Do vậy, để nghiên cứu sự phát triển công nghiệp ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước cần xem xét công nghiệp của tỉnh trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các thàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Xuân Sáng
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Xuân Sáng
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH BÌNH PHƯỚC
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ XUÂN THỌ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn khoa học TS Phạm Thị Xuân Thọ - Trưởng khoa Địa lí trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Sau Đại học, Khoa Địa lí Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong việc học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Sở Công thương, Sở Kế hoạch Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh Bình Phước đã cung cấp cho tác giả nhiều tư liệu, tài liệu quý giá và hữu ích để nghiên cứu phục vụ cho luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu vá các thầy cô trong trường THPT chuyên Quang Trung tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người thân yêu đã động viên giúp đỡ trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đồng Xoài, ngày 29/08/2011
Tác giả
Nguyễn Xuân Sáng
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5CNH : Công nghiệp hóa
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
HĐH : Hiện đại hóa
KCN : Khu công nghiệp
UNIDO : Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc
KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm phía Nam
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 6Bình Phước là một tỉnh nằm ở phía Bắc của Đông Nam Bộ, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích và dân số thuộc loại trung bình trong cả nước Được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 1997, tuy đã trải qua một thời gian phát triển khá nhanh nhưng Bình Phước vẫn còn là một trong những tỉnh có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thuộc loại thấp trong cả nước, đời sống của đại bộ phận dân cư, nhất là ở những vùng sâu vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn
Tỉnh Bình Phước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ với những nông sản chủ lực dẫn đầu toàn vùng như cao su, điều, tiêu… Tuy vậy, Bình Phước lại không
có những điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp tốt như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Bà Rịa - Vũng Tàu do những hạn chế về cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ VIII đã xác định mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội từ năm 2010 - 2020 là tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra, con đường duy nhất là phải tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở đẩy mạnh phát triển công
nghiệp Do đó, tác giả luận văn chọn đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước” nhằm đánh giá hiện trạng phát triển
công nghiệp tỉnh Bình Phước, đưa ra những giải pháp phát triển cho công nghiệp của tỉnh góp phần thúc đẩy kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước thêm giàu mạnh Đồng thời, luận văn còn là nguồn tư liệu phục vụ cho giảng dạy địa lí địa phương tỉnh nhà
Trang 7Đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp để thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lí luận về công nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp, phân tích ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Bình Phước
Thu thập, phân tích, tổng hợp hiện trạng ngành công nghiệp tỉnh Bình Phước từ năm 1997 –
2010
Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế mà công nghiệp của tỉnh Bình Phước
Đề xuất các phương hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước
2.3.3 Về nội dung
Nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp tỉnh Bình Phước, tác giả chỉ nghiên cứu sự phát triển công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ Còn khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước thì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Trong chuyển dịch cơ cấu ngành, tác giả chưa có điều kiện để đi sâu nghiên cứu trong nội bộ chuyển dịch từng ngành mà chỉ nghiên cứu khái quát về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Trang 83 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Xã hội loài người đã trải qua thời kỳ văn minh nông nghiệp và chuyển sang thời kỳ văn minh công nghiệp cách đây gần 200 năm Ngay sau khi ra đời, sản xuất công nghiệp đã phát triển không ngừng và hiện đang là ngành chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Công nghiệp là vấn đề chung của các nước ở trên thế giới Có những nước ngành công nghiệp phát triển rất mạnh nhưng cũng có những nước công nghiệp đang và kém phát triển Do vậy, công nghiệp là đề tài mà được rất nhiều các tác giả trong nước cũng như nước ngoài nghiên cứu, nhất là các tác giả nước ngoài
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một số đề tài tiêu biểu như:
- Công nghiệp hóa và chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới
2020 của Bộ công nghiệp Việt Nam năm 2000
- Các khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam – hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển
Đề tài nghiên cứu cấp bộ - Lê Thị Hường (chủ biên) – Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh –
2000
- Một số ý kiến góp phần hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển công nghiệp địa phương
ở nước ta hiện nay – Đàm Văn Nhuệ - Trường Đại học Kinh tế kế hoạch 1983
- Công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển và khả năng vận dụng vào Việt Nam – An Như
Hải – Trường Đại học Kinh tế quốc dân – 1993
- Hoàn thiện và phát triển đa dạng hóa sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp nước ta
hiện nay – Trường Đại học Kinh tế quốc dân – 1993
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 – Nguyễn Trần Quốc –
- Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam – Lê Thông – Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Văn Phú
- Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam – PGS.TS Lê Thông – PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ – năm 2000
Trang 9- Thương mại Việt Nam – Bộ Thương Mại, Trung Tâm thương Mại – năm 2005
- Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập – PGS.TS Đặng Văn Phan – PGS.TS Nguyễn Kim Hồng - năm 2006…
Nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế tỉnh Bình Phước là đề tài hoàn toàn mới, chưa được nghiên cứu bất cứ trong tài liệu nào Tuy nhiên, trong các văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ VI, VII, VIII, IX, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, báo cáo tình hình đầu tư và định hướng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh của Ban quản lí các khu công nghiệp tỉnh Bình Phước, báo cáo phát triển công nghiệp phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 của Sở Công nghiệp tỉnh Bình Phước cũng đề cập đến vấn đề về công nghiệp của tỉnh Bên cạnh đó, vấn đề này còn được thể hiện trong đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả nền kinh tế, đẩy nhanh phát triển công nghiệp của tỉnh Bình Phước giai đoạn 2006 -
2010 của Tỉnh ủy Bình Phước Nhìn chung, các tài liệu đều nhìn nhận vấn đều đánh giá một cách khái quát dưới góc độ kinh tế - chính trị, chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu một cách chi tiết dưới góc
độ địa lí kinh tế - xã hội
Các công trình trên là những tài liệu quý giá giúp cho tác giả có định hướng sâu hơn trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 – 2010
1
4 Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Hệ thống quan điểm nghiên cứu
Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước, tác giả đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và Đông Nam Bộ và cả
nước nói chung
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Trang 10Lãnh thổ kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước với tư cách là một hệ thống con trong hệ thống kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước lại do nhiều phân
hệ con nhỏ hơn tạo thành như các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế Các phân hệ này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, có tác động, ảnh hưởng đến các yếu tố trong toàn hệ thống và giữa các hệ thống với nhau Do vậy, để nghiên cứu sự phát triển công nghiệp ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước cần xem xét công nghiệp của tỉnh trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần trong toàn hệ thống kinh tế - xã hội tỉnh và mối tương quan với sự phát triển kinh tế, công nghiệp của vùng và cả nước
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí dù lớn hay nhỏ đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển riêng của nó Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào việc nghiên cứu sự phát triển công nghiệp vả ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước sẽ cho thấy lịch sử hình thành cũng như những chuyển biến về tình hình phát triển công nghiệp của tỉnh trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí trong tương lai
