1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng việt

117 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 703,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: “Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ củ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI THANH TUYÊN

HIỆN TƯỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP

VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN

PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI THANH TUYÊN

HIỆN TƯỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP

VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN

PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc

sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: “Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập

của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt” Để hoàn thành được luận

văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự dạy bảo, động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân, xin cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thanh Tuyên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Một số vấn đề chung về câu 8

1.1.1 Khái niệm câu 8

1.1.2 Câu và phát ngôn 9

1.1.3 Vị trí của câu trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp 10

1.1.4 Khái quát về các bình diện của câu 13

1.1.5 Bình diện cú pháp của câu 14

1.1.6 Bình diện nghĩa biểu hiện của câu 22

1.1.7 Bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp) của câu 24

1.2 Khái niệm biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần câu 28

1.2.1 Khái niệm biệt lập cú pháp 28

1.2.2 Khái niệm biến thể và biến thể biệt lập của các thành phần câu 30

1.2.3 Các nhân tố chi phối sự biệt lập cú pháp 31

1.2.4 Các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần câu 32

1.3 Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CHỦ NGỮ VÀ BỔ NGỮ 35

2.1 Nhận xét chung 35

2.2 Biến thể biệt lập của chủ ngữ 36

2.2.1 Các kiểu biến thể biệt lập của chủ ngữ 36

2.2.2 Biến thể biệt lập đơn thuần về hình thức của chủ ngữ 37

2.3 Biến thể biệt lập của bổ ngữ 52

2.3.1 Vấn đề xác định vị trí cơ bản và các kiểu biến thể của bổ ngữ 52

2.3.2 Các kiểu biến thể biệt lập của bổ ngữ 53

Trang 6

2.4 Tiểu kết chương 2 65

Chương 3 BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA TRẠNG NGỮ VÀ ĐỊNH NGỮ 66

3.1 Nhận xét chung 66

3.2 Biến thể biệt lập của trạng ngữ 66

3.2.1 Vài nét về các biến thể của trạng ngữ 66

3.2.2 Các biến thể biệt lập về hình thức của trạng ngữ 71

3.3 Biến thể biệt lập của định ngữ 79

3.3.1 Vấn đề xác định vị trí cơ bản của định ngữ 79

3.3.2 Các kiểu biến thể biệt lập của định ngữ 81

3.4 Tiểu kết chương 3 88

Chương 4 BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÂU XÉT VỀ MẶT CÚ PHÁP GIAO TIẾP (NGỮ DỤNG) 89

4.1 Vài nét về cú pháp giao tiếp 89

4.2 Tác dụng của các biến thể biệt lập đối với việc xác lập chủ đề, liên kết chủ đề và tạo chủ đề tương phản 92

4.3 Tác dụng nhấn mạnh 96

4.4 Tính đơn phong cách của một số biến thể biệt lập của các thành phần câu 100

4.5 Tiểu kết chương 4 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 111

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Câu với tư cách là đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ vốn có tính trừu tượng Mô hình cú pháp của câu (câu mô hình) được hiện thực hoá trong lời nói thành những câu cụ thể thường có những biến đổi nhất định do sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ

Để tạo ra câu cụ thể, người nói phải kết hợp các đơn vị nhỏ hơn là từ với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định Từ những mô hình cấu trúc cú pháp mang tính trừu tượng, khái quát và hữu hạn, có thể tạo ra vô hạn số lượng các câu cụ thể, tùy vào mục đích của người sử dụng Trong những câu cụ thể đó, các thành tố cấu tạo câu hay các thành phần câu có thể bị tách biệt về vị trí, về ngữ điệu với các thành phần hữu quan Hiện tượng đó được gọi là hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần câu

Hiện tượng biệt lập về cú pháp của các thành phần câu là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt Tuy nhiên, trong những ngôn ngữ khác nhau, hiện tượng này lại mang những đặc điểm khác nhau Chính vì vậy, việc nghiên cứu và chỉ ra đặc điểm này trong một ngôn ngữ là điều cần thiết và có ý nghĩa

1.2 Trong tiếng Việt, hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần phụ của câu đã được đề cập rải rác trong một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp của các tác giả như Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Lộc, Bùi Minh Toán… nhưng đều mới chỉ dừng lại ở mức

độ gợi mở, sơ lược, chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu

1.3 Việc nghiên cứu hiện tượng biệt lập của các thành phần phụ của câu

có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn Về lí luận, việc nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp làm rõ thêm lí thuyết về biệt lập cú pháp, về thành phần câu, đặc biệt là các biến thể của thành phần câu trong lời nói và các nhân tố chi phối sự hiện

Trang 8

thực hóa mô hình cú pháp của câu trong lời nói Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu

và dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Hiện tượng biệt

lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử ngôn ngữ học, câu là đơn vị ngữ pháp được nghiên cứu từ rất sớm Từ thời cổ đại đến nay, câu đã được các trường phái, các khuynh hướng ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau Trong đó, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu về các thành phần câu

Trong ngôn ngữ học nước ngoài, vấn đề biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần câu đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Chẳng hạn, trong cuốn Cú pháp tiếng Nga [55], tác giả E.M.Galkina -

Phêđôruk đã dành hẳn một mục để miêu tả về các thành phần thứ yếu biệt lập của câu như định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ biệt lập

Hiện tượng biệt lập cú pháp cũng được L.Tesnière đề cập tới khi bàn về các diễn tố biệt lập của động từ Theo quan điểm của L.Tesnière, trong câu,

những từ giữ vai trò diễn tố trong nút động từ có thể được lặp lại Ví dụ: Le loup

a mangé l’ agneau (Con sói ăn thịt con cừu rồi) Cấu trúc này có biến thể lặp

diễn tố chủ thể và biến thể lặp diễn tố đối thể Khi lặp diễn tố chủ thể, cấu trúc

trên sẽ có dạng như sau: Le loup, il a mangé l’ agneau (Con sói nó ăn thịt con

cừu rồi) Khi lặp diễn tố đối thể, cấu trúc sẽ trở thành: L’ agneau, le loup a mangé il (Con cừu, con sói ăn thịt nó rồi) L.Tesnière quan niệm khi có trường

hợp lặp lại diễn tố thì một trong hai diễn tố sẽ bị biệt lập về hình thức, tức là tách biệt khỏi nút động từ bởi ngữ điệu mà trên văn tự được ghi bằng dấu phẩy Diễn

tố bị tách biệt về hình thức được ông gọi là “diễn tố biệt lập” [56]

Trang 9

Trong ngôn ngữ học Việt Nam, hiện tượng biệt lập về cú pháp của các thành phần câu đã được đề cập đến trong công trình nghiên cứu của các tác giả như Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Lộc

và một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp khác

Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng các yếu tố trong khung câu ngoài vị

tố, chủ ngữ, tân ngữ, bổ ngữ còn có biệt tố Theo Diệp Quang Ban, “biệt tố là

những yếu tố không chịu sự ấn định của vị tố về mặt nghĩa, không trực tiếp tham gia vào phần nghĩa chỉ sự thể trong câu chứa chúng, chúng không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu và chúng có quan hệ với nghĩa của toàn bộ câu hoặc với nghĩa của yếu tố thích hợp trong câu” [4, Tr.74] Tác giả chia

biệt tố thành bốn loại nhỏ, gồm phần thức (trong đó có phân biệt biểu thức tạo thức Mood Expressions và yếu tố tình thái), phần gọi - đáp (Vocatives), phần phụ chú (Parenthesis), phần cảm thán (Exlamation) Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những chức năng cụ thể khác nhau của những kiểu biệt tố khác nhau Chẳng hạn, biệt tố tình thái tham gia vào việc tạo cấu trúc thức, biệt tố cảm thán tạo nên tính tình thái cảm thán, biệt tố gọi - đáp tham gia vào việc thiết

lập và duy trì quan hệ giao tiếp Diệp Quang Ban khẳng định: “Tôi coi các

biệt tố đều là thành phần của câu Việc tách ra cái gọi là “biệt tố” cốt phân biệt chúng với tư cách những yếu tố cú pháp không tham gia vào việc hình thành nghĩa biểu hiện của câu với các gia ngữ là những yếu tố có tham gia vào nhiệm vụ này” [4, Tr.416]

Tuy nhiên, theo quan điểm của Đào Thị Vân, phần phụ chú không được coi là thành phần câu Mặc dù vậy, hiện tượng biệt lập cú pháp của phần phụ chú (tạm thời chưa xét đến việc phần phụ chú có được coi là thành phần câu

hay không) là vấn đề đã được tác giả đề cập trong công trình Phần phụ chú

trong câu tiếng Việt [51]

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [46], các tác giả cũng đề cập đến tính

biệt lập của các thành phần câu Trong công trình này, các tác giả đã dành trọn chương II để nói về các thành phần ngoài nòng cốt gồm thành phần than gọi,

Trang 10

thành phần chuyển tiếp, thành phần chú thích, thành phần tình huống và thành phần khởi ý Các tác giả cho rằng tất cả các thành phần ngoài nòng cốt đều có

tính độc lập nhất định, trong đó “thành phần than gọi có tính chất độc lập hơn

cả, trong quan hệ với nòng cốt” [46, Tr.235] Tương tự như vậy, khi nói về

thành phần chuyển tiếp, các tác giả khẳng định: “Do vai trò chuyển tiếp của nó,

thành phần này thường được đặt ở trước nòng cốt Bằng ngữ điệu, nó cũng được tách khỏi nòng cốt khá rõ” [46, Tr.236]

