duy tạo ra ý tưởng mới
có hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề TDST là tư duy độc lập vì nó không bị gò
bó, phụ thuộc những cái đã có Mỗi sản phẩm của TDST đều mang đậm dấu ấn của
cá nhân tạo ra nó
1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của TDSTTDST có các đặc điểm chung của tư duy, ngoài ra còn có những đặc trưng cơ
bản sau: tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tínhhoàn thiện Trong năm đặc trưng trên thì ba đặc trưng đầu tiên (tính mềm dẻo, tínhnhuần nhuyễn, tính độc đáo) là ba đặc trưng đạt sự nhất trí cao trong hầu hết các côngtrình nghiên cứu về cấu trúc của TDST
T- duy tÝchcùc
Tư duy độc lậpT- duy s¸ngt¹o
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9
http://www.lrc.tnu.edu.vn
a) Tính mềm dẻo
Đó là khả năng dễ dàng thay đổi các trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác; định nghĩa lại sự vật, hiện tượng; xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những mối quan
hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của sự vật và điều phán đoán Tính mềm dẻo của tư duy còn làm thay đổi một cách dễ dàng các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người Tính mềm dẻo của tư duy có các đặc trưng nổi bật sau:
- Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, vậndụng linh hoạt các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quáthóa, dặc biệt hóa và các phương pháp suy luận như quy nạp, diễn dịch, tương tự
3x 9x2 1Nhiều HS khi đứng trước bài toán này thường nghĩ đến việc đặt t 9x2 1
1 và ta có lời giải sau:
Khi đó I I1 I2
27 (9x
2 1)2 x3 C.
- Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những kinhnghiệm, những kiến thức, kỹ năng đã có vào hoàn cảnh mới có nhiều yếu tố đã thayđổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những cáchsuy nghĩ, những phương pháp đã có từ trước
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10
cos x Từ đó, HS nghĩ đến việc sử dụng phép đặt t tan x để đại số hoá các biểu
thức lượng giác Do đó, ta có cách giải thông thường của bài toán trên như sau:
công thức hạ bậc: sin x 2sin x cos x , cos x 2cos2 x 1, thực hiện một vài phép
biến đổi thông thường để làm xuất hiện đại lượng có thể đưa vào vi phân ở mẫu thức
Cụ thể ta có cách giải sau:
Cách 2: Ta có:
d x
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11
Trong bài toán này, HS có TDST có thể dễ dàng nhận ra đặc điểm của phương
trình Asin x B cos x Từ đó, HS dễ dàng biến đổi bài toán trên như
Như vậy, tính mềm dẻo là một trong những đặc điểm cơ bản của TDST Do
đó, để rèn luyện TDST cho HS, ta có thể cho các em giải một số bài tập mà thông qua
đó rèn luyện được tính mềm dẻo của tư duy
b) Tính nhuần nhuyễn
Đó là khả năng tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp của các yếu tố riêng lẻcủa tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới Tính nhuần
nhuyễn
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12
http://www.lrc.tnu.edu.vn
được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng Số ý tưởngnghĩ ra càng nhiều, thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo Trongtrường hợp này, có thể nói số lượng làm nảy sinh chất
lượng.Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện rõ ở hai đặc trưng sau
đây:
- Tính đa dạng của cách xử lí khi giải toán, khả năng tìm được nhiều giải pháptrên nhiều góc độ và tình huống khác nhau; nhanh chóng tìm ra và đề xuất được nhiều
phương án khác nhau, từ đó tìm ra được phương án tối ưu cho vấn đề cần giải
quyết
0
2
Cách 1: Sử dụng phương pháp đổi biến số không làm thay đổi cận tích phân,
ta có lời giải sau:
tdt
2sin2
xdx
2sin2
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cách 3: Sử dụng công thức biến đổi lượng giác để đưa tích phân đã cho về
dạng cơ bản, ta có lời giải sau:
40
3 40
3 40
Nếu nhìn nhận cos2 5x ở mẫu dưới vai trò là d(tan5x) để từ đó đưa tích phân
đã cho về cùng một loại hàm, ta có cách giải khác như sau:
5d x
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14
Tính độc đáo của tư duy được đặc trưng bởi các khả năng:
- Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới
trung bình sẽ nhanh chóng nản trí HS khá- giỏi có TDST sẽ tích cực tìm tòi, biết liên
tưởng đến những sự kết hợp mới Cụ thể ở bài này, HS sẽ phát hiện
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15
http://www.lrc.tnu.edu.vn
0
1
Cách 1: Ta có thể dùng phương pháp đổi biến số để tính tích phân trên.
