Trong những năm vừa qua bên cạnhnhững thành tựu đáng kể đạt được về kinh tế - xã hội thì chúng ta đang phải đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ mặt trái của quá trình phát
Trang 1GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔIPHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, ASXH là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống các chính sách
xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng ASXH là nhân tố đảm bảo công bằng
xã hội Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất lớn trong việc khắc phụcnhững hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo
ổn định chính trị. Như chúng ta đều biết, đất nước ta đang trên con đường hội nhập vàphát triển, chúng ta hướng mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa để cóthể sánh vai với các nước phát triển trên thế giới Trong những năm vừa qua bên cạnhnhững thành tựu đáng kể đạt được về kinh tế - xã hội thì chúng ta đang phải đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ mặt trái của quá trình phát triển đó như phân tầng
xã hội, quá trình đô thị hóa không đồng bộ, môi trường bị xuống cấp, thất nghiệp, tệnạn ma túy, người già neo đơn Dân số nước ta ngày càng già đi, quá trình già hóa dân
số diễn ra nhanh chóng kéo theo đó là số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên gâysực ép đối với nền kinh tế - xã hội. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng em đã chọn đề tài:
"Già hóa dân số ở Việt Nam và vai trò của ASXH đối với người cao tuổi" để làm đề
tài nghiên cứu cho nhóm từ đó đưa ra các thực trạng, nguyên nhân, thành tựu cũng nhưthách thức của công tác ASXH với người cao tuổi từ đó đưa ra những giải pháp phù hợpgiúp cho người cao tuổi có cuộc sống tốt đẹp hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lí luận, thực tiễn về ASXH và vai trò của ASXH đối với người cao tuổi.
- Nêu và phân tích thực trạngASXH đối với người cao tuổi.
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác ASXH đối với người cao tuổi thông qua
đó giảm bớt sức ép của vấn đề già hóa dân số đến sự phát triển kinh tế xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2- phương pháp thu thập thông tin thứ cấp (thông qua bài giảng ,giáo trình, internet, )
- phương pháp phân tích, xử lý thông tin số liệu
- Phương pháp trình báy thông tin
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Khái niệm
1.1 An sinh xã hội
Theo tổ chức LĐQT (ILO) : ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngưng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập
do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong ;
sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản tiền trợ cấp giúp cho các gia đình đông con. Hiện nay ASXH được hiểu là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình không may lâm vào hoàn cảnh yếu thế trong xã hội thông qua biện pháp cân đối lại tiền bạc và của cải xã hội. Bản chất của ASXH là tạo ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc
1.2 Người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với
việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên Một số nước phát triển như
Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên.
Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y
Trang 3tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng
cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao
tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.
Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên (với nam),
từ 55 tuổi trở lên (với nữ)
Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện về kinh tế
và tuổi thọ trung bình thay đổi.
Đa số NCT Việt Nam hiện nay là thế hệ sinh ra trong thời kỳ trước 1950, nhiều người
tham gia các cuộc đấu tranh giữ nước, xây dựng đất nước Do sinh ra và trưởng thành trong các điều kiện hết sức khó khăn họ không có điều kiện bảo vệ sức khoẻ và tích luỹ vật chất cho tuổi già Chính vì vậy, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc thích nghi với thay đổi
2 Một số khái niệm có liên quan.
- Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiềm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe không vì lợi ích lợi nhuận do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng
đóng góp theo quy định của bảo hiểm y tế.
- Trợ cấp xã hội là sự giúp đỡ thêm của nhà nước dành cho các nhóm đối tượng
có hoàn cảnh khó khăn nhằm hướng tới bảo đảm các nhu cầu tối thiểu giúp họ
phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ
3 Sự cần thiết của An sinh xã hội đối với người cao tuổi
- Thứ nhất, Tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng tạo nên gánh nặng cho quỹ
hưu trí.
Khi dân số cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số cũng đồng nghĩa với tỷ lệ
Trang 4tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi và số người sau 60 tuổi sẽ tăng lên và sống lâu hơn Như vậy, số người làm ra của cải vật chất cho xã hội sẽ có
xu hướng giảm đi và số người thụ hưởng sẽ có xu hướng gia tăng Điều này ở một khía cạnh nào cũng sẽ tạo ra “gánh nặng” cho quỹ hưu trí quốc gia khi phải chi trả lương hưu nhiều hơn và dài thời gian hơn, trong khi đó số người đóng góp
có xu hướng giảm đi tương đối so với số người thụ hưởng (do hệ quả của mức sinh thấp.
