1. Trang chủ
  2. » Tất cả

3 Chuong 1

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 272,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ thế kỷ XIX đến nay, phân tích hoạt

Trang 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG

SẢN XUẤT KINH DOANH

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ thế kỷ XIX đến nay, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự phát triển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý luôn phải đưa ra rất nhiều quyết định khác nhau như quyết định đầu tư, quyết định về mặt hàng, lựa chọn công nghệ máy móc thiết bị, cung ứng nguyên vật liệu, về chi phí, giá bán và về tổ chức huy động và sử dụng vốn v.v… Các quyết định của các nhà quản lý có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

do họ quản lý nói riêng, của toàn ngành và toàn bộ nền kinh tế nói chung Nghiên cứu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là khâu quan trọng trong quản lý doanh nghiệp Vậy:

- Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là gì?

- Chủ thể nào cần phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp?

- Đối tượng, nội dung của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh?

- Phương pháp và tổ chức công tác phân tích như thế nào? Đó là những nội dung cơ bản được đề cập trong chương này

1.1 MỤC TIÊU CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

1.1.1 Khái niệm phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố bên trong, đó là những nhân tố mang tính chất chủ quan trong quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất, trong tổ chức quản lý sản xuất, trong công tác tiếp cận với thị trường v.v…Và những nhân tố bên ngoài,

đó là những nhân tố mang tính chất khách quan như sự tác động của thể chế, luật pháp, trình trạng nền kinh tế trong nước và thế giới, lãi suất, chính sách tiền lương cơ bản, lạm phát, yếu tố về công nghệ, về văn hoá xã hội v.v… Ngoài ra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của các quy luật như quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh v.v… Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh được thu thập, ghi chép lưu trữ lại được gọi là công tác thống kê, lưu trữ

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là đem những số liệu thu thập được trong quá trình sản xuất kinh doanh mổ xẻ tìm mặt ưu, khuyết, khả năng tiềm tàng và lợi thế, rủi ro giúp cho các doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như

Trang 2

những hạn chế để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu, xác định đúng mục tiêu chiến lược kinh doanh vì mục đích kinh doanh là để sinh lợi

Tóm lại: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là phân chia các hoạt động, các quá trình, kết quả kinh doanh thành các bộ phận trong sự tác động của các yếu tố và sử

dụng các phương pháp để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.2.1 Ý nghĩa của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp có ý nghĩa cho các đối tượng:

a Nhà quản trị doanh nghiệp

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp cho nhà quản trị các thông tin về:

- Kết quả thực hiện các mục tiêu của kế hoạch kinh doanh

- Lợi thế, khó khăn, rủi ro và xu hướng phát triển trong thời gian tới

- Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh

- Khả năng tiềm tàng sẵn có của doanh nghiệp

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để nhà quản trị đề ra những quyết định quản lý như:

- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho kỳ sau thích hợp

- Đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh

b Ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp cho ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp các thông tin về:

- Hiệu quả kinh doanh

- Khả năng thanh toán nợ

- Tỷ số nợ, quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu

- Lợi thế, khó khăn, rủi ro và xu hướng phát triển kinh doanh

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp ra quyết định cho vay, đầu tư và bán chịu

c Nhà nước

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp cho nhà nước thông tin của doanh nghiệp, hoặc một lĩnh vực kinh tế nào đó:

- Hiệu quả kinh doanh

- Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh

* Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để nhà nước đưa ra những biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách quản lý vĩ mô thích hợp

Trang 3

1.1.2.2.Vai trò của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Đó là một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả mà các doanh nghiệp đã sử dụng từ trước tới nay Tuy nhiên trong cơ chế bao cấp phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phát huy đầy đủ tác dụng bởi các doanh nghiệp được sự bao cấp của nhà nước từ khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất đến cả khâu tiêu thụ sản phẩm Nếu sản xuất kinh doanh bị thua lỗ đã có nhà nước lo, doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm và vẫn tồn tại, kết quả sản xuất kinh doanh chưa được đánh giá đúng đắn, hiện tượng lời giả và lỗ thật thường xuyên xảy ra, các nhà quản trị doanh nghiệp không cần năng động, sáng tạo và tìm tòi các biện pháp để nâng cao hiệu quả, không quan tâm đầy đủ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình

Ngày nay nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề được đặt lên hàng đầu đối với các doanh nghiệp là phải nâng cao hiệu quả kinh doanh Có như vậy doanh nghiệp mới đứng vững trên thị trường và đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, vừa phải tích luỹ vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Để đảm bảo được điều đó doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá đầy đủ chính xác, toàn diện mọi diễn biến và kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp qua đó tìm mọi biện pháp để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cho phép các doanh nghiệp đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế như thế nào, những mục tiêu đặt ra được thực hiện đến đâu, rút ra những tồn tại, tìm nguyên nhân khách quan và đề ra biện pháp khắc phục để tận dụng một cách triệt để khả năng tiềm tàng sẵn có của doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa rằng phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ là điểm kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh mà còn là điểm bắt đầu của một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới Kết quả phân tích quá trình sản xuất kinh doanh đã qua và những dự đoán trong phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh sắp tới là những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạch định chiến lược phát triển và lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu

 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh gắn với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, có tác dụng giúp cho doanh nghiệp chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Thông qua phân tích từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp như công tác chỉ đạo sản xuất, công tác tổ chức nhân sự và tiền lương, công tác tiếp thị và bán hàng, công tác quản

lý tài chính v.v… giúp doanh nghiệp điều hành từng lĩnh vực cụ thể với sự tham gia của

Trang 4

từng phòng ban chức năng, từng bộ phận trực thuộc của doanh nghiệp Nó cũng là công

cụ quan trọng để kiểm tra đánh giá sự liên kết phối hợp hoạt động của các bộ phận làm cho hoạt động chung của doanh nghiệp ăn khớp nhịp nhàng và đạt hiệu quả

 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, còn phải quan tâm đến các nhân tố bên ngoài tác động như đối thủ cạnh tranh, thị trường tiêu thụ, khách hàng v.v… Trên cơ sở phân tích doanh nghiệp đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra

 Tài liệu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không những cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp mà cũng rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ

có liên quan đến quyền lợi kinh tế với doanh nghiệp Bởi vì, thông qua phân tích họ mới

có thể quyết định đúng đắn trong việc bỏ vốn đầu tư, cho vay hay cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp

1.1.3 Mục tiêu của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt đang đòi hỏi các doanh nghiệp cần hoạt động chuyên nghiệp và bài bản hơn Để thành công, việc đầu tiên trước khi bắt đầu khởi nghiệp một doanh nghiệp là phải lập một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh, từ khâu phát triển ý tưởng kinh doanh, nghiên cứu thị trường và tính khả thi của ý tưởng đó, đến việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày

Việc cần thiết ban đầu là phải lập kế hoạch kinh doanh Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng giống như bản đồ cho bạn đi du lịch một nước nào đó vậy Nếu như không có một kế hoạch kinh doanh tốt, cho dù doanh nghiệp có những ý tưởng kinh doanh vĩ đại đến mức nào thì cũng rất khó thành công, thậm chí còn thất bại nặng nề Các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: Doanh nghiệp sẽ đạt được cái gì từ việc kinh doanh và làm thế nào để đo lường mức độ thành công của việc

kinh doanh Đó chính là mục tiêu mà các nhà quản lý doanh nghiệp đã đề ra

Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả (tối đa hoá lợi nhuận) Để đạt được mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải hiểu và nắm vững được mục tiêu cơ bản của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Mục tiêu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm nêu lên được ý nghĩa của những con số trong các tài liệu báo cáo, có nghĩa là làm cho các con số trong các báo cáo

