1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận văn thạc sĩ: Sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

24 389 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 206 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử vấn đề2.1. Những nghiên cứu về Phật học, Thiền học thời TrầnPhật giáo nói chung và Thiền học nói riêng có bề dày lịch sử nghiên cứu. Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục là những tác phẩm ghi chép tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và các vị Thiền sư nổi tiếng. Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang) đã dành 7 chương để giới thiệu về Phật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Hùng Hậu cũng đã có những công trình nghiên cứu quy mô về Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt là Lê Mạnh Thát. Nhiều luận án nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhân vật Thiền Trúc Lâm: “Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần” (1996) của Trương Văn Chung, “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ” của Nguyễn Đức Diện, “Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông” (2011) của Bùi Huy Du. Những công trình trên đã hệ thống hóa những quan niệm triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến quá trình sưu tập, biên dịch và bình chú các kinh sách Phật giáo như: Bát nhã, Viên giác, Hoa nghiêm, Pháp hoa,… của các thế hệ học giả Phật tử Việt Nam.2.2. Những nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý Trần và cảm hứng “Cư trần lạc đạo”Những bộ khảo cứu, sưu tầm về văn học thời Lý Trần đầu tiên phải kể tới Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương). Tiếp đó là Khóa hư lục (Trần Thái Tông), Thượng sĩ ngữ lục (Tuệ Trung Thượng sĩ), Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), Tam tổ thực lục,… Thơ văn Lý Trần (3 tập) do nhóm tác giả Viện Văn học thực hiện. Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3 do Nguyễn Đăng Na chủ biên.Nghiên cứu về thơ văn Lý Trần đã có một quá trình lâu dài với nhiều công trình của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố. Gần đây, văn học Lý Trần đã được nhiều tác giả như Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Công Lý,… nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau.Thơ Thiền thời Lý Trần cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn, luận án. Đoàn Thị Thu Vân với đề tài “Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI thế kỷ XIV”, đi sâu khảo sát và tìm hiểu những đặc sắc của thơ Thiền Việt Nam; Nguyễn Công Lý với đề tài “Văn học Phật giáo Lý Trần: diện mạo và đặc điểm, đã dành chương 4 (trong tổng số 4 chương) trình bày về năm đặc điểm cơ bản nhất của văn học Phật giáo thời Lý Trần. Từ những năm cuối thế kỷ XX, trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như Tạp chí Văn học, Tạp chí văn hóa dân gian, Tạp chí nghiên cứu Phật học… có nhiều bài viết nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý Trần. Đầu của thế kỷ XXI, nhiều Hội thảo khoa học về Thiền phái Trúc Lâm đã được tổ chức : “Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam” (2000), “Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông, cuộc đời và sự nghiệp” (2008), “Bảo tồn và phát huy di sản Đệ tam tổ Thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang và Lễ hội Côn Sơn” (2009), “Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay”.

Trang 1

Là một dòng Thiền dân tộc lấy chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” làm tôn chỉ hoạt động, Thiền Trúc Lâm đã có nhiều đóng góp đối với lịch sử và văn hóa dân tộc Tìm hiểu tư tưởng “Cư trần lạc đạo” không những giúp chúng ta bồi đắp niềm tự hào đối với di sản văn hóa của cha anh đi trước để lại mà còn thể hiện niềm tri ân sâu sắc đối với các giá trị truyền thống, đồng thời phát huy giá trị các di sản của tiền nhân trong

thời đại hội nhập với tinh thần “Ôn cố tri tân”

Chính vì vậy, trong khuôn khổ công trình này, chúng tôi lựa chọn và triển khai

đề tài: “Sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử”.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về Phật học, Thiền học thời Trần

Phật giáo nói chung và Thiền học nói riêng có bề dày lịch sử nghiên cứu

Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục là những tác phẩm ghi chép tương

đối hệ thống các tông phái Thiền học và các vị Thiền sư nổi tiếng

Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang) đã dành 7 chương để giới thiệu về

Phật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Hùng Hậu cũng đã có những công trình nghiên cứu quy mô về Phật giáo Việt Nam Đặc biệt

là Lê Mạnh Thát

Nhiều luận án nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhân vật Thiền Trúc Lâm:

“Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần” (1996) của Trương Văn Chung, “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ” của Nguyễn Đức Diện, “Tư

Trang 2

tưởng triết học của Trần Nhân Tông” (2011) của Bùi Huy Du Những công trình trên

đã hệ thống hóa những quan niệm triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến quá trình sưu tập, biên dịch và bình chú

các kinh sách Phật giáo như: Bát nhã, Viên giác, Hoa nghiêm, Pháp hoa,… của các thế hệ học giả Phật tử Việt Nam.

