MỤC LỤC I. TÌM HIỂU VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ 1 1. Khái niệm Kinh doanh quốc tế: 1 2.Hoạt động kinh doanh quốc tế: 1 II. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ 2 III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ 3 1. Nhân tố luật pháp. 3 2. Nhân tố chính trị. 4 3. Nhân tố kinh tế. 4 4. Nhân tố văn hoá. 4 5. Nhân tố địa lý. 6 6. Nhân tố lịch sử. 6 IV. MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ 6 1. Các yêu cầu của pháp luật: 6 2. Hệ thống pháp luật của một nước: 7 3. Các hệ thống luật pháp trên thế giới 8 4. Các vấn đề pháp luật toàn cầu 9 5. Những tác động của hệ thống luật pháp quốc tế đến kinh doanh 13 V. KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I TÌM HIỂU VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ 1
1 Khái niệm Kinh doanh quốc tế: 1
2 Hệ thống pháp luật của một nước: 7
4 Các vấn đề pháp luật toàn cầu 9
Trang 2MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
I TÌM HIỂU VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ
1 Khái niệm Kinh doanh quốc tế:
Kinh doanh quốc tế là tổng hợp các giao dịch kinh doanh vượt qua các biên giới của hai hay nhiều quốc gia Những người tiêu dùng, các công ty, các tổ chức tài chính và Chính phủ-tất cả đều có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh quốc tế Người tiêu dùng có nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao của các công ty quốc tế Các tổ chức tài chính giúp đỡ các công ty tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua đầu tư tài chính, trao đổi ngoại tệ, và chuyển tiền khắp toàn cầu Các chính phủ điều tiết dòng hàng hoá, dịch vụ, nhân lực
và vốn qua các đường biên giới quốc gia
2.Hoạt động kinh doanh quốc tế:
Kinh doanh quốc tế là một hoạt động rất hấp đẫn Nó thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối
ưu các khoa học quản lý kinh tế với các hoạt động kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia, quốc tế như yếu tố luật pháp, kinh tế, văn hoá, chính trị Hơn nữa, hoạt động kinh doanh quốc tế nhằm từng bước khắc phục sự suy thoái nền kinh tế của mỗi quốc gia, khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia về các nguồn lực cho sự phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần thúc đẩy các quốc gia tiến tới xã hội công bằng, văn minh
Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia nhằm thoả mãn các mục tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế xã hội Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia và trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh không nên lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh với nước ngoài Muốn kinh doanh ở nước ngoài một cách hiệu quả, trước hết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh nơi mà doanh nghiệp muốn thâm nhập hoạt động
Sự lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp phụ thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, vào môi trường và thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động hoặc muốn thâm nhập Các điều kiện môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình
Trang 3thức kinh doanh, mà còn ảnh hưởng đến các chức năng hoạt động của doanh nghiệp như chức năng sản xuất, marketing, tài chính, kế toán Ngược lại, sự hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế cũng có những tác động nhất định đối với môi trường nhằm hoà nhập với những thay đổi của môi trường
II MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ
Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành phần trong và ngoài nước như môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, địa lý, lịch sử, cạnh tranh, tài chính chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đến những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, các hình thức hoạt động, các hoạt động chức năng của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt được cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh
Môi trường kinh doanh quốc tế với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các môi trường thành phần là những bộ phận không tách rời, giữa chúng có những tác động qua lại lẫn nhau Môi trường kinh doanh là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài nước có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phối đến kết qủa kinh doanh của nó, tức là chi phối đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh Chính vì vậy khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần phải có những kiến thức cơ bản về địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật Từ đó, tuỳ thuộc vào môi trường kinh doanh cụ thể doanh nghiệp tự điều chỉnh các hoạt động chức năng, biện pháp và hình thức hoạt động của chính mình sao cho phù hợp với môi trường ở đó doanh nghiệp đang hoạt động
để tăng cơ hội, giảm thách thức, đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Khi xem xét, phân tích môi trường kinh doanh các nhà kinh doanh cần phải thống nhất một số quan điểm sau:
Thứ nhất, môi trường kinh doanh không phải là cố định mà luôn biến đổi Vì vậy, khi phân
tích đáng giá môi trường kinh doanh đòi hỏi phải đứng trên quan điểm động, phải tìm hiểu và nắm bắt những thông tin thường xuyên và kịp thời để có những hoạt động thích ứng, phù hợp Một nhà kinh doanh cần phải dự đoán được những sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai
Thứ hai, môi trường kinh doanh là sự đan xen của các môi trường thành phần, các môi trường
thành phần có tác động ảnh hưởng lẫn nhau Phân tích đánh giá môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong mối tương quan giữa các môi trường thành phần
Trang 4Thứ ba, ngày nay các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước hoặc một số nước mà
kinh doanh ở rất nhiều nước Và cùng với xu thế hội nhập hoá thì các doanh nghiệp cần phải đánh giá phân tích môi trường kinh doanh cả môi trường trong nước và môi trường kinh doanh quốc tế nói chung Khác với hoạt động kinh doanh trong nước, hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các nhà quản lý, các doanh nghiệp phải làm việc trong môi trường kinh doanh mới và phức tạp hơn Sự khác nhau giữa các nước về địa lý, lịch sử, văn hoá, kinh tế, chính trị,
luật pháp là những nhân tố chủ yếu làm cho môi trường kinh doanh giữa các nước khác nhau III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC
TẾ
1 Nhân tố luật pháp.
Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp đó là hệ thống luật pháp Vì vậy, hoạt động kinh doanh quốc
tế đòi hỏi nhà quản lý phải quan tâm và nắm vững luật pháp : Luật quốc tế và luật của từng quốc gia mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động, cũng như mối quan hệ luật pháp tồn tại giữa các nước này cũng như giữa các nước trong khu vực khác nhau Luật quốc tế và luật của từng quốc gia cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác, luật pháp qui định và cho phép các lĩnh vực, những hoạt động và những hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện kinh doanh và những lĩnh vực nào, những hoạt động nào, những hình thức nào, những mặt hàng nào doanh nghiệp không được phép tiến hành hoặc được phép tiến hành nhưng có hạn chế ở quốc gia đó hay cũng như khu vực đó nói chung
Mỗi một quốc gia có một hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế, nó gồm luật thương mại (luật xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vô ), luật đầu tư nước ngoài, luật thuế, pháp luật ngân hàng Giữa các nước thường tiến hành kí kết các hiệp định, hiệp ước và dần hình thành nên luật khu vực và luật quốc tế Thực tế thế giới trong những năm qua đã chỉ ra rằng sự xuất hiện của các liên minh kinh tế, liên minh chính trị, liên minh thuế quan đã xuất hiện những thoả thuận mới, có tính chất song phương hoặc đa phương, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh doanh buôn bán trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, có thể khẳng định rằng chỉ trên cơ sở nắm chắc hệ thống luật pháp của từng quốc gia và các hiệp định giữa các nước mới cho phép doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc lùa chọn quốc gia, khu vực kinh doanh, hình thức kinh doanh, mặt hàng kinh doanh chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro
Trang 5Pháp luật của một quốc gia cũng có liên hệ và ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh giữa các nước với nhau Trong điều kiện này buộc các quốc gia phải điều chỉnh hoạt động của mình cho thích ứng, các doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt để đáp ứng nhanh với những qui định mới về luật ở các quốc gia mà mình đang hoạt động ở đó