Bùi Minh Toán cũng đã thừa nhận sự tồn tại của các thành phần biệt

lập Ông cho rằng các thành phần biệt lập của câu “là các thành phần câu

không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa miêu tả của câu (không biểu hiện tham tố nào trong sự tình mà câu biểu hiện) đồng thời thường được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ điệu” [44, Tr.132] Do có tính biệt lập

như vậy nên trong một số trường hợp, người ta có thể tách một thành phần câu, một thành phần phụ của cụm từ, một vế của câu ghép thành một câu riêng để nhấn mạnh ý, hoặc thể hiện những tình huống, những cảm xúc,

những thông tin bổ sung nhưng quan trọng

Bên cạnh các ý kiến kể trên, không thể không nhắc tới quan điểm của Nguyễn Văn Lộc Ở Việt Nam, ông là người đầu tiên nghiên cứu động từ theo

lí thuyết kết trị với công trình Kết trị của động từ tiếng Việt [20] Trong công

trình này, Nguyễn Văn Lộc đã tiến hành phân loại và mô tả khá chi tiết kết trị bắt buộc của động từ với hai kiểu diễn tố cơ bản là diễn tố chủ thể và diễn tố đối thể Tác giả cũng có đề cập đến hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần câu Ông cho rằng không nên đồng nhất hoàn toàn hai biến thể vị trí của kết tố đối thể Bởi vì, khi chiếm vị trí sau động từ, kết tố đối thể có quan hệ chặt chẽ với động từ cả về nội dung lẫn hình thức, tạo thành một khối thống

nhất về ngữ điệu Còn khi chiếm vị trí trước động từ, “mối quan hệ về nội dung

giữa kết tố đối thể và động từ về cơ bản, vẫn được giữ lại, nhưng về hình thức, kết tố đối thể ở trước động từ trở thành kết tố có tính biệt lập Tính biệt lập về hình thức của kết tố đối thể ở trước động từ thể hiện ở chỗ giữa nó và động từ

Trang 11

luôn có một quãng nghỉ hơi mà trên văn tự thường được ghi bằng dấu phảy và cũng thường có cả kết tố chủ thể nữa” [20, Tr.116] Tác giả chỉ rõ tính biệt lập

về hình thức này làm cho mối quan hệ hình thức giữa động từ và kết tố đối thể

ở trước động từ bị yếu đi Cũng như trong trường hợp kết tố chủ thể chủ động khi chuyển ra sau động từ không có khả năng chiếm vị trí liền sau động từ, kết

tố đối thể khi được chuyển lên vị trí trước động từ là vị trí không phải vốn có của mình, nó cũng không có khả năng chiếm vị trí liền trước động từ - vị trí đặc

trưng của kết tố chủ thể Do tính biệt lập về hình thức của kết tố đối thể ở trước động từ, nên “sau động từ, trong một số trường hợp, có thể xuất hiện một kết tố

đối thể nữa (thường được biểu hiện bằng đại từ và có quan hệ đồng nhất hoặc chỉnh thể - bộ phận với kết tố đối thể ở trước động từ)” [20, Tr.116]

Tóm lại, hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần phụ của câu đã được ngôn ngữ học trong và ngoài nước đề cập đến từ lâu Nhưng cho đến nay, hiện tượng này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ bản chất của hiện tượng biệt lập

cú pháp, chỉ ra những đặc điểm và giá trị của những biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đây, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về biệt lập cú pháp và hiện tượng biệt lập của các thành phần câu

- Nghiên cứu đặc điểm và phương thức tạo ra hiện tượng biệt lập cú pháp

và các biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu, tiến hành phân loại và miêu tả các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt

Trang 12

- Phân tích làm rõ giá trị về mặt ngữ dụng (giao tiếp) của các biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hiện tượng biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt hiện đại

Phạm vi khảo sát là một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả Phương pháp này được sử dụng để miêu tả hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại

Bên cạnh phương pháp miêu tả, luận văn kết hợp sử dụng ở mức độ nhất định phương pháp so sánh, đối chiếu Về thủ pháp, luận văn sử dụng các thủ pháp như lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến Các thủ pháp nói trên giúp cho việc miêu tả và phân tích ngữ pháp của loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt đạt được hiệu quả cao

6 Những đóng góp mới của luận văn

Việc nghiên cứu hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt có những đóng góp sau:

- Về lí luận:

+ Góp phần làm rõ những vấn đề lí thuyết liên quan đến hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt như: khái niệm biệt lập cú pháp, khái niệm biến thể biệt lập cú pháp…

Trang 13

+ Làm rõ thêm đặc điểm ý nghĩa và hình thức của các biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt, mối quan hệ giữa mô hình cấu trúc của câu với các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời nói

- Về thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu tiếng Việt có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường theo hướng đổi mới

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Biến thể biệt lập của chủ ngữ và bổ ngữ

Chương 3: Biến thể biệt lập của trạng ngữ và định ngữ

Chương 4: Biến thể biệt lập của các thành phần câu xét về mặt cú pháp

giao tiếp (ngữ dụng)

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Một số vấn đề chung về câu

1.1.1 Khái niệm câu

Câu là đơn vị ngôn ngữ có đặc tính rất phức tạp Có nhiều cách định nghĩa câu xuất phát từ những quan niệm khác nhau Từ những định nghĩa cụ thể, có thể rút ra hai khuynh hướng chính trong cách định nghĩa về câu

Thứ nhất, khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào ý nghĩa và hình thức Khuynh hướng này được thể hiện cụ thể ở ba cách định nghĩa Dựa riêng vào

mặt nghĩa, câu được xem là “phán đoán được biểu hiện bằng từ” hoặc là “tổ

hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” [Dẫn theo 23, Tr.24] Dựa riêng

vào mặt hình thức, S.Ja.Fitialov định nghĩa: “Câu là chuỗi từ hình nằm giữa

hai dấu chấm hoặc hai chữ cái hoa” [Dẫn theo 40, Tr.38] Dựa cả vào mặt ý

nghĩa lẫn hình thức, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “Với tư cách là đơn vị bậc

cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với hiện thực” [33, Tr.19] Cũng theo hướng này,

Diệp Quang Ban viết: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên

trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2, Tr.125]

Thứ hai, khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng, chức năng Nếu theo khuynh hướng thứ nhất, câu được xác định một cách độc lập, thì theo khuynh hướng này câu được xác định trong mối quan hệ hệ thống với các đơn

vị ngôn ngữ khác Theo đó, câu cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác cùng hệ

Trang 15

thống luôn được định nghĩa dựa vào hai mặt: khối lượng và chức năng Cụ thể,

câu được định nghĩa như sau: “Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang

một thông báo tương đối hoàn chỉnh” [5, Tr.363]

Tuy không nêu được dấu hiệu hình thức đặc trưng của câu, nhưng cách định nghĩa này cũng có những ưu điểm cơ bản Không chỉ ngắn gọn, dễ nhớ, định nghĩa này còn mang tính hệ thống rõ rệt, nêu lên được những tiêu chí cần thiết cho phép xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn thuộc cùng hệ thống

Có thể nói rằng, cho đến nay, vẫn chưa có được cách định nghĩa câu thỏa mãn được tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp Trên cơ sở xem xét hai khuynh hướng chính trong việc định nghĩa câu với một số cách định nghĩa cụ thể, chúng tôi tạm thời chọn cách định nghĩa câu dựa vào mặt khối lượng và chức năng vì tính ngắn gọn, rõ ràng, hệ thống và tiện lợi của nó Theo đó, câu được

định nghĩa là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ

1.1.2 Câu và phát ngôn

Câu và phát ngôn không phải là hai đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau như âm vị và hình vị Việc phân biệt câu với phát ngôn cũng tương tự như việc phân biệt âm vị với âm tố

Theo V.S.Panfilov, phát ngôn là sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời

nói “Thuật ngữ này bao gồm một phạm vi rộng các sự kiện, tuy chỉ một phần

trong số các sự kiện này là sự hiện thực hóa mô hình cấu trúc câu… Ở dạng chung nhất, phát ngôn là bất kì một đơn vị lời nói nào có ngữ điệu trọn vẹn”

[29, Tr.100] Theo định nghĩa này thì các nhận xét mang sắc thái tình cảm, những câu trả lời biểu hiện sự đồng ý hay không đồng ý và những đơn vị thể

hiện việc ứng xử như: Xin chào!, Cảm ơn! phần nào đều là phát ngôn Vì thế,

ta thấy hoàn toàn có thể có những phát ngôn mà trong thành phần của chúng không có tổ chức cấu trúc cú pháp theo cấp bậc

Trang 16

Xét ở góc độ cấp độ hệ thống cấu trúc, câu là cái trừu tượng, còn phát ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể, phát ngôn là biến thể Các phát ngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương

thức tồn tại của mô hình đó… “Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn

ngữ, vừa thuộc bình diện lời nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời nói”

[Dẫn theo 53, Tr.200]

Như vậy, có thể cho rằng phát ngôn là câu - mô hình cú pháp mang nghĩa

từ vựng cụ thể - được hiện thực hóa trong lời nói, được sắp xếp theo trật tự tuyến tính, được phát âm với một ngữ điệu cụ thể, được sử dụng trong một ngữ cảnh cụ thể và có phân đoạn thực tại cụ thể phù hợp với ngữ cảnh này

Câu và phát ngôn có cùng một cấp độ, nhưng xuất phát từ các phương diện nghiên cứu khác nhau mà người ta phân biệt câu với phát ngôn:

- Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, tức là ở bậc trừu tượng, khái quát, đơn vị ngôn ngữ được tạo thành bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn dựa trên những quy tắc ngữ pháp nhất định được gọi là câu

- Ở phương diện sử dụng, mỗi câu lại luôn gắn với một tình huống cụ thể, nhằm một mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể Câu cụ thể ấy được gọi là phát ngôn Như vậy, phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp

Có thể thấy, ở bậc trừu tượng, khái quát, câu không gắn với tình huống sử dụng mà ở trạng thái cô lập, và việc phân tích câu cũng chỉ tập trung vào mặt cấu tạo ngữ pháp Nhưng ngày nay, câu không chỉ được nghiên cứu riêng về mặt cấu trúc, mà còn được nghiên cứu ở mặt sử dụng Nghĩa là, câu được xét ở cả phương diện cấu trúc lẫn tình huống sử dụng cụ thể Do vậy, khái niệm câu cũng không chỉ bó hẹp trong phạm vi câu - cấu trúc nữa, mà là câu - phát ngôn

1.1.3 Vị trí của câu trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp

Trong ngôn ngữ học, các đơn vị của ngôn ngữ thường được xác định trong mối quan hệ với các cấp độ ngôn ngữ Về bản chất, các đơn vị ngôn ngữ

Trang 17

vốn có tính trừu tượng Chúng chỉ tồn tại cụ thể trong những biến thể nhất định Chẳng hạn, âm vị tồn tại và được thể hiện trong những biến thể âm vị, hình vị tồn tại trong các hình tố, từ tồn tại trong các biến thể ngữ âm, cú pháp… Các đơn vị ngôn ngữ có thể xác định từ ba mặt chính sau: mặt tổ chức bên trong, mặt so sánh khối lượng và mặt chức năng

Nói đến mặt tổ chức bên trong của các đơn vị ngôn ngữ là nói đến “việc

phân tích chúng thành thành tố, việc đánh giá số lượng, chất lượng của các thành tố cũng như việc xác lập quan hệ giữa các thành tố, đánh giá số lượng, chất lượng của các mối quan hệ có thể có đó” [5, Tr.347] Nói đến mặt so sánh

khối lượng là nói đến sự phân biệt đơn vị lớn, đơn vị nhỏ Còn xác định các đơn vị ngôn ngữ dựa vào mặt chức năng chính là việc dựa vào các đặc điểm như: khu biệt nghĩa, mang nghĩa, vận dụng độc lập, thông báo

Dựa vào ba mặt trên đây, khi xác định các đơn vị ngôn ngữ và vị trí của chúng trong hệ thống, ta thấy có sự đối lập rất lớn giữa hai tiểu hệ thống: tiểu

hệ thống đơn vị nửa tổ chức, nửa chức năng và tiểu hệ thống đơn vị thuần tổ chức

Thuộc tiểu hệ thống đơn vị nửa tổ chức, nửa chức năng là các đơn vị như: âm vị, hình vị, từ, câu Chúng có đặc điểm chung là:

a) Khi xác định những đơn vị này, phải dựa vào cả hai mặt: khối lượng

- Về mặt chức năng: Số lượng chức năng của các đơn vị bậc thấp luôn ít hơn số lượng chức năng của các đơn vị bậc cao hơn Có thể thấy điều này qua bảng so sánh sau:

Trang 18

Chức năng

Đơn vị

Khu biệt nghĩa Có nghĩa

Vận dụng độc lập Thông báo

Thuộc tiểu hệ thống đơn vị thuần tổ chức là các kiểu đơn vị như: tổ hợp

âm vị, tổ hợp từ, tổ hợp câu Đặc điểm chung của các đơn vị thuộc tiểu hệ thống này là:

a) Khi xác định, chỉ cần dựa vào mặt tổ chức chứ không cần dựa vào mặt chức năng hay khối lượng Ví dụ trong cách định nghĩa cụm từ: “Các tổ hợp gồm hai thực từ trở lên có quan hệ ngữ pháp với nhau được gọi là cụm từ”

b) Các đơn vị cùng loại trong tiểu hệ thống thuần tổ chức luôn có khả năng bao hàm lẫn nhau, đơn vị này lọt vào thành tố của đơn vị kia và ngược lại

Ví dụ:

- Tổ hợp âm vị bao hàm tổ hợp âm vị (“tan” bao hàm “an”)

- Tổ hợp hình vị bao hàm tổ hợp hình vị (“ngôn ngữ học” bao hàm

“ngôn ngữ”)

Có thể thấy, theo quan niệm truyền thống, câu được coi là đơn vị cao nhất trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp Hệ thống các đơn vị ngôn ngữ và vị trí của câu trong hệ thống đó có thể được trình bày qua sơ đồ sau:

Trang 19

1.1.4 Khái quát về các bình diện của câu

Trong việc nghiên cứu câu, việc xác định các bình diện của câu cho đến nay vẫn còn các vấn đề tranh luận

Simon C.Dik cho rằng các quan hệ chức năng trong câu được chỉ định ở các bình diện: Chức năng ngữ nghĩa (tác thể, đích, tiếp thể…), chức năng cú pháp (chủ ngữ, bổ ngữ…), chức năng ngữ dụng (chủ đề, hậu đề, đề, tiêu điểm)

Cao Xuân Hạo xác định ba bình diện của câu gồm: bình diện cú pháp, bình diện nghĩa học và bình diện dụng pháp Nhưng khác với một số tác giả, ông cho rằng trong tiếng Việt, cấu trúc chủ vị không có cương vị ngữ pháp trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu, còn cấu trúc đề thuyết, ngược lại, không thuộc bình diện dụng pháp mà thuộc bình diện cú pháp và có cương vị ngữ pháp trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu

Nguyễn Văn Hiệp cũng phân biệt ba bình diện trong việc nghiên cứu câu, gồm: bình diện kết học (trong đó câu được phân tích thành chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…), bình diện nghĩa học (nghiên cứu nghĩa sự tình, nghĩa tình thái

và nghĩa chủ đề), bình diện dụng học (nghiên cứu cấu trúc phân đoạn thực tại của câu, tiêu điểm thông báo…) Nguyễn Văn Hiệp cũng tán thành ý kiến của Cao Xuân Hạo không xếp cấu trúc đề thuyết vào bình diện dụng học, nhưng ông cũng không xem xét cấu trúc này khi phân tích bình diện cú pháp (kết học) của câu

Ngoài ra, cũng có thể kể đến ý kiến của tác giả Diệp Quang Ban Ông cho rằng về phương diện tổ chức ngữ pháp, trong câu có bốn kiểu cấu trúc: cấu trúc nghĩa biểu hiện (với các thành tố như động thể, tiếp thể…), cấu trúc thức (gồm phần thức và phần dư), cấu trúc cú pháp (với các thành tố như chủ ngữ, vị

tố, tân ngữ…), và cấu trúc đề (với hai thành tố đề và thuyết)

Như vậy, mặc dù còn có những bất đồng trong việc xác định bản chất, phạm vi, ranh giới của các bình diện, nhưng nhìn chung đa số các ý kiến đều thừa nhận ba bình diện của câu gồm: bình diện cú pháp (kết học), bình diện

Trang 20

nghĩa học (ngữ nghĩa) và bình diện dụng học (dụng pháp) Lí thuyết về ba bình diện của câu còn được gọi chung là lý thuyết tam phân Trong đó, nghiên cứu bình diện cú pháp là nghiên cứu tổ chức cú pháp của câu với các thành phần như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…; nghiên cứu bình diện nghĩa học là nghiên cứu nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu), nghĩa tình thái trong câu; nghiên cứu bình diện dụng học của câu là nghiên cứu câu gắn với chủ thể nói năng, theo đó xác định cấu trúc giao tiếp của câu với các thành tố như đề, thuyết, tiêu điểm thông báo, đồng thời xác định các kiểu câu xét theo mục đích giao tiếp

1.1.5 Bình diện cú pháp của câu

1.1.5.1 Bản chất của bình diện cú pháp

Về bản chất của bình diện cú pháp, cho đến nay vẫn tồn tại hai quan niệm

1) Coi bình diện cú pháp là bình diện hình thức thuần túy

Quan điểm trên được thể hiện rõ trong ý kiến của Cao Xuân Hạo Ông

cho rằng: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định

bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy” [15, Tr.8] Theo tác giả, các chức

năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ… được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng các phương tiện hình thức gọi

là tác tử cú pháp

Quan niệm này đã mâu thuẫn với lí thuyết ngữ pháp đại cương mà theo

đó, các đơn vị ngữ pháp được coi là đơn vị hai mặt: hình thức và ý nghĩa Quan điểm này khiến cho việc xác định các thành phần cú pháp của câu dựa vào nghĩa gặp những khó khăn, mâu thuẫn rất khó khắc phục Đồng thời, nó đã phủ nhận sự tồn tại của các thành phần câu đã được thừa nhận rộng rãi như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…

2) Coi bình diện cú pháp là bình diện có cả mặt hình thức lẫn mặt ý nghĩa

Cơ sở để xác định sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu có thể thấy trong các lý thuyết cú pháp Đó là ý tưởng

Trang 21

phân biệt ba loại nghĩa chủ thể (chủ thể ngữ pháp, chủ thể logic, chủ thể tâm lý) vốn khá phổ biến trong cú pháp học Tuy còn những cách hiểu khác nhau về chủ thể ngữ pháp, nhưng trong cách hiểu phổ biến nhất, chủ thể ngữ pháp được

