Đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị.Tình trạng học sinh bỏ học tại khu vực miền Tây Nam Bộ. Nguyên nhân của tình trạng này và các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong giai đoạn đến năm 2020
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC IV
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH
BỎ HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NAM BỘ,
GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
Họ tên học viên: Lê Văn Nuôi
Lớp: Cao cấp Lý luận chính trị hệ tập trung A37-Cần Thơ
Cần Thơ, tháng 8 năm 2015
Trang 2MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở xây dựng đề án ……… … 5
1.1 Cơ sở khoa học ………… 5
1.2 Cơ sở pháp lý … 7
1.3 Cơ sở thực tiễn ……… 8
Chương 2: Thực trạng học sinh bỏ học vùng Tây Nam Bộ…… 13
2.1 Tình hình giáo dục vùng Tây Nam Bộ năm học 2014 - 2015 13
2.2 Thực trạng học sinh phổ thông bỏ học 18
Chương 3: Giải pháp, tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm thực hiện Đề án 25
3.1 Giải pháp 25
3.2 Tổ chức thực hiện 28
3.3 Các điều kiện đảm bảo thực hiện Đề án 33
Phần kết luận và kiến nghị 36
1 Kết luận 36
2 Kiến nghị 38
Tài liệu tham khảo 40
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Đề án:
Một nền kinh tế phát triển bền vững thì nhân tố con người giữ vai trò quyếtđịnh Đảng và Nhà nước ta xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, luôn tạo điềukiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuậtcho người lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Vùng Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, đối ngoại và
an ninh quốc phòng, có đường biên giới giáp Campuchia gần 340 km, phía Nam
là vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, 02 huyện đảo Có tiềm lực về lươngthực, nông sản, thủy sản và các lợi thế khác như: đất ngập mặn ven biển, tàinguyên biển, đảo Hàng năm, vùng Tây Nam Bộ đóng góp khoảng 55% sảnlượng lương thực, cung cấp 90% lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, 58%sản lượng thủy sản Tuy nhiên, sự phát triển của vùng chưa tương xứng với tiềmnăng sẵn có; mặt khác, trong quá trình phát triển của vùng đã bộc lộ nhiều vấn
đề phải suy ngẫm, trong đó trình độ học vấn của người dân nhìn chung còn thấp,tình trạng học học sinh bỏ học vẫn còn cao Đây là vấn đề hết sức nóng bỏng,bức xúc trong dư luận, nổi trăn trở của các cấp ủy, chính quyền địa phương Nếuthực trạng này không được quan tâm chỉ đạo đúng mức sẽ dẫn đến những hệ quảxấu cho bản thân các học sinh, gia đình và xã hội
Hiện tượng học sinh bỏ học trong những năm học gần đây không chỉ xảy
ra trên địa bàn Tây Nam Bộ mà còn trong phạm vi cả nước Học sinh bỏ học kéotheo những hệ quả không thể lường hết, nhất là ở lứa tuổi vị thành niên (họcsinh cấp tiểu học, trung học cơ sở), tội phạm ở lứa tuổi học đường đang thực sự
là vấn đề đáng quan tâm trong xã hội, đang có xu hướng ngày càng gia tăng,diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ các vụ án Nếu các em học sinh đã
bỏ học được sự giáo dục của gia đình, không rơi vào tình trạng tội phạm trên,tìm được một công việc phù hợp đi làm thì hiệu quả công việc cũng phần nàohạn chế bởi trình độ kiến thức thấp, phải đối mặt với nguy cơ chất lượng nguồnlực lao động thấp hiện nay Vấn đề này cần phải đặt ra bàn luận, tập trung giải
Trang 4quyết khi mỗi năm toàn vùng Tây Nam Bộ có hàng chục ngàn học sinh bỏ học.
