Cơ sở lý luận khoa học vận dụng trong đề tài là hệ thống lý luận về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, các yếu tố chủ yếu ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, đánh giá trìn
Trang 1Báo cáo tổng kết
đề tài nghiên cứu khoa học
“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao
chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”
Chủ nhiệm đề tài: ThS Vũ Ngọc Giang
7193
17/3/2009
Hà nội, 12/2008
Trang 3Trang PHầN Mở ĐầU
1 Tính cấp tiết của việc thực hiện đề tài……… 1
2 Mục đích của đề tài……… 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2
4 Phương pháp nghiên cứu……… 2
5 Những đóng góp của đề tài….……… 2
6 Kết cấu của đề tài ……… 2
Phần I - cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về chất lượng sản phẩm 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm, công nghệ và chất lượng sản 3 phẩm……… ………
1.1.1 Sản phẩm……… 3
1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm……… 3
1.1.1.2 Phân loại sản phẩm……… 3
1.1.1.3 Cấp sản phẩm……… 4
1.1.2 Chất lượng sản phẩm……… 4
1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm……… 4
1.1.2.2 Định nghĩa chất lượng sản phẩm……… 4
1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm……… 5
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm……… 5
1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ……… 6
1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ……… 6
1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ……… 7
1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ……… 8
1.2 Cơ sở thực tiễn về sản phẩm da……… 9
Trang 41.2.2 Những thách thức của ngành công nghiệp thuộc da Việt
Nam……… 11
1.2.3 Chiến lược ngành công nghiệp thuộc da nước ta đến năm 2010 ……… 12
1.2.4 Khái quát về công nghệ thuộc da……… 12
1.2.5 Các sản phẩm da thuộc……… 15
1.2.6 Chất lượng sản phẩm da thuộc……… 16
1.2.7 Nhận xét về phần I và nhiệm vụ của phần II………… 28
Phần II - Thực trạng ngành công nghiệp 19 thuộc Da Việt nam 2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc da……… 19
2.1.1. Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp sản xuất da thuộc và các sản phẩm từ da………
19 2.1.2. Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc da nước ta……… 19
2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 21
2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất……… 21
2.2.2 Nhận xét chung về thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 22
2.2.2.1. Theo vị trí địa lý……… 22
2.2.2.2. Theo quy mô và năng lực sản xuất……… 23
2.2.2.3. ảnh hưởng của công nghệ thuộc da đối với môi trường…… 26
2.3 Đánh giá trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc da
Trang 52.3.2 Thành phần con người (H)……… 362.3.3 Thành phần thông tin (I)……… 432.3.4 Thành phần tổ chức (O)……… 47
2.4 Phân tích và đánh giá việc sử dụng các nguồn nguyên liệu
Trang 62.4.1 Về nguồn da nguyên liệu……… 52
2.4.1.1 Số lượng đàn trâu bò trong cả nước……… 52
2.4.1.2 Sản lượng da trâu bò nguyên liệu……… 52
2.4.1.3 Quy mô chăn nuôi trâu bò trong gia trại ……… 53
2.4.1.4 Phương thức chăn nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng da trâu bò……… 54
2.4.1.5 Đánh giá về chất lượng da nguyên liệu tại các lò mổ và cơ sở bảo quản da……… 54
2.4.2 Về hoá chất……… 57
2.4.2.1 Tình hình chung……… 57
2.4.2.2 Thực trạng về hoá chất……… 58
2.5 Đánh giá chung về chất lượng của sản phẩm da thuộc Việt Nam và một số vấn đề của ngành công nghiệp thuộc da 59
2.6 Những nhiệm vụ cần thực hiện của đề tài ở phần 3… …… 61
Phần III: Một số giải pháp cơ bản để nâng 63 cao chất lượng sản phẩm da thuộc 3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của ngành thuộc da 63
3.1.1 Cơ sở xác định mục tiêu ………63
3.1.2 Chính sách phát triển ngành thuộc da ……… 63
3.1.3 Mục tiêu của ngành và dự báo nhu cầu về da thuộc thành 63 phẩm………
3.1.3.1 Mục tiêu chung……… 64
3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể……… 64
3.1.3.3 Dự báo nhu cầu về da thuộc thành phẩm………
64 3.1.3.4 Phương hướng phát triển……… 64
3.2 Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 64
Trang 83.2.2 Gi¶i ph¸p 2: Khai th¸c vµ sö dông tèi −u nguån da nguyªn
liÖu vµ hãa chÊt cho ngµnh c«ng nghiÖp thuéc da …………
713.2.2.1 Da nguyªn liÖu……… 71
3.2.2.2 Ho¸ chÊt……… 77
KÕt luËn vµ kiÕn nghÞ
Danh môc c¸c tµi liÖu tham kh¶o Phô lôc
Trang 11European Organization forQuality Control
Economic Social Commissionfor Asia and the PacificBiological Oxygen DemandChemical Oxygen DemandUnited National DevelopmentPrograme
United National IndustrialDevelopment OrganizationSquare feet
PolyurethaneSuspend SolidChrome(III)
Trang 12Hình 1 Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc 24Hình 2 Tính hiện đại của máy móc thiết bị lĩnh vực thuộc da 49Hình 3 Trình độ nghiệp vụ chuyên môn của lao động lĩnh vực
Trang 13Bảng 1 Cấp bậc tinh xảo của các thành phần công nghệ 14
Bảng 3 Năng lực sản xuất theo thành phần kinh tế 34Bảng 4 Năng lực sản xuất thực tế huy động qua các năm 1997 -
Bảng 5 Kết quả phân tích một số thành phần trong nước thải tại
“Làng thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 6 Giới hạn cho phép nước thải theo tiêu chuẩn Việt Nam và
tiêu chuẩn chung của khu vực……… 41Bảng 7 Dự tính máy móc thiết bị toàn ngành thuộc da năm 2006… 43Bảng 8 Nhập khẩu máy móc thiết bị thuộc da những năm gần đây 46Bảng 9 Máy móc thiết bị nhập theo nước năm 2004……… 47Bảng 10 Máy móc thiết bị nhập theo thành phần kinh tế năm 2004 47Bảng 11 Kết quả đánh giá nguồn thông tin của các doanh nghiệp… 64Bảng 12 Quy mô chăn nuôi bò, trâu bình quân trong gia trại……… 79Bảng 13 Kết quả khảo sát về mức độ quan tâm mặt da……… 80Bảng 14 ước về lượng hóa chất cho thuộc da nhập khẩu năm 2005 85Bảng 15 Sơ đồ công nghệ bảo quản da nguyên liệu……… 110
Trang 14Trong xu thế toàn cầu hóa, với cơ chế mở cửa của nền kinh tế đấtnước, việc nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc trong nước nhằm tăngtính cạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng đểphục vụ xuất khẩu tại chỗ, hạn chế một phần da nhập khẩu là một thách thứclớn đối với ngành và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Việc lựa chọn và
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất
lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu” là hướng đi đúng đắn và cần thiết.