đồng nhất với chủ ngữ Nguyễn Văn Lộc cho rằng: “Ý tưởng phân biệt chủ thể

cú pháp (được đồng nhất với chủ ngữ) với chủ thể logic và chủ thể tâm lý chính

là sự xác nhận tính hai mặt hay tính có nghĩa của bình diện cú pháp, đồng thời gợi ý cho sự tìm tòi hướng tới bản chất của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu” [23, Tr.76]

Rõ ràng, quan niệm này đã thừa nhận sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong

sự đối lập với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu Vì thế, trong hai câu “Mẹ khen

nó” và “Nó được mẹ khen”, từ “nó” chỉ đồng nhất với nhau về nghĩa sâu, còn

về nghĩa cú pháp thì có sự khác nhau Ở câu thứ nhất, “nó” chỉ đối thể, còn ở câu thứ hai, “nó” chỉ chủ thể (trong quan hệ với động từ - vị ngữ “được”)

Chúng tôi đi theo quan niệm thứ hai và cho rằng về bản chất, bình diện

cú pháp luôn có tính hai mặt: hình thức và ý nghĩa Việc thừa nhận tính có nghĩa của bình diện cú pháp, thừa nhận sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với nghĩa sâu không chỉ phù hợp với lí thuyết ngữ pháp đại cương và các lí thuyết cú pháp, mà còn phù hợp với thực tế Quan điểm này cho phép xác định, phân biệt thành phần câu dựa vào nghĩa cú pháp, khắc phục được sự mâu thuẫn trong phân tích cú pháp vẫn tồn tại lâu nay

1.1.5.2 Quan hệ cú pháp trong câu

Trong số các tác giả nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt, có lẽ V.S.Panfilov

là người dành nhiều sự quan tâm nhất cho việc xác định khái niệm quan hệ cú

pháp V.S.Panfilov cho rằng “sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai từ

(phương án tối thiểu) được chứng minh thông qua khả năng sử dụng độc lập của tổ hợp những từ này, mà phần nào đó là khả năng sử dụng tổ hợp này với

tư cách là biến thể tỉnh lược của cấu trúc phức tạp hơn” [29, Tr.77, 78]

Gần với định nghĩa của V.S.Panfilov là định nghĩa của các tác giả cuốn

Dẫn luận ngôn ngữ học: “Quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các từ

Trang 22

tạo ra những tổ hợp từ có khả năng được vận dụng độc lập, được xem như là dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn và có ít nhất một thành tố có khả năng được thay bằng từ nghi vấn” [14, Tr.254]

Về cơ bản, Nguyễn Mạnh Tiến cũng tán thành cách xác định quan hệ cú pháp theo hướng dựa vào dấu hiệu hình thức mang tính khách quan mà V.S

Panfilov đưa ra, nhưng ông đã có sự bổ sung, điều chỉnh Theo tác giả, “Quan

hệ ngữ pháp là một dạng của mối quan hệ hình tuyến giữa các đơn vị ngữ pháp (hình vị, từ, cụm từ) nảy sinh trên cơ sở ý nghĩa của hình vị hoặc từ tạo thành các tổ hợp tự thân có ý nghĩa nhất định và có khả năng hoạt động độc lập hoặc hoạt động với tư cách là thành tố của cấu trúc phức tạp hơn” [42, Tr.53]

Như vậy, có thể thấy rằng sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai

từ được xác định dựa trên cả hai tiêu chí: tiêu chí nội dung (mối quan hệ ý nghĩa giữa chúng) và tiêu chí hình thức (khả năng sử dụng độc lập hoặc sử dụng với tư cách là câu tỉnh lược của tổ hợp do chúng tạo thành) Theo cách hiểu này, hoàn toàn có thể phân biệt trường hợp giữa hai từ có quan hệ ngữ pháp với trường hợp giữa hai từ chỉ có quan hệ thuần túy ngữ nghĩa

Tuy nhiên, việc gọi chung mối quan hệ giữa các từ trong câu là quan hệ

cú pháp phần nào mang tính quy ước Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến khẳng định: Trong mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ, cần phân biệt quan hệ giữa các thực

từ với nhau (trong “ăn cơm”) và quan hệ giữa thực từ với hư từ (trong “bằng đũa”) Hai kiểu quan hệ này không chỉ khác nhau ở tính chất của các thành tố tham gia quan hệ mà còn ở tính chất của quan hệ Điều này được thể hiện rõ nhất qua mối quan hệ phụ thuộc giữa các từ Ở kiểu quan hệ phụ thuộc giữa các thực từ, yếu tố phụ thuộc về hình thức đồng thời là yếu tố phụ thuộc về nghĩa… Ngược lại, trong mối quan hệ phụ thuộc giữa thực từ với hư từ, các thực từ chỉ phụ thuộc về hình thức vào các hư từ chứ không phụ thuộc về nghĩa vào chúng [42, Tr.54]

Theo V.S.Panfilov, chỉ sự phụ thuộc hai mặt giữa các thực từ mới là sự phụ thuộc cú pháp Vì thế, quan hệ phụ thuộc giữa các thực từ được ông gọi là

Trang 23

quan hệ cú pháp, còn quan hệ giữa thực từ với hư từ được ông gọi là quan hệ cận cú pháp

Như vậy, có thể hiểu quan hệ cú pháp là quan hệ giữa các từ hoặc cụm từ trong câu, nhưng để phân biệt quan hệ cú pháp đích thực với quan hệ cận cú pháp

thì cần chỉ rõ: “Quan hệ cú pháp là quan hệ giữa các thực từ trong câu” [42, Tr.54]

Khi xem xét vai trò cú pháp của từ trong cấu trúc nhất định, cần dựa vào hai mặt: vai trò bên trong (mối quan hệ nội bộ) và vai trò bên ngoài (mối quan

hệ với yếu tố ngoài cấu trúc) Xét theo vai trò bên trong, thành tố phụ là thành

tố có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn; có chức năng bổ sung ý nghĩa cho thành tố kia; không quy định bản chất, vai trò, chức năng của cấu trúc; là thành

tố bị chi phối về ý nghĩa và hình thức Xét theo vai trò bên ngoài, thành tố phụ

là thành tố không có khả năng đại diện cho cấu trúc trong mối quan hệ cú pháp với yếu tố bên ngoài Thành tố có đặc điểm ngược lại những đặc điểm trên là thành tố chính

Theo nguyên tắc trên, có thể xác định hai kiểu quan hệ cú pháp chính: quan

hệ phụ thuộc và quan hệ đẳng lập Ở kiểu quan hệ phụ thuộc giữa hai thành tố, một thành tố có vai trò chính, thành tố còn lại có vai trò phụ thuộc Ở kiểu quan hệ đẳng lập, các thành tố trong mối quan hệ này có vai trò bình đẳng, ngang hàng nhau, nghĩa là không thành tố nào có chức năng đối với thành tố nào

1.1.5.3 Hệ thống thành phần cú pháp của câu

Thành phần cú pháp của câu là các thành tố cú pháp (các thực từ) tham gia vào các mối quan hệ cú pháp với tư cách là yếu tố chính (được bổ sung) hay các yếu tố phụ thuộc (bổ sung) Như vậy, thành phần câu không chỉ bao gồm thành phần chính và các thành phần phụ có quan hệ trực tiếp với các thành phần chính mà gồm tất cả các thành tố cú pháp (các thực từ) có mặt trong câu (gồm cả bổ ngữ và định ngữ của từ)

1) Thành phần chính của câu - vị ngữ

Theo quan niệm mới, vị ngữ được coi là đỉnh cú pháp của câu Tác giả

Nguyễn Văn Lộc định nghĩa: “Vị ngữ là thành phần chính duy nhất của câu có

Trang 24

ý nghĩa ngữ pháp hoạt động hay đặc điểm, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng

vị từ với ý nghĩa, hình thức thời thể nhất định, chiếm vị trí trung tâm của câu”

[23, Tr.108]

Vị ngữ có những đặc điểm chính sau:

a) Về nội dung:

- Vị ngữ giữ vai trò chính, vai trò trung tâm của tổ chức câu;

- Vị ngữ luôn biểu thị đặc điểm (hoạt động, tính chất) của sự vật Đây là đặc điểm quan trọng, giúp vị ngữ phân biệt với chủ ngữ

b) Về hình thức:

- Hình thức biểu hiện phổ biến của vị ngữ là hình thức vị từ (động từ, tính từ) Tuy nhiên, khi miêu tả các kiểu vị ngữ cụ thể, bên cạnh kiểu vị ngữ là động từ, tính từ, các tác giả còn xác định các kiểu vị ngữ là danh từ, cấu trúc chủ vị, tổ hợp gồm số từ + quan hệ từ, tổ hợp gồm quan hệ từ + danh từ;

- Ở dạng cơ bản, vị ngữ chiếm vị trí thứ hai trong hai thành tố của cấu trúc chủ vị, tức là vị trí sau chủ ngữ Ngoài ra, trong một số trường hợp, vị ngữ

có thể chuyển lên trước chủ ngữ

Vai trò trung tâm trong tổ chức câu của vị ngữ thể hiện ở những điểm sau:

- Vị ngữ là thành phần có tính thường trực cao nhất trong câu Chúng có mặt ở tất cả các kiểu câu hoàn chỉnh Chủ ngữ mặc dù cũng có tính thường trực cao nhưng trong tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ khác có thể có những

câu có vị ngữ mà không có chủ ngữ (Ví dụ: “Lại động đất”) Ngoài ra, có

những câu mặc dù có cả chủ ngữ lẫn vị ngữ nhưng sự có mặt của chủ ngữ hầu

như không bắt buộc (Ví dụ: “Trời mưa rồi”, “Mưa rồi”)