4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của đời sống đều liên quan đến môi trường sinh thái Công nghiệp là ngành ảnh hưởng rất lớn đến môi trường Trái Đất đang nóng lên, khí hậu đang ngày càng
có xu hướng biến động xấu thì “thủ phạm” được quan tâm hàng đầu là hoạt động sản xuất của công nghiệp Khí thải công nghiệp, nước thải, rác thải đã làm ô nhiễm môi trường, đồng thời việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lí làm cho môi trường sống ngày càng cạn kiệt
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới Quán triệt quan điểm phát triển bền vững, trong quá trình phát triển công nghiệp tỉnh Bình Phước thực hiện theo phương châm phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế
hệ trong tương lai Điều đó có nghĩa là các hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phải đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển hiện tại và các hoạt động sản xuất đó không gây nguy hại cho những thế hệ trong tương lai như vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên …
4.2 Ph ương pháp nghiên cứu
4.2.1 Ph ương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng thường xuyên như công cụ để phân tích, lựa chọn những giá trị đúng nhất, gần với thực tiễn trên cơ sở các số liệu thu được từ nhiều nguồn như: Tổng cục Thống
kê, Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, các sở, ban ngành,…để phân tích và đánh giá tác động của công nghiệp hóa đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Bình Phước như tính toán về tốc độ tăng
Trang 11trưởng công nghiệp Đồng thời, phương pháp toán học cũng được sử dụng trong việc phân tích, lựa chọn các giải pháp thích hợp cho định hướng công nghiệp của tỉnh Bình Phước Ví dụ như tính toán
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước…
4.2.2 Ph ương pháp bản đồ - biểu đồ
Trong luận văn, tác giả đã tiến hành thành lập một hệ thống các bản đồ liên quan đến nội dung của luận văn, cụ thể như: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước, bản đồ công nghiệp chung tỉnh Bình Phước, bản đồ giá trị công nghiệp theo lãnh thổ tỉnh Bình Phước, bản đồ các khu công nghiệp
Các bản đồ được thành lập trên cơ sở dữ liệu thu thập và chồng xếp các bản đồ chuyên đề nhằm xác lập mối liên hệ các đối tượng địa lí Đồng thời, các số liệu thống kê, cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ, theo ngành còn được thể hiện bằng biểu đồ
4.2.3 Phương pháp điều tra thực địa
Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định được mức độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã có và có thể đưa ra những luận cứ xác thực Tác giả đã trực tiếp quan sát, đến một số khu công nghiệp như Đồng Xoài I, II, III, IV, Minh Hưng Hàn Quốc… chụp ảnh và tìm hiểu hoạt động của một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhà
4.2 4 Phương pháp dự báo
Dựa trên cơ sở sự phát triển có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại
mà suy diễn logic cho tương lai: dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp tỉnh Bình Phước trong thời gian sắp tới và đưa ra các giải pháp để tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh
Đề tài dự báo được xu thế của sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước đến năm 2020
4.2.5 Phương pháp phân tích, so sánh
Tác giả tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu các số liệu thống kê để thấy được hiện trạng phát triển công nghiệp và sự biến đổi cơ cấu kinh tế qua từng giai đoạn, sự khác biệt về phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong các giai đoạn cũng như so sánh giá trị sản xuất công nghiệp giữa địa phương với các địa phương khác hay cả nước
1
5 Cấu trúc của đề tài
Đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước”, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp và ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế tỉnh Bình Phước
Trang 12Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG NGHIỆP,
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1
1.1 Một số vấn đề về công nghiệp
2
1.1.1 Khái ni ệm về công nghiệp
“Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra nguyên liệu
Giai đoạn 2: Chế biến nguyên liệu thành sản phẩm
Các sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng được sản xuất bằng máy móc thiết bị dựa trên khoa học kỹ thuật hiện đại có khả năng sản xuất hàng loạt sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Tuy vậy, khái niệm nguyên liệu và sản phẩm chỉ là tương đối vì sản xuất công nghiệp gồm nhiều giai đoạn chế biến phức tạp, mỗi sản phẩm của ngành này có thể là nguyên liệu của ngành kia
Các quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là quá trình phổ biến trên quy mô toàn cầu, là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển Tuy nhiên, công nghiệp hóa có nhiều quan niệm khác nhau:
- Quan điểm của Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì khi tiến hành CNH
nhấn mạnh phát triển công nghiệp nặng Cho rằng: CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp
cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với trung tâm là chế tạo máy Với đường lối CNH như vậy, công nghiệp nặng có vai trò đặc biệt quan trọng và trong
một chừng mực nhất định nó phù hợp với hoàn cảnh Liên Xô khi bước vào thời kỳ CNH: Chủ nghĩa
đế quốc bao vây, chống đối, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, trong khi yêu cầu phải xây dựng một nền sản xuất lớn hiện đại và bảo vệ chủ nghĩa xã hội
- Quan niệm mới về CNH: năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra quan niệm:
Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế Trong quá trình này, một bộ phận nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này, có một bộ phận công nghiệp chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội
Trang 14Khái niệm về “công nghiệp hóa” và “hiện đại hóa”
Kinh nghiệm về CNH của các nước đi trước và qua thực tế kiểm nghiệm, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng, CNH, HĐH được hiểu là:
- Công ngh iệp hóa là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành giữ vị trí quan trọng, biến một nước có nền kinh tế kém phát triển thành một nước có nền kinh tế phát triển, thành một nước công nghiệp hiện đại CNH chính là một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động
- Hiện đại hóa là quá trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình CNH
2
1.1.2 Vị trí vai trò của công nghiệp
Công nghiệp thực sự có năng suất cao, kỹ thuật hiện đại mới xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII khi chủ nghĩa tư bản ra đời thủ tiêu chế độ phường hội phong kiến Ngày nay, công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao, trở thành ngành sản xuất tiêu biểu đại diện cho một nền sản xuất lớn hiện đại làm tiền đề kỹ thuật, tạo cơ sở vật chất cho các ngành kinh tế khác
Công nghiệp đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất rất lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nó không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của xã hội loài người
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, du lịch và củng cố an ninh quốc phòng Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng các sản phẩm công nghiệp Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các vùng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động và giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ
Công nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản xuất vật chất nào
so sánh được Vì thế, nó tạo khả năng mở rộng sản xuất, thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập
Ngày nay, một nước muốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển ổn định
về kinh tế - xã hội cần thiết phải có một hệ thống các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng Tỉ trọng của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia
Trang 151.1.3 Phân lo ại công nghiệp
Nhằm quản lí và kế hoạch hóa sản xuất công nghiệp cần phân chia công nghiệp một cách có căn cứ khoa học Có nhiều cách phân chia dựa theo những căn cứ khác nhau
Phân chia công nghiệp thành công dụng kinh tế của sản phẩm
Việc phân chia này nói lên tác dụng của sản phẩm công nghiệp trong sản xuất và tiêu dùng, nói lên sự tương quan giữa sản xuất và tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất mở rộng
Nhóm ngành công nghiệp nặng (nhóm A): là những ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất, bao gồm các ngành công nghiệp khai thác nhiên liệu và sản xuất điện năng, công nghiệp khai thác quặng
và luyện kim, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp hóa chất, công nghiệp khai thác và chế biến
gỗ, công nghiệp vật liệu xây dựng
Nhóm ngành công nghiệp nhẹ (nhóm B): là các ngành sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, bao gồm các ngành như công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp sành sứ thủy tinh, công nghiệp da dày, công nghiệp in, hóa chất, điện tử - tin học…
Trên cơ sở tính đồng nhất của công dụng sản phẩm sản xuất ra hay căn cứ vào tính chất
