J-pop, viết tắt của nhạc pop Nhật, là khái niệm về một thể loại nhạc du nhập vào xu thế âm nhạc thế cho kayōkyoku "giai điệu pop ", một thuật ngữ cho nhạc pop Nhật từ những năm 1920 đến
Trang 1Các thể loại âm nhạc nổi tiếng ở Nhật Bản
J-Pop
AKB48, một nhóm nhạc thần tượng nữ đã bán được hơn 30 triệu đĩa
J-pop, viết tắt của nhạc pop Nhật, là khái niệm về một thể loại nhạc du nhập vào xu thế âm nhạc
thế cho kayōkyoku ("giai điệu pop ", một thuật ngữ cho nhạc pop Nhật từ những năm 1920 đến
Nhật Bản để phân biệt nhạc Nhật với nhạc nước ngoài
Những thần tượng âm nhạc đóng một vai trò lớn trong thị trường âm nhạc Nhật, với những nhóm nhạc thần tượng nữ và nam thường xuyên dẫn đầu bản xếp hạng đĩa đơn Trong đó bao gồm các
bán chạy nhất kể từ năm 2010
Nhạc sàn và nhạc disco
Johnny & Associates.[14]
Utada và Morning Musume Album ra mắt của Hikaru Utada, First Love, trở thành album bán chạt
nhạc pop Nhật Bản
Trang 2như của ban Beatles, Bob Dylan, và the Rolling Stones, cùng với dòng nhạc khác như nhạc dân
có một vài nhạc sỹ sáng tác nổi danh Nobuyasu Okabayashi là người đầu tiên được biết đến rộng rãi.[phạt cần]Wataru Takada, chịu ảnh hưởng bởi ca sỹ Woody Guthrie, cũng trở nên nổi tiếng.[phạt cần] Họ đều đi theo phong cách của nhạc dân gian Mỹ nhưng thay vào đó là viết lời ca Nhật Bản Takada sử
cao.[phạt cần]The Tigers lại là nhóm nhạc nổi tiếng nhất của thể loại nhạc này trong thời kỳ đó Sau đó,
ban nhạc như Happy End được coi là gần như là đã tạo ra thể loại nhạc này Vào những năm 1970,
Carol (dẫn dắt bởi Eikichi Yazawa), RC Succession và Shinji Harada đặc biệt nổi tiếng và giúp định hình giai điệu của thể loại này Đôi lúc, vào buổi đầu cuối những thập niêm 60, hoạt động mạnh vào những năm 70, có những nhạc sĩ kết hợp nhạc rock với nhạc dân gian Mỹ và các yếu tố nhạc pop, thường được người Nhật gọi là nhạc "dân gian" do dùng đàn guitar acoustic Trong đó, có những
Gedō hoặc các nghệ sỹ độc tấu như Yosui Inoue, Yuming, và Iruka Các nhóm sau này, như Kai
trên
Trang 3Ban nhạc Yellow Magic Orchestra, năm 2008
Một số nhạc sỹ Nhật Bản đã bắt đầu thử nghiệm nhạc cụ điện tử vào rock vào đầu những năm
1970 Ví dụ điển hình như Isao Tomita, với album kết hợp nhạc cụ điện tử với nhạc rock đương đại
Osamu Kitajima Cả hai đều có sự đóng góp của Harruomi Hosono, người mà sau này lập ra ban nhạc mang tên "Yellow Magic Band" (sau này đổi thành "Yellow Magic Orchestra") vào năm 1977.[17]
nghiệm như Boredoms và những nhóm nhạc trào lưu như Glay Vào năm 1980, Huruoma và Ry Cooder, các nhạc sỹ người Mỹ, hợp tác cùng làm nên album rock với Shoukichi Kina, tạo tiền đề cho nhóm nhạc Okinawan Champloose nêu lên ở trên Cũng trong thòi kỳ những năm 1980, nhạc
trong số đó đã gặt hái được thành công ở trong nước cũng như quốc tế trong những năm gần đây
khi Oricon bắt đầu xếp hạng.[phạt cần], theo đó là Mr Children.[phạt cần] Những bài hát nhạc pop được sử
được hát lại ở các quán karaoke." Các nhóm nhạc phong trào visual kei, như Luna Sea đã dành được thành công liên tiếp, trong khi đó các ban nhạc như Malice Mizer, La'cryma Christi, Shazna,