Đặt x sint dx costdt với
2 x 2
Ta có: 1 x2 1 sin2 t cost
2
0 0
Ta có:
2
x2d x
I x 1 x2 1
1 0 0 1 x2
1 x2 1 10
Cách 3: Ta cũng có thể giải bài toán trên như sau:
Ta có y 1 x2 , 0 x 1 là phương trình của đường tròn tâm O, bán kính1
0
1
Khi đó, tích phân I 1 x2
dx bằng diện tích hình phẳng giới hạn bởi cung
AB và hai trục tọa độ Hình phẳng đó là một phần tư đường tròn bán kính 1 Do đó, ta
có I
4 (Hình 1.3)
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, tích phân đã cho có ba cách tính như trên Tuy nhiên, trong ba cách tính tích phân trên, ta thấy cách ba là đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu và độc đáo hơn cả Cách giải đó cho thấy HS đã biết nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên ngoài tưởng như không có liên hệ với nhau (mối liên hệ giữa ý nghĩa hình học của tích phân trong việc tính tích phân) Từ đó, tìm ra cách giải mới tuy đã biết những cách giải khác
Các đặc trưng cơ bản nói trên không tách rời nhau mà chúng có quan hệ mậtthiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau Khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ nàysang hoạt đọng trí tuệ khác đã tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trênnhiều góc độ và tình huống khác nhau Nhờ đó, ta sẽ đề xuất được nhiều phương ánkhác nhau, trong đó có thể có những giải pháp lạ, độc đáo
1.3 Những hoạt động trí tuệ thường gặp trong môn Toán cần rèn luyện cho HS
sự vật và hiện tượng đó một cách đầy đủ, chính xác Vì vậy, phân tích và tổng hợp luôn là một yếu tố quan trọng giúp HS nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức toán học một cách linh hoạt, sáng tạo
y
B(0;1)
H×nh 1.3
Trang 251.3.2 Khái quát hóa và đặc biệt
hóa Khái quát hóa là một thao tác tư duy, dùng để xếp các thuộc tính, các dấu hiệu,
các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng cùng loại vào một nhóm [24]
Đặc biệt hóa là suy luận chuyển từ việc khảo sát một tập hợp sang tập hợp concủa tập hợp ban đầu Đặc biệt hóa có tác dụng để kiểm nghiệm lại kết quả trongnhững trường hợp riêng, hoặc để tìm ra những kết quả khác [1]
Các kĩ năng này giúp HS có cái nhìn tổng quát về các bài toán sau khi giải.Trên cơ sở đó, HS có thể phát triển thành các bài toán mở rộng hơn, hoặc trong mỗitrường hợp, có thể xét bài toán ở các trường hợp đặc biệt Từ đó, việc suy luận đếnlời giải sẽ nhanh chóng hơn đối với các dạng toán đó
1.3.3 So sánh, tương tựSo sánh bao gồm hai phần chính, đó là: phát hiện đặc điểm chung và phát hiện
đặc điểm khác nhau giữa các bài toán Nhờ đó, có thể phát hiện hàng loạt bài toán cócách giải hoặc ý tưởng giải giống nhau Qua đó, HS được rèn luyện phép tương tựtrong quá trình giải toán
Theo G Polya [8]: “Tương tự là một kiểu giống nhau nào đó Có thể nói tương
tự là giống nhau, nhưng ở mức độ xác định hơn, và ở mức
độ được phản ánh bằng khái niệm”
Rèn luyện kĩ năng này, giúp HS phân biệt các ý tưởng của các dạng bài toán
mà cùng vận dụng một kiến thức nhưng theo hướng khác nhau, giúp cho HS hiểu sâuhơn về dạng toán đó
1.4 Dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân ở trường THPT
1.4.1 Nội dung nguyên hàm, tích phân ở trường THPT
Sách Giải tích 12 (Nâng cao) xem nguyên hàm là công cụ để định nghĩa tíchphân và giành một chương để trình bày chủ đề nguyên hàm, tích phân
Nội dung Chương III: Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng bao gồm các bài:+ Bài 1: Nguyên hàm
