2 Nó sẽ nghiên cứu để xác định rõ các yếu tố khách quan, chủ quan nào đã quy định sự phát triển của tâm lý người và các quy luật của chúng mà thực hiện những tác động hình thành nên tâm
Trang 1phần I: Tâm lý học đại cương (General Psychology)
Chương I: Những vấn đề chung của Tâm lý học
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tâm lý”, “tâm hồn” đã có từ lâu Từ điển tiếng Việt
(1988) định nghĩa một cách tổng quát rằng: “tâm lý” là ý nghĩ, tình cảm… làm thành
đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người
Theo nghĩa đời thường thì từ “tâm” được dùng với các cụm từ “nhân tâm”, “tâm
đắc”, “tâm địa”, “tâm can”… có nghĩa như chữ “lòng”, thiên về tình cảm, còn chữ
“hồn” lại dùng diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức, ý chí… của con người “Tâm
hệ giữa con người với con người và cả xã hội Tâm lý là một loại hiện tượng tinh thần
được nảy sinh trong não của chủ thể, do sự tác động của thế giới khách quan vào não
mà sinh ra, có tác dụng định hướng, chuẩn bị, điều khiển toàn bộ hoạt động cũng như giao tiếp của họ Tính chất của tâm lý mang tính chủ quan trong nội dung và hình thức biểu hiện Nó luôn sống động trong đời sống tinh thần của mọi chủ thể
b Chức năng của tâm lý
- Tâm lý có chức năng phản ánh thực tại để đem lại cho chủ thể những hiểu biết, thái độ về nó
- Nhờ có các chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nói trên mà tâm
lý sẽ giúp cho con người không chỉ biết cách thích ứng với hoàn cảnh khách
Trang 2quan mà còn nhận thức, cải tạo và sáng tạo ra thế giới Chính trong quá trình đó, con người sẽ lại nhận thức và cải tạo được chính bản thân mình
Nhờ chức năng điều hành nói trên mà nhân tố tâm lý sẽ giữ một vai trò cơ bản,
có tính quyết định trong tiến trình thực hiện hệ thống nhiệm vụ của hoạt động và giao tiếp của con người
- Dựa trên cơ sở có sự biểu hiện của hoạt động tâm lý ra bên ngoài hành vi, quan hệ
mà người ta có thể chia nó ra làm loại tâm lý sống động và tâm lý tiềm tàng
- Theo tính chủ thể của tâm lý, người ta chia nó ra thành tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội
- Theo nội dung cũng như hình thức biểu hiện của tâm lý ở từng chủ thể ra bên ngoài mà người ta gọi chúng là tâm lý cá nhân
Những hiện tượng tâm lý được tồn đọng trong sống tâm lý chung của nhóm xã hội, mang những nét đặc thù cho đời sống tinh thần của từng nhóm lớn - nhỏ như phong tục, tập quán, tâm trạng, dư luận xã hội và bầu không khí tâm lý nhóm được gọi
là tâm lý xã hội
Trong tâm lý học đại cương, nhìn chung, các học giả đã chia các loại hiện tượng
tâm lý con người thành ra ba phạm trù lớn là quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm
lý
Quá trình tâm lý được coi là những hiện tượng tâm lý được diễn biến ngắn Chúng có mở đầu, diễn biến, kết thúc tương đối rõ ràng và có đối tượng riêng biệt Có các quá trình nhận thức, xúc cảm và ý chí Nhận thức, ý chí, xúc cảm - tình cảm luôn
được biểu hiện ra trong hành động và giao tiếp của chủ thể
Trạng thái tâm lý được coi là các hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương
đối dài, với cường độ xác định Chúng không có sự mở đầu và kết thúc rõ rệt Chúng không có đối tượng riêng mà thường đi kèm theo các quá trình và các thuộc tính tâm lý khác như các trạng thái chú ý, tâm trạng, xúc động, say mê, căng thẳng, lo âu, tâm thế
Trang 3Các thuộc tính tâm lý cá nhân được coi là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn
định, mang tính bền vững tương đối, khó hình thành và cũng khó mất đi để tạo thành những nét riêng cho cá tính của từng nhân cách như xu hướng, tính cách, năng lực, khí