- Thứ hai, Chi phí y tế dành cho người cao tuổi cao
Theo quy luật chung, tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm Dù muốn hay không, con người vẫn đối mặt với tình trạng bệnh tật, sức khỏe của mình khi tuổi ngày càng cao trong vòng đời Sinh- Lão- Bệnh- Tử Khi đã ngoài 60 tuổi, quá trình đồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên, quá trình lão hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, đồng thời phát sinh những loại bệnh tật đặc trưng của tuổi già. Mặc dù, nhờ những thành tựu trong phát triển kinh tế cũng như trong tiến bộ của
y học, nhưng cơ cấu bệnh tật của dân số nước ta nói chung và của người cao tuổi nói riêng đang chuyển dần từ mô hình bệnh tật của những nước đang phát triển sang của nước phát triển Cơ cấu bệnh tật hiện nay của nước ta chuyển từ không nhiễm trùng, không lây nhiễm sang các bệnh chủ yếu như cao huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa… (Giang Thanh Long, 2011) Như vậy, cùng với tuổi tác, cơ cấu chi tiêu của người cao tuổi đã thay đổi nhiều, chi phí cho khám, chữa bệnh có xu hướng tăng lên Người già lại hay bị những loại bệnh đòi hỏi chi phí y tế cao như huyết áp, đột quỵ, tim mạch…Theo PGS-TS Phạm Thắng- Viện Lão khoa quốc gia, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi (y tế, xã hội, tài chính) sẽ là một thách thức lớn đối với xã hội và gia đình Người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn, trong khi chi phí cho đối tượng này cũng cao gấp 7-8 lần so với trẻ em Chi phí này hoặc là gia đình phải tự chi hoặc là hệ thống BHYT chi trả (đối với những người tham gia BHXH hoặc đối tượng thụ hưởng BHXH, BHYT).
Trang 5- Thứ ba, Tỷ lệ hưởng BHXH hưu trí của những người cao tuổi ở khu vực nông thôn còn thấp.
Đối với một nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam, cho đến nay, về
cơ bản nước ta vẫn là nước nông nghiệp với trên 70% số dân và cũng khoảng 70% số lao động đang sống ở và lao động ở nông thôn, trong đó khoảng 50% làm các nghề nông nghiệp Trong khi đó số lao động tham gia hệ thống BHXH chỉ chiếm khoảng 10% -20% tổng lực lượng lao động và chủ yếu ở khu vực thành thị Như vậy, đa số người lao động nông thôn khi trở thành người cao tuổi (60 tuổi trở lên) sẽ không được hưởng lương hưu từ hệ thống BHXH Để tiếp tục cuộc sống, những người cao tuổi này buộc phải tự lao động kiếm sống hoặc nhờ
sự hỗ trợ của con cháu, hoặc nhờ sự trợ giúp của cộng đồng.
- Thứ tư, nước ta trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài với rất nhiều thế hệ người lính phải sống và chiến đấu ở những vùng ác liệt, nhiều nơi bị nhiễm chất độc da cam… Đến nay, đa phần họ đã thuộc nhóm người cao tuổi.
Ngoài những loại bệnh của người già, không ít trong số họ mắc những bệnh đặc trưng của chiến tranh, trong khi đó, đa phần trong số họ sau chiến tranh về quê nhà sinh sống, họ không có lương hưu Điều này, đòi hỏi cần có những chính sách ASXH đặc thù cho nhóm người này.
- Thứ năm,Người lao động ở Việt Nam “ già khi chưa giàu”
Cũng là đặc thù của nền kinh tế Việt Nam khi thu nhập của người lao động thấp, thu nhập chỉ đủ trang trải (thậm chí không đủ) cho những chi tiêu trước mắt, không có và không thể có cho tích tũy trong tương lai Điều này là nguy cơ tiềm năng khi người lao động không làm việc được nữa, họ sẽ không có khoản tích lũy để chi dùng khi trở thành người cao tuổi Một số nhà phân tích đã nêu, người lao động Việt Nam “già khi chưa giàu” Đối với một người “già khi chưa giàu”
sẽ tạo áp lực cho con cái, nhưng đối với một xã hội “già hóa” và xã hội “già” thì
áp lực này sẽ chuyển sang hệ thống ASXH.
