Chuyên ngành: Khoa học sức khoẻ Y học Sơ lược: Lời nói đầu Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Cơ sở thực tiễn và thí nghiệm Chương 3: Ứng dụng kiểm tra cơ sinh tuần hoàn vào y học thể thao Chương 4: Đưa ra một số bệnh lý về tuần hoàn trong quá trình hoạt động thể thao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
BỘ MÔN LÝ SINH KIỂM TRA CƠ – SINH HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
“ỨNG DỤNG KIỂM TRA CƠ SINH TUẦN HOÀN VÀO
Y HỌC THỂ THAO”
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
LỚP: Y HỌC DỰ PHÒNG (2010-2016)
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3 CÁC THÀNH VIÊN NHÓM THỰC HIỆN 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1 Đo lường trong sinh cơ học 9
2 Thang đo lường và đơn vị đo lường 9
1 Các test trong kiểm tra chức năng tim – mạch 27
2 Ảnh hưởng thể dục thể thao đối vơi hệ tim – mạch 33
3 Tự kiểm tra Y học 34
4 Thực tập kiểm tra và theo dõi sức khỏe 35
thông qua giá trị tần số mạch và giá trị huyết áp
Chương 4: ĐƯA RA MỘT SỐ BỆNH LÝ VỀ TUẦN HOÀN 40
TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG THỂ THAO
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Vật lý sinh học được gọi tắt là lý sinh ( biophysics) là môn học nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trong các tổ chức và cơ thể sống dựa trên quan điểm và các định luật vật lý, từ mức độ điện tử, nguyên tử đến toàn cơ thể hay một hệ có nhiều cơ thể sống
Vì vậy, môn lý sinh y học từng nhiều năm nay được đưa vào giảng dạy các tại trường đại học y cho sinh viên Nội dung và kỹ thuật lý sinh rất rộng, dựa theo những kinh nghiệm thực tế và nhu cầu của việt chăm sóc nhằm nâng cao sức khỏe của nhân dân, việc phòng chữa bệnh và nghiên cứu y học
Trong một số lĩnh vực nghiên cứu như sự biến đổi năng lượng vận chuyển các chất trong cơ thể sống, các hiện tượng điện hóa sinh lý trong
cơ thể,… thì kiểm tra cơ sinh học là một trong những nội dung mang tính thực tế cao, có nhiều ứng dụng trong đời sống hiện nay, đặc biệt là trong Thể dục – Thể Thao Để đáp ứng với mục đích trên, qua quá trình nghiên cứu thực hành kiểm tra cơ sinh học cùng với một số tài liệu của bộ môn Vật Lý – Lý Sinh của Trường ĐH Y Dược Huế, Chúng tôi cố gắng thực
hiện đề tài: “ỨNG DỤNG KIỂM TRA CƠ SINH TUẦN HOÀN VÀO
Y HỌC THỂ THAO” để làm tài liệu cho sinh viên Y dược, thể dục thể
thao, sinh viên khoa giáo dục thể chất học tập và tham khảo cho các môn
học khác có liên quan
Để hoàn thành đề tài này, Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS LÊ VĂN TRỌNG đã tận tình hướng dẫn lý thuyết và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho chúng tôi thực hành Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn các bạn sinh viên trong lớp YHDP (2010-2016) - Trường
ĐH Y dược Huế , cũng như các anh (chị) sinh viên các trường khác đã giúp đỡ nhiệt tình cho chúng tôi hoàn thành bảng số liệu thí nghiệm
Mặc dù cố gắng hết sức, nhưng đề tài Kiểm tra Cơ – Sinh học thực sự khá mới trong bộ môn Vật lý - Lý Sinh và rất ít tài liệu viết về đề tài này, cũng như dụng cụ thí nghiệm đơn giản, do đó trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi sai sót, chúng tôi rất mong các bạn sinh viên Y Dược nói riêng và tất cả các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để đề tài ngày được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn
Huế, ngày 30 tháng 4 năm 2011
NHÓM “KIỂM TRA CƠ SINH HỌC” – LỚP YHDP (2010-2016)
Trang 4
CÁC THÀNH VIÊN NHÓM TH ỰC HIỆN
Mai Vũ Kha
Thành viên với khuôn mặt điển trai này
là người đã nghiên cứu sườn bài cho
toàn bộ quyển tài liệu, bao gồm mục lục,
Trần Thị Ngân
Sở hữu gương mặt dễ nhìn, không lạ gì
khi Ngân được giao nhiệm vụ tổ trưởng
của tổ thực hiện công tác PR – thuyết
phục bạn bè và những vận động viên
nghiệp dư hợp tác với nhóm để thực
hiện các thí nghiệm về chạy bền
Trang 5Lê Ngọc Cát Minh
Nhà riêng của thành viên này là nơi nhóm
tập trung thảo luận và làm việc Cát Minh
là người chuẩn bị dụng cụ cho các quá trình thực
nghiệm Thêm vào đó Cát minh còn tham gia vào
quá trình chạy, mời các vận động viên, đếm số
bước chânvận động viên và đánh máy
chương I: “Cơ sở lý thuyết”
Nguyễn Sỹ