Do vậy, việc đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân, đề xuất các biệnpháp phù hợp để giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học là một việc làm cần thiết
và cấp bách, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh
tế - xã hội của vùng theo xu thế hội nhập
Là học viên đang học tập Chương trình cao cấp lý luận chính trị và đangcông tác tại Vụ Văn hóa Xã hội thuộc Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, bản thân rấtquan tâm đến vai trò của công tác giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
sự ảnh hưởng từ việc học sinh bỏ học đến chất lượng nguồn nhân lực của vùng
Do vậy, tôi đã lựa chọn tên của Đề án là “Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trên địa bàn Tây Nam Bộ” làm chủ đề nghiên cứu
Trang 5- Nhiệm vụ cụ thể là đi sâu nghiên cứu, phân tích để trả lời cho 04 câu hỏi là:+ Thực trạng học sinh bỏ học trong vùng hiện nay như thế nào
+ Nguyên nhân nào dẫn đến việc học sinh bỏ học
+ Với việc học sinh bỏ học như trên sẽ mang đến hậu quả gì cho chínhbản thân học sinh, gia đình và xã hội
+ Những biện pháp để hạn chế, khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, gópphần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng
3 Ý nghĩa của vấn đề lựa chọn:
Qua việc thực hiện Đề án, bản thân mong muốn được đóng góp một phầnnhỏ của mình vào việc cải thiện tình trạng học sinh bỏ học Các cấp, các ngành
và mọi người thấy được nguyên nhân, thực trạng và hệ quả xấu của nó Ngoài
ra, giúp tôi tích lũy thêm kiến thức, kinh nghiệm trong việc tuyên truyền về vaitrò của giáo dục đối với đời sống xã hội
Tuy Đề án được thực hiện trong thời gian ngắn nhưng thực sự có ý nghĩakhoa học do số liệu được tổng hợp, phân tích từ nguồn tư liệu đáng tin cậy (thống
kê từ 13 sở giáo dục và đào tạo các tỉnh, thành Tây Nam Bộ) sẽ là cơ sở khoa học
Trang 6để các nghiên cứu tiếp theo có thể tham khảo Với kết quả nghiên cứu bước đầunày sẽ tạo điều kiện để thực hiện nghiên cứu vấn đề này ở cấp cao hơn
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Học sinh cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Không gian: Tại 13 tỉnh, thành Tây Nam Bộ
- Thời gian: Trong năm học 2014 - 2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp thông tin, số liệu từ sở giáodục đào tạo 13 tỉnh, thành Tây Nam Bộ Từ đó, so sánh, phân tích số liệu, đánhgiá thực trạng học sinh bỏ học, nêu ra những nguyên nhân, đề ra các giải phápkhắc phục, tính toán các nguồn lực để tổ chức thực hiện Đề án trong thời gian tới
6 Kết cấu của Đề án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, đề án gồm
3 chương, 9 tiết
- Chương 1: Cơ sở xây dựng đề án
- Chương 2: Thực trạng học sinh bỏ học vùng Tây Nam Bộ
- Chương 3: Giải pháp, tổ chức thực hiện và các điều kiện đảm bảo thựchiện đề án
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Cơ sở khoa học:
Đề án được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềgiáo dục Tính chất và nguyên lý của giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hộichủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng (nêu tại điều 3 Luật số38/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội)
-Tư tưởng phát triển toàn diện con người của Mác và Ăngghen trongTuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã trở thành tư tưởng chỉ đạo công cuộc giáodục ngày nay Tại diễn đàn Đại hội giáo dục toàn Nga lần thứ nhất vào ngày28/8/1918, Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, xem đây làđiều kiện đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẩuhiệu nổi tiếng của Lênin là “Học, học nữa, học mãi”, đã trở thành triết lý sốngcủa hàng triệu con người qua các thế hệ
Những quan điểm về giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin nêu trên rất gầngũi với thực tiễn giáo dục của Việt Nam Đảng ta đã gắn cuộc đấu tranh chốngchính sách ngu dân với cách mạng giải phóng dân tộc, xem dốt nát là một thứgiặc như giặc đói, giặc ngoại xâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã tiếp thu tinh hoa của tư tưởng giáo dụcthời đại Cách mạng Tháng Mười Nga, tiến hành tổng kết thực tiễn phát triểngiáo dục, đưa ra những định hướng chiến lược, nhằm chấn hưng giáo dục theođúng quy luật, hợp lòng dân, hòa vào trào lưu của nhân loại tiến bộ
Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dụcluôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục của nước
ta, không chỉ bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người mà cótính bao quát và thiết thực, nhằm tạo ra những con người toàn diện, có tri thức,
Trang 8lý tưởng, đạo đức Bác Hồ kêu gọi mọi người phải học tập thường xuyên, họctập suốt đời Người căn dặn “Học không bao giờ cùng, học mãi để tiến bộ mãi,càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm” Bác Hồ thường dạy “Một dân tộc dốt làmột dân tộc yếu” Đúng vậy, khi học sinh bỏ học tăng sẽ làm gia tăng thêm sốngười thất học, mù chữ, gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế, xã hội.