+ Bài 2: Một số phương pháp tìm nguyên hàm
+ Bài 3: Tích phân
+ Bài 4: Một số phương pháp tính tích phân
+ Bài 5: Ứng dụng của tích phân để tính diện tích hình phẳng
+ Bài 6: Ứng dụng của tích phân để tính thể tích vật thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 17
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 18
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chủ đề nguyên hàm,tích phân (chương trình nâng cao) ở trường THPT được tiến hành giảng dạy vào đầuhọc kì II với thời lượng 20 tiết Cụ thể như sau:
- Phần nguyên hàm (2 tiết), một số phương pháp tìm nguyên hàm (2 tiết) và luyện tập (1 tiết) được trình bày với nội dung chủ yếu là: định nghĩa nguyên hàm
của hàm số f xác định trên K (vớiK là một khoảng, một đoạn hoặc một nửa khoảng nào đó); định lí: hai nguyên hàm của cùng một hàm số chỉ khác nhau một hằng số C ,
từ đó đưa ra kí hiệu họ tất cả các nguyên hàm của hàm f trên K ; bảng nguyên hàm của một số hàm số thường gặp và hai tính chất cơ bản của nguyên hàm; hai phương pháp tìm nguyên hàm cơ bản là: phương pháp đổi biến số, phương pháp lấy nguyên hàm từng phần
- Phần tích phân (3 tiết), một số phương pháp tính tích phân (2 tiết) và luyệntập (2 tiết) được trình bày với nội dung chủ yếu là: định nghĩa tích phân của hàm số
f liên tục trên K (vớia, blà hai số bất kì thuộcK ); 5 tính chất cơ bản của tích phân;
hai phương pháp tính tích phân cơ bản là: phương pháp đổi biến số, phương pháp tíchphân từng phần
- Phần ứng dụng của tích phân để tính diện tích hình phẳng (3 tiết) có nộidung chủ yếu là: trình bày công thức để tính diện tích S của hình phẳng giới hạnbởi đồ thị hàm số y f (x), trục hoành và hai đường thẳng x a, x b ; công
thức tính diện tích hình phẳng giới hạn bởi đồ thị các hàm số y f (x),
y g(x) liên tục trên a; b và hai đường thẳng x a, x b ; công thức tính diện
tích hình phẳng giới hạn bởi các đường cong x g(y); x h(y) liên tục trên c;
Thông qua chủ đề nguyên hàm, tích phân, GV cần rèn luyện cho HS kĩ năng:tìm nguyên hàm của một số hàm số tương đối đơn giản nhờ sử dụng bảng nguyênhàm của một số hàm số thường gặp, phương pháp đổi biến số và phương pháp lấy
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 19
http://www.lrc.tnu.edu.vn
nguyên hàm từng phần; tính tích phân của một số hàm số tương đối đơn giản nhờđịnh nghĩa, phương pháp đổi biến số và phương pháp tính tích phân từng phần; tínhđược diện tích một số hình phẳng, thể tích một số khối tròn xoay nhờ tích phân
Khi dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân, GV cần chú ý [12]:
- Khái niệm nguyên hàm có liên quan chặt chẽ với khái niệm đạo hàm Vì vậy,trước khi nêu định nghĩa nguyên hàm, nên cho HS hiểu rõ vấn đề đặt ra bằng cáchcùng họ giải quyết một số bài toán cụ thể Chẳng hạn như: bài toán viết phương trìnhcủa một chuyển động biết vận tốc của chuyển động đó, bài toán tìm hàm số F(x)có
đạo hàm là f(x), trong đó f(x) là một hàm số đơn giản Khi giải các bài toán nói trên
,cần cho HS nhận xét là các hàm số phải tìm được xác định sai khác một hằng số
- Việc tìm nguyên hàm các hàm số hữu tỉ tuy không giúp HS củng cố nhiều
về mặt lí thuyết, nhưng lại có tác dụng khá lớn trong việc rèn luyện kĩ năng tính toán Vì vậy, GV nên cho HS làm quen với việc tìm nguyên hàm các hàm hữu tỉ qua các ví dụ