2 Nhân tố chính trị.
Nhân tố chính trị đã và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh quốc tế Tính ổn định về chính trị của các quốc gia sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường nước ngoài Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện để ổn định để phát triển kinh tế, lành mạnh hoá xã hội Chính vì vậy, khi tham gia kinh doanh trên thị trường thế giới, doanh nghiệp phải am hiểu môi trường chính trị ở các quốc gia, ở các nước trong khu vực mà doanh nghiệp muốn hoạt động Sự ổn định chính trị được biểu hiện ở chỗ : thể chế, quan điểm chính trị có được đa số nhân dân đồng tình hay không, hệ thống chính trị, đặc biệt là đảng cầm quyền có đủ uy tín và độ tin cậy đối với nhân dân và các doanh nghiệp, công ty ở trong và ngoài nước hay không
3 Nhân tố kinh tế
Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải có những kiến thức nhất định về kinh tế Các kiến thức về kinh tế sẽ giúp các nhà quản lý, kinh doanh xác định được : mét mặt, những ảnh hưởng của doanh nghiệp đổi với nền kinh tế nước chủ nhà và nước sở tại ; mặt khác, cũng thấy được ảnh hưởng của những chính sách kinh tế của một quốc gia đối với hoạt động của doanh nghiệp
Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốc gia nói riêng, của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nói chung có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Đây là các vấn đề
mà các doanh nghiệp rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài
Nhân tố cơ bản tác động đến sự hoạt động của kinh tế thị trường là quyền tối cao của khách hàng Theo P Samuelson đấy là một “ông vua”, quyền tối cao của khách hàng là quyền tự do của người tiêu dùng, nó tác động đến sản xuất thông qua sự lùa chọn của họ
4 Nhân tố văn hoá.
Trang 6Việc buôn bán, kinh doanh của doanh nghiệp đều được điều chỉnh bởi con người Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc sự khác nhau giữa những nhóm dân téc và xã hội để dự đoán, điều hành các mối quan hệ và hoạt động của mình Sự khác nhau về con người đã làm gia tăng những hoạt động kinh doanh khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới Điều đó buộc các nhà quản lý, các nhà kinh doanh phải có sự am hiểu về văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới
Văn hoá được hiểu như một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả các khả năng khác mà con người có được Văn hoá qui định hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở môi trường đó Điều này trong một chõng mực nào đó tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của doanh nghiệp đối với môi trường văn hoá nước ngoài Nhân tố văn hoá nổi bật nhất là tập quán, lối sống, tôn giáo
và ngôn ngữ Các nhân tố này được coi là “hàng rào chắn” các hoạt động giao dịch kinh doanh Mỗi quốc gia, thậm chí trong từng vùng quốc gia, các dân téc khác nhau có tập quán (sản xuất, tiêu dùng, kinh doanh, giao tiếp ), lối sống và ngôn ngữ riêng, do đó các nhà kinh doanh cần phải biết rõ và hành động cho phù hợp với từng hoàn cảnh của môi trường mới Thị hiếu tập quán của người tiêu dùng còn ảnh hưởng đến nhu cầu, vì mặc dù hàng hoá có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họ chấp nhận Vì vậy, nếu nắm bắt được thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng thì doanh nghiệp kinh doanh có thể mở rộng khối lượng cầu một cách nhanh chóng Chính thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân téc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo
Ngôn ngữ cũng là một yếu tố quan trọng trong nền văn hoá của từng quốc gia Nã cung cấp cho các nhà quản lý kinh doanh một phương tiện quan trọng để giao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế Đối với một công ty kinh doanh quốc tế, hoạt động kinh doanh muốn mở rộng, trước hết đòi hỏi phải hiểu được ngôn ngữ
Tôn giáo cũng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của các cá nhân
và các tổ chức trong xã hội Bởi vậy, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế cần phải hiểu biết các loại tôn giáo và vai trò của chúng trong xã hội, nơi mà doanh nghiệp tổ chức các hoạt
Trang 7động kinh doanh Tôn giáo có thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của con người và do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Chẳng hạn : ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm
5 Nhân tố địa lý.
Mỗi một nước khác nhau có vị trí địa lý khác nhau, mỗi nước hay mỗi khu vực có vị trí địa lý thuận lợi về mặt này hay mặt khác Tuy nhiên cũng có nước có vị trí đặc biệt thuận lợi, chẳng hạn như Singapore Song hầu như mỗi nước chỉ có một số mặt lợi thế nào đó Chính vì
vị trí địa lý khác nhau cho nên dẫn đến có lợi thế tuyệt đối, lợi thế tương đối giữa các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới Lợi thế về vị trí địa lý có thể là địa tô chênh lệch, sự giàu
có hay nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện khí hậu, sự ảnh hưởng của thiên tai Bởi vậy, khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế các nhà quản lý phải nắm chắc được vị trí địa lý của từng nước, từng khu vực mà mình đang và sẽ hoạt động, phải phân tích được nguồn tài nguyên, sự khai thác cùng với khả năng khai thác của từng nước và từng khu vực Từ đó có những chính sách sản phẩm, hình thức kinh doanh phù hợp với từng khu vực địa lý
6 Nhân tố lịch sử.
Lịch sử là quá khứ, nhưng “ nếu ai vội quên đi quá khứ thì người đó sẽ phải chấp nhận quá khứ một lần nữa” Lịch sử của mỗi quốc gia khác nhau là không giống nhau, lịch sử là sự tích luỹ những kinh nghiệm của con người, xem xét lịch sử sẽ biết được các ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, thãi quen, tục lệ, sự trung thực hay không trung thực trong kinh doanh để từ đó lùa chọn được các quốc gia mà doanh nghiệp có thể kinh doanh, đặt mối quan hệ lâu dài hay tạm thời
IV MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
1 Các yêu cầu của pháp luật:
Chúng ta sẽ không tạo ra quan hệ hợp đồng mới hoặc tiếp tục quan hệ hợp đồng đã có ở những nước – nơi mà môi trường pháp luật tạo ra rủi ro thái quá đối với thương hiệu của chúng ta hoặc đối với các lợi ích thương mại quan trọng khác, hoặc gây trở ngại nghiêm trọng đến khả năng thực thi các nguyên tắc chỉ đạo của chúng ta
Pháp luật là một trong những yếu tố không thể tách rời hoạt động kinh doanh Là yếu tố thuộc kiến trúc thưọng tầng xã hội, tạo lập những khuôn khổ chung cho các hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường Nhưng ngược lại, trong kinh doanh, nếu nắm bắt được và am hiểu yếu tố trên thì sự đảm bảo cho thành công sẽ là rất lớn Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế,
Trang 8nơi mà môi trường pháp luật đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều thì việc nghiên cứu yếu tố luật pháp là rất cần thiết để đối mặt với những rủi ro phát sinh từ những môi trường
Luật mà khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cung cấp một số lượng hàng hoá và dịch vụ nào đó gọi là bảo hộ của địa phương Chế độ bảo hộ yêu cầu các công ty sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương, mua một phần từ nhà cung cấp địa phương hoặc thuê một số lượng nhân công nhất định nào đó ở địa phương Họ cũng sẽ yêu cầu chính phủ phải đảm bảo một vấn
đề là các công ty quốc tế phải tuyên truyền rộng rãi các hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty đó tại địa phương hoặc họ yêu cầu chính phủ làm giảm thất nghiệp ở một khu vực hoặc ở phạm vi quốc gia Họ cũng giúp chính phủ kiểm soát các công ty nước ngoài mà không cần dùng đến các biện pháp cực đoan như tịch thu hoặc xung công