Là người già dặn nhất trong nhóm, anh Sỹ đã nghĩ ra chủ đề nghiên cứu hoạt động chạy bền
Sỹ trực tiếp tham gia vào quá trình chạy và là người đếm số bước chân của các vận động viên Anh còn tổng hợp và vẽ bảng số liệu cơ bản Thêm vào
đó Sỹ còn phụ trách nghiên cứu phần 5,6 trong chương IV:
“Cơ sở thực tiễn”
Nguyễn Hoàng Minh
Là thành viên năng động, Minh phụ trách
nhiều mảng công việc như đo nhịp tim của
các vận động viên, làm thư kí ghi chép lịch
làm việc của nhóm, mời các vận động viên
tham gia thực nghiệm Ngoài ra Minh còn
trực tiếp tham gia chạy bền và đánh máy
chương I: “Cơ sở lí thuyết”
Trang 6Phan Thị Hồng Nhung (92)
Không chỉ tham gia vào quá trình kiểm
tra thực nghiệm với nhiệm vụ bấm đồng
hồ tính thời gian chạy của các vận động
viên, mời họ hợp tác tham gia chạy bền
mà Nhung còn trực tiếp tham gia chạy
Phần 5,6 trong chương IV cũng do
Nhung đảm nhiệm cùng với anh Sỹ
Trần Lê Huy
Là một cán bộ đoàn năng động, Huy đã thổi lửa vào cho các bạn … Một mình Huy đã tìm tòi và tổng hợp các ứng dụng của phương pháp kiểm tra cơ – sinh tuần hoàn trong y học thể thao (chương III, IV) Ngoài ra Huy còn là người xử lí bảng
số liệu excel, chỉnh sửa và biên tập tài liệu, tham gia thực nghiệm chạy bền và mời
các vận động viên
Trang 7Nguyễn Đức Nhật Quang
Thành viên tích cực, là người chịu khó tìm tòi thông tin, tài liệu và hình ảnh minh họa Chàng thủ quỹ đầy trách nhiệm này tham gia vào khá nhiều các hoạt động của nhóm như: mời các vận động viên, tham gia trực tiếp vào chạy bền, bấm đồng hồ tính thời
gian, cùng với Huy xử lí số
liệu bảng thống kê excel, đánh máy chương I: “Cơ sở lýthuyết” với nhiệm vụ gõ các
công thức khó…
Lê Quang Nhật
Là trưởng nhóm, Nhật không chỉ
là người vẽ ra kế hoạch hoạt
động và phân công công việc
cho các thành viên mà còn trực
tiếp tham gia vào nhiều hoạt
động của nhóm như mời các vận
động viên, tham gia thực nghiệm
chạy bền, chụp ảnh, quay phim,
xử lí hình ảnh, biên tập video,
thiết kế trang bìa cho quyển tài
liệu
Trang 8TÀI LIỆU THỰC TẬP LÝ SINH
KIỂM TRA CƠ – SINH HỌC
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG CHẠY BỀN
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN:
PGS.TS Lê Văn Trọng
NHÓM THỰC HIỆN:
Lê Quang Nhật Nguyễn Đức Nhật Quang Nguyễn Hoàng Minh
Võ Văn Phương Trần Lê Huy Nguyễn Sỹ Mai Vũ Kha Trần Thị Ngân
Lê Ngọc Cát Minh Phan Thị Hồng Nhung
Trang 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Đo lường trong sinh cơ học
Con người trở thành đối tượng đo lường ngay từ tuổi sơ sinh Đứa trẻ mới sinh ra được đo chiều dài,cân nặng,nhiệt độ cơ thể,thời gian ngủ,vv… Sau đó trong tuổi học trò còn bổ sung thêm các thử nghiệm đánh giá tri thức và kĩ năng Con người càng trưởng thành, phạm vi quan tâm của họ càng nhiều và càng đa dạng và việc đo lường một cách chính xác càng khó khăn…Vì vậy cần sử dụng những thiết bị đo lường có độ chính xác cao,sai số thấp
2 Thang đo lường và đơn vị đo lường
Trình tự các đại lượng cho phép xác định sự tương ứng giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với các con số được gọi là thang đo lường Trong kiểm tra cơ thường sử dụng nhiều nhất là thang danh mục, thang tương quan và thang cấp bậc
Thang danh mục – là thang đo lường đơn giản nhất Trong thang này các con số, chữ cái, các từ hoạt các quy ước khác thực hiện vai trò của nhãn hiệu và phục vụ cho việt phát triển và phân biệt các đối tượng nghiên cứu
Ví dụ: Khi kiểm tra chiến thuật của một đội bóng đá, các số áo trên sân giúp nhận ra từng cầu thủ
Các con số hay chữ cái tạo nên thang danh mục được phép thay đổi vị trí
mà không làm thay đổi sự chính xác của ý nghĩa
Thang cấp bậc xuất hiện khi các số liệu khi ác số liệu tạo nên thang được sắp xếp trật tự theo các cấp bậc, nhưng khoảng cách giữa các cấp bậc, nhưng khoảng cách giữa các cấp bậc không thể đo được chính xác
Nhờ thang câp bậc mà người ta đo được một các chỉ số “ chất lượng” không có đơn vị sô lượng rõ rệt như tri thức, khả năng, tài nghệ, vẻ đẹp,
vị đo lường cơ bản trong hệ thống đo lường Các đơn vị đo lường cơ bản trong hệ thống và đo lường quốc tế là: mét, kilogam, giây, vv… Từ các đơn vị cơ bản nay ta có được các đơn vị đo lường khác Đặc điêm của thang tương quan là trong đó có điểm 0