Trang 6Qua những phân tích trên cho thấy giữa già hóa dân số, dân số già và ASXH có
mối quan hệ “nhân- quả” Điều này cho thấy, một mặt phải điều chỉnh chính sách
dân số sao cho quá trình già hóa dân số diễn ra chậm hơn và quá trình chuyển từ
dân số già hóa sang dân số già diễn ra với thời gian lâu hơn; mặt khác, cần phải
có chiến lược ASXH ứng phó phù hợp Chính sách ASXH đối với người cao tuổi
không nên chung cho mọi nhóm bởi người cao tuổi không phải là nhóm dân số
đồng nhất Người cao tuổi cũng có người giàu, người nghèo; có người khỏe
mạnh và người ốm yếu; có người được sống cùng con cháu, nhưng có người chỉ
sống một mình… Vì vậy, nên phân nhóm đối tượng để có chính sách ASXH ứng
phó phù hợp Phải xây dựng và phát triển các dịch vụ xã hội đối với người cao
tuổi, đặc biệt là đối với người cao tuổi ở nông thôn BHXH cho mọi người lao
động và BHYT toàn dân là hướng đi và là giải pháp tích cực, chủ động trong
chính sách ASXH của mỗi quốc gia Sinh- Lão– Bệnh– Tử là quy luật của cuộc
sống loài người Ai sinh ra rồi cũng phải già và chết Do vậy, ASXH đối với
người cao tuổi hiện tại cũng chính là đảm bảo ASXH tương lai cho người lao
động hiện tại.
4 Kinh nghiệm nước ngoài
- Tại Trung Quốc, chương trình ASXH cho NCT gồm BHXH, TGXH và phúc lợi xã hội Trong hệ thống hưu trí quốc gia này, nhằm đảm bảo mức cơ bản, triển khai rộng, linh hoạt và bền vững, nguồn tài trợ là do sự đóng góp của cá nhân và hỗ trợ của Chính phủ Với mức đóng góp của cá nhân được chia ra làm 5 mức (đối với nông thôn), từ 100-500 NDT/tháng và từ 100-1.000 NDT (đối với thành thị); sự hỗ trợ của Chính phủ là cùng đóng góp 30 NDT/năm cho tài khoản cá nhân và 55NDT/tháng vào khoản hưu cơ bản Khi đến 60 tuổi (nghỉ hưu) và đã có 15 năm đóng góp, người dân Trung Quốc sẽ được hưởng hưu trí
- Tại Thái Lan, theo Quỹ Hưu trí quốc gia, cá nhân có thể đóng góp từ 50 bạt tới 13.200 bạt/năm Số tiền này sẽ được đưa vào tài khoản cá nhân Song song với đó, Chính phủ sẽ đồng đóng góp với người lao động tùy vào tuổi của họ
Trang 7-Tại Hà Lan, tất cả mọi người 65 tuổi trở lên đều được hưởng một mức trợ cấp nhất định Với những người có lương hưu, họ sẽ vừa được hưởng lương hưu và khoản trợ cấp này.PHẦN III NỘI DUNG
1 Gìa hóa dân số ở Việt Nam
Tại hầu hết quốc gia trên thế giới, người dân sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn so vớimột thế kỷ trước Tuổi thọ tăng lên cùng với quá trình giảm sinh dẫn tới già hóa dân số,
có nghĩa là số lượng người lớn tuổi ngày càng tăng ở các quốc gia (đặc biệt là ở các nướcphát triển) so với số lượng dân số trẻ hơn trong độ tuổi làm việc - những người được coi
là sẽ “hỗ trợ” người lớn tuổi khi về già
Tuổi thọ dân số thế giới tăng 50% kể từ năm 1950, từ 46,7 tuổi lên 70,8 tuổi vào
2013 nhờ cải thiện chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng và công nghệ Trong giai đoạn này, tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm xuống chỉ còn một nửa, từ 4,96 con xuống 2,47 con/phụ nữ.Kết quả là dân số 60 tuổi trở lên đã tăng nhanh chóng, từ 8% năm 1950 lên 12% năm
2013 và dự báo sẽ lên tới 21% năm 2050 (UN, 2013)
Hiện nay, ở Việt Nam mức sinh giảm và được khống chế ở ngưỡng mức sinh thay thế TFR = 2,09 (2014), bên cạnh đó tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã đạt 73,2 tuổi (Tổng cục Thống kê, 2014) Như vậy dân số Việt Nam đã già chưa? Đây là vấn đề rất
Trang 8đáng quan tâm vì nó liên quan đến các chính sách kinh tế-xã hội, bao gồm cả an sinh xã hội.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng biểu thị mức độ già hoá của dân số là chỉ số già hoá,được đo bằng tỷ số giữa dân số từ 60 tuổi trở lên so với 100 người dân từ 15 tuổi trở xuống Trong 15 năm qua, chỉ số già hoá ở Việt Nam tăng gần gấp 2, từ 24,3 (1999) lên 45,2 (2014), dự báo sau 15 năm nữa con số này sẽ là 85/100 vào năm 2029 (UNFPA, 2011), cho thấy xu hướng già hoá dân số ở nước ta diễn ra khá nhanh