- Vị ngữ là thành phần quy định bản chất ngữ nghĩa của câu Nếu vị ngữ chỉ hành động thì câu có nghĩa chung là nghĩa hành động Nếu vị ngữ chỉ trạng thái thì nghĩa chung của câu là nghĩa trạng thái…

- Vị ngữ là thành phần chi phối cấu trúc của cả câu Chúng quy định số lượng và đặc tính của các thành phần bắt buộc của câu Dựa vào thuộc tính kết

Trang 25

trị của vị từ, sau khi xác định được vị từ giữ vai trò vị ngữ, ta dễ dàng xác định được số lượng các thành phần bắt buộc còn lại Ngoài ra, vị ngữ còn chi phối khả năng cải biến của câu Chẳng hạn, nếu vị ngữ là động từ nội hướng thì chủ ngữ bên nó thường có khả năng cải biến vị trí nhưng không có khả năng cải biến bị động; ngược lại, nếu vị ngữ là động từ ngoại hướng thì chủ ngữ thường

có khả năng tham gia cải biến bị động nhưng hầu như không có khả năng cải biến vị trí

- Vị ngữ là thành tố duy nhất có khả năng quan hệ cú pháp với các yếu tố ngoài cấu trúc Khi hai cụm chủ vị quan hệ với nhau, trong nhiều trường hợp, nếu lược bỏ chủ ngữ thì bộ phận còn lại không những đứng được mà bản chất của quan hệ cú pháp trong đó cũng không thay đổi Ngược lại, nếu lược bỏ vị ngữ thì cấu trúc sẽ không đứng được

So sánh:

Nếu trời mưa thì chúng ta nghỉ (+) Nếu mưa thì chúng ta nghỉ (+) Nếu trời mưa thì nghỉ (+) Nếu mưa thì nghỉ (+) Nếu trời thì chúng ta nghỉ ( - ) Nếu trời thì chúng ta ( - )

Như vậy, không thể cho rằng chủ ngữ và vị ngữ ngang hàng nhau về vai trò ngữ pháp Trong cấu trúc của câu nói chung, vị ngữ là thành phần có vai trò quan trọng nhất, là trung tâm tổ chức câu

2) Các thành phần phụ của câu

a) Chủ ngữ

“Chủ ngữ là thành phần cú pháp phụ của câu có ý nghĩa cú pháp chủ

thể, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ không được dẫn nối bởi quan

hệ từ phụ thuộc, chiếm vị trí liền trước vị từ” [23, Tr.108]

Chủ ngữ có những đặc điểm chính sau:

Trang 26

- Về nội dung: Chủ ngữ có tính phụ thuộc và chỉ chủ thể của đặc điểm

(hoạt động, tính chất) được nêu ở vị ngữ

- Về hình thức: Ở dạng cơ bản, chủ ngữ được biểu hiện bằng danh từ (đại

từ), không được dẫn nối bởi quan hệ từ và chiếm vị trí liền trước vị ngữ Trong một số trường hợp, chủ ngữ cũng có thể được biểu hiện bằng vị từ, cụm chủ vị,

và có thể chuyển ra sau vị ngữ (với những điều kiện nhất định)

b) Bổ ngữ

Xét về mặt kết trị, cũng như chủ ngữ, bổ ngữ “là kết tố thể hiện kết trị

bắt buộc của vị từ giữ vai trò vị ngữ hoặc vị từ nói chung” [24, Tr.90]

Bổ ngữ được xác định theo những đặc điểm sau:

- Về nội dung: Bổ ngữ có tính phụ thuộc và bổ sung cho vị từ ý nghĩa đối thể

- Về hình thức: Ở dạng cơ bản, bổ ngữ được biểu hiện bằng danh từ (đại

từ), vị từ, cụm chủ vị, và chiếm vị trí sau vị từ Bổ ngữ có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn

Những đặc điểm nêu trên của bổ ngữ là những dấu hiệu chứng tỏ mối quan hệ cú pháp giữa bổ ngữ và vị từ Dựa vào đó, ta hoàn toàn có thể xác định được bổ ngữ, phân biệt nó với các thành phần câu khác

c) Trạng ngữ

Theo V.S.Panfilov, trạng ngữ “là yếu tố mở rộng tự do cho vị ngữ, mang

nghĩa sự kiện và có thể được thay thế bằng mệnh đề phụ” [29, Tr.377] Nói

cách khác, “Trạng ngữ là thành phần phụ không bắt buộc của câu thể hiện kết

trị tự do của vị từ” [24, Tr.104]

Trạng ngữ có đặc điểm:

- Về ý nghĩa: Ý nghĩa chung của trạng ngữ là chỉ tình trạng, hoàn cảnh

của hoạt động, tính chất mà vị từ biểu thị Khác với ý nghĩa của chủ ngữ và bổ ngữ, ý nghĩa của trạng ngữ không bị ý nghĩa của vị từ quy định Sự xuất hiện của trạng ngữ chỉ phản ánh khả năng của vị từ được xác định, cụ thể hóa về nghĩa chứ không phải do ý nghĩa của vị từ đòi hỏi

Trang 27

- Về hình thức: Trạng ngữ thường được dẫn nối bởi quan hệ từ và có vị

trí khá linh hoạt trong câu

- Về phạm vi kết hợp: Khác với bổ ngữ chỉ đi với vị từ ngoại hướng,

trạng ngữ có khả năng kết hợp cả với vị từ nội hướng lẫn vị từ ngoại hướng

- Về vai trò đối với việc tổ chức câu: Trạng ngữ không tham gia vào cấu

trúc hoàn chỉnh của câu như chủ ngữ, bổ ngữ

d) Định ngữ

“Định ngữ là thành phần phụ của câu chuyên bổ sung cho một thành

phần câu khác được biểu hiện bằng danh từ Xét về mặt kết trị, định ngữ chính

là thành phần câu thể hiện kết trị phụ thuộc của danh từ” [24, Tr.108]

Định ngữ có những đặc điểm sau đây:

- Về ý nghĩa: Định ngữ nêu đặc điểm về số lượng, chất liệu, vị trí, sở

thuộc… của sự vật do danh từ biểu thị

- Về hình thức: Định ngữ có vị trí tương đối cố định, nó thường đứng sau

(trừ định ngữ chỉ số lượng) danh từ được xác định và có rất ít khả năng cải biến

vị trí Định ngữ có thể được biểu hiện bằng danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại

từ và cụm chủ vị

Có thể nói, so với các thành phần câu khác, định ngữ là thành phần câu

có đặc tính khá rõ ràng, vì vậy mà trong ngữ pháp học truyền thống, quan niệm

về định ngữ tương đối thống nhất

e) Chú giải ngữ

“Giải ngữ là thành phần phụ của câu biểu thị sự thông báo bổ sung mà

người nói thấy cần thiết để người nghe hiểu đúng, hiểu rõ thêm nội dung của câu Giải ngữ có thể được dùng để giải thích cho một từ, một nhóm từ hoặc giải thích cho nội dung của cả câu” [24, Tr.111]

- Về ý nghĩa: Giải ngữ có tác dụng làm sáng tỏ cho phần có liên quan

bằng việc bổ sung các chi tiết, giải thích, chứng minh, bình luận, biểu cảm…

- Về hình thức: Nét đặc trưng của giải ngữ là tính biệt lập Điều này thể

hiện ở chỗ giải ngữ thường được phát âm tách biệt với các bộ phận khác của

Trang 28

câu Trên chữ viết, nó được đánh dấu bởi dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu hai chấm hoặc dấu ngoặc đơn Giải ngữ thường đứng ngay sau yếu tố được giải thích Giải ngữ có thể được tạo nên bởi một từ, một tổ hợp từ, một kết cấu tương đương một câu hay một chuỗi câu

1.1.6 Bình diện nghĩa biểu hiện của câu

1.1.6.1 Khái quát về bình diện nghĩa biểu hiện

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Con người dùng ngôn ngữ để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau Có thể thấy, một phần nghĩa tạo nên nội dung của thông tin là các sự việc (sự tình) trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong câu Đó chính là phần nghĩa miêu

tả (hay nghĩa biểu hiện) của câu Phần nghĩa này được nhận diện từ chính các

từ ngữ có trong câu mà không cần phải dùng các thao tác suy ý

Ví dụ: Phân tích sự việc “Bố mẹ tôi mua sắm cho em gái tôi tất cả những

gì cần cho công việc vẽ”, có thể thấy nó được tạo thành bởi bốn thành tố sau:

- Một hành động đã xảy ra: “mua sắm”

- Người thực hiện hành động mua sắm: “bố mẹ tôi”

- Người được nhận vật mua sắm: “em gái tôi”

- Vật mua sắm: “tất cả những gì cần cho công việc vẽ”

Nghĩa biểu hiện đã được các tác giả cuốn Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt [44] định nghĩa như sau: “Nghĩa miêu tả của câu là nghĩa biểu thị vật, việc,

hiện tượng (gọi chung là sự tình) trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong câu, qua lăng kính chủ quan của người nói (viết)” [44, Tr.173]

Tác giả Diệp Quang Ban khẳng định: “Nghĩa biểu hiện của câu là phần

diễn đạt sự thể được phản ánh trong câu, bao gồm các yếu tố nghĩa có mặt trong một sự thể và các mối quan hệ giữa các yếu tố nghĩa đó” [4, Tr.82]