Sân Khấu của Lễ hội Fuji Rock
Trang 4Lễ hội Fuji Rock đầu tiên bắt đầu vào năm 1997 Lễ hội Rising Sun Rock mở cửa vào năm 1999 Lễ
nhiệt bằng, các nhóm mới như Bump of Chicken, ONE OK ROCK, Sambomaster, Flow, Orange Range, Remioromen, Uverworld, Radwimps và Aqua Timez, đã đạt được thành công Các nhóm từ trước như B'z, Mr Children, Glay, and L'Arc-en-Ciel vẫn tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng, mặc dù chỉ B'z và Mr Children là hai nhóm duy nhất có số lượng bán đạt chỉ tiêu qua các năm
Nhạc rock underground cũng hết sức phát triển ở Nhật, những ban nhạc thể loại Noise rock nổi tiếng trên thế giới như Boredoms và Melt Banana, hay là ban nhạc stoner rock như là Boris,
psychedelic rock như là Acid Mothers Temple và alternative rock như với nhóm Shonen Knife, Pizzicato Five vàThe Pillows(nhóm dành được nhiều sự chú ý của quốc tế vào năm 1999 với bản
Punk rock / alternative
Các ví dụ điển hình của thể loại punk rock ở Nhật bao gồm SS, The Star Club, The Stalin, Inu, Gaseneta, Bomb Factory, Lizard , Friction và The Blue Hearts Những hình ảnh nhạc punk vẫn sống
gia của các nhạc sỹ nhạc rock Vào năm những năm 1980, những ban nhạc kỳ cựu
các thể loại như alternative/punk rock/new wave như là Aburadako, P-Model, Uchoten, Auto-Mod, Buck-Tick, Guernica và Yapoos, G-Schmitt, Totsuzen Danball và Jagatara, cùng với các ban nhạc noise/industrial như Hijokaidan và Hanatarashi
Các ban nhạc Ska-punk của những năm 90 kéo dài cho đến những năm 2000 bao gồm
Shakalabbits và 175R (đọc là "inago rider")
Heavy metal
tiếp được thu ở Nhật Bàn Ví dụ điển hình như là Unleashed in the East củaJudas Priest, Maiden Japan của Iron Maiden, Made in Japan của Deep Purple, One Night at Budokan của Michael
Schenker Group hay Live at Budokan của Dream Theater
vào tận những năm 80 khi mà các ban nhạc metal đã bắt đầu được quảng bá nhiều Lần lưu diễn
Trang 5Reading Festival vào năm 1982 Loudness cũng lưu diễn tại Mỹ và Châu Âu và bắt đầu tập trung vào sự nghiệp công diễn nước ngoài kể từ 1983 Album Thunder in the East và Lightning Strikes
và Dead End có album ra mắt tại Mỹ Cũng vào thời gian đó, chỉ có ít các ban nhạc có thành viên là
Kazue Akao Vào tháng 9 năm 1989, album Outerlimits của Show-ya được ra mắt, đứng thứ 3 trong
đó nhiều nhóm tan rã vào giữa thập niên 90
Buổi hòa nhạc của những người tiên phong cho phong trào visual kei, X Nhật ởHồng Kông vào năm 2009 sau khi tái thiết lại 2 năm trước đó
Năm 1982 chứng kiến một số ban nhạc thể loại glam metal đầu tiên được thành lập, như
lại bán ra đến 100.000 bản (lần đầu tiên trong lịch sử các ban nhạc metal tại Nhật) Những album
Japan phát hành album thứ 2, Blue Blood, và ngay lập tức đứng vị trí thứ 6 và sau 108 tuần đã bán
Nhạc meta Nhật Bản nhận được sự chú ý của cộng đồng quốc tế qua sự thành công của ban
như Metallica hay Slayer Babymetalcũng tham gia vào một trong năm tiết mục mở đầu của buổi