Cơ sở lý luận khoa học vận dụng trong đề tài là hệ thống lý luận
về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, các yếu tố chủ yếu ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, đánh giá trình độ công nghệtheo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức)
Cơ sở thực tiễn của đề tài nêu rõ việc cung rất không đủ cầu các sản phẩm da thuộc phục vụ xuất khẩu tại chỗ; những thách thức sắp tới của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam như: mới phát triển, không có quy hoạch, tự phát; trình độ công nghệ lạc hậu khoảng 20 - 30 năm so với thế giới Phải nâng cấp trình độ công nghệ của ngành nhưng nguồn tài chính hạn hẹp; Chất lượng da nguyên liệu quá xấu; chăn nuôi, giết mổ không công nghiệp; ngành công nghiệp hóa chất thuộc da hầu như không có gì; nhân lực thuộc da yếu cả chất lẫn lượng Do vậy, việc tìm những giải pháp hữu hiệu để ngành công nghiệp thuộc da phát triển nhằm nâng cao chất lượng của da thành phẩm đạt chất lượng xuất khẩu là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết.
Qua phân tích và đánh giá thực trạng của ngành, ta thấy những nguyênnhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc của nước ta là:
Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp không đồng đều,còn thấp so với khu vực và thế giới Phát triển sản xuất chưa triển khaiquy hoạch tổng thể cụ thể cho từng vùng, miền
Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tương đương với các nước trong khu vực Phần lớn 40% máy móc thiết bị đồng
bộ, hiện đại của ngành nằm trong khu vực này, đảm bảo thực hiện những quy trình công nghệ tiên tiến và chất lượng sản phẩm đạt xuất khẩu Cần phải có các chính sách và tạo điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư và công nghệ của nước ngoài để tăng sản lượng sản phẩm da xuất khẩu tại chỗ.
Trang 15nâng cao trình độ công nghệ cho khu vực này và giúp đỡ các cơ sở nhỏ.
Ngoài ra, thực trạng chăn nuôi, giết mổ và bảo quản nguồn da nguyênliệu của ta còn nhiều yếu kém, bất cập Phải có những giải pháp đồng bộgiữa các ngành để tăng số lượng và chất lượng da nguyên liệu cho ngành
Mặt khác, hướng ưu tiên của chúng ta là lựa chọn và nhập khẩu hóachất cho sản xuất da mới đảm bảo chất lượng của da thành phẩm xuất khẩu
Đề tài đã làm rõ những nội dung chính của hai giải pháp cơ bản đểnâng cao chất lượng sản da thuộc của ngành công nghiệp thuộc da ViệtNam Đưa ra được hai giải pháp cơ bản song song, có yếu tố quyết định tăngchất lượng da thành phẩm của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam Đó là:
1 Nâng cao trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc DaViệt Nam bằng cách thu hút đầu tư và công nghệ tiên tiến của nướcngoài; tăng cường năng lực và trình độ công nghệ cho các doanhnghiệp, cơ sở có vốn đầu tư trong nước
2 Khai thác tối ưu nguồn nguyên liệu và hóa chất, yếu tố đầu vàocũng quyết định rất lớn đến chất lượng da thành phẩm
Nếu làm tốt hai giải pháp này, da thuộc thành phẩm Việt Namchắc chắn sẽ tăng cả về chất lượng và số lượng
Trang 16Phần Mở đầu
1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Ngày nay, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế, chấtlượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và
đang trở thành một thách thức to lớn đối với mọi quốc gia Trong quá trìnhhội nhập, thị trường thế giới đã không ngừng mở rộng và trở nên tự do hơn.Chất lượng sản phẩm và dịch vụ lại càng có vị trí quyết định trong việcnâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trong cơ chế mở cửa của nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp thuộc
da đã có những bước tiến bộ, chất lượng da thuộc dần tăng lên, các sản phẩm đượcsản xuất, chế biến từ da thuộc đã bắt đầu có sức canh tranh trên thị trường Tuynhiên chất lượng da thuộc thành phẩm còn hạn chế, chưa ổn định, nên ảnhhưởng đến việc cung cấp tại chỗ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giầydép xuất khẩu, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành
Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượngsản phẩm của da thuộc là thực hiện định hướng phát triển ngành côngnghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc trong nước nhằm tăng tínhcạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng đểphục vụ xuất khẩu tại chỗ, hạn chế một phần da nhập khẩu là một tháchthức lớn đối với ngành và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Đây cũng
là một tiêu chí giúp các doanh nghiệp trong ngành phát triển bền vững
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, mong muốn ngành công nghiệp thuộc
da nước nhà phát triển, các doanh nghiệp, cơ sở dần khẳng định được mình bằng thương hiệu và chất lượng da thành phẩm, góp phần cho ngành Da - Giầy khẳng
định là một trong những ngành có sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong nền kinh tế
đất nước, việc lựa chọn và tiến hành đề tài: ““Nghiên cứu đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu” là hướng đi đúng đắn và cần thiết.
2 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu và phân tích một số lý luận cơ bản về sản phẩm, chấtlượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thànhphần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức)
- Phân tích thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam; cácyếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm
da thuộc của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam
Trang 173 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
da thuộc trên phạm vi cả nước
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng chăn nuôi,giết mổ trâu, bò trên cả nước; thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh cácsản phẩm da thuộc của các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da từ khâu nguyênliệu đầu vào đến da thành phẩm
4 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp hồi cứu số liệu từ các tài liệu có liên quan đến đề tài.+ Phương pháp khảo sát điều tra thu thập dữ liệu
+ Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, dự báo
+ Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
+ Từ việc phân tích, đánh giá, nhận xét, rút ra các kết luận cầnthiết, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, từ đó đưa
ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc
5 Những đóng góp của đề tài
- Đề tài sẽ hệ thống hóa các lý luận về sản phẩm, chất lượng, chấtlượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần côngnghệ, ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng sản phẩm da thuộc
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sảnphẩm da thuộc Việt Nam
- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổchức và cá nhân quan tâm đến ngành công nghiệp thuộc da nước nhà
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bầy gồm có 3 phần:
+ Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về sản phẩm, công
nghệ và chất lượng sản phẩm.
+ Phần II: Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam
+ Phần III: Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản
phẩm da thuộc Việt Nam.