chung của nguyên liệu được sử dụng, hoặc dựa vào tính chất giống nhau của các quá trình công nghệ người ta chia toàn bộ nền công nghiệp thành các nhóm ngành chẳng hạn như công nghiệp luyện kim, công nghiệp gia công, kim loại, công nghiệp chế biến gỗ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến thực phẩm
Căn cứ vào tính chất của sự tác động vào đối tượng lao động, người ta chia công nghiệp nói chung thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến
Tác dụng của cách phân loại này là nhằm nghiên cứu quan hệ tỉ lệ và cân đối giữa khai thác
và chế biến
Trong công nghiệp khai thác, con người tác động trực tiếp đến tự nhiên và nhận được từ lòng đất, từ rừng, từ nước nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, vật liệu xây dựng, nhiên liệu và thủy năng Người ta xếp vào ngành công nghiệp khai thác các ngành công nghiệp khai thác mỏ, khai thác
gỗ, đánh cá, các nhà máy thủy điện…
Công nghiệp chế biến nguyên liệu nhận được từ công nghiệp khai thác và từ công nghiệp sản phẩm thô dùng hoặc làm vật liệu sản xuất tiếp hoặc làm ra vật phẩm tiêu dùng Ngành này bao gồm luyện kim, chế tạo máy, hóa chất, dệt, công nghiệp thực phẩm và các ngành công nghiệp khác
Ngoài ba cách phân loại trên, còn có các loại phân loại ngành công nghiệp khác căn cứ vào các tiêu thức khác nhau Dựa theo trình độ trang bị kỹ thuật, công nghiệp được chia thành công nghiệp hiện đại, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp Dựa vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất công nghiệp được phân hành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp công tư hợp doanh, hợp tác xã,
Trang 16doanh nghiệp tư nhân… Dựa theo cấp quản lí, sản xuất công nghiệp được chia thành công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương
Trong thực tế, sản xuất công nghiệp được phân chia theo hướng vận dụng tổng hợp các cách nói trên Chẳng hạn ngành công nghiệp cơ khí là một bộ phận của ngành công nghiệp nặng và cũng
là một bộ phận của ngành công nghiệp chế biến Ngành này lại bao gồm những xí nghiệp quốc doanh ở cả trung ương và địa phương, những xí nghiệp công tư hợp doanh, tư doanh, hợp tác xã…
2
1.1.4 Các hình th ức tổ chức lãnh thổ công nghiệp
5
1.1.4.1 Điểm công nghiệp
- Theo X Xlavev (1977): Điểm công nghiệp là lãnh thổ trên đó có một điểm dân cư với một, hay một nhóm xí nghiệp công nghiệp (thị trấn, thị tứ)
- Theo M Ghenexki và K Krưxter (1975): Điểm công nghiệp là các lãnh thổ (thị trấn, thị tứ,
trung tâm cụm xã) trên đó có sự hoạt động của một xí nghiệp công nghiệp
Như vậy, mặc dù hai quan niệm trên không hoàn toàn giống nhau nhưng khá thống nhất ở chỗ thực chất điểm công nghiệp là một hình thức đồng nhất với điểm dân cư có xí nghiệp công nghiệp Do chỉ tồn tại một xí nghiệp công nghiệp duy nhất nên ở đây không có mối liên hệ sản xuất nhưng mỗi điểm công nghiệp có kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội với ý nghĩa nhất định Nó cũng
có quá trình phát sinh, phát triển và cấu trúc sản xuất riêng tuy còn ở mức sơ khai
- "Hạt nhân công nghiệp":
Ngoài ra, một số người lại đưa hình thức khác rộng hơn cho quan niệm này là “hạt nhân công nghiệp” Nó bao gồm lãnh thổ của một điểm dân cư trên đó tập trung một số xí nghiệp công
nghiệp có thể thuộc nhiều ngành khác nhau
Điểm công nghiệp là hình thức đơn giản và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt
là những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp bởi vì điểm công nghiệp theo kiểu đơn lẻ này cũng
có những mặt tích cực nhất định Nó có tính cơ động, dễ đối phó với những sự cố và thay đổi trang thiết bị, không bị ràng buộc và ảnh hưởng của các xí nghiệp khác, đặc biệt thuận cho việc thay đổi mặt hàng trong quá trình sản xuất, kinh doanh
6
1.1.4.2 Cụm công nghiệp
- Theo X.Xlavev (1977): Dựa vào điều kiện cụ thể của Bungari, ông cho rằng cụm công nghiệp là một kết hợp sản xuất – lãnh thổ, ra đời trên cơ sở các xí nghiệp công nghiệp nằm ở một hoặc một số điểm dân cư Trong số các điểm ấy có một điểm lớn giữ vai trò hạt nhân, các điểm còn lại giữ vài trò vệ tinh Ngoài ra các điểm dân cư gắn bó với nhau thông qua việc cùng chung lãnh thổ và thực
Trang 17hiện các mối liên hệ về sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương Trong các điểm dân sư còn bao gồm cả các cơ sở phục vụ và quản lí nền kinh tế, hệ thống nhà ở và các bộ phận khác của kết cấu hạ tầng
- A.E.Probxt (1962) cho rằng cụm công nghiệp là thể tổng hợp sản xuất - lãnh thổ được giới hạn bởi một điểm hoặc một trung tâm địa lí Hạt nhân tạo nên cụm công nghiệp có thể là các nhà máy liên hợp, hoặc một số xí nghiệp cùng loại hay khác loại
- A.T.Khorutsov (1979): Cụm công nghiệp là một kết hợp sản xuất - lãnh thổ mang tính chất tổng hợp Do nằm gần nhau, các xí nghiệp thống nhất với nhau bằng việc có chung vị trí địa lí, giao thông, hệ thống kết cấu hạ tầng và các điểm dân cư nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, vật chất sẵn có trên lãnh thổ
6
1.1.4.3 Khu công nghiệp
- Các nhà khoa học của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva đưa ra một số quan niệm khác nhau Có thể dẫn ra một vài định nghĩa cụ thể:
Khu công nghiệp là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp ở gần nhau được quy tụ về một hay một vài trung tâm công nghiệp và bị chi phối bởi các nhân tố phân bố công nghiệp đồng nhất
Theo Lu.G.Xauskin (1981) khu công nghiệp là sự tập hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp, tạo thành sự thống nhất kinh tế với nền tảng là các ngành công nghiệp lớn có ý nghĩa toàn quốc và các ngành phục vụ có liên quan
Theo Xêmênov (1981) thì khu công nghiệp là một đối tượng sản xuất phức tạp kết hợp hàng loạt nhân tố kinh tế, xã hội, tự nhiên có quan hệ với nhau, nhưng khác nhau về loại hình và mục đích
Nhìn chung các quan niệm nêu trên dều không thật rõ ràng và cụ thể
- Quan niệm của một số nhà khoa học thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây tương đối rõ hơn:
Khu công nghiệp bao gồm một nhóm các trung tâm công nghiệp phân bố gần nhau và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hoá, mạng lưới vận tải thống nhất và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ (1981)
Trang 181.1.4.4 Trung tâm công nghiệp
Trung tâm công nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cao hơn điểm công nghiệp Thông thường, trong những điều kiện thuận lợi các điểm công nghiệp có những biến đổi về chất và chuyển dần thành một kết hợp sản xuất với một lãnh thổ khác Đó là trung tâm công nghiệp
- Theo X Xlavev (1977): Trung tâm công nghiệp thường là điểm dân cư tương đối lớn (thành phố), trên đó tập trung các xí nghiệp của một số ngành công nghiệp
- Một số khác lại cho rằng: Trung tâm công nghiệp là sự tập trung một số xí nghiệp thuộc
các ngành khác nhau vào một điểm dân cư Chính điểm dân cư đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trung tâm công nghiệp
6
1.1.4.5 Vùng công nghiệp
Vùng công nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ cao nhất, xuất hiện sớm trong địa lí Xô Viết Khái niệm này được xem như sự tác động qua lại phức tạp và vùng phân bố trên một lãnh thổ của các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác nhau
Theo các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây (1987), vùng công
nghiệp bao gồm một lãnh thổ tương đối rộng lớn, có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, cơ sở hạ
tầng, nguồn nhân lực, về kinh tế - xã hội, có khả năng bố trí tập trung công nghiệp nhằm đạt hiệu
quả và tốc độ tăng trưởng cao, thúc đẩy, đảm bảo sự phát triển của các vùng khác và của cả nước
Như vậy, vùng công nghiệp là một khái niệm tương đối rộng Việc xác định quy mô và ranh giới của nó khá linh hoạt
Nhìn chung, vị trí địa lí có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu ngành công nghiệp
và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành trong điều kiện tăng cường mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới Sự hình thành và phát triển các xí nghiệp các ngành công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lí Có thể thấy rõ hầu hết các cơ sở
Trang 19công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới đều được bố trí ở các khu vực có vị trí địa lí thuận lợi như gần các trục đường giao thông, sân bay, bến cảng, gần nguồn nước, khu vực tập trung đông dân cư
Vị trí càng thuận lợi thì mức độ tập trung công nghiệp càng cao, các hình thức tổ chức công nghiệp càng đa dạng và phức tạp Ngược lại những khu vực có vị trí địa lí kém thuận lợi sẽ gây trở ngại cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp cũng như việc kêu gọi vốn đầu tư
b) Nguồn lực tự nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chất không thể thiếu được để phát triển và phân bố công nghiệp Nó ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và xác định cơ cấu ngành công nghiệp Số lượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình phát triển và phân bố của nhiều ngành công nghiệp
Việt Nam được đánh giá là có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi hình thành và phát triển các ngành công nghiệp từ Bắc tới Nam: Khai thác than ở Quảng Ninh, khai thác và chế biến quặng sắt ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Apatit ở Lào Cai, bôxit ở Tây Nguyên, đá vôi ở các tỉnh phía Bắc…
Khí hậu và nguồn nước