Như vậy, có thể thấy rằng cách nhìn nhận về nghĩa biểu hiện của các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất Theo đó, câu diễn đạt nghĩa biểu hiện được hiểu là câu trình bày những sự việc (hay sự thể) trong các lĩnh vực mà con người nhận biết được qua kinh nghiệm của mình

Trang 29

1.1.6.2 Các thành tố thuộc cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu

Cấu trúc nghĩa biểu hiện là cấu trúc nghĩa của sự việc được phản ánh vào câu, gồm hai thành tố chính: Thành tố nêu đặc trưng/quan hệ và các thực thể (được gọi chung là tham thể) có liên quan Có thể nói, cấu trúc đặc trưng/quan hệ

- tham thể là cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu “Phân tích cấu trúc nghĩa biểu

hiện của câu là xác định vị tố cùng với các vai nghĩa quây quần xung quanh nó,

và xác lập các mối quan hệ giữa chúng với vị tố trong câu” [4, Tr.83]

1) Thành tố nêu đặc trưng/quan hệ

Phần này dùng để trả lời cho một trong các câu hỏi: Sự vật được phản ánh thực hiện hành động gì? Chúng có trạng thái ra sao? Có tính chất gì? Có quan hệ như thế nào với đối tượng liên quan? Phương tiện ngôn ngữ dùng để thể hiện các đặc trưng/quan hệ là các động từ, tính từ, các từ chỉ quan hệ, đôi khi cả danh từ, được gọi chung là vị tố

Xét các ví dụ:

(a) Thịnh tặng Vân một bó hoa

(b) Nam rất gan dạ

Trong hai ví dụ này, phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện đặc

trưng/quan hệ là động từ “tặng” (cho biết sự thể mang đặc trưng hành động) và tính từ “gan dạ” (nêu đặc trưng tính chất)

2) Tham thể (hoặc vai nghĩa)

Đây là các nhân tố tham gia vào chính sự việc mà câu phản ánh Phương tiện ngôn ngữ được dùng để thể hiện các tham thể chủ yếu là các danh từ, cụm danh từ, đại từ, một số ít là động từ, cụm động từ

Theo Diệp Quang Ban, các yếu tố nghĩa có mặt trong một sự thể gồm có yếu tố nêu đặc trưng/quan hệ (được biểu hiện bằng vị tố) và các yếu tố quây

quần xung quanh vị tố Ông chỉ rõ: “Các yếu tố nghĩa quây quần xung quanh vị

tố được gọi chung là các vai nghĩa Vai nghĩa là những thực thể nằm trong sự thể thì được gọi là tham thể; vai nghĩa nào đi kèm với sự thể như các yếu tố chỉ

Trang 30

thời gian, phương tiện, cách thức, nguyên nhân… của sự thể thì được gọi là cảnh huống” [4, Tr.83]

Căn cứ vào định nghĩa trên, ta có thể xác định được các tham thể trong ví

dụ (a) và ví dụ (b) như sau: “Thịnh” (chủ thể hành động trao nhận), “Nam” (thể mang tính chất), “Vân” (tiếp thể), “một bó hoa” (đối thể trao nhận)

Trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, phần nêu đặc trưng/quan hệ được coi là phần nòng cốt vì nó giữ vai trò chủ đạo, chi phối các tham thể có liên quan cả về số lượng lẫn vai nghĩa

1.1.7 Bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp) của câu

1.1.7.1 Khái quát về bình diện giao tiếp

Bình diện giao tiếp “nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử

dụng, giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện những ý nghĩa của câu - phát ngôn trong tình huống cụ thể đó (gọi là nghĩa ngữ dụng của câu)” [44, Tr.115]

Nghĩa ngữ dụng của câu trừu tượng hơn, phức tạp hơn và khó xác định hơn so với nghĩa sự vật của câu bởi loại nghĩa này chỉ xuất hiện qua hoàn cảnh giao tiếp, hoàn cảnh sử dụng của câu Hơn nữa, hoàn cảnh giao tiếp đề cập ở đây không đơn thuần là địa điểm hay thời gian cụ thể của cuộc giao tiếp, mà ở

đó còn người sử dụng câu Trong bình diện giao tiếp, người sử dụng câu không phải là con người trừu tượng, cô lập, chung chung mà là những con người cụ thể bằng xương bằng thịt Ngoài vốn hiểu biết chung, mỗi người lại mang nhiều đặc điểm riêng: tuổi tác, vốn kinh nghiệm, thói quen ứng xử, tâm lí, tình cảm, dụng ý phát ngôn… Các yếu tố đó của mỗi cá nhân đều có liên quan đến sản phẩm mà họ tạo ra khi giao tiếp

V.S.Panfilov khẳng định: “Khác với cú pháp cấu trúc quan tâm đến các

quan hệ cú pháp trong câu, cú pháp giao tiếp có nhiệm vụ phân tích một tập hợp các yếu tố thúc đẩy sự hiện thực hóa câu với tư cách là một phát ngôn đầy

đủ giá trị và việc đưa phát ngôn vào hoạt động giao tiếp” [29, Tr.414]

Trang 31

Nội dung của việc phân tích câu theo bình diện giao tiếp là xác định cấu trúc giao tiếp (thông báo), cấu trúc thông tin và cấu trúc thức của câu

Xác định cấu trúc thông báo của câu là xác định trong câu phần nêu (phần đề) và phần báo (phần thuyết) Cách phân tích này phản ánh tổ chức của câu với tư cách là đơn vị thông báo (hay đơn vị giao tiếp)

Xác định cấu trúc thông tin là việc xác định trong câu “cái đã biết” và

“cái mới” Cấu trúc thông tin của câu phụ thuộc vào ngữ cảnh, tình huống nói

năng cụ thể Cách phân tích câu về mặt thông tin mặc dù có mối quan hệ chặt chẽ với cách phân tích câu về mặt thông báo nhưng chúng không trùng nhau

Phần nêu (phần đề) và phần báo (phần thuyết) không phải luôn trùng với “cái

đã biết” và “cái mới” Thứ nữa, về mặt cấu trúc thông báo, câu ở dạng đầy đủ

bao giờ cũng gồm hai phần: đề và thuyết Còn về cấu trúc thông tin, câu có thể

chỉ gồm “cái mới”

Nội dung của việc phân tích cấu trúc thức của câu là xác định các thành

tố của cấu trúc này gồm phần “biểu thức thức” (biểu thị ý nghĩa tình thái) và

“phần dư” (biểu thị nội dung cốt lõi về sự tình)

1.1.7.2 Các thành tố thuộc cấu trúc giao tiếp của câu

1) Đề và thuyết

Để miêu tả khía cạnh giao tiếp của các phát ngôn, người ta sử dụng các khái niệm trong lí thuyết phân đoạn thực tại Phân đoạn thực tại là phân tích

phát ngôn về mặt logic - ngữ pháp, phân xuất ra phần “đề” và phần “thuyết”

Phần “đề” là cái mà từ đó người nói bắt đầu, còn phần “thuyết” là thành

phần của thông báo mà người nói muốn người nghe hướng tới Hay nói rõ hơn, khi đưa câu vào văn bản, vào tình huống sử dụng, người nói phải lựa chọn từ

ngữ làm điểm xuất phát cho việc tổ chức câu “Những từ ngữ làm điểm xuất

phát cho câu được coi là phần khởi đề, phần còn lại được coi là phần trần thuyết, gọi gọn là phần đề và phần thuyết” [4, Tr.49]

Như vậy, phần đề là phần từ ngữ được chọn làm xuất phát điểm cho câu nói Mỗi thực từ trong câu (trước hết là danh từ) đều có khả năng được chọn

Trang 32

làm phần đề cho câu Cách lựa chọn “đề” góp phần phản ánh mối quan tâm,

cách nhìn nhận, thái độ của người nói trong nội dung thông báo

Phần “thuyết” là phần còn lại của câu, đứng sau phần “đề”, được dùng để

giải thích, nêu lên những thông tin về sự vật, sự việc, hiện tượng được nói ở

phần “đề” Là thành tố của lý thuyết phân đoạn thực tại câu, phần “thuyết” là sự

khẳng định, thuyết minh cho xuất phát điểm của câu nói Phần thuyết mang trọng tâm thông báo của câu

Mối quan hệ giữa phần đề và phần thuyết làm thành cấu trúc đề - thuyết

“Quan hệ giữa phần đề và phần thuyết lấy cái được chọn làm xuất phát điểm

và phần còn lại làm cơ sở, không quan tâm đến việc hai phần này có mang cùng một kiểu nghĩa hay không” [4, Tr.49]

Tùy theo loại nội dung của phần “đề” xét trong quan hệ với phần còn lại của câu, có thể phân biệt ba loại “đề”:

- Đề - đề tài, nêu thực thể (hay sự việc) có quan hệ về nghĩa biểu hiện với phần thuyết của câu

- Đề tình thái, nêu thái độ của người nói đối với người nghe hay cách nhìn của người nói đối với cái được nói đến trong câu

- Đề văn bản, chỉ ra mối quan hệ nghĩa - logic của câu với lời trước đó hay với tình huống