2.2 Những nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý - Trần và cảm hứng “Cư trần lạc đạo”

Những bộ khảo cứu, sưu tầm về văn học thời Lý - Trần đầu tiên phải kể tới

Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương) Tiếp đó là Khóa hư lục (Trần Thái Tông), Thượng sĩ ngữ lục (Tuệ Trung Thượng sĩ), Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), Tam tổ thực lục,… Thơ văn

Lý - Trần (3 tập) do nhóm tác giả Viện Văn học thực hiện Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3 do Nguyễn Đăng Na chủ biên.

Nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần đã có một quá trình lâu dài với nhiều công trình của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố Gần đây, văn học Lý - Trần đã được nhiều tác giả như Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Công Lý,… nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau

Thơ Thiền thời Lý - Trần cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận

văn, luận án Đoàn Thị Thu Vân với đề tài “Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI - thế kỷ XIV”, đi sâu khảo sát và tìm hiểu những đặc sắc của thơ Thiền Việt Nam; Nguyễn Công Lý với đề tài “Văn học Phật giáo Lý - Trần: diện mạo và đặc điểm, đã dành chương 4 (trong tổng số 4 chương) trình bày về

năm đặc điểm cơ bản nhất của văn học Phật giáo thời Lý - Trần

Từ những năm cuối thế kỷ XX, trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như

Tạp chí Văn học, Tạp chí văn hóa dân gian, Tạp chí nghiên cứu Phật học… có nhiều

bài viết nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý - Trần

Đầu của thế kỷ XXI, nhiều Hội thảo khoa học về Thiền phái Trúc Lâm đã được

tổ chức : “Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam” (2000), “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông, cuộc đời và sự nghiệp” (2008), “Bảo tồn và phát huy di sản

Đệ tam tổ Thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang và Lễ hội Côn Sơn” (2009), “Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay”

Trang 3

Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” cũng được đề cập trong các luận án tiến sĩ triết học lấy đề tài tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông (như đã nói ở trên) và qua một số bài viết tản mạn của Nguyễn Kim Sơn, Hòa thượng Thích Phước Đạt,…

Như vậy, Thiền học nói chung và thơ Thiền Lý - Trần nói riêng đã được nghiên cứu tương đối toàn diện Tuy nhiên, tính cho đến nay, chưa có một chuyên luận hay một công trình khoa học nào thực sự tập trung tìm hiểu quá trình vận động

từ khởi nguồn đến đỉnh cao và thế tục hóa của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”.

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Những sáng tác của Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Tuệ

Trung Thượng sĩ, Trần Thái Tông và Thường Chiếu

Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng “Cư trần lạc đạo”, những biểu hiện cùng quá

trình vận động từ cội nguồn đến khi phát triển tới đỉnh cao

4 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nhận diện, lý giải và đánh giá cội nguồn hình thành, những biểu

hiện cùng quá trình vận động và những đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đối với lịch sử và văn hóa dân tộc

Từ đó, rút ra những bài học thực tiễn trong công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại hội nhập.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: liên ngành; loại hình học; so

sánh văn học; phân tích, tổng hợp

6 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”.

Chương 2: Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” – Từ Thường Chiếu, Trần Thái Tông

qua Tuệ Trung Thượng sĩ đến Trần Nhân Tông và Huyền Quang

Chương 3: Những đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”.