Trang 18Phần I - Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về sản phẩm, công nghệ và chất lượng sản phẩm
1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm, công nghệ và chất lượng
1.1.1 Sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm về sản phẩm
Theo Mác: “Sản phẩm là kết tinh của lao động”,[1,19]
Theo tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng về cơ sở và từ vựngISO 9000 : 2000, sản phẩm được định nghĩa là “kết quả của các hoạt
động hay các quá trình” Mặt khác, trong phần thuật ngữ lưu ý: “Sản phẩmcũng có nghĩa là dịch vụ”,[1,19]
Theo ngôn ngữ marketing, sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn
được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường
Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hìnhtương ứng với hai bộ phận cấu thành là phần cứng, phần mềm của sản phẩm
Phần cứng của sản phẩm là các thuộc tính vật chất hữu hình thểhiện dưới một hình thức cụ thể rõ ràng bao gồm những vật thể bộ phận vànhững sản phẩm được lắp ráp, nguyên vật liệu đã chế biến
Phần mềm của sản phẩm bao gồm các loại dịch vụ cung cấp chokhách hàng các yếu tố như thông tin, khái niệm các dịch vụ đi kèm… đápứng những nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng.[1,19],[12,5-7]
1.1.1.2 Phân loại sản phẩm
Để tạo điều kiện dễ dàng trong công tác quản lý và tổ chức sản xuất, kinhdoanh trên thị trường, người ta đưa ra những căn cứ khác nhau để phân loại sảnphẩm như: Theo chức năng, công dụng của sản phẩm; theo đặc điểm côngnghệ sản xuất; theo nguyên liệu sản xuất; theo thành phần hóa học…
Dưới góc độ quản lý chất lượng, người ta phân loại theo chức năng,công dụng của sản phẩm
Ngoài ra, những sản phẩm có cùng chức năng, nhưng xuất xứ khác nhau,người ta yêu cầu phải có nhãn hiệu sản phẩm riêng biệt Trên ghi các thông tin vềchất lượng, số đăng ký, tiêu chuẩn, các quy định về điều kiện và phạm vi, thờihạn sử dụng để quản lý và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.[1,20].[12,7-8]
Trang 19- Cấp 2: Sản phẩm thực hay sản phẩm cụ thể là những sản phẩm,
ngoài những đặc tính kỹ thuật cơ bản, còn có những thông tin khác vềnhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, cấp chất lượng, thời hạn sử dụng…
- Cấp 3: Sản phẩm gia tăng bao gồm thêm những thông tin và dịch
vụ chuyên biệt khác, như: cách bán và giao hàng, cách lắp đặt, cam kếtdịch vụ hậu mãi (cách bảo trì, cách liên hệ với khách hàng…).[1,21]
1.1.2.Chất lượng sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sảnxuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu dokhách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh vớichất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả,[5, 1]
Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểucủa họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau
ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm,
từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường cho phù hợp.[12,9-10]
1.1.2.2 Định nghĩa chất lượng sản phẩm
Theo quan niệm của các nhà sản xuất: “Chất lượng là tổng hợp nhữngtính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu
định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”[1,23]
Trong nền kinh tế thị trường, định nghĩa về chất lượng gắn bó chặtchẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả:
- “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của ngườitiêu dùng” (Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu - European Organizationfor Quality Control),[1,24]
- “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thểtin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận” (W.Edwards Deming),[1,24],[2,2]
- “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B Crosby),[1,24],[2,2]
- “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng” (J.M.Juran) Định nghĩa này khác với định nghĩa thường dùng là “phù hợp với quycách đề ra”,[1,24],[2,2]
- “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, dịch vụ
mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng mong đợi của kháchhàng” (A Feigeinbaum),[1,24],[2,2]
- Theo ISO 9000 : 2000: “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thoả mãn các yêu cầu của khách hàng
Trang 20và các bên có liên quan” “Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã đượccông bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc”,[1,25],[2,2],[9],[12].
Như vậy, việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng là điều quan trọngnhất trong việc đánh giá chất lượng của bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào
và chất lượng là phương diện quan trọng nhất của sức cạnh tranh
1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm[1,25]
Dưới góc độ kinh doanh có thể phân loại thành hai nhóm thuộc tính sau:
- Thuộc tính công dụng - phần cứng (giá trị vật chất) - là bản chất,
cấu tạo của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ Phần
này chiếm khoảng 10 - 40% giá trị của sản phẩm
- Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng - phần mềm (giá trị tinh thần)
- là uy tín của sản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng, đặc biệt là cácdịch vụ trước và sau khi bán Phần này chiếm khoảng 60 - 80% giá trị củasản phẩm, thậm chí có thể lên tới 90% giá trị sản phẩm
Như vậy, chất lượng của sản phẩm được tạo ra bởi toàn bộ thuộc tínhcủa sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất hữu hình và vô hìnhcủa người tiêu dùng [1, 25-27],[9],[11],[12,13-16]
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm[1,35-39]
Có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu, đó là nhóm yếu tố bênngoài và nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp
1.1.3.1 Nhóm yếu tố bên ngoài tổ chức, doanh
nghiệp a) Nhu cầu của nền kinh tế
Chất lượng sản phẩm luôn phụ thuộc bởi hoàn cảnh, điều kiện vànhu cầu nhất định của của nền kinh tế, thể hiện ở các mặt:
- Nhu cầu của thị trường: Trước khi thiết kế, sản xuất sản phẩm, phải nghiêm túc nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế - xã hội, yêu cầu
chất lượng, thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, khảnăng thanh toán của khách hàng…để có đối sách đúng đắn
- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích lũy, đầu tư…) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị
công nghệ và kỹ năng)
- Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm, mức thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chính sách kinh tế.
b) Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật
Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu, xác lập
các loại vật liệu mới hoặc tạo nên những tính chất đặc trưng mới cho sản phẩm tạo thành, hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhưng duy trì tính chất cơ bản của sản phẩm.
Trang 21- Cải tiến hay đổi mới công nghệ: Công nghệ chế tạo càng tiến
bộ, càng có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn.
- Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới: bằng cách cải tiến,
nâng cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của sản phẩm hiện có.
c) Hiệu lực của cơ chế quản lý
Khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức, doanh nghiệpphụ thuộc nhiều vào cơ chế quản lý, chính sách của Nhà nước như: chính sách
đầu tư, chính sách giá, chính sách thuế, tài chính, chính sách hỗ trợ khuyếnkhích phát triển, cách thức tổ chức quản lý của Nhà nước về chất lượng…
1.1.3.2.Nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp
a) Con người
Bao gồm tất cả các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp từ cán bộlãnh đạo đến nhân viên thừa hành Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên vàmối liên kết giữa các thành viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ tổ chức quản lý và
tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhấtcác nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
Ngoài các yếu tố trên, chất lượng sản phẩm còn bị chi phối bởi các yếu
tố khác như: thông tin, môi trường, đo lường, hệ thống.[1,34-38],[12,40]
Nhìn chung chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng chủ yếu của trình độ công nghệ Chất lượng sản phẩm tốt hay xấu phụ thuộc vào mức độ tinh xảo, tính hiện
đại của các thành phần công nghệ: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức.
1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ
1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ
Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên những căn
cứ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau
Theo ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu á - Thái Bình Dương
(ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế
Trang 22biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp
và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ,[3,10].
Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất ra vật chất mới dùng côngnghệ mà được mở rộng như: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng,công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…
Trong Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam, quan niệm: “ Công
nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”,[3,11].
Căn cứ vào tính chất phổ biến và nguồn gốc của công nghệ, các côngnghệ có thể chia thành 2 nhóm: công nghệ mới và công nghệ truyền thống:
- Công nghệ truyền thống là công nghệ đã được áp dụng từ lâu quen thuộc có tính truyền thống Tiêu biểu cho các công nghệ này là những
công nghệ cổ truyền sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống
- Công nghệ mới là những công nghệ được đưa vào ứng dụng chưa lâu, thậm chí hoàn toàn mới, đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Công nghệ thuộc da thực hiện tại các cơ sở sản xuất hiện nay là mộtdạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua sử dụng các thiết bị mới, hoáchất mới tạo ra các sản phẩm mới có tính thời trang theo yêu cầu thị trường
1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ,[27,11-14],[4,7].