TheoLuật người cao tuổi Việt Nam, người cao tuổi (NCT) là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trởlên Nhóm dân số 60+ tăng hơn 50%, từ 6,1 triệu người năm 1990 lên 9,4 triệu vào năm
2014 và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng dân số, tương ứng từ 8% lên 10,4%(TCTK, 2014) Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm2011
Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề già hóa dân số có hai vấn đề ít được quan tâm Thứnhất, những người trẻ tuổi rồi cũng sẽ già và cần được hỗ trợ Thứ hai, việc tăng mứcsinh để trì hoãn già hóa sẽ dẫn đến tăng dân số Vì vậy, không có sự lựa chọn nào khác làphải chấp nhận và “chào đón” dân số già
Trang 9Hình 3 Thời gian để chuyển từ “bắt đầu già” sang “già”
Nguồn: Kinsella và Gist, 1995; U.S Census Bureau, 2005;
Việt Nam: GSO (2010), theo UNFPA (2011)
So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có mứcthu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao Hay thờigian cần thiết để chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang “già” là ngắn hơn nhiều nước (Hình1): Pháp mất 115 năm, Mĩ mất 69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, trong khiViệt Nam chỉ mất có 20 năm
Từ tất cả các thực trạng nêu trên, có thể thấy Việt Nam đang đối diện với “sự già hóa”nhanh chóng Với điều kiện phát triển kinh tế và xã hội như hiện nay thì đây là một tháchthức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với dân số “già hóa” nhanh Việt Nam có thể
sẽ trở thành một nước già trước khi giàu Nhiều nước già hóa dân số diễn ra từ lâu, đãtích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với thực trạng này Trong khi đó, ở Việt Namthời gian qua chính sách dân số ở nước ta tập trung vào vấn đề giảm sinh nên các côngtrình nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung vào mức sinh và kế hoạch hóa gia đình, còn rất ít
Trang 10các công trình nghiên cứu toàn diện và sâu về người cao tuổi Do vậy, ngay từ bây giờcần đẩy mạnh nghiên cứu quá trình già hóa dân số ở nước ta làm cơ sở cho việc xây dựng
và thực thi chính sách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xu hướng già hóa dân sốdiễn ra ngày càng nhanh, mạnh Nhằm nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi cũngnhư ổn định nền kinh tế trong trung và dài hạn
Bảng 4 Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979-2049
1 người cao tuổi thì đến năm 2049, tỷ số này chỉ còn là 2, tức giảm hơn 3 lần.Việc tỷ lệ
hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóng cho thấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người giàphụ thuộc ngày càng đè nặng lên dân số ở độ tuổi lao động Làm cho lực lượng lao độngthu nhỏ và số lượng người cao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút về thu nhậpbình quân đầu người, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việc tăng chi tiêu côngcho an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của người cao tuổi Không những thế,
tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm còn dẫn đến nguy cơ vỡ quỹ Bảo hiểm xã hội,đặc biệt đối vớicác hệ thống trả lương hưu như ở Việt Nam theo hình thức trả lương trong đó nhữngngười lao động hiện tại chi trả cho những người đang nghỉ hưu
Trang 112 ASXH cho người cao tuổi
2.1 Thực trạng ASXH cho người cao tuổi tại Việt Nam
Nguồn sống của NCT Việt Nam khá đa dạng: từ lao động của chính bản thân NCT (30%), lương hưu trợ cấp và của cải tích lũy từ khi còn trẻ và do con cháu chu cấp