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”

Trang 4

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn, tinh thần nhập thế của Thiền

phái Trúc Lâm Yên Tử cần được nhìn nhận từ hai phương diện, một là những căn cội triết học và hai là cơ sở thực tiễn, những lý do thực tiễn [46; tr 41] Người viết căn

cứ vào đó mà đi tìm cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”

1.1 Sự dung thông Tam giáo – Cơ sở triết học của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”

Xét về cơ cấu, đó là sự hội nhập triết học và phương pháp tu dưỡng, cảnh giới tinh thần của cả Tam giáo, lấy Thiền làm cơ sở để tiến hành hội nhập

1.1.1 Phật tính luận – trục tâm của tư tưởng

Thiền tông quan niệm: Tất thảy mọi người đều có Phật tính Bồ Đề Đạt Ma, Tổ

sư của Thiền tông đúc kết phương pháp chứng ngộ: “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” (không lập văn tự, hướng thẳng nhân tâm, thấy tính thành

Phật)

Trong Pháp bảo đàn kinh, Huệ Năng đưa ra mệnh đề rất quan trọng: “tức tâm tức Phật” (Tâm đấy chính là Phật đấy) Phật tính cũng là Nhân tính, do đó tri tính, minh tâm kiến tính (thấy tính, biết tính, làm sáng lòng để thấy tính) chính là con

đường giải thoát, con đường giác ngộ thành Phật

Từ quan niệm về Phật tính như trên, Thiền Huệ Năng đã mở ra một đường

hướng tu hành, đường hướng giác ngộ cho số đông Ai có thể quay về với bản tâm tự

tại thanh tĩnh của mình, có thể diệt vọng niệm, loại thi phi… là có thể kiến tính thành Phật Và cũng do nhân tính và Phật tính hợp làm một, nên Phật tính cũng không tách

rời nhận thức cảm tính bình thường

Phật tính luận và phương pháp tu Thiền theo cách minh tâm kiến tính, đốn ngộ thành Phật là cơ sở triết học quan trọng nhất của tư tưởng “Cư trần lạc đạo.

1.1.2 Triết học nhân sinh Đạo gia – một cách “nói hộ” tư tưởng Thiền

Triết học nhân sinh của Đạo gia có mặt một cách khá đậm nét và là một cách

“nói hộ” cho nhiều tư tưởng Thiền

“Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” [35; tr 15] là một đặc sắc tư tưởng của Lão Tử Lão Tử nêu quan điểm “hòa quang đồng trần” để giải thích về lẽ Huyền đồng Người

đời sau dùng “hòa quang đồng trần” để chỉ triết lý sống nổi chìm cùng thế tục, tùy tục tùy thời hành xử, không để lộ ra một sự khác biệt hay đặc biệt nào

Các thiên Tiêu dao du và Tề vật luận trong sách Trang Tử tập trung thảo luận

về vấn đề căn cội khiến con người không mất tự do Con người sở dĩ bị trói buộc tinh

Trang 5

thần chính do thái độ phân biệt tốt xấu, thiện ác, giàu nghèo, tâm vật… tức là: Đãi Muốn đạt tới tự do tiêu dao tuyệt đối, người ta cần loại bỏ chấp đãi, đạt tới vô sở đãi

Chính triết học nhân sinh Lão - Trang đã góp phần tạo nên căn cơ triết học cho

tư tưởng “phàm thánh bất dị”, “nhậm vận tùy duyên”, “cư trần lạc đạo” của cả dòng Thiền đời Trần nói chung và Thiền học của Trần Nhân Tông nói riêng

1.1.3 Tư tưởng “lạc đạo” của Nho gia với phương pháp tu dưỡng của Thiền tông

Phật tính luận theo kiến giải của Huệ Năng là sự dung hợp quan niệm bản thể Phật tính với Nhân tính, Tâm tính luận của Nho gia

Nho gia là học thuyết nhập thế Tâm tính học của Nho gia chủ trương tu tâm

dưỡng tính ngay trong các quan hệ nhân tình thế tục: cha con, anh em, chồng vợ Phương pháp tu dưỡng của Nho gia là hướng vào nội tâm, tự phản tỉnh, tự điều tiết

Quan niệm về Nhân tính là cơ sở triết học của thuyết tu dưỡng Tu dưỡng theo

Nho gia, là nhằm đạt tới sự hoàn thiện của nhân cách, trong tu dưỡng có lạc thú của

sự rèn luyện Lạc thú của Nho gia là lạc thú trong chính sự tu dưỡng, trong việc xử lý các quan hệ trong cõi hiện thế, cõi đời thực Sự siêu việt của Nho gia chính là một loại siêu việt đặc biệt - siêu việt nội tại, siêu việt trong chính tâm tính

Nho gia đã góp phần đáng kể vào việc hình thành quan niệm sự giác ngộ không tách rời con người