Theo thang tương quan ta đo được kích thước, khối lượng cơ thể và các thành phần của nó, vị trí cơ thể trong không gian, tốc độ và gia tốc, sức mạnh, thời gian và rất nhiều đặc tính sinh cơ khác Các ví dự điểm hình
Trang 10Thang tương quan chính xác hơn thang cấp bậc Nó không chỉ cho phép nhận biết một đối tượng khác( về thử pháp kỹ thuật, về phương án chiến thuật…), mà còn trả lời được câu hỏi: tốt hơn bao nhiêu và bao nhiêu lần tốt hơn Vì vậy trong sinh cơ học người ta cố gắn sử dụng chính thang đo lường tương quan này và với mục đính đó đã ghi được các đặc tính sinh
cơ học
3 Các đặc tính sinh cơ
Đặc tính sinh cơ là các chỉ số được sử dụng để mô tả về mặt số lượng và
để phân tích hoạt động vận động Tất cả các đặc tính sinh cơ được chia thành đặc tính động hình học, đặc tính độc lực học và đặc tính năng lực học Chúng có những chức năng khác nhau: đặc tính động hình học mô tả hình học bên ngoài của hoạt động vận động, đặc tính độc lực học chứa đựng thông tin về nguyên nhân làm thay đổi vận động, còn đặc tính năng lượng cho ta khái niệm về hiệu suất cơ học và tính tiết kiệm
Đặc tính sinh cơ mô tả các chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay Chuyền động tịnh tiến là chuyển động mà trong đó tất cả các điểm của cơ thể đều chuyển dịch theo các điểm chuyển động của cơ thể được chuyển dịch theo các quỹ đạo tròn, tâm của chúng nằm trên trục quay
Nhưng trong phần lớn cử động của con người thì các thành phần chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay đều xảy ra đông thời, các chuyển động như vậy được gọi là chuyển động phức hợp Hơn nữa hệ vận động của con người được cấu tạo để cho mọi cử động( trong đó có chuyển động tịnh tiến) được tạo thành từ sự kết hợp các chuyển động xoay tại các khớp
Vị trí của bất kỳ một điểm nào của cơ thể hay vị trí của dụng cụ thể thao được xác định bởi các tọa độ của hệ tọa độ này hay hệ tạo độ khác Hệ tọa
độ vuông góc được sử dụng rộng rãi hơn cả, trong đó vị trí của một điểm vật thể trong không gian được mô tả bằng các tọa độ của nó trên ba trục vuông góc với nhau
Khi thực hiện hành vi vận động, vị trí của cơ thể hay của dụng cụ sẽ thay đổi Khi đó các điểm vật thể của chúng sẽ chuyển động trong chuyển động trong không gian theo các đường được gọi là quỹ đạo
Mỗi quỹ đạo có một hình dạng bất kỳ và một độ phức tạp nhất định nào
đó Khác với nó là sự chuyển dịch tuyến tính(∆S) là khoảng cách theo đường thẳng giữa vị trí kết thúc và vị trí ban đầu của cơ thể Sự chuyển dịch tuyến tính được đo bằng đơn vị chiều dài( mét)
Chuyển dịch góc(∆ф) là góc quay của cơ thể hay một bộ phận cơ thể riêng lẽ Chuyển dịch góc được đo bằng độ
Tốc độ cho biết tọa độ của cơ thể hay của các điểm của nó thay đổi nhanh như thế nào Tốc độ bằng tỷ số giữa hiệu của tọa độ chuyển dời được trên khoảng thời gian xảy ra sự chuyển dời đó
Trang 11Các đại lượng đo và tính được sự chuyển dời, tốc độ và gia tốc phụ thuộc
vào hệ thống đo lường thường dùng, Thí dụ khi chạy, tốc độ của tay hoặc
của chân so với đường chạy bằng tốc độ của nó so với tâm của cơ thể
người chạy cộng với hoặc trừ đi tốc độ của tâm cơ thể so với đường
chạy.Điều này cần phải được tính đến khi xác định mức tiêu hao năng
lượng cơ học và các chế độ vận động tối ưu nhất về mặt năng lượng
Phân loại các đặc tính sinh cơ và đơn vị đo lường của chúng:
Đối với chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay
Đối với chuyển động tịnh tiến
Đối với chuyển động quay
(kg)
Moment quán tính
Nm(moment quay)
2
/ gy
hiệu suất cơ học %)
Xung lực (Ngy)
Xung lượng moment lực (Nngy) l/ph Tần số nhịp (l/ph)
Đặc tinh sinh cơ
Trang 12Giá trị năng lượng (J/m) và giá trị mạch (l/m)
động tác (kg.m/gy)
Moment động lực
Khi nghiên cứu các chuyển động có chu kỳ cần phải biết được:
1.Tần số(n)- số lượng các động tác trong một đơn vị thời gian
2.Thời gian của một chu kỳ(T)-là khoảng thời gian giữa các pha giống nhau cuả chuyển động có tính chu kỳ
Tần số và thời gian của chu kỳ có lien quan với nhau theo tỉ lệ T =
50
Chúng ta vừa gặp một khái niệm mới và hết sức quan trọng la pha cua động tác Pha là các thành phần thời gian của động tác Ví dụ động tác vụt bóng của vận động viên quần vợt được tạo thành từ 5 pha, thời gian của mỗi pha này được kí hiệu là ∆t1,∆t2,∆t3,∆t4, ∆t5 Mối tương quan về thời gian của các pha được gọi là nhịp điệu động tác Biểu đồ nhịp điệu động tác được gọi la thời kí đồ