Công nghệ gồm bốn thành phần cơ bản có sự tác động đồng bộ qualại với nhau để tạo ra bất kỳ một sự biến đổi mong muốn, đó là:
a) Thành phần kỹ thuật (Technoware - T): phần công nghệ hàm chứa
trong các vật thể như các phương tiện kỹ thuật, công cụ, máy móc thiết bị, vậtliệu, các cấu trúc hạ tầng khác… gọi là phần cứng của công nghệ Đây là cốtlõi của hoạt động chuyển hoá, nhưng do con người lắp đặt, vận hành
b) Thành phần con người (Humanware - H): gồm những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề thành thạo, khéo léo, có tính
sáng tạo, khả năng phối hợp và đạo đức nghề nghiệp Đây là yếu tố chìakhoá của hoạt động sản xuất
c) Thành phần thông tin (Inforware-I): bao gồm các dữ liệu về phần
kỹ thuật, phần con người và phần tổ chức.Ví dụ, dữ liệu kỹ thuật như: các
thông số về đặc tính thiết bị, số liệu về vận hành và bảo dưỡng, dữ liệu
để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật
d) Thành phần tổ chức (Orgaware - O): bao gồm các thiết chế tổ chức,
các thẩm quyền, trách nhiệm, sự liên kết, phối hợp, quản lý, kể cả quy trình đàotạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần con người
Trang 23Hình 1: Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ,[4,7],[27,15],[14,8]
- T là cốt lõi, do H triển khai, lắp đặt, vận hành
- H là chìa khóa của hoạt động sản xuất, chịu chi phối của I và O
- I là cơ sở cho H ra quyết định
- O liên kết các thành phần, tạo môi trường và động lực cho con người hoạt động
Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết bị,phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ, vì so với conngười trong quá trình biến đổi, máy móc: nhanh hơn, mạnh hơn, phức tạp hơn
và chính xác hơn Để dây chuyền công nghệ có thể hoạt động được, cần có
sự liên kết giữa phần kỹ thuật, phần con người và phần thông tin Phần thôngtin biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ , nó giúp trả lời câuhỏi: “Làm cái gì” và “Làm như thế nào” Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa,phối hợp ba thành phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổimột cách hiệu quả Đây là động lực của một công nghệ,[27,11-14],[4,7]
1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ
Thông thường người ta đánh giá trình độ công nghệ trên hai phần:
- Đánh giá định tính đặc trưng công nghệ dựa trên cấp bập tinh xảo(sophistication) của bốn thành phần công nghệ (T-H-I-O) được thể hiện ởbảng dưới đây:
Bảng 1: Cấp bậc tinh xảo của các thành phần công nghệ,[4,7].
Kỹ thuật (T) Con người (H) Thông tin (I) Tổ chức (O)
Phương tiện thủ công Khả năng vận hành Dữ kiện phổ biến Cơ cấu đứng vữngPhương tiện động lực Khả năng lắp đặt Dữ kiện mô tả Cơ cấu ràng buộcPhương tiện đa dụng Khả năng sửa chữa Dữ kiện đặc trưng hóa Cơ cấu mạo hiểm
Trang 24Phương tiện chuyên dụng Khả năng sao chép Dữ kiện ứng dụng Cơ cấu bảo vệPhương tiện tự động Khả năng thích ứng Dữ kiện nhận thức Cơ cấu ổn địnhPhương tiện vi tính hóa Khả năng cải tiến Dữ kiện tổng quát Cơ cấu triển vọngPhương tiện tích hợp Khả năng đổi mới Dữ kiện đánh giá Cơ cấu lãnh đạo
- Đánh giá định lượng hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) và hàmlượng công nghệ tăng thêm (TCA):
+ Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) của một công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ trong toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty, làhàm lượng công nghệ tăng thêm (TCA) trên một đơn vị đầu
nghệ, qui ước: βT + βH + βI + βO = 1,
Cường độ đóng góp của một thành phần công nghệ thể hiện tiềm năng của thành phần công nghệ đó trong việc nâng cao giá trị của hàm hệ số đóng góp TCC.
TCA = λ TCC VATrong đó:
* λ là Hệ số đặc trưng của môi trường sản xuất kinh doanh (còn gọi
1.2.1 Một số nét về ngành công nghiệp thuộc da trên thế giới
Da thuộc được dùng chủ yếu để sản xuất giầy và đồ da Côngnghiệp thuộc da và chế biến các sản phẩm từ da thuộc ngày một pháttriển, nhất là ở những nước đang phát triển và một số nước công nghiệp mới
Với các nước đang phát triển như nước ta, công nghiệp thuộc da chiếmmột vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi các nguyên nhân sau:
Trang 25Thứ nhất, công nghiệp thuộc da phát triển sẽ giúp các nước này dầnloại bỏ việc xuất khẩu da sống, các loại da bán thành phẩm, làm giảm việcnhập khẩu da thuộc thành phẩm, tạo điều kiện tăng giá trị gia tăng củahàng hóa xuất khẩu chế biến từ da thuộc.
Các công đoạn đến thuộc phèn xanh, nửa hoàn thành và hoàn thành
da đều có cơ hội sử dụng linh hoạt các nguyên nhiên liệu, hóa chất trongnước và của các nước đang phát triển
Thứ hai, ngành da không nhất thiết đòi hỏi quy mô lớn Từng doanh nghiệp, cơ
sở vừa và nhỏ có thể tập trung trong cụm công nghiệp để phân công sản xuất có tính chuyên môn hóa nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng và mang tính cạnh tranh.
Thứ ba, do nhu cầu da thuộc ngày càng tăng cho chế biến hàng tiêudùng và xuất khẩu nên thúc đẩy các nước đang phát triển phải chú trọng chănnuôi đại gia súc, giết mổ lấy thịt, lột da theo phương pháp công nghiệp, dầnkhắc phục tình trạng vừa phung phí nguyên liệu da sống,[13,9-10]
Người ta chia các nước cung cấp sản phẩm da thành bốn nhóm:
- Các nước phát triển trong khoảng thập niên cuối của thế kỷ XX nhưLiên Xô (cũ) và các nước Đông Âu
- Các nước đã có ngành công nghiệp thuộc da phát triển một thời gian và đã
có những kinh nghiệm và thành công nhất định như: Braxin, Hàn Quốc, Đài Loan
-Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như: ý, Pháp, Đức, TâyBan Nha, Anh, Mỹ và một vài nước khác
- Nhóm các nước thuộc da còn lại
Ngày nay sản xuất da thuộc có xu hướng chuyển từ châu Âu và Bắc
Mỹ (nơi có ngành công nghiệp thuộc da phát triển) sang các nơi khác trênthế giới do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, tiền lương và công lao động ở các nước phát triển ngày mộttăng cao mà ngành này lại đòi hỏi nhiều lao động
Thứ hai, một số nước đang phát triển đang trở thành nguồn cung cấp
da nguyên liệu quan trọng
Thứ ba, xu hướng kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các nước phát triểnngày càng nghiêm ngặt và thắt chặt
Hiện nay Châu Âu nói chung, trong đó ý là một trong những nước cóngành Công nghiệp Da - Giầy phát triển nhất thế giới, theo đó ngành chếtạo máy móc thiết bị và ngành hóa sản xuất hóa chất phục vụ công nghiệpthuộc da cũng đứng vị trí hàng đầu
Trong những năm gần đây, một số nước như: Trung Quốc, ấn Độ, và Hàn Quốc vv đang dẫn đầu về sản xuất da thuộc, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trên thị
Trang 26trường thế giới là da bò mềm (Nappa) Dự báo đến năm 2010 sản lượng dathuộc của thế giới khoảng 18 tỷ sqft da các loại.