1.2 Tinh thần thời đại – Cơ sở thực tiễn của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”

1.2.1 Thời đại anh hùng với “hào khí Đông A” bất diệt

Trải qua hơn 200 năm xây dựng và phát triển dưới triều Lý (1009 - 1225), đến triều Trần, nước Đại Việt đã trở thành một quốc gia cường thịnh

Giai cấp phong kiến thời Trần là một lực lượng tiến bộ, trở thành đại biểu của nhân dân Với chủ trương “thân dân”, “trọng dân”, nhà Trần quy tụ được sức mạnh toàn dân tộc trong kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước Tiềm năng của dân tộc được hồi sinh mạnh mẽ, nội lực dân tộc được

phát huy hết chiều kích tạo nên những thành tựu nổi bật về nhiều phương diện: về quân sự, ba lần đánh tan quân Nguyên Mông để “non sông nghìn thuở vững âu vàng”; về chính trị, tạo ra vị thế bình đẳng với Trung Hoa, khiến các nước lân bang phải vị nể; về văn hóa, tạo dựng được một nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc với

tầm vóc khiến cả người Trung Hoa cũng phải ngợi ca Văn học thời Trần cũng có

Trang 6

những bước phát triển mới so với văn học thời Lý, đưa thơ từ chỗ trừu tượng, cao siêu đến chỗ gần gũi, bình dị và giàu ý vị trữ tình.

“Hào khí Đông A” cùng với khí thế hồ hởi của thời đại đã góp phần tạo nên hình ảnh những con người mang vẻ đẹp đặc biệt Hình ảnh những con người ấy đã in đậm dấu ấn trong văn học, làm cho văn học thời Trần lấp lánh tinh thần nhân văn, độc đáo và hấp dẫn

1.2.2 Thời đại Phật giáo thịnh trị, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tinh thần xã hội

Thời Trần là một giai đoạn mà đạo Phật thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc, từ hình thức đến nội dung

Bấy giờ, chùa chiền được dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến

mọi miền của đất nước; số người xuất gia tu hành rất đông Trong số đó có cả những

người trong hoàng tộc, thậm chí là hoàng đế Ba vị vua đầu tiên của vương triều đều

là những Thiền giả đã chứng ngộ Các vua kế tiếp đều là Phật tử nhiệt thành, hết lòng bảo trợ Phật giáo Triều đình có viện Tả Nhai là nơi nhà vua cùng với các bậc cao tăng bàn luận về Phật học

Phật giáo trong dân chúng phát triển, dân tự động đóng góp công của xây dựng chùa làng, cúng ruộng đất nuôi tăng Đạo Phật có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống, văn hóa, tư tưởng, hòa đồng với hầu hết các hình thức tín ngưỡng, tập tục

sơ khai Cũng không biết tự bao giờ, những ngôi chùa đã mọc lên như một bộ phận

hữu cơ, gắn bó thân thiết với cộng đồng xã hội: “Đất vua, chùa làng, cảnh Bụt”.

Ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do Chính nếp sống và tư duy theo tinh thần khoan dung Phật giáo đã tạo nên một xã hội khai phóng, khiến cho mọi tôn giáo, mọi hệ tư tưởng được cùng nhau phát triển, phát huy tối đa tinh hoa thời đại, tạo cho xã hội một đời sống tinh thần phong phú

Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng Thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập, hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ

Đặc sắc của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử là tính nhập thế tích cực Đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo Có thể nói rằng các vị vua, các Thiền sư thời Trần đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến Phật giáo trở

Trang 7

thành một thế lực hùng mạnh yểm trợ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước của triều đình

Tiểu kết: Khởi nguyên từ sự dung hợp những triết lý của Nho - Phật - Lão trong buổi

“Tam giáo đồng nguyên” (Phật tính luận của Thiền học, tư tưởng “Hòa quang đồng trần”,

“Vô sở đãi”, “Tùy duyên, tùy tục” của Lão - Trang, triết lý “Lạc đạo” của Nho gia), tư tưởng “Cư trần lạc đạo” được ươm mầm từ chính những đòi hỏi cấp bách của lịch sử dân tộc Nhìn nhận tư tưởng ấy có gốc rễ từ sự dung hòa Nho - Phật - Đạo trên cơ sở tiếp biến văn hóa, đồng thời đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn lịch sử và phù hợp với thực tế Đại Việt, là một cách nhìn khách quan mang tinh thần khoa học