(39,3%) Có sự khác biệt đáng kể giữa NCT thành thị và nông thôn về nguồn sống từ lương hưu, trợ cấp hoặc tự lao động để kiếm sống Lương hưu hoặc trợ cấp là nguồn sốngchính của 35,6% NCT ở thành phố, trong khi chỉ có 21,9% NCT ở nông thôn được hưởnglương hưu hoặc trợ cấp Tự lao động để kiếm sống là cách của 35,2% NCT ở nông thôn, khi chỉ có 17,5% NCT ở thành phố phải làm như vậy NCT thành thị có lương hưu/trợ cấp và tích lũy cao hơn 1,5 lần so với NCT nông thôn, ngược lại nguồn sống của NCT nông thôn từ lao động của chính mình cao hơn gấp 2 lần NCT thành thị Tuy nhiên, nguồn tài chính do con cháu trợ cấp vẫn đóng vai trò quan trọng và hoàn toàn không phụ thuộc vào đời sống kinh tế giữa thành thị và nông thôn (tương ứng 40,1% ở thành thị và 38,9% ở nông thôn) cũng như nguồn lương hưu và nguồn sống từ lao động của NCT(4)
Ở NCT, tuổi càng cao thì sự lệ thuộc vào chu cấp của con cháu càng lớn, tỷ lệ này tăng từ26,3% (nhóm 60-69 tuổi) lên 46,6% (nhóm 70-79 tuổi) và 66,7% (nhóm từ 80 tuổi trở lên) NCT ở nhóm nghèo nhất lệ thuộc vào con cháu nhiều hơn (48,9% nhóm nghèo và 38% ở nhóm giàu)
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn “già hóa dân số” và các chính sách an sinh choNCT càng được chú trọng Theo Luật, NCT được hưởng các chính sách theo quy định của Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT” (số 06/2011, NĐ-CP), trong đó: NCT được quan tâm chú ý và được hưởng các dịch vụ chăm sóc Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam đã được mở rộng
trong những năm vừa qua Cho đến nay đã có nhiều chính sách, chương trình dành
cho người cao tuổi theo các nhóm đối tượng khác nhau, nhưng tập trung lại thì có
các nhóm chính sách về bảo hiểm xã hội (cụ thể là hưu trí và tử tuất), bảo hiểm y tế và trợcấp xã hội.
Về hệ thống BHXH (hưu trí và tử tuất)
Trang 12Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” với tỷ lệ người cao tuổi (NCT) từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số Trong bối cảnh đó, tuổi thọ của người dân được nâng cao, tiềm lực kinh tế của đất nước được cải thiện, chế độ trợ giúp thường xuyên cho NCT cũng được điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hướng đến mục tiêu bù đắp để đảm bảo mức sống tối thiểu cho đối tượng Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy dân số Việt Nam đang già hóa với tốc
độ chưa từng có Số người cao tuổi sẽ tăng gấp ba vào năm 2050 và như vậy sẽ tăng từ 9% đến 26% dân số Với mức lương hưu hiện nay là rất thấp, phần lớn người cao tuổi đều sống dựa vào người thân trong gia đình. Luật Người cao tuổi đã được ban hành và cóhiệu lực từ năm 2010 Điều đó cho thấy, những vấn đề về NCT luôn được quan tâm, chuẩn bị để làm sao những vấn đề an sinh xã hội cho đối tượng này dần dần bắt kịp với
xu thế xã hội, biến động dân số của nước ta
Hiện nay, đối với NCT tại Việt Nam, nguồn đảm bảo thu nhập trong hệ thống an sinh xã hội được thể hiện qua hai chương trình là bảo hiểm xã hội (BHXH) và trợ giúp xã hội (TGXH) Hệ thống BHXH bắt buộc hiện bao phủ khoảng 11 triệu người, còn loại hình tự nguyện chỉ khoảng 133.000 người, tổng mức bao phủ của 2 hệ thống này chiếm khoảng 20% lực lượng lao động
Về hệ thống Bảo hiểm y tế.
Người già cô đơn thuộc diện trợ cấp xã hội được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế và không phải trả tiền khi khám chữa bệnh tại các cơ sở công lập, hoặc chỉ trả một phần việnphí do cơ quan bảo hiểm y tế trả cho cơ sở khám chữa bệnh; người cao tuổi trên 100 tuổi được cấp thẻ BHYT mệnh giá 50.000 đồng hoặc được khám chữa bệnh miễn phí theo phương pháp thực thanh thực chi; Quyết định 139/2002/QĐTTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám chữa bệnh cho người nghèo là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị định 07/2000/NĐ-CP, trong đó có người cao tuổi; Khoản 9, Điều 3 của Nghị định 63/2005/ NĐ-CP ngày 16/5/2005 quy định rõ người cao tuổi cô đơn khôngnơi nương tựa, thuộc hộ nghèo là một trong 14 nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc… Luật Bảo hiểm Y tế - là văn bản pháp luật cao nhất về bảo hiểm y tế - được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 có quy định một số điều liên