Khi tiếp cận đối tượng này, tâm lý học sẽ nghiên cứu bản chất và quy luật của tâm lý - ý thức để xác định các vấn đề cốt lõi của nó
Nó tìm ra bản chất của các hoạt động tâm lý, xác định đặc tính của quá trình nảy sinh, phát triển và cơ chế hình thành của chúng Các phạm trù cơ bản của nó là tâm
lý, ý thức, nhân cách, hoạt động và giao tiếp
Nó tìm hiểu những đặc trưng của các nét tâm lý của cá nhân và của nhóm xã hội, các đặc điểm tâm lý của hoạt động cũng như giao tiếp nhóm của chủ thể
Các hiện tượng tâm lý được tồn tại với tư cách là một hiện tượng tinh thần, do sự vật và hiện tượng của thực tại theo thời gian, không gian tác động vào não người mà sinh ra Cái đó sẽ được gọi chung là hoạt động tâm lý Tâm lý học nghiên cứu quy luật của sự hình thành, vận hành, biểu hiện và phát triển của cái tâm lý
c Nhiệm vụ, phương pháp của tâm lý học
Nghiên cứu lý luận, phát triển khoa học và phục vụ thực tiễn là ba nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học Để làm được việc đó, nó phải giải quyết các vấn đề sau:
1) Nó sẽ vạch ra cơ sở khoa học của sự nảy sinh ra các hiện tượng tâm lý, xác
định rõ mối tương quan giữa cái sinh lý với cái xã hội và cái tâm lý
Trang 42) Nó sẽ nghiên cứu để xác định rõ các yếu tố khách quan, chủ quan nào đã quy định
sự phát triển của tâm lý người và các quy luật của chúng mà thực hiện những tác động
hình thành nên tâm lý - ý thức - nhân cách cho chủ thể,
3) Nó sẽ mô tả, nhận diện các biểu hiện của từng loại hiện tượng tâm lý trong đời sống
tinh thần của mỗi cá nhân để từ đó, chỉ ra được mối quan hệ của các hiện tượng tâm lý
cá nhân theo quan điểm cuả lý luận hệ thống - cấu trúc cũng như của học thuyết tâm lý
học hoạt động - giao tiếp - nhân cách,
4) Nó sẽ phải tìm hiểu để vạch ra mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng tâm lý cụ
thể khác trong đời sống tinh thần thống nhất của từng nhân cách khi thực hiện các
nhiệm vụ cụ thể của các dạng hoạt động và giao tiếp
Phương pháp nghiên cứu như là một tổng thể khi tiếp cận đối tượng
- Phương pháp có tính chất kinh điển của tâm lý học như test, anket, quan sát, đàm
thoại, nghiên cứu sản phẩm của hoạt động, phỏng vấn và thực nghiệm tự nhiên
Phương pháp có tính chất hiện đại như phân tích lý luận, phân tích hoạt động - giao
tiếp của nhân cách và thực nghiệm hình thành
Mặt khác, để đảm bảo được độ tin cậy cho các kết luận, nhà nghiên cứu còn phải
có kỹ năng sử dụng tri thức toán thống kê - xác suất vào xác định hàm số tương quan
giữa các thông số - chỉ số biểu hiện của đối tượng khi tiếp cận
3 Một số quan điểm khác nhau về hiện tượng tâm lý
a Quan niệm duy tâm
Có tư tưởng duy tâm chủ quan và khách quan trong tâm lý học
Quan niệm của tâm lý học duy tâm có nội dung sau:
1) Bản chất của thế giới là tinh thần;
2) Tâm lý, tinh thần là cái thứ nhất - cái có trước còn thực tại là cái thứ hai, có sau;
3) Tinh thần, tâm lý có tác dụng quyết định thực tại
Cái tâm lý
Trang 5Chúng được tồn tại không phụ thuộc vào ý thức của con người cũng như thực tại
mà lại do cái gọi là trí tuệ toàn cầu, ý chí tối cao quyết định Đại diện nổi tiếng của dòng tâm lý học duy tâm là Platon (428 - 348 TCN)
b Quan niệm duy vật thô sơ
Quan niệm tâm lý học duy vật thô sơ được thể hiện ở những luận điểm cơ bản sau :
1) Bản chất của thế giới là vật chất;
2) Vật chất là cái thứ nhất, có trước còn tinh thần là cái thứ hai, có sau Mọi đối tượng, hiện tượng của thể giới vật chất đều có linh hồn ;
3) Vật chất quyết định tinh thần Vật chất tạo ra tinh thần và tâm lý theo một cơ chế đơn giản giống như gan tiết ra mật vậy Đại diện cho dòng tâm lý học duy vật thô sơ là Arittôte ( 348 - 322 TCN) và Démocrite (460- 370 TCN)
Trong suốt tiến trình lịch sử triết học, hai dòng tâm lý học duy vật và duy tâm