- Khái niệm nguyên hàm một mặt có liên quan chặt chẽ với khái niệm đạohàm, mặt khác có liên quan với khái niệm tích phân Vì vậy, khi dạy học tìm nguyênhàm, cần rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng các kiến thức về đạo hàm Đồng thời,chú ý rèn luyện cho họ những kĩ năng cần thiết để sau này tính tích phân tốt hơn
- GV nên hình thành cho HS khái niệm tích phân bằng con đường quy nạp.Thông thường, ta chỉ cần xét bài toán tính diện tích một hình thang cong Tuy nhiên,nếu có điều kiện, cũng nên cho HS biết một số bài toán khác của hình học, vật lí cũngdẫn đến khái niệm tích phân như: bài toán tính thể tích của một vật thể, bài toán tínhnhiệt lượng tỏa ra ở một dây dẫn trong một thời gian nào đó…
- GV nên chú ý cho HS rằng: nếu nắm vững ý nghĩa hình học của tích phân,trong một số trường hợp, ta có thể tính các tích phân bằng một phương pháp đơn giảnhơn thông thường
1.4.2 Thực trạng dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân hiện nay ở cáctrường THPT, chúng tôi đã tiến hành các công việc như: nghiên cứu một số tài liệuđánh giá thực trạng dạy học toán ở các trường THPT hiện nay; dự giờ một số tiết dạy
về chủ đề nguyên hàm, tích phân ở trường THPT Nguyễn Huệ và trường THPT LýThường Kiệt, thành phố Yên Bái; lập phiếu điều tra, xin ý kiến của 12 GV và 80 HS
ở trường THPT Nguyễn Huệ và THPT Lý Thường Kiệt
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 20
- Với câu hỏi: Khi dạy học giải bài toán nguyên hàm, tích phân, thầy (cô ) cóhay hướng dẫn HS tiến hành hoạt động đặc biệt hóa bài toán không? Chúng tôi thuđược kết quả như sau:
- Với câu hỏi: Khi dạy học giải bài toán nguyên hàm, tích phân, thầy (cô ) cóhay hướng dẫn HS khái quát hóa, mở rộng bài toán không? Chúng tôi thu được kếtquả như sau:
- Với câu hỏi: Khi dạy cho HS làm một bài toán có sẵn phương pháp giải, thầy(cô) có hay hướng dẫn HS giải bài toán đó theo các cách khác không? Chúng tôi thuđược kết quả như sau:
- Với câu hỏi: Khi HS gặp bế tắc trong quá trình giải toán, thầy (cô) thườnglàm gì? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 21
GV tự giải Ý kiến bài toán đó khác
- Với câu hỏi: Khi gặp bế tắc trong giải bài toán nguyên hàm, tích phân, các
em thường? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tìm các tài liệu có liên quan
Không làm nữa
và chuyển sang làm bài khác
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 22
http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Với câu hỏi: Khi làm xong một bài toán, các em có hay khái quát hóa hoặc
mở rộng bài toán đó không? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Với câu hỏi: Sau khi giải xong một bài toán, em có thói quen xét bài toántương tự và tìm cách giải cho bài toán tương tự không? Chúng tôi thu được kết quảnhư sau:
- Đa số GV chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn cho HS giải quyết xong bài toán đãđặt ra, chưa chú trọng đến việc khai thác sâu các bài toán đó bằng cách khái quát hóa,đặc biệt hóa, tìm nhiều cách giải và lời giải độc đáo cho bài toán đó Điều này đã làmảnh hưởng đến sự sáng tạo và kĩ năng mở rộng, đào sâu tri thức của HS
- Các bài toán về nguyên hàm, tích phân thường có nhiều cách giải Tuy nhiên
,đa số HS thường bằng lòng sau khi giải xong bài toán đã cho mà chưa cố gắng tìm
xem bài toán đó còn có cách giải khác không? Cách giải nào là tối ưu nhất? Bài toán đó
có thể khái quát hóa, đặc biệt hóa không? Có thể mở rộng bài toán trên như thế
nào?