CHƯƠNG 2:

TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” – TỪ THƯỜNG CHIẾU,

TRẦN THÁI TÔNG QUA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ ĐẾN TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG

Theo Đoàn Thị Thu Vân, tư tưởng “Cư trần lạc đạo” là tôn chỉ của Sơ tổ và là

tư tưởng nhất quán của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được thể hiện qua bốn điểm: 1

- Nên sống hòa mình với đời, không câu chấp; 2 - Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên; 3 - Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực; 4 - Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù Thiền hay Phật Để được như vậy, các nhà tư tưởng Thiền phái đã

có cả quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiến trình hình thành tư tưởng

“Cư trần lạc đạo” đi từ “tùy tục” của Thường Chiếu, đến “biện tâm” của Trần Thái Tông, chuyển qua “hòa quang đồng trần” của Tuệ Trung Thượng sĩ, “tùy duyên lạc đạo” của Trần Nhân Tông và sau cùng là cảm hứng thế tục của Huyền Quang

2.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu và tư tưởng “biện tâm” của Trần Thái Tông – những nền móng đầu tiên

2.1.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu - dấu gạch nối giữa ba tông phái Thiền đời Lý với dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử

Thường Chiếu (? - 1203), là một Thiền sư đời Lý, thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái Vô Ngôn Thông Ngoài công xiển dương và truyền dạy giáo lý Phật pháp cho tăng chúng, Thiền sư còn có công thống nhất ba Thiền phái lúc bấy giờ

Trang 8

Thường Chiếu đã truyền dạy cho học trò của mình nguyên tắc “tùy tục”, nghĩa

là làm giống cuộc đời Tuy nhiên, ông chủ yếu nhấn mạnh chữ “tùy” với ý nghĩa “tùy tục” về lẽ sống chết chứ chưa hẳn là sự “tùy nghi”, “tùy duyên Chính vì không phân biệt với cuộc đời như thế mà Thiền sư có thể ung dung đón nhận tất cả, kể cả cái chết một cách bình thản Bài kệ ông đọc trước lúc lâm chung biểu lộ phong thái của người

đã giải thoát, tìm thấy rằng thực hữu tràn đầy kia không nơi đâu và không lúc nào không phải là quê hương mình

Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu đã gợi mở đường hướng cho sự ra đời của Thiền phái duy nhất đời Trần Tư tưởng “tùy tục” của ông, về sau được Tuệ Trung Thượng sĩ phát triển, trở thành nếp sống đạo “hòa quang đồng trần” mang cốt cách và bản lĩnh Thiền tông Đại Việt

2.1.2 Trần Thái Tông, người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với triết lý “biện tâm”

Thái Tông Hoàng đế, “họ Trần, tên húy là Cảnh,… khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập dựng kỉ cương chế độ nhà Trần thực to lớn vậy” [36; tr 37].

Muốn được giác ngộ và giải thoát, Trần Thái Tông khuyên mọi người, không

kể tăng hay tục, hãy “biện tâm” Theo Kinh Pháp cú, “biện tâm” là uốn nắn cho tâm

thẳng, như thợ làm tên uốn nắn cho tên thẳng, là “điều phục tâm”, “phòng hộ tâm”,

“an trú tâm”, khiến tâm không còn tham lam, sân hận, siêu việt lên trên thiện ác

Trong Phổ khuyến phát Bồ đề tâm, Trần Thái Tông cho rằng: sự giác ngộ, trí

tuệ Bát Nhã có đầy đủ trong mọi người, chẳng cần tìm đâu xa, tức phải “biện tâm” thì

sẽ thấy được “tính”, giác ngộ thành Phật Do đó, cầu Phật, cầu chân lý không thể hướng ngoại mà phải hướng nội Trong bài luận về niệm Phật, ông cho rằng người là

Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên gọi là “Phật sống” Trong Tọa Thiền luận, Thái Tông cho rằng những ai đã lĩnh hội được Phật tính nơi mình rồi thì người