đã luôn tồn tại và có những quan điểm đối nghịch nhau Đến thể kỷ thứ XVII đã xuất hiện tư tưởng tâm lý học nhị nguyên luận của Déscartes (1569 -1650) Luận điểm nổi tiếng của ông ta là : “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”
c Quan điểm S Freud
Học thuyết tâm lý học phân tâm do S Freud (1859- 1939) - một bác sĩ người áo dựng lên Luận điểm cơ bản của S.Freud là tách cái tâm lý của con người thành ra ba khối
như cái nó, cái tôi và cái siêu tôi
Quan niệm của dòng tâm lý học phân tâm được biểu hiện một cách khái quát ở các vấn đề sau:
1) Bản năng tình dục (Libido) được coi là cội nguồn của toàn bộ thế giới tinh thần cũng như hành vi, quan hệ và sự sáng tạo nghệ thuật của con người
2) Nhân cách được hợp thành bởi ba khối vô thức (Inconscient), tiềm thức (Préconscient) và ý thức (Conscience) Khối vô thức được coi là khối của các bản năng
mà bản năng tình dục được coi là quan trọng nhất Các bản năng này có tác dụng đảm bảo được năng lượng, trương lực cho mọi hành vi, quan hệ cũng như hoạt động tâm lý của con người Khối tiềm thức được coi là khối quá độ mà năng lượng từ khối bản năng
sẽ thoát ra tới đó hoặc bị ngăn cản rồi sẽ lại bị lao vào khối ý thức Khối ý thức chứa
Trang 6đựng những nội dung thông tin có giá trị xã hội, mang tính chuẩn mực sẽ không cho phép ý tưởng từ khối bản năng qua được khối tiềm thức để vào mình
3) ở trong đời sống tâm lý con người sẽ luôn luôn tồn tại cả ba yếu tố cơ bản như cái Nó (It-Es), cái Tôi (Le moi - Ego) và cái Siêu Tôi (Le Surmoi - Superego) Cái
Nó được coi là con người trung tính, con người bản năng để tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn Cái Tôi được coi là con người thường nhật, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực Cái Siêu Tôi được coi là cái có giá trị siêu phàm mà con người không bao giờ vươn tới
và thực hiện theo nguyên tắc chèn ép, kiểm duyệt không cho cái bản năng cũng như cái tiềm thức thâm nhập vào mình
d Tâm lý học hành vi
Tư tưởng hành vi là một trường phái của tâm lý học Mĩ do E Thorndike, J Watson và B Skinner sáng lập Chính J Watson đã cho rằng các nhà tâm lý học không tiến hành mô tả, giảng giải các trạng thái của ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể ở con người cũng như động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài, nẩy sinh trong cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó
Toàn bộ nội dung tâm lý của hành vi, phản ứng của con người và động vật được phản ánh bằng công thức:
S – R ( S là kích thích và R là phản ứng )
Về sau này các đại biểu của chủ nghĩa hành vi mới như Tônmen, Hulơ, Skinner vv… có đưa bổ xung vào công thức S - R những “biến số trung gian” được bao gồm một số yếu tố như nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi thao tác- opéranto nhằm đáp lại các kích thích có lợi cho cơ thể Về cơ bản, chủ nghĩa hành vi mới vẫn mang tính máy móc, thực dụng theo tư tưởng hành vi cổ
điển của J.Watsơn
Tâm lý học hành vi - Behavior là một trường phái của tâm lý học Mỹ với các đại biểu nổi tiếng như J.Watson, E.Thorndike, B.Skinner
Tư tưởng chung của dòng tâm lý học hành vi có thể được nêu ra ở những ý cơ bản như sau:
1) Nhà tâm lý học hành vi không mô tả hay giải thích các trạng thái của ý thức
mà tiến hành nghiên cứu tâm lý qua quan sát trực tiếp các biểu hiện hành vi của chủ
Trang 7thể Hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài của cơ thể nảy sinh nhằm đáp lại các kích thích nhất định theo công thức S - R Các cử động này được thực hiện nhằm giúp cho cơ thể thích ứng với môi trường xung quanh
2) Trong quá trình thực hiện mỗi một hành vi, nhờ có cái gọi là điều kiện hoá