Việt Nam đang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đã làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng, đời sốngcủa đại bộ phận nhân dân được cải thiện, nhưng mặt trái của nền kinh tế thịtrường đã làm cho một số ít dân cư thuộc diện hộ nghèo, không có điều kiệnphát triển nếu không có sự hỗ trợ từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước(tỷ lệ hộ nghèo vùng Tây Nam Bộ cuối năm 2014 là 5,6%), đây là một trongnhững nguyên nhân làm cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến tìnhtrạng bỏ học
Dữ liệu điều tra của Chương trình những cuộc đời trẻ thơ cho thấy lý dochính dẫn đến việc trẻ em bỏ học là do chán học, không muốn đến trường và yếu
tố quan trọng quyết định việc trẻ có bỏ học hay không là do năng lực của trẻ,môi trường, điều kiện kinh tế của gia đình, học vấn của cha mẹ Nếu gia đìnhbiết cách động viên, ủng hộ, nhà trường luôn quan tâm, bạn bè đoàn kết lànhững yếu tố rất quan trọng giúp trẻ không bỏ học giữa chừng Theo báo cáogiám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người của UNESCO thì Việt Nam là mộttrong những quốc gia có số học sinh bỏ học cao, tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số bỏhọc cao hơn trẻ em dân tộc Kinh, phân tích cũng cho thấy có hàng loạt yếu tốliên quan đến việc bỏ học của trẻ em như học lực yếu là nguy cơ khiến trẻ bỏhọc, học vấn của cha mẹ, nhà càng cách xa trường thì xác suất bỏ học càng tăng.Bên cạnh chính sách hỗ trợ giảm nghèo và trợ giúp cho học sinh khó khăn cầnquan tâm cải thiện các yếu tố có liên quan về môi trường, cả ở gia đình và nhàtrường; ngoài ra, mở rộng hệ thống đào tạo nghề cũng là một giải pháp tốt cho
xã hội và trẻ em bỏ học
Trang 9Về khái niệm học sinh bỏ học: Theo khái niệm của Bộ Giáo dục và Đàotạo hướng dẫn cho các sở giáo dục đào tạo thì học sinh bỏ học là học sinh có têntrong danh sách của nhà trường nhưng đã tự ý nghỉ học quá 45 buổi (cộng dồn),không tính việc học sinh chuyển trường từ cơ sở giáo dục này sang cơ sở giáodục khác hay chuyển sang học bổ túc, học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp
Như vậy, học sinh bỏ học là việc các em không tiếp tục đi học, có em bỏhọc khi vừa học xong chương trình một lớp nào đó, có học sinh bỏ học khi nămhọc mới bắt đầu, vào giữa năm học hoặc khi năm học gần kết thúc, có học sinh
bỏ học một vài ngày sau đó được sự vận động đã trở lại lớp
Ngoài ra, còn có một đối tượng khác, tuy vẫn đi học đều nhưng khôngkhác học sinh bỏ học, đó là những học sinh ngồi trong lớp nhưng không chú ýnghe giảng, không hiểu bài, lo làm việc riêng, không tham gia vào các hoạt độngtrên lớp, chỉ mong hết giờ, những học sinh này là đối tượng tiền bỏ học
Số học sinh phổ thông bỏ học trong năm học 2014 - 2015 trên địa bàn TâyNam Bộ được tính từ đầu năm học (khai giảng 05/9/2014) đến hết ngày31/5/2015 Tỷ lệ học sinh bỏ học là số học sinh phổ thông bỏ học trên tổng sốhọc sinh phổ thông đầu năm học 2014 - 2015 (tính ra tỷ lệ phần trăm)
- Kết luận số 28-Kl/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về phươnghướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh, quốc