Trang 5

‘‘biết nói” để cho các đối tượng sử dụng tài liệu báo cáo đó hiểu được mục tiêu, tình hình

và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì:

- Qua phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh có thể đánh giá tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh

- Là cơ sở để đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn có căn cứ khoa học và các giải pháp quan trọng trong việc phòng ngừa những rủi ro trong kinh doanh

Như vậy, nếu không có phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh thì các tài liệu của hạch toán kế toán và thống kê được sẽ trở nên vô nghĩa, bởi vì tự bản thân chúng không thể đánh giá được tình hình và kết quả của các hoạt động trong kinh doanh

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc so sánh các chỉ tiêu có sẵn trên các báo cáo kế toán, thống kê mà cần phải đi sâu xem xét nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau, vận dụng các phương pháp thích hợp để tính toán các chỉ tiêu cần thiết, qua đó đánh giá chính xác, đầy đủ để đưa ra kết luận sâu sắc sẽ là cơ sở để phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời

là căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn và đây cũng là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh

1.2 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

1.2.1 Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin để cho các

nhà quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn cung cấp cho các đối tượng bên ngoài Những thông tin này giúp cho doanh nghiệp, ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp đề ra các quyết định, những thông tin này thường không có sẵn trong báo cáo tài chính mà phải thông qua quá trình phân tích

Trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản với qui mô nhỏ, nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị chưa nhiều thì quá trình phân tích được tiến hành đơn giản, có thể xử

lý ngay trong quá trình hạch toán Ngày nay khi quá trình sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển với qui mô lớn, nhu cầu thông tin ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp với rất nhiều nguồn đòi hỏi việc xử lý thông qua phân tích Đây cũng là động lực thúc đẩy phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh được hình thành và phát triển

Với tư cách là môn khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng nghiên cứu riêng

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và diễn biến của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đó trong

sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và quá trình đó

1.2.2 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Để trở thành một công cụ quan trọng của quá trình phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh có những nhiệm vụ sau:

1.2.2.1 Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Nhiệm vụ trước tiên của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là kiểm tra đánh giá giữa kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra, qua đó có thể khẳng định tính chính xác

về việc xây dựng kế hoạch của các chỉ tiêu chủ yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh

Đồng thời qua quá trình phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể xem xét việc chấp hành các qui định, luật pháp và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước

Thông qua việc kiểm tra đánh giá doanh nghiệp có cơ sở định hướng để nghiên cứu kỹ hơn các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp dự kiến sẽ phát triển trong

kỳ sau

1.2.2.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố, có nhân tố tác động tích cực đến chỉ tiêu phân tích và cũng có nhân tố tác động tiêu cực, do đó ta phải xác định trị số của nhân tố và tìm nguyên nhân biến động của trị số nhân tố đó

1.2.2.3 Đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tiềm năng sẵn có

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ đánh giá chung, mà cũng không dừng lại ở bước xác định nhân tố và nguyên nhân, mà trên cơ sở đó phát hiện tiềm năng sẵn có, những lợi thế, khó khăn và rủi ro của doanh nghiệp, nhằm đề xuất những biện pháp để phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu trong quá trình kinh doanh

1.2.2.4 Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào các mục tiêu đã định

Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện, những nguyên nhân sai lệch và phát hiện những biến động tiếp theo Nếu kiểm tra đánh giá đúng đắn có tác dụng giúp doanh nghiệp tự điều chỉnh kế hoạch và

đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai

Định kỳ hay đột xuất các doanh nghiệp tiến hành kiểm tra, đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh và căn cứ vào điều kiện tác động của nền kinh tế trong nước và thế giới có thể biết được doanh nghiệp đang đứng ở vị thế nào trong nền kinh tế Trên cơ sở

Trang 7

đó để lựa chọn, xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh cho phù hợp, đồng thời xem xét dự báo, dự đoán mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có thích ứng với nhu cầu thị trường hay không

1.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

1.3.1 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm để đánh giá chung, đánh giá khái quát tình hình biến động của các chỉ tiêu phân tích