mà cơ thể sẽ tiếp thu được những kinh nghiệm sống cần thiết theo phương thức thử - sai Điều này có ý nghĩa lý luận đối với việc xây dựng các điều kiện cho các tác động sư phạm
3) Những phát kiến về cơ chế tâm lý và cấu trúc của sự lĩnh hội cũng như vai trò, vị trí của kích thích, phản ứng trong công thức S - R của học thuyết tâm lý học hành vi đã góp phần xây dựng tâm lý học trở thành một ngành khoa học khách quan Những luận điểm của tâm lý học hành vi có tính chất sinh vật hoá con người, không thấy được bản chất xã hội của nhân cách
4 Quan điểm Macxít về hiện tượng tâm lý
a Bản chất của hiện tượng tâm lý
Quan điểm tâm lý học macxít cho rằng tâm lý, ý thức của con người là sự phản
ánh hiện thực khách quan bởi não Nó được coi là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Tâm lý người là kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người đã được chuyển vào thành cái riêng của từng cá nhân
b Hoạt động, giao tiếp trong sự phát triển của tâm lý
Nếu ta thừa nhận rằng tâm lý, ý thức của chủ thể là sự phản ánh thực tại thì tồn
tại đó chính là cuộc sống thực, những quá trình hoạt động và những mối quan hệ giao
tiếp đan xen vào nhau trong suốt cuộc đời của họ Những hoạt động và những mối quan
hệ giao tiếp của chủ thể mà càng phong phú, đa dạng thì thế giới tâm lý của họ sẽ lại càng phát triển Để có thể tổ chức được một cách khoa học các quá trình hoạt động và giao tiếp nhằm hình thành nên tâm lý cho người học, chúng ta cần tìm hiểu rõ về khái niệm hoạt động và giao tiếp
b1 Hoạt động (Action)
Hoạt động thể hiện mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa con người và thế giới
đối tượng - khách thể để tạo ra sản phẩm Hoạt động được hiểu là quá trình tác động của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt tới những mục đích xác định để làm thoả mãn
Trang 8những nhu cầu của mình Trong hoạt động, một mặt chủ thể sẽ bộc lộ rõ lực lượng tâm
lý và thể chất của mình khi tác động vào đối tượng, ghi dấu ấn của mình vào sản phẩm hoạt động, tự khách quan hoá những phẩm chất cùng năng lực của mình ra bên ngoài
bằng cơ chế xuất tâm Mặt khác, chủ thể sẽ lĩnh hội, phản ánh được những thuộc tính
của đối tượng, của những công cụ, phương tiện mà mình sử dụng trong quá trình mình hoạt động để tự làm phong phú, phát triển tâm lý, “trí khôn” của mình bằng các quá
trình chủ thể hoá theo cơ chế nhập tâm
Những đặc điểm của hoạt động sẽ được chúng ta phân tích theo nội dung của các ý dưới đây
Hoạt động bao giờ cũng được hiểu là hoạt động có đối tượng
Hoạt động bao giờ cũng có tính đối tượng, tính gián tiếp, tính mục đích và tính chủ thể Hoạt động do chủ thể thực hiện Chủ thể của hoạt động có thể là một hoặc nhiều người trong nhóm xã hội
Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích Mục đích của hoạt động là làm biến
đổi thế giới đối tượng thành sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu, thông qua đó, nó cũng làm biến đổi chính bản thân chủ thể Tính mục đích được gắn liền với tính đối tượng Tính mục đích của hoạt động sễ luôn luôn bị bị chế ước bởi nội của cái tâm lý - xã hội
Hoạt động được vận hành theo nguyên tắc gián tiếp
Có nhiều cách mô tả cấu trúc của hoạt động Nhìn một cách chung nhất, có thể phân tích cấu trúc vĩ mô của hoạt động theo sơ đồ như sau:
1) Hoạt động cụ thể được thực hiện nhằm vào một đối tượng xác định để “chiếm lĩnh” chính nội dung của đối tượng đó sẽ trở thành động cơ kích thích hoạt động;
2) Hành động được thực hiện thông qua một hệ thống các thao tác để giải quyết những nhiệm vụ nhất định nhằm đạt tới một mục đích cụ thể không thể chia nhỏ hơn;