Trang 10phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020 Trong đó, có đề ramục tiêu tập trung các nguồn lực để chuẩn hóa các cơ sở từ mầm non đến bậcđại học gắn với nâng cao chất lượng, phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội củavùng, trong đó có lĩnh vực giáo dục tiến kịp mặt bằng chung cả nước
- Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giaiđoạn 2011-2015
- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 (ban hànhkèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chínhphủ) nêu rõ: đến năm 2020 có 99% trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học và trunghọc cơ sở; 100% các tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục 09 năm đúng
độ tuổi
- Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 20/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng
họ, cộng đồng đến năm 2020
- Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT ngày 13/8/2008 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo nêu rõ một trong các nhiệm vụ trọng tâm của ngành là các sở giáo dụcđào tạo, phòng giáo dục, các trường tăng cường phối hợp với các cơ quan, đoànthể để vận động, hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho học sinh có hoàn cảnh khókhăn, giảm số học sinh bỏ học
- Thực trạng học sinh bỏ học diễn ra trong thời gian dài nhưng chưa đượcquan tâm đúng mức, vấn đề này chỉ được tập trung giải quyết khi Bộ Giáo dục
và Đào tạo có Công văn số 2092/BGDĐT-VP ngày 14/3/2008 gửi các tỉnh,thành phố về phối hợp chỉ đạo nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
1.3 Cơ sở thực tiễn:
a) Đề án được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm, công tác nắm tìnhhình về giáo dục trên địa bàn Tây Nam Bộ trong thời gian qua Cụ thể là để nângcao hiệu quả giáo dục, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học cần có sự quan tâm chỉ
Trang 11đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự phối hợp của cácban, ngành, đoàn thể, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trịtrong việc vận động học sinh trong độ tuổi đến trường Tăng cường công táctuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác giáodục để các tầng lớp nhân dân thấy được tầm quan trọng của việc học tập
Thông qua việc thực hiện Đề án để bản thân tích lũy thêm kinh nghiệm để
có thể thực hiện tốt vai trò là một chuyên viên của Vụ Văn hóa Xã hội trong việctham mưu cho lãnh đạo cơ quan phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và cácđịa phương trong vùng thực hiện 03 mục tiêu lớn của ngành giáo dục là nângcao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đưa vùng TâyNam Bộ thoát khỏi “vùng trũng” về giáo dục
b) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tình hình học sinh
bỏ học:
- Điều kiện tự nhiên: Tây Nam Bộ thuộc vùng hạ lưu sông Mekong vớihai nhánh sông Tiền và sông Hậu, có vùng đất phù sa với diện tích lớn, chiếmgần 30% đất tự nhiên Với khí hậu nóng ẩm cận xích đạo, mùa mưa kéo dài từtháng 5 đến tháng 10 mang theo lượng phù sa bồi đắp, nhưng vào mùa khô, khinước rút đi làm thủy triều lấn sâu vào đồng bằng cũng khiến cho các vùng venbiển bị nhiễm mặn nghiêm trọng Toàn vùng có hệ thống sông, kênh, rạch chằngchịt với tổng chiều dài khoảng 28.000 km, tuy thuận lợi cho nuôi trồng thủy sảnnhưng lại gây khó khăn cho học sinh khi đi học từ nhà đến trường, ví dụ nhưhàng năm tỉnh Cà Mau phải hỗ trợ kinh phí khoảng 20 tỷ đồng cho hàng chụcnghìn học sinh đi đò, nhằm làm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học