Nguồn nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngành công nghiệp Mức độ thuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp nước hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp Nhiều ngành công nghiệp được phân bố gần nguồn nước như: công nghiệp luyện kim, công nghiệp dệt, công nghiệp giấy, hóa chất và chế biến thực phẩm… Những vùng có mạng lưới sông ngòi dày đặc và chảy trên các dạng địa hình khác nhau tạo nên tiềm năng cho công nghiệp thủy điện Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào nguồn nước cũng tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành công nghiệp Ví dụ Trung Quốc đã tiến hành xây dựng đập Tam Hiệp chặn sông Trường Giang (con sông lớn thứ 3 thế giới) và đến nay nó là đập thủy điện lớn nhất thế giới, với công suất phát điện 18.200MW, sản lượng điện 84,3 tỉ KWh/năm
Trang 20Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, chảy trên vùng đồi núi với nguồn nước dồi dào, là
cơ sở cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện có công suất lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và đời sống con người như nhà máy thủy điện Hòa Bình có công suất 1,92 triệu KW trên sông Đà, thủy điện Trị An có công suất 400 MW trên sông Đồng Nai, thủy điện Tuyên Quang 342MW
Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố công nghiệp Đặc điểm khí hậu có tác động không nhỏ đến hoạt động của các ngành công nghiệp khai khoáng Trong một số trường hợp
nó chi phối cả việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất Ví dụ ở một số nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm cho máy móc dễ bị hư hỏng Vì vậy đòi hỏi phải nhiệt đới hóa trang thiết bị sản xuất
Các nhân tố tự nhiên khác
Các nhân tố tự nhiên khác có tác động đến sự phát triển và phân bố công nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật…
- Về mặt tự nhiên đất ít có giá trị đối với công nghiệp nhưng quỹ đất dành cho công nghiệp
và địa chất công trình cũng ít nhiều ảnh hưởng đến quy mô và đầu tư trong công nghiệp
- Tài nguyên sinh vật cũng tác động tới sản xuất công nghiệp: cung cấp vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến giấy, gỗ, tiểu thủ công nghiệp…
c) Nguồn lực kinh tế - xã hội
Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển công nghiệp Dân cư
và nguồn lao động vừa là lực lượng sản xuất vừa là thị trường tiêu thụ Những ngành cần nhiều lao động như dệt may, da giày… thường phân bố ở nơi đông dân cư Các ngành sản xuất hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người cũng thường phân bố ở những nơi có mật độ dân số cao
và những điểm tập trung đông dân cư (như công nghiệp dệt, công nghiệp thực phẩm, đồ dùng gia đình, đồ chơi…) chất lượng của người lao động như trình độ học vấn, trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và đáp ứng những thành tựu của khoa học và kỹ thuật đối với những xí nghiệp công nghiệp
Quy mô, cơ cấu và thu nhập của dân cư cũng ảnh hưởng lớn đến quy mô và cơ cấu của nhu cầu tiêu dùng, là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp Khi tập quán và nhu cầu tiêu dùng thay đổi cũng có ảnh hưởng đến quy mô và hướng chuyên môn hóa các ngành công nghiệp, từ đó thúc đẩy hay
kìm hãm sự phát triển công nghiệp
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghiệp có ý nghĩa nhất định đối với sự phát triển công nghiệp Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật có thể tạo tiền đề thuận lợi hay
Trang 21cản trở sự phát triển công nghiệp nói chung và tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng Hệ thống cơ
sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp bao gồm hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, mạng lưới cung cấp điện, nước, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở công nghiệp… có vai trò ngày càng quan trọng trong công nghiệp Sự tập trung cơ sở hạ tầng trên một lãnh thổ đã làm thay đổi vai trò của nhiều nhân tố phân bố công nghiệp, đem lại nhiều yếu tố mới
trong bức tranh công nghiệp
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra những khả năng mới về sản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỉ trọng của chúng trong tổng thể toàn bộ ngành công nghiệp, làm cho việc sử dụng, khai thác tài nguyên và phân bố các ngành công nghiệp trở nên hợp lí hơn, có hiệu quả và kéo theo những thay đổi về quy luật phân bố sản xuất Đồng thời nảy sinh những nhu cầu mới xuất hiện những ngành công nghiệp mới mở ra những triển vọng phát triển mới cho ngành công nghiệp trong tương lai
Đường lối, chính sách phát triển công nghiệp
Đường lối, chính sách phát triển có ảnh hưởng trực tiếp, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển công nghiệp Chính vì vậy trong quá trình phát triển công nghiệp khi có một đường lối chính sách phát triển đúng đắn sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển mạnh và ngược lại
Phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập, nước Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Phước nói riêng
đã xây dựng những ngành công nghiệp mũi nhọn dựa vào lợi thế so sánh như công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, công nghiệp nhẹ gia công xuất khẩu, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin, một số ngành sản xuất nhiên liệu cơ bản… Cơ cấu công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ đã có những
chuyển biến rõ rệt theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
6
1.1.5 2 Nguồn lực bên ngoài
Thị trường: Thị trường bao gồm thị trường trong nước và thị trường quốc tế đóng vai trò
như chiếc đòn bẩy đối với sự phát triển, phân bố và làm thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp Thị trường có tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn hướng chuyên môn hóa sản xuất công nghiệp Sự phát triển công nghiệp ở bất kỳ quốc gia nào đều nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước và hội nhập
vào thị trường quốc tế
Công nghiệp có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn, vì công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất, trang thiết bị cho tất cả các ngành kinh tế và đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng cho dân cư
Trang 22Sự phát triển về truyền thông đại chúng đã làm cho mọi thông tin cập nhật nhanh chóng được phổ cập tới toàn xã hội, trong đó có thông tin về thị trường tiêu thụ Nó kých thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Do đó, sản phẩm của ngành công nghiệp cũng phải đa dạng mẫu mã, đẹp và đảm bảo chất lượng
Các xu hướng hợp tác quốc tế và liên vùng: Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp
tác liên vùng, quốc tế có tác dụng thúc đẩy sự phát triển công nghiệp diễn ra nhanh hay chậm Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới cùng với những tiến bộ kỹ thuật phát triển như vũ bão Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, đem lại lợi ích cho các bên đối tác trong các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho phát triển sản xuất công nghiệp Đối với các nước, các vùng chậm phát triển, để giảm khoảng cách về trình độ phát triển và tránh tụt hậu, cần
phải quan tâm đến sự hợp tác quốc tế và liên vùng
Vai trò của hợp tác quốc tế và liên vùng được thể hiện như sau:
- Hỗ trợ vốn đầu tư từ các nước, các vùng phát triển cho các nước, các vùng đang phát triển và chậm phát triển Quá trình hợp tác đầu tư làm xuất hiện ở các nước, các vùng đang phát triển và chậm phát triển một số ngành công nghiệp mới, các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất và mở mang các ngành nghề truyền thống Điều đó dẫn đến sự thay đổi tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo hai chiều tích cực và tiêu cực
- Chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cũng là một trong những xu hướng quan trọng của sự hợp tác quốc tế và liên vùng Kỹ thuật, công nghệ hiện đại có ý nghĩa quyết định đến tốc độ phát triển công nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, phương hướng sản xuất và sau đó là việc phân bố sản xuất
- Chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lí đến các nước, các vùng chậm phát triển hơn đã trở thành yêu cầu cấp thiết Kinh nghiệm quản trị giỏi không chỉ giúp từng xí nghiệp làm ăn phát đạt mà còn mở ra cơ hội cho họ hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo ra sự liên kết bền vững trong một
hệ thống sản xuất kinh doanh thống nhất
- Sự hỗ trợ từ bên ngoài về năng lượng, nguyên vật liệu có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình tổ chức lãnh thổ công nghiệp Đối với các vùng thiếu năng lượng, nguyên vật liệu thì sự hỗ trợ
từ bên ngoài là không thể thiếu được Chính quá trình này đã ảnh hưởng, thậm chí quy định tổ chức lãnh thổ cụng nghiệp ở những vùng được hỗ trợ và mở ra một hướng phát triển hoàn toàn mới có hiệu quả thúc đẩy ngành công nghiệp nói riêng và ngành kinh tế toàn vùng nói chung
Trang 231.2.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại, vững chắc giữa các bộ phận của nó Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như
là một thuộc tính của sự vật hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng với chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”