Phân tích pha hoạt động vận động là một trong các phương pháp hữu hiệu nhất được ứng dụng trong kiểm tra sinh cơ Việc xác định thời gian của các pha, xác định nhịp điệu và việc lập thời kí đồ cho phép ta “đọc” và
“ghi lại” được các thành phần của hoạt động vận động giống như bằng các nốt nhạc có thể ghi lại và làm sống lại bản nhạc chính nhờ đó mà có thể cung cấp cho ta các tài liệu về kĩ thuật và chiến thuật, làm ta ghi nhớ
và tìm hiểu được những mô hình tốt nhất để giảng dạy với mục đích đã đề
ra
Bây giờ hãy xem xét các đặc tính động lực Khác với đặc tính động hình học, đặc tính động lực học không cho phép đánh giá theo hình ảnh bên ngoài của các động tác bằng mắt Ở đây luôn yêu cầu phải có dụng cụ đo lường Các đặc tính động lực học phải được đo đạc, bởi vì chính các đặc tính này giúp xem xét cơ chế phức tạp của quá trình hình thành động tác
và từ đó sẽ tìm ra phương pháp nắm bắt chúng, hoàn thiện và sửa chữa những sai phạm có thể xảy ra Bởi chính các sai phạm trong động hình học (hình ảnh bên ngoài của động tác) luôn là hậu quả của những nỗ lực
cơ bắp không đúng lúc, không hợp lí (không đủ hoặc quá thừa) và không biết tận dụng các lực bên ngoài
Gia tốc mà cơ thể có được tỉ lệ nghịch với quán tính của cơ thể và tỉ lệ thuận với lực tác động:
FI J
m
2
=
=ε
Trang 13Để xác định được gia tốc của một vật thể trong chuyển động tịnh tiến, ta
chỉ cần biết các đại lượng lực và khối lượng Trong chuyển động quay
vấn đề trở nên phức tạp hơn Trước hết quán tính của vật thể quay được
xác định không phải bằng khối lượng mà bằng moment quán tính Sau
nữa, hiệu quả của lực tác động trong trường hợp này không chỉ phụ thuộc
vào độ lớn mà còn phụ thuộc vào vị trí đặt của lực Cánh tay đòn của lực
tác động càng dài – là khoảng cách ngắn nhất từ trục quay đến đường tác
động của lực, thì moment lực hay moment quay (M) càng lớn và bằng
tích của lực với cánh tay đòn của nó
Bởi vì gia tốc là sự tăng tốc độ trong một đơn vị thời gian ( a =
- Đối với chuyển động tịnh tiến:
m
t F
v= Δ Δ
- Đối với chuyển động quay:
J
t
MΔ
= Δω
Ở đây mở ra một quy luật mà chúng ta biết rõ trong cuộc sống thường
nhật, nhưng lại không phải khi nào cũng được áp dụng trong các buổi tập
thể dục và thể thao Quy luật này là: hiệu quả tác động của lực phụ thuộc
không chỉ vào độ lớn của lực, mà còn phụ thuộc vào thời gian lực tác
động(∆t) Từ vấn đề vừa trình bày trên còn có hai đặc tính sinh cơ cũng
được thừa nhận
- Xung lực F∆t
- Xung lượng của moment lực M ∆t
Trong đó ∆t = tk- tb – là khoảng thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
tác động của lực; F và M – giá trị trung bình của lực và moment quay
Chúng ta chuyển sang xem xét các đặc tính năng lượng Đa số trong
chúng được xác định từ những đặc tính động hình học và động lực học
Đó là, công cơ học là tích của lực với quãng đường chuyển dời:
A = F∆S
Ví dụ, đưa cơ thể lên cao 5m bằng dây thể dục, một cậu bé có khối lượng
cơ thể là 30kg phải thực hiện một công xấp xỉ 1500J:
Nếu việc này kéo dài trong 10gy thì công suất phát huy cua cậu bé là
1500 J : 10gy = 150w Đây là công suất khá lớn (cong suất bóng đèn điện
khoảng 100w)
Như vậy, công suất được tính theo công thức:
Trang 14Fv t
S F
độ bay của bóng la 30m/gy Trong trường hợp này công suất phát huy là 12000w Có thể nói một cách hình tượng rằng, một cú sút như vậy trong một khoảnh khắc có thể thắp sang 120 bóng đèn điện mỗi bóng có công suất 100w
Công cơ học con người thực hiện để tiêu hao cho việc tăng thế năng và động năng của cơ thể, của dụng cụ và các vật khác Thế năng (Et) và
lượng vật thể trên mặt đất, v – tốc độ tuyến tính, ω – tốc độ góc, m – khối lượng, J – moment quán tính
Năng lượng toàn phần của vật thể chuyển động tuân theo nguyên lý Kenic, bằng tổng thế năng và động năng trong các chuyền động tịnh tiến
và chuyển động quay:
2 2
2
2 Jw mv
mgh
E tp = + +
Cho đến lúc này chúng ta vẫn đang nói về công cơ học và công suất Nhưng như chúng ta đã biết, chỉ một phần nhỏ năng lượng tạo ra trong cơ được chuyển thành dạng nhiệt