3) Thao tác được chủ thể thực hiện sẽ gắn liền với việc sử dụng công cụ, phương tiện trong những điều kiện cụ thể Có điều kiện tâm - sinh lý cá nhân, tâm lý - xã hội của nhóm và kinh tế - văn hóa - xã hội Có phương tiện vật chất và tinh thần
Như vậy, hoạt động có thành phần của hoạt động và nội dung đối tượng của hoạt động Nội bộ từng thành phần cũng như cả hai mặt của hoạt động luôn có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau theo những quy luật rất phức tạp Có thể mô hình hóa cấu trúc vĩ mô của hoạt động theo sơ đồ sau:
Trang 9b2 Giao tiếp (Contact)
Giao tiếp được hiểu là quá trình thiết lập mối quan hệ hai chiều lẫn nhau giữa người - người - nhóm, sự tác động qua lại về mặt tâm lý giữa hai hay nhiều người diễn
ra trong quá trình trao đổi thông tin hoặc có tính chất định hướng giá trị
Giao tiếp có những nét đặc thù, khác với hoạt động đối tượng
Giao tiếp còn có chức năng truyền thông tin trong nhóm người và xã hội Ví dụ như có thông tin quảng cáo, quản lý xã hội, thông tin về hoạt động của mọi người, những mệnh lệnh nhằm đảm bảo tính thống trong sản xuất, chiến đấu vv Những
Trang 10thông tin này đều mang tính chất khách quan, “trung tính”, khác với nội dung của giao tiếp tâm tình
Có loại hình giao tiếp trực tiếp, gián tiếp, chính thức, không chính thức, định hướng cá nhân, định hướng nhóm xã hội, vật chất, ngôn ngữ và giao tiếp tín - ký hiệu
Cá nhân được hiểu là con người cụ thể, một thành viên của cộng đồng, sống
trong các điều kiện xã hội - lịch sử xác định
Khi dùng khái niệm “cá tính” là ta muốn chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm - sinh lý của cá thể người - cá nhân
Nhân cách được coi là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và quy định giá trị x∙ hội của họ.
Vậy, nhân cách của một chủ thể sẽ không phải là sản phẩm của sự bảm sinh và
di truyền Nó sẽ phải được hình thành dần dần bằng hoạt động và giao tiếp của chủ thể trong suốt cuộc đời từ ấu thơ đến khi trưởng thành Giá trị của nhân cách sẽ không bị mất đi cùng với cái chết sinh học của chủ thể Giá trị đó sẽ được tồn tại trong sản vật
mà họ đã làm ra cũng như trong đời sống tâm lý - xã hội của nhóm
Đặc điểm của nhân cách
Nhân cách một khi đã hình thành sẽ được biểu hiện ở ba mức độ - cấp độ khác
nhau là cá tính, quan hệ liên nhân cách và siêu cá nhân
Nhân cách con người trước hết sẽ được thể hiện dưới dạng cá tính của họ Cái
đó thể hiện rõ sự khác biệt cùng sự độc đáo về thế giới tâm lý của người này so với người khác Trên bình diện này, nhân cách của mỗi một chủ thể sẽ được biểu lộ ra ở
Trang 11tính không đồng nhất giữa cá tính của nó với các nhân cách khác cũng như với những
cái chung về mặt tâm lý giữa mọi người Do vậy, giá trị đích thực của nhân cách sẽ
được biểu hiện rõ nét ở tính tích cực của chủ thể trong việc khắc phục những khó khăn
do hoàn cảnh sống đem lại cũng như những hạn chế của bản thân mình để thực thi có hiệu quả toàn bộ những nhiệm vụ của các hoạt động và giao tiếp ở đây, chúng ta đã
xem xét nhân cách từ góc độ bên trong bản thân của cá nhân như là một đại diện của toàn x∙ hội
Những phẩm chất nhân cách của chủ thể sẽ luôn luôn được biểu hiện ra một
cách sinh động và rõ nét ở toàn bộ những mối quan hệ cũng như liên hệ với mọi
người trong các hoạt động cùng nhau Trong các mối quan hệ này, toàn bộ những phẩm
chất nhân cách của mọi người sẽ không bị hoà tan vào nhau Phẩm chất tâm lý của từng nhân cách sẽ luôn luôn được biểu hiện một cách tập trung trong toàn bộ hành vi,
cử chỉ, thái độ và các mối quan hệ của chủ thể
Chính những mối quan hệ giao tiếp giữa những con người với nhau trong một nhóm xác định sẽ được coi là những nhân tố khách quan quy định nội dung tâm lý của từng nhân cách Trên bình diện thứ hai này nội dung tâm lý của nhân cách sẽ luôn luôn