đó không còn tạo nghiệp nữa

Niệm Phật luận trình bày rõ công phu “biện tâm” Theo ông, mọi niệm thiện, ác

cũng đều là tạo nghiệp, không phải là giải thoát, chỉ khi đạt tới cảnh “như như bất động” mới là “chân giải thoát” “Bất động”, nên hiểu là không động niệm, không thủ chấp, không vướng mắc Đó là tâm thức sáng suốt (Quốc sư Phù Vân nói với Trần

Thái Tông khi vua lên núi Yên Tử: “Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật”) Khi

Trang 9

trả lời câu hỏi đạo của nhà sư Tống Đức Thành, vua nói “tâm vô” chưa phải là giác ngộ Ý vua nói “lặng”, “vô niệm” thôi thì chưa đủ, mà trí tuệ phải chiếu sáng thì mới giác ngộ được.

Thực chất của “kiến tính”, đó là sự trở về với “quê hương” bản tâm nguyên sơ, tĩnh lặng mà thuần khiết của mỗi chúng sinh Và giải thoát theo triết lý Thiền ở đây chẳng khác gì hơn là sự tỉnh thức tuyệt đối, cao độ, vượt lên trên mọi chấp trước và lầm kiến, để sống sinh động và trọn vẹn trong cái hữu hạn của cuộc đời và cái vô hạn

của bản nguyên tuyệt đối thanh tịnh (Tứ sơn kệ trong Khoá hư lục)

Triết lý “biện tâm” của Trần Thái Tông đã đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử về sau Phật giáo “biện tâm” là Phật giáo của mọi người Tư tưởng đó làm cho đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu, thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rộng rãi

2.2 Bản lĩnh “hòa quang đồng trần” trong sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ

Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (1230 - 1291) là một trong những nhà Thiền học xuất sắc của nước ta trong triều đại nhà Trần Tuệ Trung Thượng sĩ tu Phật nhưng không khép mình vào “tam quy, ngũ giới” Ông là nhà Thiền học thông tuệ, sắc sảo trong suy nghĩ và hành động

2.2.1 Tư tưởng “tùy duyên”

Kế tục lối sống “tùy tục” của Thường Chiếu và các vị Thiền sư đi trước, Tuệ Trung Thượng sĩ đã sáng tạo nên một triết lý “sống đời vui đạo” vô cùng độc đáo Đó chính là thái độ sống, lối sống “tùy duyên” của Thiền tông

Thượng sĩ quan niệm sống ở đời là phải biết “tùy nghi”, không nên khư khư chấp vào quy tắc cứng nhắc Lĩnh hội được cái tinh túy của Thiền, Tuệ Trung đã tạo nên một cách sống đẹp hòa hợp với quy luật tự nhiên

Trong lòng bình thản, không vướng bận thị phi thì dù ở cảnh ngộ nào, nếu biết

sống “tùy duyên” con người cũng sẽ an nhiên, tự tại (Tự tại)

Trong quan niệm của Thiền gia lỗi lạc này, Thiền chính là ở chỗ hành xử hợp thời, Thiền là ở tâm Thiền tông không chỉ là một tôn giáo mà còn là một cách sống, một đạo sống đẹp giúp con người đạt đến hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này

Song cũng cần lưu ý rằng: đề cao lối sống “tùy duyên” không đồng nghĩa với việc Thượng sĩ khuyến khích con người sống phóng túng buông thả Qua tư tưởng

Trang 10

“tùy duyên”, Tuệ Trung đã xây dựng một quan niệm sống tích cực, lạc quan, hợp thời.

2.2.2 Tinh thần “phá chấp” triệt để

Thượng sĩ chú trọng đề cao con đường “đốn ngộ” hơn là viện vào giáo lý, khái niệm để đạt đạo Người muốn chỉ rõ kinh điển chỉ là “phương tiện” dẫn con người đến với đạo, không phải là cái đích để con người bám víu vào đó

Theo Tuệ Trung, sở dĩ con người thường mê lầm, bám víu vào khái niệm là do

họ có cái nhìn “nhị kiến” (cách nhận thức lưỡng phân) Thượng sĩ cực lực đả kích cái nhìn “nhị kiến” phân chia thế giới thành hai cực rạch ròi Bằng cách nói riêng của mình, Thượng sĩ mang đến cho người có "thượng căn", "thượng trí" cơ hội giác ngộ đột ngột, không cần qua nhiều năm tham khảo