Theo dự báo từ 5-10 năm tới các nước phát triển phải nhập khẩu da phèn
và da mộc từ các nước đang phát triển khoảng 350 triệu sqft da bò, 400triệu sqft da dê, cừu và xu thế còn tiếp tục kéo dài đến ngoài 2020
Hiện nay ngành công nghiệp thuộc da ở các nước phát triển đã đạt đến mức
độ cao về trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm gần như hoàn hảo, tập trung chủ yếu vào các loại sản phẩm mẫu thời trang, còn các nước đang phát triển giữ vai trò chủ đạo về sản xuất da thuộc, ước tính chiếm khoảng 60 - 70% sản lượng da trên toàn cầu Đây cũng là thách thức và cơ hội thuận lợi để thúc đẩy ngành công nghiệp thuộc da nước nhà phát triển mạnh trong những giai đoạn sắp tới.[25,7-9].
1.2.2 Những thách thức của ngành thuộc da Việt Nam
Ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam là ngành còn non trẻ, mới phát triểnkhoảng gần 20 năm lại đây Nhưng sự phát triển không có quy hoạch, tự phát và
đôi chỗ manh mún Hiện nay, ngành đang phải đối chọi với rất nhiều vấn đề lớn:
- Phải quy hoạch lại các doanh nghiệp thuộc da vào các khu côngnghiệp và nâng cấp, cải tạo lại một số cơ sở
- Trình độ công nghệ lạc hậu khoảng 20 - 30 năm so với thế giới Phảinâng cấp trình độ công nghệ của ngành nhưng nguồn tài chính hạn hẹp
- Chất lượng da nguyên liệu quá xấu và số lượng không đủ, lại bị xuấtlậu theo đường tiểu ngạch ước tới 40%
- Chăn nuôi, giết mổ không công nghiệp và bảo quản da nguyên liệutùy tiện Diện tích da nhỏ, chất lượng kém
- Ngành công nghiệp hóa chất cho thuộc da hầu như không có gì
- Nguồn nhân lực quản lý, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề quámỏng và hàng năm ít được nâng cấp và không được cung cấp thêm
- Chất lượng da thành phẩm đi từ da nguyên liệu trong nước thấp, chủyếu phục vụ tiêu dùng nội địa
- Nhu cầu da thành phẩm cho xuất khẩu tại chỗ rất lớn
- Việc xử lý các chất thải trong công nghiệp thuộc da rất nan giải do
có khó khăn về tài chính
- Nước láng giềng có ngành công nghiệp thuộc da tương đối pháttriển, thu hút phần lớn da nguyên liệu sống và cũng bằng đường tiểu ngạchnhững sản phẩm từ da của họ chất lượng vừa phải, mẫu mã đẹp, đa dạng,giá rẻ đã chiếm lĩnh thị trường nước ta
Do vậy, việc tìm những giải pháp hữu hiệu để ngành công nghiệpthuộc da phát triển nhằm nâng cao chất lượng của da thành phẩm đạt chấtlượng xuất khẩu là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết
Trang 271.2.3.Chiến lược phát triển ngành thuộc da nước ta đến 2010
- Khai thác tối đa mọi nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế
đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu (cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
- Tăng nhanh đàn gia súc; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo môhình trang trại; hướng tới chăn nuôi, giết mổ công nghiệp và bảo quản dasống đúng kỹ thuật nhằm đáp ứng nguồn da nguyên liệu cả về số lượng vàchất lượng Trước mắt, khai thác và sử dụng tốt mọi nguồn da sẵn có
- Thực hiện nhanh việc sắp xếp lại lĩnh vực thuộc da nhằm đáp ứng nhucầu da thuộc thành phẩm (cả về số và chất lượng) cho giầy dép xuất khẩu
- Quy hoạch, xây dựng khu công nghiệp thuộc da xa khu dân cư Didời các cơ sở thuộc da vào các khu công nghiệp chuyên ngành
- Tập trung đầu tư chiều sâu, bổ sung máy móc thiết bị đồng bộ,hiện đại Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý nhằm khaithác tốt hơn năng lực thuộc da hiện có Đặc biệt là nâng cao chất lượng sảnphẩm và đa dạng hóa các mặt hàng da thuộc
- Bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cho độ ngũ quản lý,
kỹ thuật và công nhân lành nghề
- Lựa chọn công nghệ tiên tiến, hạn chế tối đa và không gây ônhiễm môi trường trong lĩnh vực thuộc da
1.2.4.Khái quát về công nghệ thuộc da
Thuộc da là quá trình cơ, lý, hóa để bảo quản protein colagen trướccác tác động của môi trường, nói cách khác: quá trình thuộc da là quá trình
đưa chất thuộc vào trong cấu trúc sợi da, làm biến đổi tính chất và tăng
độ bền của cấu trúc sợi da, da thu được gọi là da thuộc
Sau khi thuộc, da còn phải trải qua công đoạn hoàn thành (ướt và khô)
để tăng cường các tính chất hữu ích của da thuộc
Phần việc cuối cùng trong công đoạn hoàn thành khô là trau chuốtda [32,9],[22,6]
Công nghệ thuộc da có tính đặc thù khác với các công nghệ khác là:
- Nguồn nguyên liệu da động vật sống, rất khác nhau về chất lượng, trọng lượng giữa các con da, cấu trúc, độ dầy của các phần trong một con, độ tuổi, giống (đực cái), vùng chăn nuôi Sự khác nhau này gây nên sự không đồng đều về nguyên liệu đầu vào trong khi yêu cầu của sản phẩm đầu ra phải đồng đều về chất lượng.
- Thời gian thực hiện công nghệ dài ngày (10-15 ngày), triển khai trên
20 công đoạn, sử dụng khoảng 40-50 loại hoá chất và trên 20 loại máy móc thiết
bị, sử dụng rất nhiều nước (khoảng 50 m3 nước/tấn da nguyên liệu)
Trang 28- Để biến đổi từ nguồn da sống sang da thành phẩm, công nghệthuộc da cần phải trải qua hàng loạt quá trình xử lý cơ- lý- hoá với tính chấtnhạy cảm cao và thao tác kỹ thuật tỷ mỉ, chính xác
- Yêu cầu của công nghệ phải xử lý sao cho từ nguồn da nguyên liệukhông đồng đều trở thành sản phẩm da hoàn thành có chất lượng tương
đương nhau ở các phần trong cùng một con và đều đặn trong cùng một lôxuất thuộc đồng thời đáp ứng được các tính chất phù hợp với từng loại sảnphẩm (da mũ giầy, da áo, da túi ) Đây chính là điểm mấu chốt trongchuyển đổi từ da sống sang da thuộc, yêu cầu trình độ công nghệ cao,kinh nghiệm và lòng yêu nghề mới tạo ra được sản phẩm đạt chất lượng
- Đây là loại công nghệ khó thực hiện chuẩn xác và gây ô nhiễm,[14,4].Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da trong nước chủ yếu đang tập trungquan tâm về nâng cao chất lượng sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến an toàn
vệ sinh môi trường và xử lý các chất thải do doanh nghiệp gây ra làm ảnhhưởng đến sức khoẻ người lao động và gây ô nhiễm môi trường xung quanh
Việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các công đoạn trongcông nghệ ở các doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹthuật của công nghệ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp
Thực trạng phát triển sản xuất và trình độ công nghệ không đồng đều hiện nay ở các loại hình doanh nghiệp (tư nhân, cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) dẫn đến chất lượng da thành phẩm rất khác nhau ở các khu vực Chỉ các doanh nghiệp được đầu tư đầy đủ mới có đầu ra đạt chất lượng xuất khẩu.