Cũng như các máy móc kỹ thuật ( tàu hỏa, ôtô) được đặc trưng bởi hiệu suất, tính kinh tế của hệ vận động được tả bởi hàng loạt các chỉ số tương
tự Trong đó có:
% 100
A
Knc
Trong đó Knc – hệ số năng lượng chuyển hoá; E – số năng lượng chuyển
Năng lượng chuyển hóa được tạo ra trong các tế bào của cơ thể con người theo 3 laoij phản ứng: hệ ATP + CP, hệ glucose – phân yếm khí và hệ photphoryl oxy hóa
- Giá trị năng lượng của 1 mét quãng đường hay của một đơn vị công hữu ích; để xác định giá trị năng lượng của một cuộc chạy
Trang 15cần phải phân chia tốc độ tiêu hao năng lượng chuyển hóa cho tốc
độ chạy:
Giá trị năng lượng
) / (
) (
0
gy m v
w E
- Giá trị mạch của một mét quãng đường hay của một đơn vị công hữu ích; ví dụ giá trị mạch của cuộc đi bộ, chạy và các chuyền động có chu kỳ khác được tính theo công thức:
Giá trị mạch (l/ph) =
) / ( 60
) / (
gy m v
ph l
Giá trị mạch đi đơn giản hơn giá trị năng lượng Ngoài ra trong một số trường hợp giá trị mạch có khả năng thông tin lớn hơn giá trị năng lượng ( ví dụ, khi kiểm tra sinh cơ của hoạt động vận động trong điều kiện nóng bức)
Các đặc tính sinh cơ – đó là một trong những vấn đề sơ đẳng của sinh cơ học Thiếu sự hiểu biết thấu đáo về các đặc tính sinh cơ thì không thể tính đến chuyện thành công trong nghiên cứu và ứng dụng sinh cơ học, cũng như không thể đọc sách khi không biết bản chữ cái
Trang 16Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ THÍ NGHIỆM
1 Chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm:
Thước thẳng: Dụng cụ đo là thước nhân học Martin (Anthropomètre de
Martin), thước thẳng, dài 2m, chia chính xác đến từng 1mm Trong
trường hợp không có thước chuyên dùng, có thể khắc phục bằng cách sử dụng bức tường hoặc cột thẳng đứng, dùng thước đánh dấu các mốc kích thước lên tường hoặc đính trực tiếp thước lên đó rồi dùng ê – ke để đo chiều cao
Thước dây: Thước dài từ 1,5m đến 2m, được chia chính xác đến từng
1mm (có khi chia nhỏ 0,5mm) Thước được làm bằng vải son hoặc kim loại Thước bằng vải được dùng để đo các chu vi của cơ thể
Dụng cụ đo huyết áp và nhịp tim, Cân Y Tế
* Kỹ thuật đo các chỉ tiêu hình thái thường dùng
a Chiều cao đứng: Chiều cao đứng có độ di truyền rất cao ( nam 75%,
nữ 92%), phụ thuộc nhiều vào di truyền chủng tộc và gia tộc Chiều cao tăng trưởng nhanh ở tuổi dây thì: Nam từ 12 – 15 tuổi, nữ từ 10 – 13 tuổi Sau 17 tuổi chiều cao chậm phát triển Chiều cao của vận động viên là ưu thế trong thể thao Vì thế, chiều cao là chỉ số rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tài năng thể thao, nên trong tuyển chọn không những phải xác định tiêu chuẩn cho từng lứa tuổi mà còn phải áp dụng các biện pháp dự báo cho được chiều cao tối đa của đối tượng sẽ đạt được
ở tuổi trưởng thành để phù hợp với môn chuyên sâu Khi đo, thước phải vuông góc với mặt sàn, đối tượng đo phải đứng thẳng, duỗi hết các khớp sao cho hai gót chân, hai mông, hai vai và ụ chẩm nằm trên một mặt phẳng, chạm vào tường (4 chạm), mắt nhìn thẳng phía trước Điểm đo từ mặt phẳng của sàn đến điểm cao nhất của đỉnh đầu của người được kiểm tra
b Cân nặng: Dùng cân kiểm tra sức khoẻ, cân chính xác đến 0,1kg Khi
dùng cân bàn, cần cho đối tượng ngồi trên ghế đặt trước bàn cân, sau đ1 đặt 2 bàn chân lên bàn cân rồi mới đứng hẳn lên Cân nặng của cơ thể là tổng trọng lượng của các thành phần vật chất cấu tạo nên nó Các nhà khoa học TDTT ngoài việc quan tâm đến cân nặng còn phải quan tâm đến
tỷ trọng lượng của tổ chức tích cực của cơ thể Tổ chức tích cực là tổ chức tham gia trong quá trình trao đổi chất và năng lượng vào các hoạt động thể lực Đó chính là phần trọng lượng của cơ thể không gồm trọng lượng mỡ của cơ thể So với cân nặng, trọng lượng tổ chức tích cực có tương quan chặt với thành tích thể thao hơn Để xác định trọng lượng tổ
Trang 17chức tích cực người ta đã xây dựng nhiều phương pháp, nhưng phương pháp thông dụng nhất là xác định trọng lượng mỡ của cơ thể sau đó lấy cân nặng của cơ thể trừ đi trọng lượng đó Cân nặng của cơ thể còn là một
số đo được dùng để kết hợp với nhiều số đo khác để tính ra nhiều chỉ số hình thái có ý nghĩa
c Chiều cao ngồi: Là khoảng cách đo từ mặt ghế ngồi tới đỉnh đầu Thân