Với Tuệ Trung, không thể phân biệt phàm với thánh, Phật với chúng sinh, "có"

và "không", "phiền não" với Bồ đề, "chân như" và "vọng nghiệp",… Đặc biệt, vấn đề

mà con người lầm lạc nhiều nhất là đem đối lập sinh với tử cũng bị Tuệ Trung phê

phán mạnh mẽ Thái độ khôn ngoan nhất để thoát khỏi sự mê lầm là không bắt đuổi đối tượng ngoài tự thân

Phủ định cái nhìn “nhị kiến”, Tuệ Trung không rơi vào sự phủ định hư vô chủ nghĩa Ngược lại, nhờ nó ông trút bỏ được mọi sự ràng buộc trong nếp nghĩ cũng như trong nếp sống Ông không buộc mình vào cực này hay cực kia, lại ăn thịt uống rượu như người trần tục Tinh thần phá chấp triệt để của Thiền tông đã được Thượng sĩ thể hiện trọn vẹn và sinh động

2.2.3 Tinh thần tự tin vào bản thân

Trên nền tảng tư tưởng của các bậc tiền bối, cái mới của Tuệ Trung là triệt để nhấn mạnh kêu gọi con người từ bỏ sự tìm cầu bên ngoài để trở về với chính mình, lắng nghe sự diệu kì của “Phật tính” trong chính ta Thượng sĩ đã nhiều lần khẳng

định mạnh mẽ: Phật và chúng sinh không khác nhau

Ông đề xuất con người hãy quay về tìm lấy trong mình tinh thần trẻ thơ còn hồn nhiên chân chất, còn nguyên vẹn Phật tính, chưa bị sắc tướng làm cho sai lạc

Từ chỗ nhìn nhận đúng tầm quan trọng của cái “Tâm”, Thượng sĩ đã truyền cho con người sự tự tin mạnh mẽ Theo ông khi con người đạt đến cái “Tâm” vi diệu thì chẳng cần niệm Phật hay tu Thiền nữa

Trang 11

Trên cơ sở phát triển chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu, tư tưởng “hòa quang đồng trần” ở Tuệ Trung Thượng sĩ đã “khai tâm” cho Trần Nhân Tông, để vị vua Đại Việt khi ấy tổng kết thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo”, làm nền tảng tư tưởng và tôn chỉ hoạt động cho Thiền phái Trúc Lâm

2.3 Tư tưởng “tùy duyên lạc đạo” trong thơ văn của Sơ Tổ Trần Nhân Tông – người lập thuyết cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, nhà lãnh đạo kinh luân, nhà ngoại giao tài

ba, Thiền sư lỗi lạc, nhà văn hóa uyên áo và nhà thơ xuất sắc của dân tộc Ở bình diện nào, người ta cũng phát hiện những điều thú vị, kỳ lạ ở danh nhân kiệt xuất này

“Cư trần lạc đạo” - sống trong cõi trần vui với đạo - thực chất là một tuyên ngôn hợp nhất triết lý căn bản của Thiền phái Trúc Lâm tạo nên một đường lối sống đạo hết sức đặc sắc, dung hòa lý tưởng và hiện thực

2.3.1 “Cư trần lạc đạo” – minh triết siêu việt thế tục

“Cư trần” - sống trong cõi đời, Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông đã thừa

nhận sự tồn tại của huyễn thân Cõi trần là một chặng đường trong luân hồi, nhưng

chính là giai đoạn để giác ngộ chân lý Phật hoàng lấy hiện tại, khi con người mắc lại

ở cõi trần, làm căn bản để giải quyết mối tương quan cõi đời - con người - đạo

“Lạc đạo” - vui với đạo, là một tâm thế hành đạo “Lạc” ở đây là Niết bàn tại thế, là niềm vui, hạnh phúc chân thật, xuất phát từ nội tâm, từ sự trực ngộ được thể tính thanh tịnh của tâm

Yếu chỉ “Cư trần lạc đạo” muốn nói rằng: ngay giữa cõi đời náo nhiệt vẫn có thể hưởng được cái thú thanh tao của Thiền Lạc thú của Thiền là lạc thú giải thoát, là cảnh giới tâm lạc, nhưng tâm lạc giữa thực tại, giữa cuộc đời