Về đặc điểm dân số và nhân khẩu học, năm 2014 toàn vùng có khoảng 18triệu người, chiếm 20% dân số cả nước Với 57,2% dân số đang trong độ tuổilao động (khoảng 10,3 triệu người), đây là tỷ lệ dân số vàng để phát triển kinh
tế Tuy nhiên, chất lượng lao động của vùng lại ở mức thấp Theo kết quả điềutra sơ bộ năm 2014, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của vùng chỉ đạt 10,4%, thấp
Trang 12hơn mức chung của cả nước là 18% Đặc biệt, tỷ lệ dân số (trên 05 tuổi) học hếtphổ thông trở lên của vùng ở mức rất thấp, chỉ đạt 13,9% (cả nước ở mức26,5%) Bên cạnh đó, vùng có tỷ suất di cư thuần âm lớn nhất (-29,7%) do nhiềulao động thoát ly nông nghiệp, di cư lên thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lâncận có kinh tế phát triển hơn
Nhìn chung, vùng Tây Nam Bộ có tài nguyên thiên nhiên trù phú, màu
mỡ, là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và lợithế này đã được khai thác, tận dụng tối đa trong nhiều năm qua Tuy nhiên, trình
độ sản xuất và năng lực lao động của vùng còn kém so với mặt bằng chung cảnước Điều này cũng gây nên những hạn chế nhất định như chất lượng tăngtrưởng thấp, kém bền vững, ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn tài nguyên
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Trong giai đoạn 2011 - 2014, kinh tế củavùng duy trì tốc độ tăng trưởng khá Tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương(GRDP) của vùng giai đoạn 2011-2014 đạt bình quân 8,74%/năm, cao hơn mứctăng trung bình của cả nước là 5,82% Năm 2014 sản lượng lúa đạt 25 triệu tấn,xuất khẩu 06 triệu tấn gạo, góp phần quan trọng cho Việt Nam tham gia thịtrường nông sản quốc tế Xuất khẩu tăng khá, kim ngạch xuất khẩu năm 2014đạt 12,3 tỷ USD, bằng 8,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tổng vốnđầu tư toàn xã hội đạt 238 nghìn tỷ đồng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanhthu dịch vụ đạt 557 nghìn tỷ đồng Giải quyết việc làm tốt, giai đoạn 2011-2014bình quân mỗi năm vùng tạo việc làm cho khoảng 400 nghìn lao động, riêngnăm 2014 đã giải quyết việc làm cho trên 387.000 lao động Năng lực cạnhtranh các tỉnh, thành trong vùng khá cao so với các địa phương trong cả nước,xếp hạng chỉ số PCI năm 2014 cho thấy có 3/13 tỉnh trong vùng được xếp vàonhóm các tỉnh có năng lực canh tranh rất tốt hoặc tốt và 8/13 tỉnh được xếp hạngkhá, duy nhất chỉ có tỉnh Cà Mau có đánh giá năng lực cạnh tranh thấp
Trang 13Tuy đã đạt được một số thành tích như trên nhưng nhìn chung kinh tế củavùng phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển củamột trong những khu vực kinh tế quan trọng của cả nước
+ Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp: Nhìn chung, Tây Nam
Bộ vẫn là vùng kinh tế nông nghiệp Năm 2014, 10/13 tỉnh có tỷ trọng GDPngành nông nghiệp trên 35%
+ Về Công nghiệp: chủ yếu dựa vào các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ.