Các yêu cầu của địa phương có thể gây bất lợi cho sự tồn tại của các hãng trong dài hạn Đặc biệt, họ có thể gây ra hai điểm bất lợi đối với các công ty hoạt động vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia bất cứ lúc nào:
Yêu cầu phải tuyển dụng những nhân công địa phương của họ có thể làm cho các công ty này thiếu những người làm việc có trình độ
Yêu cầu các công ty sử dụng toàn bộ hoặc một phần nguyên, nhiên vật liệu của địa phương dẫn đến chi phí sản xuất cao, chất lượng giảm sút hoặc cả hai
2 Hệ thống pháp luật của một nước:
Hệ thống pháp luật của một nước bao gồm các quy tắc và điều luật, nó bao gồm cả quá trình ban hành và thực thi pháp luật và những cách mà theo đó tòa án chịu trách nhiệm về việc thực thi pháp luật của họ Văn hóa của một đất nước ảnh hưởng đến sự hình thành và thực thi pháp luật yếu tố văn hóa ở đây bao gồm rào chắn của các tầng lớp trong xã hội, niềm tin vào tôn giáo và người ta cũng nhấn mạnh đến các tập quán dân tộc khác nhau Nhiều bộ luật, quy tắc
và nguyên tắc thường được sử dụng để bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo hệ thống pháp luật của một nước cũng ảnh hưởng bởi hệ thống chính trị Các chế độ chuyên chế thường nghiêng về sở hữu công cộng và việc ban hành pháp luật hạn chế hoạt động mang tính chất cá nhân Ngược lại, chế độ cộng hòa có xu hướng khuyến khích hoạt động của tư nhân và bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ thông qua luật quyền tài sản khá chặt chẽ
Quyền và trách nhiệm của các đảng đối với hoạt động kinh doanh ở các nước khác nhau thì khác nhau Hơn nữa, chiến lược kinh doanh phải linh hoạt mới thích nghi được hệ thống pháp luật khác nhau Ví dụ, luật bảo vệ tài sản trí tuệ khá quan trọng đối với các công ty quốc tế
Trang 9Một vấn đề nổi lên cũng rất quan trọng là chủ quyền dân tộc - mọi người dân dâng hiến cuộc đời mình vì quyền lợi và vì sự phát triển của dân tộc Nó thể hiện sự trung thành và niềm tự hào của một quốc gia độc lập
3 Các hệ thống luật pháp trên thế giới
Có ba hệ thống pháp luật chính được áp dụng trên thế giới: Thông luật, luật dân sự và thần luật (luật mang màu sắc tôn giáo) Trong phần này đi vào nghiên cứu từng loại luật và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế
Thông luật
Luật phổ thông bắt đầu từ Anh quốc vào thế kỷ thứ XVII và nó được công nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới Hệ thống pháp luật dựa trên những yếu tố lịch sử của luật pháp, dựa vào
đó mà tòa án tiến hành xử lý những tình huống cụ thể Chẳng hạn hệ thống luật pháp của Mỹ dựa chủ yếu trên thông luật, mặc dù nó có sự kết hợp với luật dân sự Một hệ thống thông luật phản ánh 3 nhân tố:
Nhân tố truyền thống: Là lịch sử pháp luật của một quốc gia
Các tiền lệ: Các quy ước có tính chất bắt buộc xuất hiện trước khi có tòa án
Cách sử dụng: Là những cách mà theo đó luật pháp được áp dụng cho một tình huống cụ thể Thông luật: Tòa án giải quyết một trường hợp nào đó thông qua việc làm sáng tỏ các yếu tố lịch
sử, tiền lệ và cách sử dụng Tuy nhiên mỗi bộ luật được vận dụng khác nhau đôi chút trong mỗi tình huống
Hợp đồng kinh doanh – là thỏa thuận mang tính chất pháp lý giữa hai bên – có xu hướng dài dòng bởi vì họ phải quan tâm đến pháp luật sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp có tranh chấp Các công ty phải xác định thời gian rõ ràng trong hợp đồng, và phải cam kết trả một khoản tiền lớn để nhận được sự tư vấn pháp luật Xét về mặt tích cực, thường luật khá linh hoạt Thay