Qua khái niệm trên cơ cấu kinh tế chính là những nội hàm của nền kinh tế và khi nghiên cứu sự biến động của những nội hàm ấy chúng ta đánh giá được trình độ phát triển của nền kinh
tế Cơ cấu kinh tế là một khái niệm rất rộng bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng,
cơ cấu thành phần kinh tế
6
1.2.1.2 Các khía cạnh thể hiện của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được thể hiện ở ba khía cạnh quan trọng sau:
Cơ cấu ngành kinh tế: Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ gắn bó với nhau theo
những tỉ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỉ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc
dân
Đối với nền kinh tế quốc dân chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng tăng tỉ lệ các ngành khu vực II, III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội
Trong công nghiệp xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện bằng sự gia tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp có thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại, tăng sản phẩm có hàm lượng chất xám, giảm tỉ trọng các ngành, các xí nghiệp có thiết bị và công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều lao động
Cơ cấu thành phần kinh tế: Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất
định về tư liệu sản xuất Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị
chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại
Trang 24Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, lấy kinh tế quốc doanh
và nền kinh tế tập thể làm nền tảng, trong đó kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo Kinh tế tư bản nhà nước được phát triển phổ biến và tồn tại dưới nhiều hình thức
Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ: Cơ cấu lãnh thổ là sự phân chia nền kinh tế quốc dân thành
các vùng chuyên môn hóa khác nhau về chức năng (các vùng kinh tế và tập hợp trong một hệ thống
nhất các mối quan hệ qua lại lẫn nhau)
Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, cơ cấu ngành đóng vai trò quyết định, cơ cấu ngành kinh tế phát triển, biến đổi ngày càng sâu sắc kéo theo sự phát triển và biến đổi cơ cấu kinh tế theo vùng vì nó được thể hiện theo quan hệ cung – cầu của thị trường Còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành
Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành và hoạt động có hiệu quả dựa trên khả năng và thế mạnh của mỗi thành phần kinh tế Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ, cho nên việc phân bố không gian lãnh thổ hợp lí để phát triển mạnh các ngành kinh tế và thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, kết hợp cơ cấu ngành
và cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế so sánh của vùng trong việc phát triển ngành, kết hợp
cơ cấu ngành với cơ cấu thành phần kinh tế nhằm huy động các thành phần tham gia phát triển các ngành kinh tế, phát triển các vùng lãnh thổ
6
1.2.1.3 Ý nghĩa của việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là thường xuyên nghiên cứu để điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn lực, là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, của mỗi địa phương Sự hình thành cơ cấu hợp lí, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho việc tăng hiệu quả của sản xuất xã hội hiện tại Mặt khác, bản thân sự tăng trưởng kinh tế hiện tại do có được cơ cấu kinh tế hợp lí lại là điều kiện cần thiết cho việc hoàn thiện hơn nữa cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế trong tương lai
Một cơ cấu kinh tế hợp lí là một cơ cấu kinh tế thích ứng tốt nhất với các điều kiện cụ thể và đem lại hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội và môi trường
Cơ cấu kinh tế hợp lí có tác động tích cực đến nền kinh tế như:
Tạo ra sự tăng trưởng ổn định và phát triển của nền kinh tế - xã hội theo các mục tiêu kinh tế
- xã hội đã được vạch ra trong chiến lược phát triển kinh tế Khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội: nguồn lực tự nhiên, nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, khoa học công
Trang 25nghệ, thị trường trong và ngoài nước… tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các ngành, các vùng
và các thành phần kinh tế
Đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa ngày càng tăng cho xã hội
Tạo khả năng tích lũy cao ở những ngành, những vùng có nhiều ưu thế, bảo đảm và tăng cường sức mạnh quân sự, ổn định xã hội và giữ vững thành quả xây dựng đất nước Đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Cơ cấu kinh tế không mang tính cố định mà luôn ở trạng thái động, nó tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nước theo thời gian và không gian Do vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta luôn xem xét, phân tích xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí và mức độ hợp lí của cơ cấu kinh tế với thực tế sao cho phù hợp, có hiệu quả cao nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân
Chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện ở sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ và trong cả nội bộ các ngành kinh tế như: trồng trọt và chăn nuôi trong nông nghiệp, giữa khai thác và chế biến trong công nghiệp…
Chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ thể hiện ở sự thay đổi địa bàn sản xuất tương ứng với sự chuyển dịch cơ cấu ngành
Đây là một khái niệm thể hiện khá đầy đủ, chi tiết, hợp lí về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Song ở một khía cạnh tổng quát, toàn diện hơn có thể khái quát chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước hay mỗi địa phương chính là quá trình thay đổi tỉ trọng trong tổng giá trị sản phẩm nội địa (GDP) của một nước đó hay địa phương đó trong một giai đoạn phát triển nhất định Những bộ phận cơ cấu khác cuối cùng cũng được biểu hiện trong cơ cấu GDP”
Nền kinh tế phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong phân công lao động xã hội, khi đó
cơ cấu kinh tế cũng từng bước bị phá vỡ và được thay đổi dần bằng cơ cấu kinh tế mới Đó chính là
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi các quan hệ tỉ lệ về lượng và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành nên nền kinh tế
Trang 26Ngày nay, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương đều không tách rời vai trò chủ động điều tiết của Nhà nước Nhà nước với chức năng quản lí kinh tế vĩ
mô, luôn chủ động xác định phương hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo các điều kiện thực hiện các biện pháp thích hợp để thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ
7
1.2.2.2 Những nhân tố tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nhóm nhân t ố tác động từ bên trong
Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội: Thị truờng và nhu cầu xã hội là người
đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên sẽ không có bất kỳ một quá trình sản xuất nào Ngược lại, không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá
Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ Nó tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội Đồng thời nó cũng tác động đến vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và
con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghê, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí, tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội Quá trình đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lí hơn, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài
Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, nên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi
Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước: Mọi hoạt động của nền kinh
tế đều có sự điều tiết của nhà nước, song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế
Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất
xã hội đạt mục tiêu đề ra, mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, nếu
Trang 27không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổ chức sản xuất, đảm bảo sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế
Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là định hướng chung cho mọi thành phần, mọi nhà doanh nghiệp trong cả nước, phấn đầu thực hiện dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chế chính sách của nhà nước Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế phát triển, đảm bảo tính cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế
Sự tác động của cơ chế quản lí sẽ thực hiện được cơ cấu sản xuất, cơ cấu dân cư, tạo ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách thành thị và nông thôn
Nhóm nhân t ố tác động từ bên ngoài
Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự biến động về chính trị, xã hội của một nước hay khu vực hoặc thế giới sẽ tác
động mạnh đến các hoạt động ngoại thương, đến dòng vốn đầu tư và hình thành chuyển giao công nghệ… Do đó, thị trường và nguồn lực nước ngoài cũng thay đổi, ảnh hưởng đến sản xuất phát triển
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước
Xu h ướng toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại: Xu hướng tư do hóa thương mại và toàn