Mặc dù, chế biến thủy sản là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng
và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng nhưng sản phẩm chủ yếu là sơ chế nêngiá trị gia tăng thấp
+ Về nông nghiệp: Mặc dù diện tích canh tác bình quân của vùng đạt
khoảng 0,87 ha/hộ, là mức cao so với cả nước, nhưng vẫn chưa đảm bảo chohiệu quả sản xuất Hiện nay, các địa phương đang bước đầu đẩy mạnh các môhình sản xuất quy mô lớn, hình thành cánh đồng lớn (trong trồng lúa), cũng nhưcác mô hình sản xuất liên kết trong nuôi trồng, chế biến thủy sản nhưng quátrình triển khai còn nhiều bất cập do thị trường chuyển nhượng đất đai còn hạnchế, nhận thức của người nông dân về hợp tác còn hạn chế, đa số doanh nghiệpchưa đủ năng lực để sản xuất quy mô lớn
+ Đầu tư, tài chính, thu ngân sách gặp khó khăn: Năm 2014, nhiều địa
phương đã không hoàn thành chỉ tiêu về đầu tư Trong các khu vực kinh tế, vùng
có khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh so với các khu vực khác Tuy nhiên,cộng đồng doanh nghiệp trong vùng vẫn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừanên khả năng mở rộng đầu tư còn rất hạn chế
+ Về thu hút FDI: Với đặc điểm là vùng kinh tế phụ thuộc vào nông
nghiệp, khả năng thu hút vốn FDI của cả vùng nhìn chung còn yếu do đây là lĩnhvực rủi ro, kém hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài Tính đến cuối năm
2014, tổng số vốn đăng ký FDI còn hiệu lực chỉ đạt trên 12 tỷ USD, chiếm 4,8%
so với cả nước
Trang 14+ Về tín dụng: Tín dụng của vùng đạt mức tăng trưởng khá so cả nước.
Trong giai đoạn 2011-2014, tăng trưởng tín dụng của vùng ở mức cao (khoảng18,8%/năm) so với mặt bằng chung cả nước (13,4%) Tuy nhiên, nguồn vốn tíndụng gia tăng trong thời gian qua chủ yếu từ các chính sách hỗ trợ của Chính phủthông qua các chương trình như: hỗ trợ tạm trữ lúa gạo, hỗ trợ ngành thủy sản vớiđối tượng hỗ trợ là các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa để giảiquyết khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế cũng như phục vụ nhu cầu sảnxuất, kinh doanh trong ngắn hạn
+ Về thu, chi ngân sách:
ĐVT: Tỷ đồng
THU, CHI NGÂN SÁCH CÁC TỈNH, THÀNH TÂY NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2011-2014
(Trích nguồn: báo cáo của Bộ Tài chính)
Thu ngân sách 71.323 79.287
8 7.668
68.99
7 307.255 Chi ngân sách
là chính sách “cho không” như chính sách y tế, nhà ở, đất sản xuất, nước sạchsinh hoạt Các chính sách ban hành tuy nhiều nhưng chồng chéo, chưa thực sựtạo động lực cho bà con dân tộc chủ động thoát nghèo, điển hình như tỉnh TràVinh, nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer, tuy hộ Khmer nghèo có giảm nhưng
Trang 15vẫn ở mức rất cao (khoảng 20%), trong khi đó số hộ tái nghèo lại có xu hướngtăng
Trang 16Chương 2 THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC VÙNG TÂY NAM BỘ
2.1 Tình hình giáo dục vùng Tây Nam Bộ năm học 2014 - 2015:
2.1.1 Quy mô trường lớp, học sinh:
a) Mạng lưới trường, lớp học từ mầm non đến phổ thông trên địa bàn TâyNam Bộ cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập, phù hợp với quy hoạch dân cư, tươngđối ổn định và đến năm 2014 đã xóa được phòng học ba ca, tre lá Một số trườngquy mô nhỏ (chủ yếu cấp tiểu học) được sáp nhập để phù hợp thực tế tại địaphương Tổng số trường được thống kê đến cuối năm học 2014 - 2015 là 5.033trường (chưa kể 1.912 trường mầm non và 117 trung tâm giáo dục thườngxuyên), tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 25,3% Cụ thể:
- Tiểu học là 3.104 trường, trong đó có 965 trường đạt chuẩn quốc gia,chiếm tỷ lệ 31,08%
- Trung học cơ sở là 1.462 trường, trong đó có 384 trường đạt chuẩn quốcgia, chiếm tỷ lệ 26,26%
- Trung học phổ thông là 467 trường, trong đó có 57 trường đạt chuẩnquốc gia, chiếm tỷ lệ 12,21%
Trong năm đã xây dựng mới 2.976 phòng học và 1.279 phòng chức năngvới tổng vốn đầu tư là 2.310 tỷ đồng (tăng 165 tỷ đồng so cùng kỳ năm họctrước) Nâng cấp, sửa chữa 11.478 phòng học với tổng vốn 289 tỷ đồng Tổng sốnhà công vụ giáo viên được xây dựng mới là 376 phòng với tổng vốn 68 tỷ đồng
b) Tổng số học sinh được huy động trong năm học 2014 - 2015 là2.863.653 em (chưa kể 591.248 cháu học mầm non và 35.516 học viên ở cáctrung tâm giáo dục thường xuyên) Trong đó:
Trang 17- Tiểu học là 1.510.365 học sinh Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổicấp tiểu học tăng từ 96,67% trong năm học 2010 - 2011 lên 98,02% trong nămhọc 2014-2015
- Trung học cơ sở là 982.936 học sinh Tỷ lệ huy động học sinh trong độtuổi cấp trung học cơ sở tăng từ 78,6% trong năm 2010 - 2011 lên 82,4% trongnăm học 2014-2015
- Trung học phổ thông là 370.352 học sinh Tỷ lệ huy động học sinh trong
độ tuổi cấp trung học phổ thông tăng từ 39,64% trong năm học 2010 - 2011 lên46,3% trong năm học 2014 - 2015
THỐNG KÊ SỐ TRƯỜNG, HỌC SINH VÙNG TÂY NAM BỘ
(Nguồn: Theo báo cáo của 13 sở giáo dục đào tạo vùng Tây Nam Bộ)
Số
TT Tên đơn vị
Tổng Số
2.1.2 Lực lượng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục:
Giáo viên, cán bộ quản lý ngành giáo dục đã ổn định về số lượng, nângdần về chất lượng, ý thức và tinh thần trách nhiệm của giáo viên được nâng lên
Trang 18thông qua việc học tập, quán triệt và thực hiện các cuộc vận động, phong trào thiđua trong ngành giáo dục Tuy vậy, đời sống của một số giáo viên còn khó khăn,một số ít cán bộ quản lý, giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượnggiáo dục trong điều kiện hiện nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với giáo viêntheo yêu cầu mới ở một số địa phương chưa đồng bộ và còn chậm v v.
Tổng số cán bộ, giáo viên ở các ngành học, cấp học toàn vùng là 191.678người Trong đó, cấp tiểu học là 96.833 cán bộ, giáo viên; cấp trung học cơ sở là65.266 cán bộ, giáo viên; cấp trung học phổ thông là 29.579 cán bộ, giáo viên
Số lượng giáo viên các cấp ở các tỉnh, thành phố trong vùng như sau:
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÁN BỘ, GIÁO VIÊN
(Nguồn: Theo báo cáo của 13 sở giáo dục đào tạo vùng Tây Nam Bộ)
TT Tên đơn vị Tổng số Tiểu học THCS THPT
ở các ngành học, cấp học bình quân chung là 99%, trong đó tỷ lệ giáo viênngành học mầm non, cấp học tiểu học và trung học cơ sở trên chuẩn là khá cao,
Trang 19bình quân chung trong toàn vùng là 68% Số lượng cán bộ quản lý giáo dục,giáo viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng không ngừng được tăng lên ở các địaphương Trong đó, có 26 người có trình độ tiến sĩ, 3.255 người trình độ thạc sĩ,
46 nghiên cứu sinh và 602 người đang học thạc sĩ Cụ thể:
THỐNG KÊ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TRÌNH ĐỘ SAU ĐẠI HỌC
(Nguồn: Theo báo cáo của 13 sở giáo dục đào tạo vùng Tây Nam Bộ)
Trang 20phải hợp đồng giáo viên trong điều kiện chưa được bổ sung biên chế viên chức.Toàn vùng còn thiếu khoảng 04 nghìn giáo viên, các tỉnh còn thiếu nhiều giáoviên như: Sóc Trăng 1.104 giáo viên, Kiên Giang 1.034 giáo viên, Trà Vinh 690giáo viên, chủ yếu là thiếu giáo viên dạy các môn như âm nhạc, mỹ thuật
Các chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục trong vùng đượcthực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Trung ương Ngoài ra, các sở giáo dụcđào tạo còn tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành một chínhsách khác như: chính sách thu hút đối với cán bộ quản lý, giáo viên mầm non vềcông tác ở những địa bàn khó khăn; chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức
và thu hút nguồn nhân lực; chế độ hỗ trợ luân chuyển, điều động, biệt phái đối vớicán bộ, viên chức; chính sách đào tạo, thu hút đội ngũ cán bộ, viên chức có trình
độ sau đại học; ưu tiên sắp xếp nhà công vụ cho giáo viên ở xa đến công tác
Ngoài các tình hình trên, công tác xã hội hóa giáo dục cũng được các địaphương trong vùng thực hiện khá tốt Hàng năm, đã vận động nhân dân hiến đấtxây dựng trường, tặng quà cho học sinh nghèo quy ra thành tiền với tổng trị giákhoảng 107 tỷ đồng Trong đó, một số địa phương vận động khá cao như: CầnThơ khoảng 47 tỷ đồng, Bến tre trên 7,8 tỷ đồng, Hậu Giang 7,7 tỷ đồng, ĐồngTháp 7,3 tỷ đồng, Kiên Giang 06 tỷ đồng, An Giang 5,8 tỷ đồng
2.2 Thực trạng học sinh phổ thông bỏ học:
2.2.1 Những biểu hiện của học sinh có nguy cơ bỏ học: Các học sinh có
nguy cơ bỏ học thường có biểu hiện lười học tập, quay cóp khi làm bài kiểm tra,thi cử, trốn học, không tham gia các hoạt động của nhà trường như: lao động,sinh hoạt ngoài giờ, sinh hoạt đội, giả chữ ký của cha, mẹ để ký vào sổ liên lạc,đơn xin nghỉ phép, những học sinh này thường vi phạm kỷ luật, nội quy của nhàtrường, tụ tập băng nhóm, tổ chức gây gổ đánh nhau, trở thành những học sinh
cá biệt, gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, các phong trào thi đua của nhàtrường, trật tự xã hội, nhất là ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, cuộc sống củacác em sau này
Trang 21- Tổng số học sinh bỏ học cấp tiểu học là 3.356 học sinh, chiếm tỷ lệ bìnhquân chung là 0,22% Các tỉnh có số lượng học sinh tiểu học bỏ học cao là AnGiang với 1.035 em (tỷ lệ 0,54%), Kiên Giang với 563 em (tỷ lệ 0,35%), SócTrăng với 522 em (tỷ lệ 0,42%)
- Tổng số học sinh bỏ học cấp trung học cơ sở là 16.169 học sinh, chiếm
tỷ lệ bình quân chung là 1,64% Các tỉnh có số lượng học sinh trung học cơ sở
bỏ học cao là An Giang với 2.994 em (tỷ lệ 2,85%), Kiên Giang với 2.221 em(tỷ lệ 2,41%), Tiền Giang với 2.044 em (tỷ lệ 2,57%)
- Tổng số học sinh bỏ học cấp trung học phổ thông là 6.933 học sinh,chiếm tỷ lệ bình quân chung 1,87% Các tỉnh có tỷ lệ học sinh trung học phổthông bỏ học nhiều là Sóc Trăng với 1.235 em (tỷ lệ 4,7%), An Giang với 1.143
em (tỷ lệ 2,71%) Số liệu học sinh bỏ học cụ thể ở các tỉnh, thành Tây Nam Bộnhư sau:
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG, TỶ LỆ HỌC SINH BỎ HỌC
(Nguồn: Theo báo cáo của 13 sở giáo dục đào tạo vùng Tây Nam Bộ)