Do đó, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ côngnghệ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng da thành phẩm và hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 29Hình 1: Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc da [21,86]
Trang 30Hoàn thành
Da mộc bán thành phẩm
-Tẩy lông - Ngâm vôi -Tẩy lông - Làm mềm
- Axit hoá
- Thuộc (crôm, kết hợp, tanin tổng hợp, tanin thực vật )
Hoàn thành ướt :
- ép nước, Bào, Thuộc lại, Nhuộm, ăn dầu
- Vắt mễ, Ty, Sấy khô
Hoàn thành khô:
- Xén diềm, vò, phân loại, chà mặt, trau chuốt, in là,
đo bia đóng gói, nhập kho
Trang 31“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu” - ThS Vũ Ngọc Giang
Trang 32Sơ đồ trên biểu thị toàn bộ công nghệ thuộc da nêu ở trên thể hiện công nghệ gồm 24 công đoạn chính, những công đoạn đó thực hiện sự biến đổi từ da nguyên liệu
đến da thành phẩm thông qua những tác động hoá học, cơ học và hoá lý
Quy trình công nghệ sản xuất được chia thành ba phần chính:Chuẩn bị thuộc - Thuộc - Hoàn thành
Phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc gồm các công đoạn nặng nhọc
và độc hại do sử dụng nhiều hoá chất có độc tố cao như: sunphua natri(Na2S), chất thuộc crôm làm tăng lượng BOD, COD và crôm trong nước thải,gây ô nhiễm đến nguồn nước và thuỷ sinh vật
Phần hoàn thành ít gây ô nhiễm môi trường nhưng đòi hỏi công nghệ ở
mức cao hơn đồng thời phải có kinh nghiệm nghề nghiệp và sáng tạo trong côngviệc, phẩm cấp của sản phẩm được thể hiện chủ yếu ở phần công nghệ này
Đây cũng là lý do vì sao trong hơn thập kỷ qua các nước phát triển có xu hướngchuyển dịch phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc sang các nước đang phát triển
và chỉ gĩư lại thực hiện phần hoàn thành của công nghệ.[14,18-19]
Qua đây ta thấy quy trình công nghệ sản xuất da thuộc rất phức tạp,kéo rất dài thời gian Chất lượng của da thành phẩm phụ thuộc vào hàng loạt
điều kiện như: chất lượng da nguyên liệu sống, hóa chất, máy móc thiết bị,quy trình công nghệ sản xuất và những người quản lý, thực hiện quy trình…
1.2.5.Các sản phẩm da thuộc
Thuộc da chủ yếu tạo ra hai sản phẩm chính:[33,4]
- Sản phẩm da mềm: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc crôm, còngọi là thuộc xanh Da thành phẩm là nguyên liệu đầu vào cho quá trìnhsản xuất giầy, dép, cặp, túi, ví, bọc đệm, quần áo…
- Sản phẩm da cứng: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc tanin Dathành phẩm chủ yếu làm đế giầy, phục vụ ngành dệt như da take, da gông…
Hiện nay, các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da nước ta sử dụng nguồnnguyên liệu đầu vào hầu hết là da bò, một ít da trâu và da lợn Hầu hết cácdoanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất các loại da mềm để phục vụ thịtrường trong nước và xuất khẩu tại chỗ Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khácnhau, các doanh nghiệp thuộc da chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu xuất khẩu tạichỗ cho các doanh nghiệp sản xuất giầy và chế biến đồ da trong nước
Năm 2007, các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu tư tạiViệt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng gần 30% nhu cầu da thuộccủa cả nước, 70% còn lại phải nhập khẩu Mục tiêu phát triển ngành thuộc da ởtrong nước đến 2010 khiêm tốn ở mức 80 triệu sqft từ nguyên liệu ban đầu là quá
bé nhỏ so với tổng nhu cầu dự báo là 350 triệu sqft Đây là vừa là cơ hội, vừa làthách thức lớn cho các cơ sở thuộc da vươn lên khẳng định mình
Trang 33Ngành công nghiệp Da - Giầy Việt Nam nói chung và công nghiệp thuộc
da nói riêng là ngành mới phát triển, nên thời gian qua công tác tiêu chuẩn hóa vàquản lý chất lượng vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trong xu thế hội nhập vàcạnh tranh toàn cầu, việc nâng cao chất lượng của sản phẩm da thuộc là yêu cầu,thách thức lớn đối với ngành Bởi tại chất lượng sản phẩm da thuộc của Việt Nammới ở mức đạt mức chất lượng da thành phẩm xuất khẩu tại chỗ, nhưng chỉ một sốdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất da thuộc đạt được chất lượng này
Chất lượng sản phẩm da thuộc thông thường được xem xét trên hai khía
cạnh:
- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa được xác định theo các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêuchuẩn ngành, ISO hoặc theo các yêu cầu của khách hàng tùy theo loại sản phẩm
+ Các mẫu được phân tích trên các thiết bị phân tích chuyên ngành
- Các chỉ tiêu cảm quan như: độ mềm mại, độ bóng, độ đàn hồi, độthẩm thấu hơi nước…chủ yếu theo kinh nghiệm của các chuyên gia giỏinghề, có thâm niên cao và chuyên môn sâu
Hiện tại, chất lượng sản phẩm da thuộc ở đa số các cơ sở sản xuất dacủa ta còn chưa đạt yêu cầu xuất khẩu tại chỗ, thậm chí người tiêu dùng khótính trong nước còn khó chấp nhận:
- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa của da chưa đạt yêu cầu
- Sau khi thuộc (đối với da phèn xanh): chủ yếu phân loại chất lượngtheo mặt da để làm các mặt hàng tương thích
Trang 34- Trước khi hoàn thành: phân loại chủ yếu theo chất lượng bề mặt da
để đưa ra phương pháp xử lý trước khi đưa vào trau chuốt và định hướngquy trình công nghệ trau chuốt
- Da thành phẩm: phân loại chất lượng để định giá sản phẩm để đưa ra thịtrường
Việc phân loại thường là những công nhân có thâm niên và có kinhnghiệm, lành nghề đảm nhận
Theo lý thuyết và kinh nghiệm chuyên gia, ngoài một số yếu tố khác,hiện tại có những yếu tố chính tác động đến chất lượng da thuộc Việt Namcủa quá trình sản xuất da là:
1 Trình độ công nghệ của ngành
2 Nguyên vật liệu và hóa chất đầu vào
Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ xét trên những khía cạnhcơ bản có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến chất lượng đầu ra của sản phẩm
1.2.7.Nhận xét về phần 1 và nhiệm vụ của phần 2
Phần 1 đã khái quát những lý luận cơ bản về:
- Sản phẩm, chất lượng sản phẩm, các thuộc tính của chất lượng sảnphẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm,
- Đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹthuật, con người, thông tin, tổ chức),
- Sản phẩm da thuộc và quy trình công nghệ sản xuất da thuộc, cáckhía cạnh xem xét về sản phẩm da thuộc
Có thể tóm tắt như sau:
Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay một quá trình Nó thoảmãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thịtrường Sản phẩm gồm hai phần: phần cứng và phần mềm Phần cứngthể hiện dưới một hình thức cụ thể như sản phẩm da thuộc là dạng nguyênliệu đã qua chế biến Phần mềm của sản phẩm là các loại thông tin, dịch
vụ đi kèm đáp ứng nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.Công nghệ gồm bốn thành phần: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức cómối quan hệ hữu cơ chặt chẽ do con người điều hành để sản xuất ra cácsản phẩm phục vụ nhu cầu của xã hội
Công nghệ thuộc da của ta hiện nay là dạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua việc sử dụng nguyên liệu, thiết bị, hóa chất mới tạo ra các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Là yếu tố quyết định chính cho chất lượng da thành phẩm.