cầu hóa nền kinh tế đã trở thành yếu tố mang tính khách quan, ngày càng lôi cuốn thêm nhiều
nước và mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực, làm tăng sức ép cạnh tranh và tác động qua lại giữa các nền kinh tế Các quốc gia không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa mà cần phải chủ động tham gia vào quá trình này, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của mình Thực chất đây là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh rất phức tạp Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, để chuyển dịch cơ cấu các sản phẩm công nghiệp để phục vụ xuất khẩu, cần khai thác những cơ hội hợp tác với nước ngoài và các công ty đa quốc gia để hợp tác sản xuất các sản phẩm công nghiệp
Như vậy, đây là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếu không nắm bắt kịp thời xu thế mang tính tất yếu này để phát huy những nội lực sẵn
có và tận hưởng những lợi ích từ thị trường thế giới về vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ và kinh nghiệm quản lí thì cơ cấu xuất khẩu sẽ bị lạc hậu, hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sẽ bị giảm sút
Cách mạng khoa học công nghệ: Sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ và kỹ thuật cùng
với cơ hội phổ biến và chuyển giao nhanh chóng của chúng làm cho cơ cấu kinh tế mang tính linh hoạt cao Mô hình tổ chức sản xuất khép kín trong từng doanh nghiệp, quản lí chỉ huy theo từng ngành hẹp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng sản phẩm chậm được đổi mới, thiếu sức hấp dẫn thị trường Điều này đòi hỏi cơ cấu kinh tế phải được tổ chức theo mạng (tăng cường sự liên
Trang 28kết ngang), tạo điều kiện tốt nhất cho việc áp dụng các công nghệ mới, nâng cao khả năng cạnh tranh Khoa học công nghệ sẽ tạo ra năng suất cao đặc biệt cho một số ngành, một số lĩnh vực từ
đó ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tạo ra một số ngành nghề mới, hiệu quả kinh tế cao
là nhiệm vụ của khoa học và công nghệ trong mọi thời đại
nhất, sau đó là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp
Bảng 1.1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009
(Đơn vị: %)
Nông – lâm – ng ư nghiệp 25,53 23,03 21,81 20,4 22,1 20,66
Công nghiệp và xây dựng 36,73 38,49 40,21 41,54 39,73 40,24
(Ngu ồn: Công nghiệp Việt Nam 2007, Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009 - 2010)
Ở Việt Nam, giai đoạn 2000 – 2009, tỉ trọng nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu GDP có xu hướng ngày càng giảm, giảm từ 25,53% (2000) xuống còn 20,6% (2009) trong khi tỉ trọng ngành công nghiệp xây dựng có xu hướng tăng, tăng từ 36,73% (2000) lên 40,2% (2009) Dịch vụ giai đoạn này có tăng nhưng chậm
Để nghiên cứu rõ hơn chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phân tích cơ cấu các phân ngành (cấp II, III…) có một ý nghĩa rất quan trọng Thông thường, cơ cấu ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế Ví dụ trong khu vực công nghiệp, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hóa mỹ phẩm… chiếm tỉ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao hơn so với những lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghiệp lắp
Trang 29ráp… Trong khu vực dịch vụ, những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, viễn thông, hàng không … chiếm tỉ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ phục vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công hoặc trình độ thấp, quy mô nhỏ
lẻ
Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định nhưng khoa học kinh tế hiện đại đã sử dụng chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc
độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế
Cơ cấu lao động
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn được đánh giá bằng chỉ tiêu cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bố như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao chỉ tiêu cơ cấu lao động làm việc trong nền kinh tế, vì ở góc độ vĩ mô cơ cấu lao động xã hội mới là chỉ tiêu phản ánh thực nhất mức
độ thành công về mặt kinh tế - xã hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi vì công nghiệp hóa hiểu theo nghĩa đầy đủ không chỉ đơn thuần là sự gia tăng tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, mà là cùng với mức đóng góp vào GDP ngày càng tăng của lĩnh vực công nghiệp (và hiện nay là công nghiệp và dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ thuật hiện đại), phải là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đời sống xã hội con người, trong đó cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế
So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành sở dĩ được nhà kinh tế học đánh giá cao và coi trọng là do chỉ tiêu này không chỉ phản ánh xác thực hơn mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một đất nước, mà nó còn ít bị ảnh hưởng bởi nhân tố ngoại lai hơn Ở một số nền kinh tế, trong khi tỉ trọng lao động phi nông nghiệp (nhất là khu vực sản xuất công nghiệp) còn chiếm tỉ trọng nhỏ, nhưng trong cơ cấu GDP lại chiếm tỉ trọng lớn hơn nhiều Lí giải cho hiện tưởng này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình trạng “méo mó” về giá cả, nhất là trong những trường hợp có
sự chênh lệch giá lớn giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp Vì thế,
cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế đôi khi không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu lao động nhiều khi còn được một số kinh tế gia xem như một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá mức độ thành công của quá trình công nghiệp hóa trong nghiên cứu so sánh giữa các nền kinh tế
Cơ cấu hàng xuất khẩu
Trang 30Trong điều kiện của một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quy luật phổ biến của quá trình công nghiệp hóa (đối với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp nên sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lực lượng lao động xã hội Do đó, trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà những nước này có được, một phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp khai thác ở dạng nguyên liệu thô (chưa qua chế biến hoặc sơ chế) Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ luôn là một điểm yếu mang tính kinh niên
Hầu hết các nước trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công nghiệp phát triển hầu hết đều trải qua mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông lâm thủy sản… chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử…
Sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ mặt hàng sơ chế sang những sản phẩm chế biến dựa trên cơ sở công nghệ - kỹ thuật cao luôn được xem như một thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp thuận) sẽ là một tiêu chí tốt để bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 1.2: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010
(Triệu USD)
Tỉ trọng (%)
2000 2010
Trang 31(Nguồn: Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản ĐHQGTPHCM)
Đồng thời với cơ cấu giá trị của các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chế tạo sản phẩm xuất khẩu cũng có ý nghĩa trong phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động xã hội
Tóm lại, khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu để xem xét Ngoài ra còn có nhiều tiêu chí khác có ý nghĩa bổ trợ quan trọng khác như quan hệ giữa các khu vực sản xuất vật chất và khu vực phia sản xuất vật chất; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; những chỉ tiêu về quá trình chuyển giao công nghệ, cơ cấu hàng nhập khẩu, sự nâng cấp chất lượng nguồn lao động… Mỗi tiêu chí nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa
1
1.3 Ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước Khi muốn chuyển giai đoạn hoặc có vấn đề kinh tế, bao giờ cũng xem xét về cơ cấu kinh tế hoặc phải tác động đến cơ cấu kinh tế trước
Dưới tác động của sự phát triển công nghiệp và CNH, cơ cấu ngành sản xuất của các nước, được điều chỉnh không ngừng Trong quá trình phát triển kinh tế và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho vị trí các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ luôn thay đổi Thông thường, trong nền kinh tế lạc hậu thì nông nghiệp giữ vị trí quan trọng, vì nó tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu nhất, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp Đến thời kỳ công nghiệp thì chuyển mạnh sang hướng phát triển công nghiệp, coi nó là ngành chủ chốt tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp là trụ cột của kinh tế toàn cầu Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống cũng từng bước được coi trọng và phát triển Cơ cấu GDP của các ngành trong tổng số GDP cũng thay đổi, tỉ trọng GDP của ngành nông nghiệp thì giảm xuống, ngành công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên
Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore – ba con rồng châu Á, đại diện điển hình cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực và của châu Á