2) Cái đã biết - cái mới

Câu với tư cách lời trao đổi có thể chứa phần nội dung “cho sẵn” (cái đã biết) và phần nội dung “mới” (cái mới) Hai bộ phận này tạo nên cấu trúc thông

tin của câu

Phần “cho sẵn” (cái đã biết) được hiểu là phần nội dung đã được biết,

hoặc ít ra là cũng dễ nhận biết trong tình huống cụ thể đó Hay nói rõ hơn, phần tin cũ của câu là phần tin ở thời điểm trước khi nói ra câu đó, người nói và người nghe đều đã biết, hoặc dễ dàng liên tưởng, suy ra từ những tin đã biết Do đó,

Trang 33

“cái đã biết” không phải là trọng tâm thông tin, không có giá trị thông tin, và dễ dàng được lược đi khi cần thiết “Cái đã biết” thường được biểu hiện bằng đại từ

thay thế, bằng các từ ngữ lặp lại hay có quan hệ liên tưởng rõ ràng với các từ ngữ

ở những câu đi trước, hoặc bằng các cụm từ kết thúc bằng chỉ từ…

Phần mang tin mới (cái mới) là phần nội dung chưa xuất hiện trước đó Đây là phần tin mà ở thời điểm nói hay viết ra một câu, được đưa vào lần đầu

tiên trong cuộc giao tiếp “Cái mới” luôn có giá trị thông tin Chúng thường

được đánh dấu bằng ngữ điệu (sự nhấn giọng khi nói) hoặc bằng các hư từ (chính, đích, cả, ngay, đến, những…), đôi khi, được đánh dấu bằng cả hai phương tiện đó

“Cái đã biết” và “cái mới” trong cấu trúc thông tin không có vị trí ổn định trong câu Thông thường, “cái đã biết” nằm ở phần đề, “cái mới” nằm ở

phần thuyết Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng vậy Có nhiều trường hợp

“cái đã biết” nằm ở phần thuyết, và “cái mới” nằm ở phần đề Mặt khác, có khi trong câu chỉ toàn “cái đã biết”, cũng có khi câu không có “cái đã biết” mà chỉ có “cái mới”

Cấu trúc thông tin của câu phụ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp, hoàn cảnh sử dụng câu, vị trí của câu và quan hệ của câu đó với các câu khác, nhất là những câu đi trước Chỉ khi đặt câu trong hoàn cảnh sử dụng cụ thể mới

có thể xác định được “cái đã biết” và “cái mới” trong cấu trúc Cùng một thành

phần từ ngữ, cùng một cấu trúc cú pháp, cùng một cấu trúc nghĩa biểu hiện, nhưng khi được sử dụng trong những tình huống khác nhau, hoàn cảnh giao

tiếp khác nhau, câu lại có cấu trúc thông tin khác nhau, và có sự phân bố “cái

đã biết” và “cái mới” khác nhau

3) Tiêu điểm thông báo

Tiêu điểm thông báo (hay còn gọi là điểm nhấn) là nơi tập trung chú ý của người tạo lời, là trọng tâm thông báo, phần mang thông tin quan trọng nhất,

Trang 34

nhằm giúp người nghe hiểu được đúng ý định truyền báo của người nói Theo

V.S.Panfilov, hạt nhân của thông báo (hay tiêu điểm giao tiếp) là “thành phần

chịu một dung lượng giao tiếp nhiều nhất” [29, Tr.416] được phân xuất ra từ

thành phần của phần thuyết

Thông thường, tiêu điểm thông báo mang thông tin mới, nhưng không

phải khi nào cũng vậy Theo Nguyễn Hồng Cổn, “nếu nói rằng tiêu điểm thông

báo của câu mang thông tin mới thì điều đó không có nghĩa là nó chỉ biểu hiện cái mới người nghe chưa biết mà cả cái mới người nói chưa biết nhưng người nghe đã biết” [10, Tr.4] Ông khẳng định, trọng tâm thông báo của câu thường

là thông tin mới khi xem xét các câu hỏi có dùng đại từ nghi vấn cũng như các câu trả lời tương ứng của chúng Tuy nhiên, cũng có những câu phần mang thông tin quan trọng nhất và là trọng tâm thông báo của câu không phải là mới đối với người nghe hay người nói Ví dụ:

a Này, cậu uống chè hay cà phê?

b Cho mình ly cà phê

Từ “cà phê” ở (b) là phần trọng tâm thông báo, mang thông tin quan

trọng nhất của câu trả lời, nhưng nó không mới vì nó đã xuất hiện trong ngữ cảnh (a), và đã có sẵn trong ý thức của người nghe trước thời điểm nói

Trong câu có thể chỉ có “cái đã biết” hoặc chỉ có “cái mới”, đó là những

biến thể trong cấu trúc thông tin của câu Ngược lại, tiêu điểm thông báo không khi nào vắng mặt, chúng luôn có mặt với tư cách là phần mang thông tin quan trọng nhất của câu

1.2 Khái niệm biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần câu 1.2.1 Khái niệm biệt lập cú pháp

Khi miêu tả về cú pháp tiếng Nga, E.M.Galkina - Pheđoruk đã định

nghĩa: Biệt lập là sự tách biệt của các thành phần thứ yếu của câu về ngữ

nghĩa và ngữ điệu với mục đích đem lại cho chúng tính độc lập nhất định [55]

Trang 35

Sự biệt lập của các thành phần phụ của câu (các diễn tố) cũng được L.Tesnière đề cập và luận giải Theo tác giả này, các từ giữ vai trò diễn tố trong nút động từ có thể được lặp lại Khi có trường hợp lặp lại diễn tố thì một trong hai diễn tố sẽ bị biệt lập về hình thức, tức là tách biệt khỏi nút động từ bởi ngữ điệu mà trên văn tự được ghi bằng dấu phẩy Diễn tố bị biệt lập về hình thức

được L.Tesnière gọi là “diễn tố biệt lập” [L.Tesnière, Những cơ sở của cú pháp

cấu trúc, bản tiếng Nga, Tr187 – 188]

Nguyễn Văn Lộc khi bàn về vấn đề khởi ngữ cũng đã đưa ra quan điểm

về khái niệm biệt lập cú pháp Tác giả khẳng định: Về bản chất, tính biệt lập về

hình thức hoặc cả về hình thức lẫn ý nghĩa của câu thường là kết quả sự hiện thực hóa mô hình cấu trúc của câu (bằng sự làm đầy các vị trí mở bên vị từ và danh từ) vốn chịu tác động của nhiều nhân tố thuộc lời nói (mục đích, hoàn cảnh, hình thức giao tiếp…) và thường làm cho cấu trúc của câu luôn luôn biến hóa [23, Tr.53-54] Tuy nhiên tác giả cũng chỉ rõ, cấu trúc thực tế của câu dù

biến hóa đến đâu cũng vẫn chịu sự chi phối của ý nghĩa và thuộc tính kết trị của

từ (tức là vẫn nằm trong giới hạn của quy tắc kết hợp từ) “Sự gián đoạn (biệt

lập) về hình thức hoặc cả về hình thức lẫn ý nghĩa giữa các từ hoàn toàn có thể giải thích và trong nhiều trường hợp có thể khắc phục dựa vào kết trị của

từ và dựa vào chính các thủ pháp tạo ra sự gián đoạn này” [23, Tr.54] Những

thủ pháp mà tác giả nói đến ở đây là những thủ pháp rất phổ biến trong lời nói (nhất là trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên) như phép lặp, phép đảo trật tự, phép tỉnh lược mà kết quả là tạo ra những biến thể khác nhau của câu và thành phần câu (phần nhiều mang dấu ấn của phong cách khẩu ngữ) Tính biệt lập của các thành phần câu được thể hiện ở chỗ giữa nó và động từ luôn có một quãng nghỉ hơi mà trên văn tự thường được ghi bằng dấu phẩy

Như vậy, có thể hiểu biệt lập cú pháp của các thành phần câu là khái niệm để chỉ sự tách biệt (về hình thức hoặc cả về hình thức lẫn ý nghĩa) của các thành phần câu xét trong mối quan hệ kết trị với từ hữu quan và được tạo ra bởi những thủ pháp nhất định

Trang 36

1.2.2 Khái niệm biến thể và biến thể biệt lập của các thành phần câu

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [53], biến thể là “sự thể

hiện cụ thể ở các vị trí khác nhau trong chuỗi lời nói nhưng về bản chất cùng thuộc về một đơn vị ngôn ngữ (bất biến thể)” [53, Tr.23] Cũng theo tài liệu

này, khái niệm biến thể của một đơn vị ngôn ngữ “chỉ được áp dụng cho mặt

hình thức của đơn vị đó” [53, Tr.23] Trong khi các nghĩa của một đơn vị ngôn

ngữ loại trừ nhau trong một chu cảnh ngữ nghĩa, thì “các biến thể có khả năng

là những cách nhận định khác nhau của người nói về một sự tình dựa trên những khác biệt về cách thức tổ chức câu Nói cách khác, biến thể cú pháp được dùng để chỉ các biến thể đồng nghĩa của một kết cấu cú pháp nhất định nhưng khác nhau về các đặc điểm cú pháp bề mặt và sắc thái dụng học Tuy nhiên, trong một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, một biến thể cú pháp bao giờ cũng có sự chuyển nghĩa nhất định so với dạng thức ban đầu của nó, mức

độ đơn giản nhất của sự chuyển nghĩa đó là sự chuyển đổi tiêu điểm thông tin

(chẳng hạn, thay đổi “đề”), nhưng không thay đổi nghĩa biểu hiện

Căn cứ vào những khái niệm về biến thể và biến thể cú pháp nêu trên, có thể hiểu biến thể biệt lập cú pháp của các thành phần câu là những dạng tồn tại khác nhau được tạo ra bởi những thủ pháp khác nhau của các thành phần cú

Trang 37

pháp Các biến thể biệt lập này vẫn tham gia vào việc biểu hiện nghĩa miêu tả của câu và vẫn nằm trong giới hạn của quy tắc kết hợp từ

Có thể thấy rằng, các thành phần cú pháp của câu, bằng một số thủ pháp nhất định, đều có khả năng trở thành yếu tố biệt lập Việc áp dụng những thủ pháp khác nhau sẽ tạo nên những biến thể biệt lập khác nhau Tuy nhiên, về bản chất, những biến thể này vẫn mang vai trò cú pháp nhất định và luôn chịu

sự chi phối của ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ

1.2.3 Các nhân tố chi phối sự biệt lập cú pháp

Khi nói năng, chúng ta phải quan tâm đến hàng loạt các vấn đề liên quan

đến phát ngôn như: Nói cho ai? Tình huống nói như thế nào? Nói để làm gì?