được xem xét, phân tích và đánh giá ở mức độ cũng như tính chất của những mối quan hệ giữa các cá nhân trong qúa trình giao tiếp nhóm - tập thể mà nó gia nhập vào
Khi nhân cách đã được phát triển thì những phẩm chất của nó sẽ có thể có khả năng vượt ra khỏi khuôn khổ của cá tính cũng như các mối quan hệ liên nhân cách để
được coi như là một chủ thể đang thực hiện một cách tích cực và có chủ định những tác
động biến đổi các nhân cách khác thông qua mọi hành vi, quan hệ của mình Bằng
những hành động - quan hệ của mình khi tiếp xúc, những nhân cách phát triển sẽ có
thể luôn luôn để lại được những dấu ấn rất sâu đậm của mình trong đời sống tinh thần của những nhân cách khác Điều đó tựa như là đã có những đóng góp về mặt tinh thần của nhân cách này vào việc xây dựng nên những phẩm chất nhân cách tốt đẹp ở các
nhân khách khác Những phẩm chất nhân cách cao đẹp của người giáo viên sẽ mãi mãi
để lại được những dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần của mọi thế hệ học sinh
Có thể cho rằng toàn bộ những biến đổi cơ bản mà cá nhân này tạo ra được ở những chủ thể khác thông qua những hoạt động đối tượng cũng như giao tiếp sẽ tạo thành những nét tính cách đặc trưng và có giá trị nhất của nhân cách của nó Dĩ nhiên,
Trang 12nhân cách chỉ có thể được xem xét trong sự thống nhất của cả ba bình diện cái tôi (F:
Le moi), cái nó (F: It) và cái siêu tôi (F:Surmoi)
Nhân cách có thể được coi như là sự đại diện một cách lý tưởng của một cá nhân trong đời sống tinh thần của những cá nhân khác cũng như trong các mối liên hệ của nó với họ và trong chính bản thân nó như là một đại biểu của cái toàn thể đ∙ được khám phá ra thông qua thực tế x∙ hội (A.V.Petrovskij) Việc xem xét
nhân cách ở trên cả ba bình diện này sẽ giúp cho chúng ta có đủ điều kiện tâm lý để nhận thức được một cách rõ ràng những đặc điểm của nhân cách Và như vậy, nó sẽ có
ý nghĩa rất quan trọng đối với những quá trình thực thi những tác động giáo dục để đào tạo ra được những phẩm chất nhân cách tốt cho học sinh Nhân cách có những đặc
điểm cơ bản như tính ổn định cũng như tính thống nhất, tính tích cực và tính giao tiếp
Toàn bộ những phẩm chất của nhân cách sẽ luôn luôn được tồn tại ở trạng thái vận động và phát triển trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động cũng như giao tiếp của chủ thể Tất cả những nét tính cách, những phẩm chất này đều sẽ được kết hợp lại thành một chỉnh thể có cấu trúc xác định và ổn định Tuy nhân cách được phát triển, vận động và thay đổi đi cùng với sự biến đổi của hoàn cảnh nhưng những phẩm chất của nó vẫn có sự ổn định tương đối Nhờ đó, ở chúng ta mới có được những cơ sở tâm lý để có thể tiến hành chẩn đoán sự phát triển nhân cách của học sinh một cách có luận cứ cũng như thực hiện tốt những tác động giáo dục cá biệt hoá Những phẩm chất
nhân cách đều có sự bền vững thường xuyên, tương đối ổn định và biểu hiện những
đặc trưng cho từng cá nhân mà dựa vào đó, người ta có thể phân biệt được nó với người khác Những phẩm chất này sẽ dược coi là những thuộc tính tâm lý cá nhân Nhân cách được coi là sự phức hợp của những phẩm chất tâm lý cá nhân Nó là
một cấu trúc thống nhất của tất cả những nét nhân cách được vận động trong một chỉnh thể Đây không phải là một phép cộng đơn giản của các thuộc tính tâm lý cá nhân mà
là một hệ thống - cấu trúc thống nhất Điều đó sẽ làm cho toàn bộ các phẩm chất tâm
lý của nhân cách đều có được những mối quan hệ tương tác, quy định và đặt điều kiện cho sự vận động của nhau Chính vì vậy, cần phải đảm bảo được quan điểm toàn
diện khi phân tích những vấn đề của tâm lý học nhân cách Nhân cách sẽ luôn luôn