Vào những năm 1966, nông nghiệp của Hàn Quốc chiếm tới 30,7% cơ cấu GDP, công nghiệp chiếm 26,3% và dịch vụ chiếm 43% thì sau 36 năm đổi mới và phát triển, với đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh phát triển công nghiệp đến năm 1990 cơ cấu kinh tế Hàn Quốc có sự chuyển dịch mạnh mẽ Năm 1990, nông nghiệp chỉ còn 9,1% trong cơ cấu GDP (giảm 21,6%), công nghiệp chiếm 44,7% (tăng 18,4%) và dịch vụ chiếm 46,2% (tăng 3,2%) Hồng Kông
Trang 32và Singapore xuất phát điểm với nông nghiệp chiếm tỉ trọng rất thấp trong cơ cấu GDP Năm 1966, nông nghiệp của Hồng Kông chỉ chiếm 1,8% và của Singapore chỉ chiếm 3,0% trong cơ cấu GDP Tuy nhiên, xu hướng chung của hai nước là tiếp tục giảm tỉ trọng của nông nghiệp, tăng nhanh tỉ trọng của công nghiệp xây dựng và dịch vụ
Bảng 1.3: Cơ cấu GDP của một số quốc gia phân theo ngành kinh tế qua các năm
Nguồn: Công nghiệp hóa của Đài Loan – Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trong nội bộ ngành công nghiệp cũng có sự thay đổi cơ cấu giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp chế tạo và công nghiệp sơ chế Sự thay đổi cơ cấu này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước và từng giai đoạn phát triển Ở các nước châu Á, khi tiến hành CNH đều bắt đầu từ việc coi trọng những ngành công nghiệp truyền thống, mang lại thu nhập nhanh và cao Hàn Quốc chủ yếu là công nghiệp dệt Singapore và Hồng Kông chủ yếu là các ngành công nghiệp lắp ráp và tái chế biến xuất khẩu Đến thập kỷ 70, khi khả năng đầu tư và cơ sở hạ tầng đảm bảo, các nước này chuyển sang phát triển một số ngành công nghiệp nặng và ngày nay tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như: đầu tư vào tự động hóa là những ngành có khả năng đem lại nhiều lợi ích trong tương lai
Trang 33Ở Nhật Bản, trong những năm 50, ngành sản xuất chủ đạo là công nghiệp nhẹ (chủ yếu là dệt) theo kiểu lao động tập trung, đến những năm 60 là những ngành công nghiệp nặng, vốn và kỹ thuật tập trung như: gang thép, ôtô, đóng tàu, cơ giới Những năm 70 là công nghiệp điện tử và sản phẩm tiêu dùng lâu bền, từ những năm 80 về sau này là các ngành sản xuất đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao và vốn lớn
Bảng 1.4: Tốc độ tăng GDP và cơ cấu GDP của Việt Nam 1990 - 2007
Nguồn: Kinh tế 2009 – 2010 Việt Nam và thế giới
Ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp giai đoạn 1990 – 2007 có xu hướng tăng (từ 2,27% lên 10,22%) đã làm cho cơ cấu kinh tế theo ngành của Việt Nam có sự chuyển dịch Tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng, giảm mạnh tỉ trọng của ngành nông nghiệp và dịch vụ tăng giảm không ổn định
Công nghiệp hóa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Điều đó cũng có nghĩa là: về số lượng, cơ cấu lao động giữa các ngành cũng có sự thay đổi, lao động trong ngành nông nghiệp thì giảm xuống (giải phóng lao động trong nông nghiệp), lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên Về chất lượng: lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng sử dụng máy móc thiết
bị, công nghệ hiện đại ngày càng tăng, lao động giản đơn, tay nghề thấp giảm xuống
1
1.4 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Việt Nam và một số tỉnh Đông Nam Bộ
Xã hội loài người đã trải qua thời kỳ văn minh nông nghiệp và chuyển sang thời kỳ văn minh công nghiệp cách đây gần 200 năm Ngay sau khi ra đời, sản xuất công nghiệp đã phát triển không ngừng và hiện đang là ngành chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng
Trang 34trưởng kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong sản xuất công nghiệp, yếu tố đầu ra và đầu vào của sản xuất là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành cũng như thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nghiên cứu chiến lược, đường lối phát triển công nghiệp của Việt Nam và một số tỉnh, thành
có ngành công nghiệp tương đối phát triển là những bài học quý giá cho công nghiệp tỉnh Bình Phước nói riêng và các tỉnh khác nói chung
Những năm 80 và đầu thập niên 90, Việt Nam vẫn còn ở trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa và trình độ công nghiệp còn lạc hậu so với thế giới và khu vực Công nghiệp phát triển chậm và chiếm tỉ trọng thấp trong GDP Trong cơ cấu công nghiệp, ngành công nghiệp hàng tiêu dùng giữ vai trò quan trọng Trình độ công nghệ còn rất thấp Chính điều đó đã làm mất trong cơ cấu kinh tế của nước nhà (tỉ trọng nông nghiệp cao trong khi tỉ trọng của ngành công nghiệp rất thấp)
Sau đổi mới, nhất là từ những năm 90 đến nay, công nghiệp có những chuyển biến quan trọng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vào những năm đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự khủng hoảng về công nghiệp, nhất là công nghiệp quốc doanh Sau một thời gian thích nghi với cơ chế thị trường, công nghiệp đã thật sự chuyển biến
Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp đã góp phần đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta có sự chuyển dịch rõ rệt nhằm thích nghi với tình hình mới
để có thể hội nhập vào thị trường thế giới và khu vực
Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, nước ta có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và về nguồn lao động dồi dào, rẻ tương đối so với các nước trong khu vực Mặt khác, nước ta cũng có những hạn chế lớn về vốn và công nghệ và lao động lành nghề vì vậy ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm là hoàn toàn đúng hướng để đáp ứng nhu cầu trong nước và tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, đồng thời tạo nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hóa
Trong giai đoạn sau của quá trình công nghiệp hóa, các lợi thế so sánh đã thay đổi, quan hệ cung cầu về các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng cũng đã thay đổi Những khó khăn về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực cũng dần được khắc phục Vì vậy, bước đi trong giai đoạn này là từng bước
ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng trên cơ sở đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm, công nghiệp mũi nhọn có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao và có tác động tới việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác
Như vậy, sau thời kỳ đổi mới, công nghiệp Việt Nam có bước tăng trưởng khá hơn đã làm cho
Trang 35cơ cấu kinh tế Việt Nam cũng như cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển dịch rõ rệt Khu vực I có
xu hướng giảm xuống trong khi khu vực II và III có xu hướng tăng lên
Công nghiệp tỉnh Bình Dương
Khác với thành phố Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương bước vào xây dựng và phát triển công nghiệp ở điểm xuất phát thấp là một tỉnh nông nghiệp thuần nông, gần như chưa có cơ sở hạ tầng về công nghiệp Thực tiễn đó bắt buộc Bình Dương phải có bước đột phá, đi tắt đón đầu Bình Dương "bứt phá" đi lên chính nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn cả ba yếu tố đó là đường lối, chính sách đổi mới của Ðảng và Nhà nước; đất đai, vị trí địa lí và người Bình Dương năng động, đoàn kết, mà hạt nhân là sự lãnh đạo của Ðảng, đội ngũ cán bộ Bình Dương đồng sức, đồng lòng
Từ "trận đánh" mở màn đầu tiên tại khu công nghiệp Sóng Thần tháng 9 - 1995 đến nay, Bình Dương đã có 12 khu công nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động với tổng diện tích 2.431
ha và 23 cụm công nghiệp diện tích 3.573 ha Tính đến tháng 11 - 2004 Bình Dương có 2.754 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đầu tư hơn 11 nghìn tỉ đồng và 871 dự án đầu tư nước ngoài 4,1 tỉ USD đã lấp đầy diện tích hơn 80%, nhiều khu công nghiệp có diện tích đất cho thuê tới 95% Có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương với các ngành nghề: dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản, gỗ, xe đạp, phụ liệu may, vật liệu xây dựng, cơ khí, điện, điện tử Ðã có 434 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đi vào hoạt động có doanh thu và hằng năm đều tăng vốn mở rộng sản xuất kinh doanh Riêng năm 2004 các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt doanh thu 1.605 triệu USD, xuất khẩu 834 triệu USD, nộp ngân sách 45 triệu USD Tính chung giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 của Bình Dương đạt hơn 32 nghìn tỉ đồng, tỉ trọng công nghiệp chiếm 63,3% GDP, quả là một con số khá hấp dẫn
Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 105.923 tỉ đồng, tăng 20,5% so với năm 2009 6Về
cơ cấu kinh tế6trong GDP, tỉ lệ công nghiệp - xây dựng chiếm 64,9%, dịch vụ chiếm 30,3% và nông lâm ngư chiếm 4,8%
Công nghiệp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Ngành công nghiệp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã được hình thành từ những năm đầu của thập niên 60 (thế kỷ XX), với chủ yếu là các cơ sở sửa chữa tàu thuyền và các ngành chế biến nông sản
và hải sản sơ cấp, nhưng đến cuối thập niên 80 thì ngành công nghiệp của tỉnh mới phát triển mạnh với sự ra đời và phát triển của ngành khai thác dầu khí và thực sự phát triển mạnh trong giai đoạn
1996 – 2005
Đến nay, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có một cơ cấu ngành công nghiệp phong phú với sự có mặt của nhiều ngành công nghiệp như công nghiệp năng lượng, công nghiệp luyện kim, hóa chất,