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 23
http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Hầu hết các GV cũng cho rằng: các bài toán về nguyên hàm, tích phân rất
đa dạng và phong phú, nên phải mất nhiều công sức chọn lọc một hệ thống bài tập phù hợp với nhiều trình độ nhận thức của HS Tuy nhiên, nếu có một hệ thống bài toán tốt và có một phương pháp truyền đạt phù hợp, thì không những có thể nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy nội dung này, mà còn giúp cho HS phát triển được
TDST
- Thực tiễn sư phạm cho thấy, chất lượng đại trà của HS còn yếu Tuy nhiên,chương trình THPT hiện hành có nhiều thay đổi so với trước đây, đã phân ra thành baban là ban cơ bản, ban xã hội và ban tự nhiên Việc phân thành các ban học như vậy
là phù hợp, vì các em ở cùng một lớp học sẽ có năng lực tương đương nhau Điều này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển TDST cho
HS khi dạy học chủ đề nguyên hàm, tích phân
- Tuy nhiên, do thời gian tiếp cận với chương trình SGK, với yêu cầu đổi mớiPPDH còn chưa nhiều, thiếu các tài liệu về việc tổ chức dạy học tích cực nên GV cònlúng túng trong việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển TDST cho HS Trong quátrình giảng dạy, một số GV vẫn còn nặng về thuyết trình, chưa phát huy được nănglực chủ động, tích cực và sáng tạo cho HS trong học tập
Tóm lại, chủ đề nguyên hàm, tích phân là một nội dung quan trọng của môn Toán trong chương trình THPT, nó đòi hỏi cả GV và HS không ngừng bồi dưỡng nâng cao kiến thức về nội dung này Để làm tốt việc giảng dạy, GV cần phải xây dựng và áp dụng được các biện pháp sư phạm nhằm phát triển TDST cho HS khi học nội dung này Để làm tốt nhiệm vụ học tập, lĩnh hội tri thức, HS cần không ngừng nỗ lực theo hướng tự hoàn thiện mình bằng học tập tự giác, tích cực, chủ động,sáng tạo
1.4.3 Tiềm năng phát triển TDST cho HS THPT thông qua dạy học chủ đề
nguyên hàm, tích phân
Với số lượng bài tập đa dạng, phong phú cùng nhiều cách giải khác nhau, chủ
đề nguyên hàm, tích phân chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn trong việc bồi dưỡng vàphát triển TDST cho HS Việc xây dựng hệ thống bài tập cần phải được GV chútrọng khai thác, sử dụng hợp lí nhằm rèn luyện cho HS các đặc điểm của TDST Đểlàm tốt điều này, đòi hỏi GV phải biết cách khai thác triệt để nội dung trong SGK,kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chủ đề nguyên hàm, tíchphân GV có thể hướng vào một số dạng bài tập cụ thể nhằm bồi dưỡng từng đặcđiểm của TDST như sau:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 24
A C 6D
0 B D 1
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 25
- GV: Biểu thức x4 6x3 2x2 6x 1 gợi cho các em suy nghĩ gì?
- HS sẽ nghĩ đến phương trình bậc 4 đầy đủ dạng đối xứng có dạng như sau:
- GV: Khi giải PT bậc 4 đầy đủ dạng đối xứng như trên, các em thường làmnhư thế nào?
- HS suy nghĩ và trả lời: nếu x 0 không là nghiệm của PT đã cho thì chia cả
hai vế của PT đó cho x2 0, nhóm các số hạng hợp lí và dùng phương pháp đặt ẩnphụ để giải PT đã cho
- GV: Các em hãy vận dụng cách giải phương trình bậc 4 như trên để nêu cáchtính tích phân đã cho?
- HS suy nghĩ và trả lời
- GV nhận xét và kết luận: nếu chia cả tử và mẫu của tích phân trên cho x2 và
1nhóm các số hạng hợp lí, thì sẽ làm xuất hiện đại lượng 1
x2 trên tử và đại lượng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 26
x
1 , ta sẽ dễ dàng tìm rahướng giải bài toán trên
- GV: Các em hãy tìm nguyên hàm I theo định hướng trên?