“Cư trần lạc đạo” là minh triết siêu việt thế tục, là một phương châm sống, là khí phách siêu thoát, phóng dật của bậc trượng phu Nhờ hiểu bản chất cuộc đời mà không bị thị phi, danh lợi của đời chi phối, đưa đẩy Đồng thời, cũng nhờ thật sự hiểu đạo và đời thì mới tự tại sống trong bụi bặm trần ai mà vẫn ung dung giữ niềm vui cao quý, trong sáng, lâu bền, chứ không vui cái vui tạm bợ, hư giả của cuộc đời

Thi phẩm Thiên trường vãn vọng là sự hoà điệu, giao duyên giữa thơ và Thiền

Tất cả vẻ đẹp của ngoại giới đều có sự tương thông với tâm Thiền nên thấm đẫm Thiền vị Đó là tâm thức Thiền của Điều Ngự Trần Nhân Tông Thiền phái Trúc Lâm không hướng con người vào một cõi tồn tại khác sau cái chết mà khuyên bảo con

Trang 12

người hãy chấp nhận hiện thực như nó đang tồn tại Vấn đề là cần thay đổi thái độ với

chính hiện thực ấy, thực hiện xây dựng một Tịnh thổ ngay trong thực tại, nghĩa là “ở

đời mà vui đạo”

2.3.2 “Tùy duyên bất biến” – chìa khóa mở cửa cuộc sống an lạc

“Tùy duyên bất biến” nghĩa là: hình thức tướng trạng thay đổi tùy theo ngoại duyên, nhưng bản chất thì không bao giờ thay đổi

Trong mối quan hệ giữa “tùy duyên” và “bất biến”, “bất biến” là gốc Mất phần

“bất biến” là mất lập trường của đệ tử Phật Tu hành phải đạt được “bất biến”, nhưng

từ “bất biến” chúng ta “ứng vạn biến”, tức “tùy duyên”

“Tùy duyên bất biến” nghĩa là luôn giữ gìn bản sắc, tinh hoa của Chính pháp

nhưng không cứng nhắc, giáo điều để rồi tự đánh mất sự linh hoạt

Bài Xuân vãn thể hiện lạc thú với tâm bản thể siêu việt ngay giữa cõi trần khi

trực ngộ quy luật tự nhiên Con người ấy thời tuổi trẻ lầm tưởng thế gian là vĩnh cửu nên lòng xao xuyến mừng vui khi xuân về hoa nở, xót xa nuối tiếc khi xuân đi hoa tàn, giờ đây hiểu được lẽ thật của cuộc đời nên có thể an nhiên nhìn sự vật vần xoay

Trong hợp thể linh động “tùy duyên bất biến”, “tùy duyên” và “bất biến” gắn

bó hữu cơ, xuyên thấm vào nhau không thể tách rời Theo đó, con người cần nắm được cái cốt tủy, tinh yếu Thiền học, nhưng vận dụng trong thực tiễn phải linh hoạt, tùy theo ngoại duyên

2.3.3 “Gia trung hữu bảo” – nguyên tắc “không - truy - tầm”

Kinh Pháp hoa nói rằng: trong chiếc túi da ô uế có viên minh châu, hay trong cái thân tứ đại ngũ uẩn có viên ngọc quý Nếu tìm hay sử dụng được nó, chúng ta sẽ

thành Phật, thành hiền thánh

Tiếp thu và kế thừa quan niệm của người thầy Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông cho rằng Bụt ở trong bản thân mình, không phải tìm đâu khác bên ngoài Nghĩa là “gốc”, “bản” ở chính trong tâm ta Chính vì đánh mất gốc, mất của báu nên mới phải tìm Phật mà không biết Phật là tịnh độ, là lòng trong sạch dẫn đến mải mê

đi tìm ở ngoài mình Thế nên, mọi sự tìm kiếm ông Phật từ bên ngoài sẽ là nỗ lực dã tràng xe cát, là việc truy tìm lông rùa sừng thỏ

Ý hướng tư tưởng tự mình trở về thực hiện lấy “tự tính giác ngộ” bằng phương

pháp không đối tượng hóa “tự tính giác ngộ” ấy để chạy theo đuổi bắt của Phật hoàng

Ngày đăng: 21/09/2016, 15:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w