trên của người đo phải ngay ngắn trên một ghế phẳng, lưng thẳng, hai vai mông và ụ chẩm nằm trên một mặt phẳng Từ số đo này , đánh giá được đối tượng có thân trên dài hay ngắn so với thân dưới Thông thường trong các môn thể thao, không tuyển chọn những người có thân trên dài hơn thân dưới
d Chiều dài sải tay: Là khoảng cách giữa 2 đầu ngón tay giữa ( ngón thứ
3) khi hai tay giang ngang và duỗi hết các khớp Để đo chiều dài sải tay, tay người bị đo đứng 1 vai hướng vào tường, 2 tay giang ngang và song song với mặt đất, 1 đầu ngón tay thứ 3 chạm tường, ta chấm điểm 0 của thước vào tường và cho nhánh ngang của thước trượt đến đầu ngón tay thứ 3 của tay kia Hoặc có thể sử dụng phương pháp khác là dùng một bàn học dài, lấy một đầu bàn làm điểm 0 và đánh dấu tiếp các độ dài ở cạnh bàn (theo chiều dài của bàn) Yêu cầu người bị đo phải giang tay và
áp sát ngực xuống bàn, 1 đầu ngón tay thứ 3 đặt ở điểm 0, độ dài sải tay chính là kích thước đọc được tại điểm chạm bàn của đầu ngón tay thứ 3
e Chiều dài tay: Là chiều dài từ mỏm cùng vai đến đầu ngón tay thứ 3
khi tay duỗi thẳng dọc theo thân người Khi đo, yêu cầu đối tượng đứng
tư thế ngay ngắn, tay duỗi thẳng, đặt điểm 0 của thước ở ngay đầu ngón tay thứ 3 và kéo thước tới điểm mỏm cùng vai
f Chiều dài chân:
- Chiều dài chân H: Là độ cao từ sàn đứng đến mào chậu khi người đứng
thẳng Độ đo này cho biết độ cao của khung xương chậu
- Chiều dài chân A: Là độ cao từ sàn đứng đến gai chậu trước trên khi
người đứng thẳng Độ cao này càng lớn, nâng đùi càng cao, biên độ hoạt động của chân càng rộng
- Chiều dài chân B: Là độ cao từ sàn đứng đến mấu chuyển lớn khi người
đứng thẳng Độ cao này được coi là chiều dài của chân
- Chiều dài chân C: Là độ cao từ sàn đứng đến ngấn mông khi người
đứng thẳng Độ cao này khi so với độ dài chân B cho phép ta biết mông của đối tượng gọn hay xệ Người ta có thể xem xét 4 chiều dài trên để xác định hình dáng của chậu hông Nếu gọi điểm mào chậu là H, điểm gai chậu trước trên là A, điểm mấu chuyển lớn là B và điểm ở ngấn mông là
C thì cần tuyển các đối tượng có là : BH = BA = BC Nếu BH lớn tức là
Trang 18hông có hình lưỡi cày, không thuận lợi trong vận động do việc nâng đùi rất khó khăn
2 Phương pháp kiểm tra chức năng tim – mạch:
Hệ tim mạch bao gồm tim và các hệ thống mạch máu trong cơ thể với chức năng vận chuyển máu, trao đổi chất và các dưỡng khí trong tế bào Khi tác động một lượng vận động đối với cơ thể con người, hệ tim mạch
có những biến đổi nhằm đáp ứng nhu cầu máu và oxy trong quá trình hoạt động Những ảnh hưởng này bao gồm ảnh hưởng lâu dài đến hệ tim mạch trong trạng thái yên tĩnh và ảnh hưởng tức thời trong hoạt động cơ Những biến đổi thích nghi của hệ tim mạch xảy theo hai chiều hướng đó
là biến đổi về cấu trúc và biến đổi về chức năng Hệ thống động mạch
tăng sự đàn hồi và độ cứng, các mao mạch dày lên làm tăng quá trình trao chất giữa máu và tế bào Các cơ của hệ thống tĩnh mạch được phát triển,
độ dài tĩnh mạch ngắn lại, các van tĩnh mạch phát triển về cấu trúc và chức năng làm cho tốc độ hồi máu diễn ra nhanh hơn Những ảnh hưởng tức thời của việc tập luyện vừa là hệ quả của những ảnh hưởng lâu dài, vừa là động lực thúc đẩy để tạo nên những biến đổi lâu dài của hệ tim mạch Vì thế hoạt động thể dục thể thao lâu dài làm thay đổi các chỉ số và tính chất hoạt động của hệ tim mạch
a - Tần số mạch (lần/phút):
Tần số mạch đập cũng thường gọi là nhịp tim, là tần số co bóp theo chu
kỳ, có tính cơ học của tim, được biểu thị bằng số chu kỳ co bóp của tim trong thời gian là một phút
Tần số mạch đập là chỉ số phản ảnh gián tiếp hoạt động của tim Trong y học thể thao dùng nhịp tim để đánh giá chức năng của tim, đánh giá đặc
tính của bài tập thuộc vùng năng lượng nào (ưa khí hay yếm khí) Đánh
giá được lượng vận động của bài tập…
Phương pháp đo tần số mạch đập (nhịp tim) :
Dùng ngón trỏ và ngón giữa bắt mạch tại 1 trong các vị trí sau: Động mạch cổ tay trái (trên nền xương quay); động mạch cổ; vị trí mỏm tim ngực trái đo bằng ống nghe
- Nhịp tim cơ sở (đếm 15 giây x 4) Đo sáng sớm vừa tỉnh dậy, chưa
xuống giường gọi là mạch cơ sở, nó phản ánh mức độ trao đổi chất cơ sở
- Nhịp tim yên tĩnh (đếm 15 giây x4) Nhịp tim đo trước vận động Khi đo
phải để VĐV ngồi yên tĩnh 10 phút trước khi đo Nhịp tim nghỉ trong vận động (đếm 10giây x 6)