Nói cái gì? Nói như thế nào để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất? Tất cả những

vấn đề đó đã chi phối việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp Có nhiều nhân tố chi phối sự biệt lập cú pháp của các thành phần câu, nhưng có thể khái quát lại thành các nhân tố chính sau:

- Mục đích giao tiếp: Mọi hành vi lời nói đều nhằm hướng tới một mục

đích thực tiễn nhất định Để thực hiện được điều đó, mọi hành vi lời nói đều phải lựa chọn một hình thức diễn đạt thích hợp Cùng một nội dung nhưng nếu xuất phát từ những mục đích giao tiếp khác nhau (thông báo, khẳng định, nhấn mạnh, bày tỏ thái độ…) sẽ dẫn đến cách dùng từ, đặt câu và phương thức diễn đạt khác nhau

- Hình thức giao tiếp cũng chi phối khả năng biệt lập của các thành phần

câu Hình thức giao tiếp bao gồm hình thức đối thoại và độc thoại Trong hai

hình thức này, hình thức đối thoại (nhất là trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên) với đặc điểm riêng của mình, cho phép những người tham gia giao tiếp có thể

sử dụng nhiều thủ pháp khác nhau trong lời nói, từ đó tạo ra những biến thể biệt lập của các thành phần câu

- Hoàn cảnh, tình huống nói năng: Đây là những nhân tố ngoài ngôn

ngữ, bao gồm các yếu tố cụ thể như đặc điểm cá nhân và xã hội, tâm sinh lí của người nói, mối quan hệ giữa người nói với người nghe… Đôi khi, chính nhờ

Trang 38

vào hoàn cảnh, tình huống nói năng mà không ít những câu thường được gọi là câu không đầy đủ mới có thể tồn tại và thực hiện chức năng của mình

- Cấu trúc thông tin của câu: Tiêu điểm thông tin nói riêng và cấu trúc

thông tin nói chung có tầm quan trọng đặc biệt đối với hình thức cú pháp bề mặt của câu Việc tiêu điểm thông tin rơi vào thành tố nào hay được biểu hiện bằng phương tiện gì sẽ quy định tính khác biệt về cấu trúc thông tin của câu,

và qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức cú pháp của câu, tạo ra những biến thể cú pháp nhất định Chẳng hạn, nếu sự phân đoạn về cấu trúc thông tin làm thay đổi trật tự các thành tố cú pháp của câu, thì khi đó sẽ tạo nên những biến thể cú pháp

- Nhân tố phong cách chức năng: Phong cách chức năng là một trong

những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện của những biến thể biệt lập của các thành phần câu Mỗi một phong cách chức năng đều có sự quy định rõ rệt đối với từng câu nói, biểu hiện đặc trưng riêng trong phong cách Với những đặc trưng của mình, phong cách khẩu ngữ tự nhiên cho phép xuất hiện tới mức tối đa những biến thể biệt lập của các thành phần câu, tùy theo mục đích, thói quen… của người nói, người viết

1.2.4 Các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần câu

Sự biệt lập về hình thức (hoặc cả về hình thức lẫn ý nghĩa) giữa các từ được tạo ra nhờ các thủ pháp rất phổ biến trong lời nói như phép đảo trật tự từ, phép lặp, phép tỉnh lược Những thủ pháp này đã tạo ra nhiều biến thể biệt lập khác nhau cho từng thành phần cú pháp Có những kiểu biến thể biệt lập chính sau:

1) Biến thể biệt lập được tạo ra nhờ phép đảo Ví dụ: Dưới bốn chiếc

lọng xanh chóp bạc, lù lù tiến vào một ông cụ già (Ngô Tất Tố); Làng tôi, địch chiếm rồi (Nam Cao); Những con dơi núi, cánh to bằng cái quạt (Đào Vũ)

2) Biến thể biệt lập được tạo ra nhờ phép lặp Ví dụ: Đàn bà họ có

những cách tảng lờ hay lắm (Nam Cao); Tao thì tao chỉ sợ nước thôi (Đào Vũ)

Trang 39

3) Biến thể biệt lập được tạo ra bởi phép đảo kết hợp với phép lặp Ví

dụ: Gã nhân tình vô liêm sỉ ấy, Từ đã yêu hắn bằng cả tấm lòng yêu lúc ban đầu (Nam Cao); Cái cây đeng ấy, ông quý nó lắm (Đào Vũ)

4) Biến thể biệt lập được tạo ra bởi phép đảo kết hợp với phép tỉnh lược

Ví dụ: Cây này phải hai người mới được; Trăng lên thì tôi đi (So với: Vào lúc

trăng lên thì tôi đi)

1.3 Tiểu kết chương 1

Chương 1 trình bày hai vấn đề chính: một số vấn đề chung về câu và khái niệm biệt lập cú pháp, các kiểu biến thể biệt lập cú pháp của các thành phần câu

Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ, chiếm vị trí cao nhất trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp (theo quan niệm truyền thống) Câu là một đơn vị trừu tượng, chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thể trong lời nói Các biến thể này được gọi là phát ngôn

Trong ngôn ngữ học, câu được nghiên cứu trên ba bình diện: bình diện kết học, bình diện nghĩa học và bình diện dụng học Ở bình diện kết học, câu là đơn vị ngữ pháp được xem xét ở hai mặt: nội dung và hình thức Quan hệ giữa các thực từ trong câu được gọi là quan hệ cú pháp Theo mức độ khái quát cao nhất, quan hệ cú pháp được phân thành hai loại: quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập Trong hệ thống thành phần cú pháp của câu, theo cách hiểu mới, vị ngữ được coi là thành phần chính duy nhất, là đỉnh cú pháp của câu

Ở bình diện nghĩa học, câu được nghiên cứu theo nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa sâu) Nghĩa biểu hiện của câu là phần diễn đạt sự thể được phản ánh trong câu, gồm hai thành tố: thành tố nêu đặc trưng/quan hệ và tham thể

Ở bình diện giao tiếp (dụng học), câu được nghiên cứu trong mối quan

hệ với người sử dụng, với những tình huống giao tiếp cụ thể Nội dung của việc phân tích câu theo bình diện giao tiếp là xác định cấu trúc thông báo, cấu trúc thông tin và cấu trúc thức của câu

Trang 40

Biệt lập cú pháp của các thành phần phụ trong câu là sự tách biệt của các thành phần thứ yếu của câu về hình thức hoặc cả về hình thức lẫn ý nghĩa, với mục đích đem lại cho chúng tính độc lập nhất định Tính biệt lập của các thành phần phụ trong câu, về bản chất, là kết quả của sự hiện thực hóa mô hình cấu trúc của câu với sự chi phối của các nhân tố khác nhau Khi biểu hiện một sự tình, do ảnh hưởng của nhiều nhân tố, người nói có thể sử dụng các thủ pháp khác nhau trong lời nói Xuất phát từ đó, nhiều biến thể biệt lập của các thành phần phụ trong câu đã được tạo ra, như: chủ ngữ biệt lập (do đảo, lặp), bổ ngữ biệt lập (do đảo, lặp, tỉnh lược), trạng ngữ biệt lập (do đảo, tỉnh lược), định ngữ biệt lập (do đảo, lặp)

Ngày đăng: 22/09/2016, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1999), Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
2. Diệp Quang Ban (Chủ biên) - Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt (Giáo trình đào tạo GV THCS hệ CĐSP), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Giáo trình đào tạo GV THCS hệ CĐSP)
Tác giả: Diệp Quang Ban (Chủ biên) - Hoàng Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
4. Diệp Quang Ban (2011), Ngữ pháp Việt Nam (Phần Câu), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam (Phần Câu)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
5. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, H. 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ
6. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 1998
7. Đỗ Hữu Châu (Chủ biên) – Bùi Minh Toán (2006), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (Chủ biên) – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Hồng Cổn, Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt
11. Nguyễn Hồng Cổn, Cấu trúc thông tin và biến thể cú pháp của câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thông tin và biến thể cú pháp của câu tiếng Việt
12. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2001
13. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
14. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết (2007), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1991
16. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Cao Xuân Hạo (2005), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
18. Nguyễn Văn Hiệp (2012), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Thu Hoài (2013), Các diễn tố được biểu hiện bằng vị từ và cụm chủ vị trong tiếng Việt hiện đại, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các diễn tố được biểu hiện bằng vị từ và cụm chủ vị trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hoài
Năm: 2013
20. Nguyễn Văn Lộc (1995), Kết trị của động từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết trị của động từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vị  +  +  -  - - Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng việt
Hình v ị + + - - (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w