Như vậy, với việc chia tử thức và mẫu thức của biểu thức dưới dấu tích phân
cho x2 0 , ta đã có một lời giải “đẹpˮ cho bài toán trên
GV: Vận dụng cách làm trên, em hãy tìm các nguyên hàm sau :
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 27
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Nhận xét: Thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập có cách giải tối ưu nhất là
chia tử thức và mẫu thức của biểu thức dưới dấu tích phân cho x2 0 với mức độ
khó tăng dần (6 bài toán đầu HS chỉ cần chia cả tử thức và mẫu thức cho x2 0 rồiđổi biến số, 4 bài toán cuối HS phải làm thêm thao tác nhóm các số hạng hợp lí rồimới đổi biến số), GV đã rèn luyện cho HS vận dụng linh hoạt các thao tác trí tuệ đểlàm bài như: tương tự (vận dụng cách giải ví dụ 1.9 để giải 10 bài toán trên), biết vậndụng kiến thức cũ đã biết vào hoàn cảnh mới (nhận ra mối liên hệ với PT bậc 4 đốixứng đầy đủ để tìm lời giải cho bài toán), suy nghĩ không rập khuôn, máy móc trong
Do đó, trong quá trình dạy học, bên cạnh việc giúp HS giải các bài tập trongSGK, GV có thể khai thác các tiềm năng đó thông qua việc xây dựng hệ thống bài tậpmới trên cơ sở hệ thống bài tập cơ sở Điều này sẽ tạo điều kiện cho HS phát hiện vấn
đề mới, là môi trường thuận lợi để HS phát triển TDST của mình, đó là vấn đề quantrọng mà GV cần quan tâm bồi dưỡng cho HS
1.5 Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn đã làm rõ một số khái niệm : tư duy, sáng tạo, TDST, nêu được các đặc điểm đặc trưng của TDST Đồng thời, luận văn đã nêu được thực trạng của việc dạy và học chủ đề nguyên hàm, tích phân ở trường THPT cũng như tiềm năng của chủ đề nguyên hàm, tích phân trong việc bồi dưỡng và phát triển TDST cho HS
Việc bồi dưỡng và phát triển TDST cho HS thông qua quá trình dạy học chủ
đề nguyên hàm, tích phân là cần thiết vì nó giúp HS:
- Nắm vững kiến thức đã học để giải bài toán một cách sáng tạo
- Khả năng nhìn bài toán theo nhiều hướng khác nhau, từ đó có thể giải bàitoán theo nhiều cách khác nhau
- Khả năng tìm ra lời giải mới, độc đáo dựa trên những kiến thức mà HS đãbiết từ trước
Vì vậy, công việc của mỗi GV trong quá trình dạy học là tìm ra được các biệnpháp sư phạm nhằm phát triển và rèn luyện TDST cho HS
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 28
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN
TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ NGUYÊN HÀM, TÍCH PHÂN
- Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo cho HS tính tự giác, tích cực,
là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ chứ không phải
HS hoàn toàn bị động làm theo lệnh của GV Từ đó, giúp HS học tập có định hướng,biến nhu cầu xã hội thành nhu cầu nội tại của chính bản thân mình
- Chú trọng rèn luyện phương pháp và năng lực tự học của HS: việc rèn luyệnphương pháp học tập và năng lực tự học cho HS vừa là biện pháp nâng cao hiệu quảdạy học, vừa là mục tiêu dạy học Đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin, khoahọc công nghệ phát triển như vũ bão ngày nay, GV không thể dạy hết khối lượng trithức cho các em HS Do đó, chỉ có phương pháp học tập sáng tạo, hiệu quả cùng vớinăng lực tự học của HS mới đáp ứng được mục tiêu học tập
- Dạy học dựa trên sự nghiên cứu tác động của những quan niệm và kiến thứcsẵn có của người học Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết
kế, điều khiển, ủy thác và thể chế hóa kiến thức
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 29
tế là trong các kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trong các đề thi chọn HS giỏi vàtrong các chuyên đề nâng cao, luôn có những bài toán nguyên hàm, tích phân hay,đòi hỏi HS phải có sự sáng tạo rất lớn trong quá trình làm bài để tìm ra cách giảibài toán tối ưu nhất Do đó, trong quá trình giảng dạy, ngoài việc khai thác triệt đểcác nội dung sẵn có trong SGK, GV cần chú trọng tham khảo thêm các tài liệuchuyên môn khác, đào sâu tri thức để bồi dưỡng và phát triển TDST cho HS
2.1.4 Các biện pháp được vận dụng phải phù hợp với các hoạt động nhằm phát
triển TDST cho
HS