vì áp dụng cứng nhắc trong mọi tình huống, bộ luật này xử lý trong những trường hợp và tình huống cụ thể Thông luật được áp dụng ở Úc, Anh Canađa, New Zealand, Mỹ và một phần ở châu Á và Âu
Luật dân sự
Luật dân sự xuất hiện ở Rome vào thế kỷ XV trước công nguyên, nó là bộ luật lâu đời và thông dụng nhất trên thế giới Luật dân sự dựa trên các quy định quy tắc bằng văn bản Luật dân
sự ít có sự đối lập như thường luật bởi vì nó không cần giải thích các điều luật theo lịch sử hình thành, tiền lệ và cách sử dụng Bởi vì, tất cả các luật được hệ thống hóa và súc tích, cho nên các nội dung bên trong hợp đồng cần làm rõ các từ hàm ý trong hợp đồng Tất cả những quyền lợi
Trang 10và trách nhiệm đều trực tiếp thể hiện trong hợp đồng Bên cạnh đó, chi phí về thời gian và tiền bạc ít tốn kém hơn Thế nhưng luật dân sự có xu hướng bỏ qua những tình huống đơn lẻ Luật dân sự được áp dụng ở Cuba, Puerto Rico, Quebec và tất cả các nước ở trung và nam Châu Phi
Giáo luật
Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền Có 3 luật thần quyền nổi lên
đó là Luật Đạo Hồi, Đạo Hin-đu và Luật Do Thái Mặc dù luật Đạo Hin-đu được hạn chế bởi quốc hội ở ấn Độ, nơi có chức năng làm luật, nhưng nó vẫn ảnh hưởng tới văn hóa và tâm linh của người dân Tương tự, nhà nước Do Thái quyền tự trị của đạo Do Thái vào thế kỷ XVII, Luật
Do Thái mất đi những ảnh hưởng của nó, ngày nay nó chỉ còn một vài chức năng - mặc dù do thái vẫn là tôn giáo mạnh mẽ nhất
Luật Đạo Hồi có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi nhất trong các bộ luật thần quyền Luật Đạo Hồi
là bộ luật đầu tiên bao trùm yếu tố đạo đức và luân thường đạo lý và sau đó nó ảnh hưởng đến các giao dịch thương mại Nó hạn chế những hình thức đầu tư mà xâm phạm đến đạo đức trong kinh doanh Ví dụ theo đạo Hồi, các ngân hàng không được tính lãi các khoản vay và lãi suất các chứng chỉ tiền gởi Thay vì, các khoản đi vay này giúp ngân hàng lợi nhuận thông qua đầu
tư và những người cho vay kiếm được khoản lời thông qua đầu tư của ngân hàng Tương tự những sản phẩm vi phạm đến đạo hồi như rượu và thuốc lá đều bị cấm
Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền phải nhạy cảm với niềm tin và văn hóa địa phương Họ nên đánh giá hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh bao gồm những thông
lệ và chính sách đầu tư để đảm bảo phù hợp với không chỉ pháp luật mà cả tôn giáo và văn hóa địa phương
Nhìn chung, luật liên quan đến chất lượng sản phẩm, trách nhiệm với sản phẩm, ô nhiễm môi trường, đối xử với công nhân được áp dụng mạnh mẽ ở những nước châu Âu và Mỹ hơn ở những nước châu Phi, châu Á và Mỹ - Latinh Một số công ty quốc tế lợi dụng những chuẩn mực khác nhau ở những nước khác nhau Ví dụ, họ sản xuất sản phẩm bị cấm ở một nước nhưng lại bán sản phẩm đó sang nước khác Vì vây, sự khác nhau của luật pháp làm nảy sinh vấn đề đạo đức trong những thương gia kinh doanh quốc tế
4 Các vấn đề pháp luật toàn cầu
- Tiêu chuẩn hóa
Bởi vì hệ thống pháp luật khác nhau ở mỗi nước, cho nên các công ty thường thuê các chuyên gia pháp luật ở những nước mà họ kinh doanh Điều này có thể làm tăng chi phí Nhưng