Khi sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích kinh tế phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

1.3.1.1 Xác định gốc so sánh

Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta lựa chọn gốc so sánh cho thích hợp, các gốc so sánh có thể là:

- Tài liệu năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triển của chỉ tiêu

- Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự báo, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán, định mức

- Các chỉ tiêu bình quân của ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng

1.3.1.2 Mục đích so sánh

- Qua so sánh đánh giá được kết quả của việc thực hiện các mục tiêu do đơn vị đặt

ra Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra, giữa thực tế với

kế hoạch

- Qua so sánh biết được tốc độ, nhịp điệu phát triển của các hiện tượng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước (kết quả năm sau với kết quả năm trước)

- Qua so sánh cho ta biết được mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơn vị trong quá trình thực hiện các mục tiêu do chính đơn vị đặt ra Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác có cùng loại hình quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và so sánh giữa kết quả của từng đơn vị bộ phận với kết quả bình

quân của tổng thể

1.3.1.3 Điều kiện có thể so sánh được

Để kết quả so sánh có ý nghĩa và chính xác thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu đem đi so sánh phải đồng nhất về mặt thời gian, không gian, nội dung kinh tế, phương pháp tính toán và đơn vị tính

Trang 8

Ví dụ 1.1: Nghiên cứu chỉ tiêu năng suất lao động bình quân của hai doanh nghiệp A và

doanh nghiệp B Doanh nghiệp A mức năng suất lao động bình quân: 20 sản phẩm/công nhân, doanh nghiệp B: 10 sản phẩm/công nhân Nếu ta vội vàng kết luận doanh nghiệp A

có mức năng suất lao động bình quân gấp 2 lần doanh nghiệp B là chưa có cơ sở vững chắc, dù cùng thời gian lao động như nhau, nhưng nếu ta biết thêm thông tin doanh nghiệp A được trang bị máy móc thiết bị hiện đại gấp 3 lần doanh nghiệp B thì kết luận trên là không đúng

1.3.1.4 Kỹ thuật so sánh

Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu người ta thường sử dụng những kỹ thuật so sánh sau:

a So sánh số tuyệt đối

Số tuyệt đối là chỉ tiêu biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế nào

đó Nó là cơ sở để tính toán các loại số khác

So sánh số tuyệt đối là so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu kinh tế ở những khoảng thời gian và không gian khác nhau nhằm đánh giá sự biến động về qui mô, khối lượng của chỉ tiêu kinh tế đó

Ví dụ 1.2: Giá trị sản xuất của doanh nghiệp X kỳ kế hoạch là 300 triệu đồng; kỳ thực tế

là 330 triệu đồng So sánh số tuyệt đối ta có:

330 - 300 = 30 (triệu đồng)

Như vậy doanh nghiệp X đã hoàn thành vượt mức kế hoạch về chỉ tiêu giá trị sản xuất là 30 triệu đồng

b So sánh số tương đối

Có nhiều loại số tương đối khác nhau, ví dụ như số tương đối động thái, số tương đối nhiệm vụ kế hoạch, số tương đối hoàn thành kế hoạch v.v… tuỳ theo yêu cầu của phân tích mà sử dụng cho phù hợp

- Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch: Là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức

độ cần đạt theo kế hoạch với mức độ thực tế đã đạt được ở kỳ trước của một chỉ tiêu kinh

tế nào đó

Công thức:

Mức độ cần đạt theo kế hoạch

Số tương đối nhiệm

vụ kế hoạch (%)

Mức độ thực tế đã đạt được ở kỳ trước

Ví dụ 1.3: Lợi nhuận thực tế đạt được của Công ty A năm 2010 là 2.000 triệu đồng, năm

2011 công ty đề ra kế hoạch lợi nhuận phải đạt được là 3.000 triệu đồng

Trang 9

Ta có số tương đối nhiệm vụ kế hoạch:

= 100

000 2

000 3

x = 150 (%)

Như vậy trong năm 2011 công ty A phấn đấu đạt chỉ tiêu lợi nhuận là 150% tăng 50% so với năm 2010

- Số tương đối hoàn thành kế hoạch: Là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức độ thực tế đạt được với mức độ dự kiến kỳ kế hoạch của một chỉ tiêu kinh tế nào đó Công thức:

Mức độ thực tế đạt được

Số tương đối hoàn

thành kế hoạch (%)

Mức độ dự kiến kỳ kế hoạch

Ví dụ 1.4: Vận dụng số liệu ví dụ 1.3, giả sử lợi nhuận thực tế đạt được của Công ty A

năm 2011 là 2.400 triệu đồng Ta có số tương đối hoàn thành kế hoạch:

= 100

000 3

400 2

x = 80 (%)

Như vậy trong năm 2011 công ty A chưa hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận chỉ đạt 80% giảm 20% so với kế hoạch

Ngoài ra ta cũng có thể tính một vài loại số tương đối khác như: số tương đối kết cấu, số tương đối cường độ v v…

1.3.2 Phương pháp loại trừ

Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố này

thì loại trừ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác

1.3.2.1 Phương pháp thay thế liên hoàn

a Khái niệm

Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bằng số tương đối và số tuyệt đối

b Nội dung và trình tự của phương pháp thay thế liên hoàn

- Xác định số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu phân tích

- Sắp xếp thứ tự các nhân tố từ trái sang phải, từ nhân tố số lượng sang nhân tố chất lượng; Trường hợp có nhiều nhân tố số lượng (chất lượng) cùng ảnh hưởng thì nhân

tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không được đảo lộn trình tự

- Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ giữ nguyên giá trị thực tế từ đó; còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ

Trang 10

nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân tố, phải tính ra cụ thể kết quả lần thay thế đó

- Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng phân tích

- Lần lượt thay thế nhân tố kế hoạch bằng nhân tố thực tế theo trình tự, mỗi lần thay thế tính ra được chỉ tiêu phân tích mới, rồi so sánh với chỉ tiêu phân tích đã tính ở bước trước Ta sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế

Để làm rõ các vấn đề lý luận trên, ta lấy một ví dụ khái quát như sau:

Giả sử có chỉ tiêu phân tích Q chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố, theo thứ tự a, b, c Các nhân tố này có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích Q và đã được sắp xếp theo trình

tự từ nhân tố số lượng đến chất lượng bằng công thức sau:

Q = a x b x c (1.3)

Ta quy ước kỳ kế hoạch ký hiệu là K còn kỳ thực tế ký hiệu là T Từ quy ước này chỉ tiêu Q kỳ kế hoạch và thực tế lần lượt được xác định như sau:

Kỳ kế hoạch: QK = aK x bK x cK (1.4)

Kỳ thực tế: QT = aT x bT x cT (1.5)

- Trình tự phân tích bao gồm 3 bước:

Bước 1: Xác định đối tượng phân tích

Q = QT - QK (1.6)

Bước 2: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.

+ Thay thế lần 1: thay aK = aT

Chỉ tiêu phân tích trong trường hợp này là:

QK1 = aT x bK x cK (1.7)

 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a đến chỉ tiêu phân tích Q:

Qa = QK1 - QK (1.8)

+Thay thế lần 2: thay bK = bT

Chỉ tiêu phân tích trong trường hợp này là:

QK2 = aT x bT x cK (1.9)

 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố b đến chỉ tiêu phân tích Q:

Qb = QK2 - QK1 (1.10)

+ Thay thế lần 3: thay cK = cT

Chỉ tiêu phân tích trong trường hợp này là chính là chỉ tiêu phân tích thực tế (QT):

 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố c đến chỉ tiêu phân tích Q:

Qc = QT - QK2 (1.11)

Bước 3: Tổng hợp:

Ngày đăng: 21/09/2016, 15:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w