Để phát triển TDST cho HS, GV cần chú trọng bồi dưỡng cho HS thành thạocác thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự Đồngthời, trong quá trình dạy học, GV phải cung cấp cho HS những tri thức về phươngpháp để HS có thể tìm tòi, tự mình phát hiện và phát biểu vấn đề, dự đoán được kếtquả, tìm được hướng giải bài toán, giúp HS hiểu sâu sắc kiến thức toán học Mỗi biệnpháp cần chú ý đến việc bồi dưỡng cho HS từng đặc điểm của TDST, giúp HS nắmthật vững kiến thức, tránh học thuộc lòng một cách máy móc và vận dụng thiếu sángtạo Trong từng biện pháp, GV vận dụng tối đa các phương pháp dạy học, đặc biệt làphương pháp dạy học giải quyết vấn đề, dạy học khám phá để dẫn dắt HS tìm tòi,phát hiện và đào sâu kiến thức mới
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 30
có những bài toán thoạt nhìn rất khó để làm vì có sự đan xen giữa các hàm siêu việt,hàm phân thức hữu tỉ, hàm vô tỉ… Tuy nhiên, nhờ có sự phân chia bài toán phức tạp
đó thành các bài toán nhỏ đơn giản hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để HS giải bài toán ban đầu dễ dàng Khi đó, bài toán ban đầu có sự thay đổi về lượng, từ đó dẫn đến sự thay đổi về chất Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV có thể vận dụng nguyêntắc “phân nhỏ ” của Altshuller để hướng dẫn HS phát hiện ra những tính chất mới của bài toán sau khi đã được phân nhỏ mà bài toán ban đầu không có
Qua đó, HS sẽ được rèn luyện tính mềm dẻo của TDST vì không phải bài toán nào cũng có cách phân nhỏ giống nhau, đòi hỏi HS phải linh hoạt trong quá trình biếnđổi để phân nhỏ bài toán hợp lí, làm thật nhiều bài tập để tự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân
b) Cách thực hiện
Trong quá trình dạy học, GV cần đưa ra các bài toán nguyên hàm, tích phân
mà với lối suy nghĩ thông thường, HS có thể giải được nhưng lời giải dài dòng và phức tạp, thậm chí rơi vào bế tắc Tuy nhiên, chỉ cần một vài thao tác biến đổi để phân nhỏ bài toán khó, phức tạp ban đầu thành các bài toán nhỏ, đơn giản hơn, HS hoàn toàn giải bài toán đó một cách dễ dàng Đồng thời, để rèn cho HS kĩ năng phân nhỏ bài toán, GV cần xây dựng một loạt bài toán có cùng một cách giải là phân nhỏ bài toán ban đầu thành các bài toán đơn giản hơn nhưng với mức độ khó tăng dần
Trong quá trình dạy học, GV có thể thực hiện như sau:
- Bước 1: GV đưa ra những bài toán nguyên hàm, tích phân ở dạng có thể tiến hành thêm, bớt một đại lượng nào đó để phân nhỏ bài toán ban đầu, hoặc ở dạng tổng của các hàm như hàm số vô tỉ, hàm số mũ và logarit, hàm số lượng giác…
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 31
http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Bước 2: GV hướng dẫn HS cách nhóm và tách bài toán nguyên hàm, tích phân
đã cho thành tổng của các bài toán nguyên hàm, tích phân đơn giản
hơn - Bước 3: HS đưa các bài toán đó về dạng cơ bản và
giải
- Bước 4: Khai thác bài toán: GV có thể hướng dẫn HS khai thác bài toán bằng các câu hỏi gợi mở như sau: Bài toán sau khi tách có đặc điểm gì mới so với bài toán ban đầu? Có thể mở rộng bài toán đó như thế nào? Có thể áp dụng cách giải bài toán này để
giải các bài toán khác được
- GV: Tích phân trên thuộc dạng cơ bản nào? Em hãy nêu cách giải dạng tíchphân đó?
- GV: Các em hãy tính tích phân đã cho theo định hướng trên?
Vì tích phân đã cho đã ở dạng cơ bản nên thông thường HS sẽ áp dụng ngayphương pháp tích phân từng phần để giải Khi đó:
vì để tìm được nguyên hàm của J , HS phải đổi biến qua hai lần nên việc biểu diễn
các biến sau về cùng một biến x như ban đầu khá phức tạp Như vậy, nếu giải bàitoán trên theo cách thông thường mà không qua một phép biến đổi nào thì HS sẽ gặp
bế tắc Do đó, HS cần phải chuyển hướng tư duy để tìm cách giải khác
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 32
Đặt: I1 xcosxdx, I2
0
d x
xsin x
Nếu áp dụng phương pháp tích phân từng phần như trên, HS sẽ gặp khó khăntrong việc biểu diễn các biến sau về cùng một biến x như ban đầu khi tìm nguyên
hàm J
1
sin x
x dx Khi đó, HS phải thay đổi hướng tư duy để tìm ra cách giải tối
ưu nhất cho bài toán này GV có thể hướng dẫn HS như sau:
- GV: Các em hãy tìm mối liên hệ giữa cận của tích phân với các hàm sốlượng giác sin và cos? Từ đó nêu hướng tính tích phân I2 ?