- Nhịp tim nghỉ giữa các lần lập lại Đo sau khi kết thúc nghỉ giữa các lần
lập lại hay được gọi là nhịp tim trước lần lập lại tiếp theo (thời gian nghỉ
có
Trang 19thể là 30 giây, 40 giây hoặc 60 giây…tuỳ cự ly, nhằm nâng cao AL và khả năng chịu đựng AL)
- Nhịp tim nghỉ giữa các nội dung bài tập Đo nhịp tim sau khi kết thúc
nghỉ giữa các nội dung bài tập hay được gọi là nhịp tim trước khi thực hiện một nội dung bài tập tiếp theo (thời gian nghỉ khoảng 5 phút, để nhịp tim có thể trở về từ 120 đến 125 lần/phút, nhằm hoàn toàn khôi phục kho
năng lượng “ kho dự trữ glucose” )
- Nhịp tim sau vận động: (đếm 10 giây x 6 ) đo ngay kết thúc LVĐ
- Nhịp tim hồi phục (đếm 10giây x 6) Đo ở đầu phút thứ 2, thứ 3, thứ 4
và thứ 5 … ngay sau LVĐ
b- Huyết áp (mmHg):
Huyết áp là áp lực của máu tuần hoàn trong các động mạch tạo ra áp lực
ép lên bên trong thành mạch Sự biến đổi huyết áp có quan hệ mật thiết với lưu lượng tâm thu, tần số nhịp tim, trở lực ngoại vi, tính đàn hồi của các động mạch lớn, độ nhớt của máu.v v
Huyết áp phụ thuộc vào các yếu tố: Lực bóp cơ tim lượng máu, độ đàn hồi của thành mạch và độ nhớt của máu
+ Huyết áp có hai phần:
Huyết áp tâm thu: Là huyết áp tối đa, có trị số trung bình từ 100
-125mmHg
- Huyết áp tâm trương: Là huyết áp tối thiểu, nó phản ánh tính đàn hồi
của thành các động mạch lớn, có trị số trung bình từ 60 - 80mmHg Huyết
áp tối thiểu phụ thuộc chủ yếu vào trương lực cơ của thành mạch Áp lực mạch là hiệu huyết áp giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu Nó là thông số quan trọng để đánh giá khả năng lưu thông máu trong động mạch Đơn vị đo lường của huyết áp là mili mét thuỷ ngân ( mmHg) Huyết áp người bình thường, khoẻ mạnh là 100 – 130mmHg đối với tối
đa, tối thiểu 65 – 85mmHg Chỉ số huyết áp phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính Trong hoạt động thể thao huyết áp ít thay đổi Chỉ số huyết áp của các vận động viên cũng ở trong giới hạn bình thường
Phương pháp đo huyết áp :
Máy đo huyết áp gồm có một túi
bằng cao su ngoài bọc bằng túi vải
và thông với một đồng hồ áp kế
Quấn túi quanh cánh tay trái và bơm
hơi vào túi bằng một quả bóp cho tới
khi áp suất trong túi hơi cao hơn
Trang 20không khí trong túi ra bằng một van
cho tới khi áp suất trong túi cao su
bằng huyết áp tối đa của động mạch
thì máu qua được trong thời gian tâm
thu và ta nghe được nhịp đầu, nhìn
đồng hồ biết được huyết áp tối đa
Tiếp tục xả không khí, tiếng động
mạnh lên rồi nhỏ đi và mất hẳn Lúc
đó máu có thể qua cả trong thời gian
tâm trương, nhìn đồng hồ biết được
huyết áp tối thiểu
Hình: Bộ dụng cụ đo huyết áp
Phương pháp ứng dụng:
- Huyếp áp cơ sở : Là huyết áp đo vào lúc sáng sớm khi chưa xuống
giừơng, tương ứng với mạch cơ sở Huyết áp cơ sở của các VĐV thường
ổn định ở mức nhất định vào các buổi sáng các ngày
- Huyết áp yên tĩnh: Là huyết áp đo trước khi vận động (chưa có LVĐ),
VĐV ngồi nghỉ ngơi 10 phút trước khi đo
- Huyết áp sau vận động: Huyết áp đo sau bài tập, buổi tập
3 Tiến hành thí nghiệm
(1) Đo quãng đường chạy bằng thước , ở đây chúng tôi chọn quãng đường chạy là 600m (2 vòng quanh sân vận động của Khoa GDTC – Đại Học Huế)
(2) Đo chiều cao, cân nặng của vận động viên Ghi lại chiều cao, cân nặng
(3) Đo huyết áp, nhịp tim, ghi rõ huyết áp cực đại và huyết áp cực tiểu của vận động viên đó, đo số mạch đập trong một phút rồi từ đó rút
ra số mạch đập trong một giây Ghi lại số liệu đã đo trước khi chạy
(4) Vận động viên chạy, dùng đồng hồ bấm giờ đo thời gian của người chạy, đếm số bước chân của vận động viên Ghi lại thời gian chạy,
số bước chân của vận động viên sau khi chạy Dùng camera quay lại tất cả quãng đường chạy của các vận động viên
(5) Sau khi vận động viên thực hiện xong quãng đường chạy, chúng tôi tiến hành đo huyết áp và đo nhịp tim cho vận động viên lại, ghi rõ huyết áp cực đại, huyết áp cực tiểu, đo số mạch đập trong một phút rồi suy ra số mạch đập trong một giây Ghi lại tất cả số liệu sau khi vận động viên đã thực hiện xong bài khảo sát
(6) Thực hiện lần khảo sát tiếp theo
Trang 214 BẢNG SỐ LIỆU
Sau khi thực hiện các bài khảo sát trên, kết hợp với các phương pháp đo
các chỉ tiêu hình thái và theo dõi lại các video clip, thống kê, xử lý số