Trang 35Chất lượng của sản phẩm có thể hiểu là mức độ tập hợp các đặctính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc một quá trình thỏa mãn cácyêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan, như sản phẩm da xuấtkhẩu phải đảm bảo các yêu cầu về đặc tính kỹ thuật, yêu cầu cảm quan
và dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng
Chất lượng da thuộc thành phẩm phụ thuộc rất nhiều vào hàng loạtcác điều kiện như da nguyên liệu sống, hóa chất đầu vào, máy móc thiết
bị, quy trình công nghệ sản xuất, những người nghiên cứu, đề xuất, giámsát và thực hiện các quy trình công nghệ… (các thành phần công nghệ)
Như vậy nhiệm vụ của phần 2 là phân tích thực trạng ngành côngnghiệp thuộc da theo các thành phần công nghệ, thực trạng việc sử dụngnguyên liệu và hóa chất đầu vào và từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản
để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc ở phần 3
Trang 36Phần II Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt
Nam
2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc da
2.1.1 Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp thuộc da và các sản phẩm từ da thuộc
Thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da thuộc được phát triển mạnh tronggiai đoạn phát triển kinh tế mà ngành công nghiệp này cần nhiều nhân công, giánhân công tương đối rẻ để hướng mạnh về xuất khẩu như nước ta hiện nay Chấtlượng sản phẩm của cả hai đều lệ thuộc nhiều vào tính nghiêm túc và tay nghềcủa công nhân, sự nhậy bén về đổi mới sản phẩm Đặc biệt là việc tổ chứcquản lý sản xuất chặt chẽ và trình độ công nghệ cao
Da thuộc và các sản phẩm chế biến từ da thuộc có tiềm năng xuấtkhẩu lớn, giá trị cao hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại được sản xuất
từ các vật liệu khác
Ngày nay, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, mức sốngcủa người dân được nâng lên, nhu cầu về các sản phẩm chế biến từ dathuộc trên thị trường nội địa cũng tăng lên như:
+ Khi đời sống càng cao thì các sản phẩm tiêu dùng từ da thuộc là thờitrang không thể thiếu của trang phục đúng mốt, hiện đại của nhiều người
+ Nhu cầu bảo hộ lao động và phục vụ cho các lực lượng có nhu cầusắc phục, đồng phục
+ Một số mặt hàng da phục vụ cho các ngành công nghiệp chưa thaythế được bằng các vật liệu khác một cách thuyết phục
+ Da thuộc là nguồn khởi đầu giải quyết được nhiều công ăn việclàm tiếp theo cho người lao động làm giầy, dép và chế biến đồ da
+ Thuộc da phát triển đồng hành với sự tăng trưởng chăn nuôi đại gia súc,dần dần loại bỏ được việc xuất khẩu da nguyên liệu muối với giá trị thấp và giảmdần lượng da thành phẩm phải nhập khẩu cho công nghiệp sản xuất giầy dép
Như vậy, về tổng thể thuộc da phát triển được trên mọi vùng kinh tếtrọng điểm, trong khu công nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện riêngcủa nó như: Không đòi hỏi quy mô sản xuất lớn, có thể phát triển từng xínghiệp riêng lẻ nhưng theo chuyên môn hóa
Ngành công nghiệp thuộc da của nước ta phát triển vừa có ý nghĩakinh tế lại vừa có ý nghĩa xã hội rất lớn.[13,3-5]
2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc da nước ta
Nghề thuộc da đã tồn tại ở nước ta trên 500 năm, chủ yếu ở trình độ thủ công và làng nghề Năm 1912 chủ tư bản Pháp mới cho đầu tư xây dựng Nhà máy
Trang 37Da Thụy Khuê (Hà Nội) để sản xuất da công nghiệp phục vụ cho nhà máyDệt Nam Định, đến gần cuối những năm 90 của thế kỷ trước toàn bộ nhàmáy đã di chuyển vào thành phố Vinh (Nghệ An).
Những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, song song với sự phát triển của cáclàng nghề thủ công ở Hải Dương, Hưng Yên, Chợ Lớn, một số chủ tư nhânngười Việt Nam lập ra các nhà máy Vina Da, Bình Lợi Da, Đôna Da (ở Sài Gòn
và Biên Hòa) và đã cùng với nhà máy Da Thụy Khuê sản xuất da thuộc để đónggiầy da quân sự, buôn bán da muối và một phần phục vụ người tiêu dùng khác
Đến năm 1986 Công ty Cổ phần da Tây Đô (thành phố Cần Thơ)chập chững bước vào làng thuộc Da Việt Nam với quy trình sản xuất ban
đầu rất thủ công, sản phẩm duy nhất là da phèn xanh Sau đó đã vươn lêndẫn đầu về năng suất và chất lượng trong một thời gian
Từ đó thuộc da Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp trải quanhiều thăng trầm cho tới ngày nay
Khi đó, công nghệ sản xuất da thuộc chủ yếu là sử dụng công nghệtruyền thống đơn giản, làm bằng thủ công, thiết bị thô sơ, lạc hậu và hoá chất
đa phần tự điều chế lấy từ nguyên liệu trong nước Sản phẩm tạo ra ở mức thấpcấp, cung cấp cho nhu cầu quốc phòng và sản xuất công nghiệp như: da làmbao súng, bao đạn, giầy quân đội, da curoa, da vòng phục vụ ngành dệt
Các cơ sở sản xuất còn ít, nhỏ lẻ, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm da độngvật chưa nhiều, mặt khác ngành này còn ít được quan tâm từ phía Nhà nước
và chưa có giao lưu với nước ngoài, do đó trình độ công nghệ còn rất thấp
Năm 1989 các tổ chức phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã tài trợcho Viện Nghiên cứu Da - Giầy dự án VIE 85/013 Một xưởng thực nghiệmthuộc da mini tương đối hoàn chỉnh, hiện đại vào lúc đó đã ra đời Đây làbước ngoặt đánh dấu cho ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam tiếp xúc,
sử dụng hóa chất và công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Nhìn chung, ngành công nghiệp thuộc da nước ta còn nhiều yếu kém,
sự phát triển chưa được đồng đều trong cả nước, tập trung nhiều ở phía Nam.Sản phẩm da thuộc phần lớn phục vụ tiêu dùng nội địa, khoảng gần 20% dathành phẩm xuất khẩu tại chỗ nhưng chủ yếu từ da nguyên liệu nhập ngoại
Vấn đề đặt ra cho ngành là làm thế nào để nâng cao chất lượngsản phẩm da thuộc của nước ta, đáp ứng dần việc thay thế da nhập ngoạihiện nay khi nguồn da nguyên liệu còn nhiều vấn đề về chất lượng chưathể giải quyết trong một thời gian ngắn
Từ hơn 10 năm trở lại đây, khi Đảng và Nhà nước có chính sách đổi mới, mở cửa các nhà máy và các cơ sở thuộc da trong cả nước có điều kiện tiếp xúc, quan hệ
Trang 38với nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia công nghệ, các hãng hoá chất và thiết
bị của các nước trên thế giới, do đó sản phẩm da thuộc ngày một nâng cao cả về
số lượng lẫn chất lượng Năm 2004 cả nước sản xuất được 39 triệu sqft da các loại,chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa và một phần xuất khẩu tại chỗ.[15,9],[13].Năm 2005 đạt 43,7 triệu sqft.[21,PL] Năm 2007 đã đạt 75 triệu sqft
Hàng năm, ngành sản xuất Giầy phải nhập khẩu một lượng lớn da thuộc các loại cung cấp cho các nhà máy và các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm xuất khẩu.