được nhiều giải thưởng như là giải "Tinh thần độc lập" của Kerrang và "Ban nhạc đột phá" của Metal Hammer Năm 2016, ban nhạc bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới tại Wembley Arena ở Luân
Trang 6Extreme metal
Các ban nhạc thể loại extreme metal được hình thành từ làn sóng các nước Châu Âu và Mỹ, tuy nhiên không được quảng bá rầm rộ, cũng như chỉ thường được coi là loại nhạc underground ở Nhật Bản.[phạt cần] Các nhóm nhạc thrash metal được hình thành từ buổi đầu những năm 1980
Angeles vào tháng 9 năm 1995 và có một số album phát hành ở Bắc Mỹ Nhóm nhạc Doom, sau khi thành lập vào giữa những năm 1980, được thuê biểu diễn ở Mỹ vào tháng 10 năm 1988 tại CBGB
và tiếp tục cho đến khi giải thể vào năm 2000
Doom metal cũng nhận được sự đón nhận từ Nhật Bản Hai nhóm nhạc của Nhật được biết đến
Hip hop
Hip-hop là thể loại nhạc mới của âm nhạc Nhật Bản Một số người cho rằng đây chỉ đơn thuần là phong trào và sẽ sớm kết thúc Tuy nhiên, thể loại này lại tiếp tục tồn tại và vẫn đang phát triển trong nhiều năm Mặc dù trên thực tế, những rapper ở Nhật vẫn không gặt hái được thành công bằng những nghệ sỹ Hip-hop của những năm 1980 Điều này chủ yếu là do quan niệm trong thế giới âm nhạc rằng "Tiếng Nhật không có khả năng tạo ra những âm thanh vần điệu với nhau như trong những bản rap của Mỹ" Có một hệ thống chắc chắn và rành mạch của ngành công nghiệp âm
thích, "Bằng cách sử dụng sơ đồ kim tự tháp chúng ta có thể hiểu theo nhiều hướng về sự quan
nhất): fan hâm mộ và các nghệ sỹ tiềm năng, những nghệ sỹ biểu diễn, các nghệ sỹ thu âm, các nghệ sỹ có thương hiệu, và các ngôi sao Các cấp độ này có thể được thấy ở các quán hộp đêm,
Một "gia đình" rapper về bản chất là tập hợp các nhóm rapper mà thường được dẫn đầu bới một
niệm này rất quan trọng vì nó là chìa khóa để hiểu đặc điểm khác nhau về nghệ thuật giữa các
Hip-hop Họ chính là những giám khảo để quyết định xem ai mới là người chiến thắng trong các rapper trên khán đài Một ví dụ của việc này chính là trận tranh tài giữa Dabo (một nghệ sỹ có tên
Electropop
Nhạc pop điện tử ở Nhật Bản đã trở thành một thể loại nổi tiếng kể từ thời kỳ ưa chuộng nhạc
Trang 7nhiều người biết đến vào năm 1979 và 1980 Khi ảnh hưởng bởi nhạc disco, impressionistic, tác phẩm cổ điển thế kỷ 20, nhạc jazz/fusion pop, các nghệ sỹ nhạc pop điện tử đã ra đời như Kraftwerk
Sakamoto tuyên bố rằng đó là "Đối với tôi, việc viết ra nhạc pop không phải một sự thỏa hiệp vì tôi thích làm việc đó" Những người cùng theo dòng nhạc điện tử này cũng tổ chức không chặt chẽ tương tự như ở phương Tây, do vậy những ban nhạc thế hệ mới như là P-Model và The Plastics
tiếng của dòng nhạc này kéo theonhuwngxx ca sĩ nổi tiếng của dòng nhạc acoustic trở thành nhạc pop điện tử, như Taeko Onuki và Akiko Yano, và những nhà sản xuất thần tượng bắt đầu thuê
Denki Groove và Capsule được thành lập và trở thành cơ sở chính cho nhạc điện tử Nhật Bản Ngày nay, các nghệ sĩ mới như là như Polysics ngầm thể hiện lòng tôn trọng tới những người làm