Trang 36sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hải sản…, công nghệ sản xuất được trang bị ngày càng hiện đại,
đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước, xuất khẩu và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường
Theo giá so sánh, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên rất nhanh từ 2.847 tỉ đồng năm
1993 lên 53.996 tỉ đồng năm 2007, tăng 18,9 lần Tốc độ tăng trưởng công nghiệp năm 2007 (trừ dầu khí) là 28,01%
Công nghiệp tỉnh phát triển nhanh đồng nghĩa với việc cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ Năm 1993, ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng 20,41% trong cơ cấu GDP, công nghiệp chiếm 37,63% và dịch vụ chiếm 41,96% thì đến năm 2007, nông nghiệp chỉ còn 5,28%, công nghiệp – xây dựng chiếm 65,4% và dịch vụ 29,32% (trừ dầu khí)
Để có được kết quả này trong những năm qua tỉnh đã có nhiều chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm thu hút vốn và công nghệ sản xuất tiên tiến; khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại để nâng cao năng suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường, đồng thời cải thiện ô nhiễm môi trường thông qua sử dụng công nghệ mới, sạch hơn; chuyển dần hoạt động sản xuất công nghiệp theo chiều sâu như: sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất, chuyển dần từ khai thác sản phẩm thô sang chế biến sâu…
Qua thực tiễn phát triển công nghiệp của Việt Nam, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu có thể rút ra những bài học kinh nghiệm mà nhiều tỉnh thành cả nước trong đó có Bình Phước có thể tham khảo và vận dụng
Thứ nhất: Vai trò của Nhà nước rất quan trọng trong quá trình CNH
Nhà nước lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp với điều kiện của mỗi tỉnh thành, xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô, chiến lược tạo vốn… tạo nền móng cho phát triển kinh tế Thông qua các hoạt động như: đầu tư trực tiếp và nhiều biện pháp khác kèm theo (thuế, lãi suất) Nhà nước đóng vai trò như người khởi động guồng máy, trợ lực cho guồng máy hoạt động Nhà nước có chính sách nâng đỡ tư nhân, đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực mà tư nhân không muốn hoặc không thể, do tính rủi ro cao hoặc không đủ vốn Ngoài ra, Nhà nước còn đóng vai trò trợ cấp cho các doanh nghiệp và một số ngành công nghiệp, bảo hộ người tiêu dùng cũng như người sản xuất, ổn định tài chính – tiền tệ, làm trọng tài trong các tranh chấp kinh tế, điều chỉnh thị trường, dặc
biệt là điều tiết thu nhập để đảm bảo sự công bằng xã hội và lành mạnh hóa nền kinh tế
Thứ hai: Công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy hình thành cơ cấu ngành hợp lí
Trước hết, tập trung phát triển đồng thời các ngành của nền kinh tế là điều không thể, bởi hạn chế về vốn, lao động, kỹ thuật, công nghệ, thị trường… Do đó, khó có thể đạt được hiệu quả cao và phát triển nhanh chóng trong quá trình đầu tư
Trang 37Do vậy, cần lựa chọn các ngành đầu tàu, có lợi thế so sánh và vận dụng linh hoạt trên cơ sở
dự báo tương đối khoa học về thị trường, xu hướng phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ Thường xuyên đổi mới, cải tiến các sản phẩm trong nội bộ ngành và mạnh dạn từ bỏ những ngành kém hiệu quả, sản phẩm không có khả năng cạnh tranh trên thị trường, để đầu tư vào những ngành mới có hiệu quả lớn
Thứ ba: Khai thác lợi thế so sánh của mình trên thị trường
Tập trung vào những ngành công nghiệp có khả năng xuất khẩu sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao Mở cửa và hội nhập đó là con đường phát triển kinh tế nhanh nhất và đạt hiệu quả cao nhất Thông qua con đường ngoại thương, mỗi tỉnh thành có thể khai thác lợi thế so sánh của mình trên thị trường thế giới Cái gì ta mạnh, ta sẵn có thì tập trung khai thác và tận dụng mọi lợi thế từ
bên ngoài như: vốn, khoa học – kỹ thuật hiện đại… để phát triển kinh tế trong nước
Thứ tư: Công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn, phát triển kinh tế -
xã hội, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí
Việc huy động vốn chủ yếu từ ba nguồn:
Thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài: áp dụng một loạt các chính sách về thuế, ưu đãi
đối với đầu tư nước ngoài Khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật trong các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với địa phương Nới lỏng những quy định về tỉ lệ đầu tư, hồi hương vốn, lợi nhuận
và tái đầu tư Thành lập các đặc khu kinh tế mới dưới nhiều tên gọi khác nhau: khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu; ở đó tư bản nước ngoài được đầu tư, mở doanh nghiệp tự do, được hưởng ưu đãi
về thuế quan, các thủ tục hành chính được đơn giản hóa
Tranh thủ nguồn vốn từ viện trợ và tín dụng của các nước và các tổ chức tài chính quốc tế
Nguồn vốn này được tập trung trong đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng Lĩnh vực này thu hồi vốn chậm nên các nước trên thực hiện giải pháp vay dài hạn, hạn chế vay ngắn hạn và đặc biệt không vay thương mại
Thu hút vốn trong nước
Thực hiện chính sách khuyến khích dân cư gửi tiền tiết kiệm, trái phiếu thông qua lãi suất hấp dẫn để thu hút vốn Nhà nước cố gắng ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, thực hiện lãi suất tiết kiệm dương
Thứ năm: Chủ động nắm bắt công nghệ mới, tăng cường ứng dụng triển khai trong công nghiệp
Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghệ, nhập khẩu công nghệ, với việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học Có những chính sách khoa học công nghệ thích hợp, đó là việc tăng cường giáo dục và khoa học công nghệ, nâng cao kỹ năng đào tạo người học, có những chính sách và cơ sở pháp lí cần thiết để thực thi các chính sách về khoa học và công nghệ, tạo bước tiến ngay vào các
Trang 38ngành công nghệ hiện đại Chú trọng nâng cấp khoa học và công nghệ ở những lĩnh vực công nghệ then chốt
Để thúc đẩy nhanh quá trình đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, có nhiều biện pháp hỗ trợ về thuế, bảo hộ thị trường… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty, đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực, mua các thiết bị công nghệ mới, thực hiện nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ
Thứ sáu: Coi trọng phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực được coi trọng và đầu tư Bởi vì, nói đến sự phát triển công nghiệp là nói đến trình độ trang bị khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, mà muốn làm được điều này thì phải có con người, có năng lực, có trình độ, mới đảm đương được nhiệm vụ, tiếp thu và sử dụng khoa học kỹ thuật hiện đại
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này tác giả đã trình bày những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận và thực tiễn của
đề tài luận văn gồm:
1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tổng quan các vấn đề về công nghiệp: khái niệm, vai trò của công nghiệp, phân loại công nghiệp, các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp
Tổng quan về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: các khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ý nghĩa của việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí
2 Lí luận chung về ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dưới tác động của sự phát triển công nghiệp, cơ cấu ngành sản xuất của các nước, được điều chỉnh không ngừng Trong quá trình phát triển kinh tế và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho vị trí các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ luôn thay đổi Tỉ trọng GDP của ngành nông nghiệp thì giảm xuống, ngành công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên Cơ cấu lao động giữa các ngành cũng có
sự thay đổi, lao động trong ngành nông nghiệp thì giảm xuống, lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên
3 Bài học kinh nghiệm về sự phát triển công nghiệp của Việt Nam và một số tỉnh ở Đông Nam
Bộ
Qua thực tiễn phát triển công nghiệp của Việt Nam, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu có thể rút ra những bài học kinh nghiệm mà nhiều tỉnh thành cả nước trong đó có Bình Phước có thể tham khảo và vận dụng
Trang 40Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH BÌNH PHƯỚC
Tỉnh Bình Phước được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp lần thứ 10, Quốc hội khóa IX trên
cơ sở 5 huyện trung du miền núi phía Bắc của tỉnh Sông Bé cũ bao gồm: Phước Long, Đồng Phú,
Bù Đăng, Lộc Ninh, Bình Long và đi vào hoạt động từ 01/01/1997
Tỉnh Bình Phước nằm ở vị trí như sau: phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương và phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Campuchia
Bảng 2.1:Toạ độ địa lí các điểm cực tỉnh Bình Phước
Bắc Xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập 12P
Đến nay tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện và thị xã bao gồm: thị xã Đồng Xoài, các huyện Đồng Phú, thị xã Phước Long, huyện Lộc Ninh, huyện Bù Đốp, huyện Bù Đăng, thị xã Bình Long, huyện Hớn Quản, huyện Bù Gia Mập và huyện Chơn Thành Cấp xã, phường và thị trấn có
111 bao gồm 92 xã và 5 thị trấn và 14 phường Dân số trung bình năm 2009 là 877.484 người, mật