liệu, chúng tôi xin đưa ra bảng sau:
BẢNG SỐ LIỆU THỰC TẬP LÝ SINH - CHUYÊN ĐỀ: KIỂM TRA CƠ SINH HỌC
4 Trần Viết Của Nam 390 76 101 25 70-130 70-160 167 600 173 51 17.04 3.6 0.12
5 Nguyễn Bá Duệ Nam 500 80 122 42 65-90 70-140 218 600 182 53.5 16.15 2.8 0.25
6 Tào Trung Dũng Nam 428 76 135 59 80-130 80-170 133 600 171 51 17.44 4.5 0.22
7 Trần Lê Quỳnh Đàn Nam 418 80 130 50 70-130 70-135 153 600 168 48 17.11 3.9 0.21
8 Phạm Văn Đông Nam 426 76 110 34 70-115 80-150 144 600 178 56 17.67 4.2 0.14
9 Nguyễn Văn Hải Nam 407 90 115 25 80-120 80-190 155 600 169 49.5 17.33 3.9 0.11
10 Đinh Văn Hiệp Nam 415 75 130 55 65-130 80-150 155 600 174 50 16.51 3.9 0.24
11 Phan Trung Hiếu Nam 376 76 115 39 70-130 80-150 138 600 173 51 17.04 4.3 0.15
12 Mai Xuân Hoàng Nam 408 77 126 49 80-110 70-160 154 600 169 52 18.21 3.9 0.21
13 Nguyễn Thanh Hùng Nam 394 71 135 64 80-140 80-140 158 600 169 53 18.56 3.8 0.28
14 Trần Nhật Minh Nam 379 80 140 60 80-120 70-160 190 600 172 50 16.90 3.2 0.32
15 Dương Đình Nam Nam 438 95 130 35 70-115 70-155 156 600 178 54.5 17.30 3.8 0.15
16 Nguyễn Ngọc Nam Nam 438 74 130 56 70-110 70-155 147 600 167 49.5 17.75 4.1 0.23
17 Đoàn Thanh Phương Nam 398 72 125 53 80-115 85-160 164 600 175 54 17.63 3.7 0.24
18 Võ Văn Sỹ Nam 448 72 115 43 60-110 60-145 150 600 178 57 17.99 4.0 0.18
19 Nguyễn Kim Triết Nam 405 80 105 25 65-120 75-150 154 600 170 54 18.69 3.9 0.11
20 Nguyễn Bảo Triệu Nam 450 75 120 45 75-110 70-160 170 600 172 53 18.02 3.5 0.21
21 Nguyễn Hữu Từ Nam 406 74 130 56 75-115 79-150 149 600 173 51 17.04 4.0 0.23
22 Hà Xuân Tuấn Nam 426 69 135 66 70-120 65-145 142 600 172 52 17.58 4.2 0.26
23 Nguyễn Hoài Nhân Nam 380 76 130 54 80-125 70-155 145 600 169 55 19.26 4.1 0.22
24 Huỳnh Đăng Khoa Nam 426 81 124 43 80-135 75-160 134 600 172 49.5 16.83 4.5 0.16
Trang 2226 Nguyễn Văn Trung Nam 426 72 140 68 75-110 65-160 170 600 170 55 19.03 3.5 0.32
27 Hoàng Nam Vĩnh Nam 396 73 130 57 70-110 70-160 160 600 181 58 17.70 3.8 0.25
28 Nguyễn Văn Huấn Nam 436 70 125 55 70-110 75-145 149 600 167 51 18.40 4.0 0.23
29 Phan Tịnh An Tiêm Nam 440 70 115 45 75-115 70-155 126 600 168 50 17.72 4.8 0.16
30 Nguyễn Sỹ Nguyên Nam 394 70 125 55 80-110 75-140 154 600 181 58.5 17.86 3.9 0.24
31 Hồ Trọng Cầm Nam 396 76 120 44 70-115 75-135 147 600 175 54 17.63 4.1 0.18
32 Lương Ngọc Danh Nam 416 74 105 31 70-110 70-120 153 600 173 51 17.04 3.9 0.13
33 Phạm Minh Đăng Nam 415 70 130 60 80-125 80-170 156 600 175 54 17.63 3.8 0.26
34 Lê Quang Nhật Nam 396 75 115 40 70-115 70-150 176 600 171 50.5 17.27 3.4 0.20
35 Đoàn Tấn Hiên Nam 420 85 109 24 80-120 70-140 136 600 167 52 18.65 4.4 0.09
42 Võ Nguyên Huy Nam 436 74 140 66 75-120 65-150 142 600 178 53 16.73 4.2 0.26
43 Nguyễn Thế Hào Nam 476 77 130 53 65-110 65-145 137 600 176 55 17.76 4.4 0.20
44 Lưu Đình Danh Nam 419 65 115 50 75-110 70-150 142 600 173 57 19.05 4.2 0.20
45 Hồ Nhật Tấn Nguyên Nam 436 70 110 40 70-115 70-146 130 600 174 54 17.84 4.6 0.14
46 Phạm Anh Tuấn Nam 413 73 105 32 65-90 80-150 133 600 176 61 19.69 4.5 0.12
47 Hồ Văn Phay Nam 432 75 120 45 80-130 80-150 153 600 178 51 16.10 3.9 0.19
48 Nguyễn Bá Phong Nam 396 75 130 55 70-130 70-160 144 600 184 59 17.43 4.2 0.22
49 Đào Trung Can Nam 421 76 135 59 70-115 80-140 155 600 171 50.5 17.27 3.9 0.25
50 Hồ Văn Linh Nam 442 77 125 48 80-120 70-160 155 600 169 46 16.20 3.9 0.21
51 Nguyễn Đức Mai Anh Nữ 313 73 110 37 70-120 70-150 103 300 156 41 16.85 2.9 0.21
52 Nguyễn Phan Đông Anh Nữ 253 70 115 45 60-90 70-140 90 300 162 42 16.00 3.3 0.23
Trang 2365 Trương Thị Hiếu Nữ 243 82 125 43 65-110 70-130 94 300 164 43.5 16.17 3.2 0.22
66 Nguyễn Thị Thanh Hoa Nữ 230 77 113 36 60-105 70-145 93 300 151 42 18.54 3.2 0.19
67 Nguyễn Thị Minh Hoà Nữ 263 70 120 50 70-115 70-140 87 300 159 39 15.43 3.4 0.24
68 Mai Thị Thanh Hoài Nữ 249 73 105 32 70-110 70-145 82 300 167 45.5 16.31 3.7 0.15
74 Nguyễn Thị Thu Thảo Nữ 249 72 114 42 70-110 70-140 85 300 158 42 16.82 3.5 0.20
75 Nguyễn Thị Kim Thoa Nữ 238 76 124 48 75-115 70-130 96 300 160 42 16.41 3.1 0.26
83 Nguyễn Xuân Thuỷ Nữ 229 74 130 56 80-125 80-150 72 300 160 40.5 15.82 4.2 0.22
84 Lê Hoài Thương Nữ 234 65 120 55 65-110 70-140 86 300 168 47 16.65 3.5 0.26