Các cơ sở thuộc da trong nước trước đây thường xây dựng ở vị trí ven
đô, gần sông ngòi để tiện nguồn nước sử dụng và thải chất lỏng ra sông.Hiện nay do quá trình đô thị hóa rất nhanh các cơ sở này đều nằm trongnội đô, diện tích chật hẹp không thể xây dựng hệ thống xử lý chất thảihoàn chỉnh hoặc đầu tư đơn giản do chi phí không sinh lợi
Việc phát triển sản xuất tự phát, manh mún, đầu tư chiều sâu không
đồng bộ, trình độ công nghệ trung bình khá, không đều, quản lý côngnghệ còn yếu, nguồn nhân lực làm công tác R & D, kỹ thuật cao…rất ít vàchưa sâu dẫn đến chất lượng da thành phẩm chưa đạt đồng đều, việctìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dathuộc là một yêu cầu rất cấp bách và cần thiết,[19,13-15],[14],[22]
2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam
2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất
Trước năm 1990, cả nước chỉ có 2 doanh nghiệp thuộc da Trung ương(Da Thụy Khuê và Da Sài Gòn), 3 doanh nghiệp thuộc da địa phương (DaVinh - Nghệ An, Da Thái Bình và Da Tây Đô - Cần Thơ); một số cơ sở tưnhân như: làng thuộc da Phú Thọ Hòa (thành phố Hồ Chí Minh), Da Đại Lợi(Hà Nội) và làng thuộc da Phố Nối (Hưng Yên) Năng lực sản xuất hạn chế,chất lượng không cao, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa
Từ năm 1990 lại đây, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trườngngành công nghiệp thuộc da đang tồn tại và phát triển nhiều loại hìnhdoanh nghiệp, nhiều hình thức sở hữu khác nhau
Bảng 1 Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da cả nước.[19, Phụ lục]
Loại hình doanh nghiệp Số lượng
Trang 391 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
2 Các Công ty cổ phần và các cơ sở tư nhân có năng lực và quy môsản xuất lớn hơn
a) Khu vực phía Bắc và miền Trung
Chỉ có một doanh nghiệp lớn là công ty cổ phần Da Vinh - Nghệ
An, công suất thiết kế khoảng 2,5 triệu sqft năm, tuy nhiên thực tế chỉthực hiện được 50-70%
Các cơ sở sản xuất da thuộc khác đều nhỏ, trang bị máy móc thiết
Trang 40b) Khu vực miền Nam
Năng lực sản xuất da thuộc của các doanh nghiệp lớn chủ yếu nằm ởphía Nam, tập trung một số vùng như: thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ Sản lượng da thuộc chiếmkhoảng 75 - 80% tổng sản lượng trong cả nước
Các doanh nghiệp nổi trội hơn hẳn như: cơ sở thuộc Da Hưng Thái vàcông ty TNHH thuộc Da Đặng Tư Ký - thành phố Hồ Chí Minh là hai doanhnghiệp đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm, đượccác chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và có nhiều triển vọng
Một số công ty 100% vốn nước ngoài như: Samwoo, Green Tech,Tong Hong chủ yếu thực hiện công nghệ cán tráng màng PU trên da vángnhập ngoại phục vụ cho xuất khẩu tại chỗ và tiêu thụ nội địa Riêng công ty
Da Prime Asia ngoài sản xuất da váng phủ, còn sản xuất da phèn xanh xuấtkhẩu với tỷ lệ 20%-80%
Công ty liên doanh thuộc da Hào Dương hiện nay đang sản xuất gần 40 tấn
da nguyên liệu/ ngày (nguyên liệu nhập ngoại) chủ yếu da phèn xanh xuất khẩu Trong thời gian tới sẽ thực hiện công nghệ sản xuất da mộc và da hoàn thành.
Công ty cổ phần Da Tây Đô - Cần Thơ là một trong những doanhnghiệp thuộc da phát triển sớm so với các cơ sở khác trong nước Từ nhữngnăm 90 của thế kỷ trước, công ty này đã sản xuất các sản phẩm cao cấp vàxuất khẩu da phèn xanh, hiện nay đang gia công cho ý sản phẩm da bòcon với công suất 06 - 08 tấn da nguyên liệu/ ngày
Ngoài ra các cơ sở thuộc da vừa và nhỏ ở khu vực thành phố Hồ ChíMinh cũng đang phát triển mạnh, tuy nhiên các cơ sở này sẽ di chuyển đếnkhu công nghiệp nằm ngoài thành phố vì lý do môi trường
2.2.2.2.Theo quy mô và năng lực sản xuất
a) Các cơ sở thuộc da có năng lực sản xuất và quy mô nhỏ
Là toàn bộ các cơ sở thuộc da khu vực Phố Nối (Hưng Yên) và một số
hộ ở làng nghề Phú Thọ Hòa (thành phố Hồ Chí Minh), có năng lực sảnxuất từ 20.000 - 300.000 sqft/năm
- Đây là mô hình sản xuất và quản lý của các hộ gia đình ở nôngthôn trong cùng một làng, xã
- Diện tích nhà xưởng khoảng 300 - 1.000m2/cơ sở (vừa là nhà ở, vừa lànơi sản xuất, gia công da thuộc, thậm chí cả bảo quản da muối khi cần)
- Máy móc thiết bị được đầu tư chắp vá, rất thủ công và thô sơ Chỉ có một
ít máy móc thiết bị nhỏ, cũ, lạc hậu, thiếu đồng bộ như: thùng quay (phu lông), bể ngâm, máy xẻ, máy bào có chiều dài trục làm việc là 300 mm, 600 mm Nhưng chỉ