được thành công ở trong và ngoài nước; Kyary đặc biệt đã được phong là " đại sứ Kawaii Harajuku" nhờ sự nổi tiếng thấy rõ ở ngoài nước
Nhạc dân gian
Những ban nhạc dân gian như Shang Shang Typhoon hay The Boom trở nên nổi tiếng vào cuối những năm 1980 Những ban nhạc dân gian Okinawan như là Nenes hay Kina nhận được thành công về mặt thương mại lẫn trong giới phê bình Điều này dẫn đến một thế hệ thứ hai của dòng nhạc Okinawan, tiếp theo sự thành công của nhóm Rinken Các nhóm nhạc đó bao gồm cả các ban nhạc quay trở lại như Champluse hay Kina, được dẫn dắt bởi Kikusuimaru Kawachiya
Nhạc latin, raggae và ska
soukous Chây Phi hay là nhạc Latin, như của Orquesta de la Luz (オルケスタ・デ・ラ・ルス), khá
Noise music (âm nhạc tiếng ồn)
Nhạc chủ đề
Nhạc chủ đề sáng tác cho phim, anime (anison (アニソン?)), tokusatsu, và phim truyền hình Nhật Bản cũng được xem là một thể loại nhạc Một vài nghệ sỹ và nhóm nhạc đã dành cả sự nghiệp âm nhạc của mình để trình diễn và sáng tác nhạc phim Các nghệ sỹ đó là Masato Shimon (hiện giữ kỷ lục
Trang 8thể giới cho bài hát đơn thành công nhất ở Nhật Bản với bài "Oyoge! Taiyaki-kun"), Ichirou Mizuki, tất cả các thành viên của JAM Project, Akira Kushida, Isao Sasaki, và Mitsuko Horie Các nhạc sỹ sáng tác nhạc chủ đề đáng chú ý bao gồm bao gồm Joe Hisaishi, Michiru Oshima, Yoko Kanno, Toshihiko Sahashi, Yuki Kajiura, Kōtarō Nakagawa và Yuuki Hayashi
Nhạc trò chơi (Nhạc game)
Khi trò chơi điện tử đầu tiên được bán ra, bên trong chúng chỉ có một con chíp âm thanh hết sức thô
sơ Nhưng khi công nghệ phát triển, chất lượng âm thành và nhạc trong các trò chơi đã được cải
thiện đáng kể Trò chơi đầu tiên được đánh giá cao về âm thanh là Xevious, đồng thời cốt truyện
sâu sắc cũng được chú ý Mặc dù nhiều trò chơi có những bản nhạc hay nhưng loạt trò chơi mang
dự án game Dragon Quest chỉ vì tò mò và muốn chứng minh rằng trò chơi có thể có những bản
trình truyền hình, trong đó có Cyborg 009 và bộ phim Godzilla vs Biollante Cho đến khi ông tham
gia, nhạc và âm thanh thường bị sao nhãng trong quá trình thiết kế trò chơi và những nhà lập trình không có nhiều trình độ nhạc lý bị ép phải viết nhạc Không nản chí bởi những giới hạn về kỹ thuật, Sugiyama chỉ làm việc với duy nhất 8 phần phức điệu để tạo ra các bản nhạc không làm người chơi cảm thấy nhàn chán sau khi chơi hàng giờ
nhạc Năm 2003, ông tạo ra những bản nhạc rock dựa trên những tác phẩm của mình và cùng lập
tử Nhật Bản Ông được biết đến với những bản nhạc trong trò Zelda vàMario
là tay chơi ghita chính của Crush 40, đồng thời cũng được biết đến qua các bản nhạc chủ đề của trò
Black Knight, cũng như các trò Sonic khác
Yuzo Koshiro được chú ý qua việc tạo ra những bản nhạc electronic dành cho game như
Trang 9Nhóm nhạc techno/tranceI've Sound đã tự tạo tên tuổi cho bản thân qua việc sáng tác nhạc chủ đề
Ngày nay, các bản nhạc game được bản trên đĩa cũng như tải trên các trang web hoặc phần mềm như iTunes Các ca sỹ nổi tiếng như Hikaru Utada, Mizuki Nana và BoA đôi khi cũng tham gia vào các bài hát trong game, và các ca sỹ cũng qua đó mà gây dựng tên tuổi