được hình thành như một thể thống nhất thông qua các quá trình hoạt động và giao tiếp ở trường nghề, chúng ta phải tiến hành các tác động giáo dục học sinh theo một
Trang 13hệ thống cấu trúc thống nhất để làm hình thành nên ở các em những nhân cách hoàn chỉnh
Nhân cách không phải là sản phẩm tiêu cực của hoàn cảnh Nó được hình thành
thông qua các quá trình hoạt động - giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo, gắng sức
và say sưa của chủ thể Tính tích cực của nhân cách sẽ được coi là một điều kiện,
phương tiện và sản phẩm tất yếu của các quá trình hoạt động cũng như giao tiếp của chủ thể Tính tích cực này sẽ được thể hiện tập trung ở những hoạt động cũng như quan
hệ đa dạng và muôn vẻ nhằm biến đổi, cải tạo thế giới đối tượng của chủ thể Trên cơ
sở đó, chủ thể sẽ phát hiện ra được logic của đối tượng mà tiến hành chiếm lĩnh, biến
đổi nội dung của nó để làm thành ra các phẩm chất nhân cách của mình
Trong nhà trường nghề, khi thực thi bất kỳ tác động sư phạm nào, người giáo
viên cũng phải biết cách tiến hành định hướng tính tích cực của học sinh vào tiếp nhận và giải quyết tốt những nhiệm vụ của hoạt động học tập Nhu cầu học tập đã
được coi là nguồn gốc của tính tích cực thực hiện những nhiệm vụ của hoạt động học tập của học sinh Vì vậy, trong giáo dục - đào tạo kỹ thuật, giáo viên cần thiết phải biết cách hình thành cho bằng được những nhu cầu này ở mọi học sinh
Nhân cách chỉ được nảy sinh, phát triển, biểu hiện và tồn tại trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của những hoạt động và giao tiếp Thông qua các quá trình thực hiện hoạt động cùng nhau và giao tiếp nhóm, học sinh sẽ nhận thức được nội dung của thế giới đối tượng cũng như mới lĩnh hội được các chuẩn đạo đức theo đúng
như những định hướng giá trị xã hội Nhất là thông qua các điều kiện tâm lý xã hội xác
định của nhóm và tập thể ở nhà trường, gia đình cũng như x∙ hội mà các phẩm chất tâm lý của nhân cách của các em sẽ được phát triển một cách vững chắc
Trong các điều kiện cụ thể của các quá trình giao tiếp sẽ diễn ra sự truyền đạt ý
đồ, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ cho nhau cũng như sự gây ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
và để lại dấu ấn trong nhau Vì vậy, các em sẽ luôn luôn có thể học tập và tiếp thu
được những phẩm chất nhân cách tốt của nhau, làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện phẩm hạnh của mình Theo luận điểm này thì khi thực thi các tác động sư phạm trong nhà trường, người giáo viên kỹ thuật cần phải biết cách quan tâm đến việc tổ chức và chỉ đạo cho tốt các quá trình giao tiếp của trẻ với nhau cũng như với người lớn
Trang 14Con người được hiểu là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức Đó là đại diện
của loài homosapiens mà cái sinh lý của nó sẽ bị chi phối bởi những quy luật sinh học
và đời sống tâm lý của nó lại do tính xã hội - lịch sử quy định Hoạt động tâm lý đặc trưng, cơ bản của con người là có ngôn ngữ và ý thức Bản chất của đời sống tâm linh của nó sẽ luôn luôn được hiện thực hoá ở trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội cũng như mọi tiến trình thực hiện các nhiệm vụ hoạt động của chủ thể Một con người cụ thể
- một thành viên của xã hội đang tồn tại thực trong những dạng hình hoạt động hay
giao tiếp xác định sẽ được gọi là cá nhân - cá thể người Khi cá nhân tiến hành thực
hiện những nhiệm vụ của một hoạt động hoặc giao tiếp xác định một cách có ý thức, có mục đích nhằm nhận thức đối tượng cũng như tác động cải tạo - nắm bắt - biến đổi nó thành ra những giá trị vật chất - tinh thần nào đó và đang tồn tại trong các mối quan hệ
xã hội cụ thể sẽ được coi là một chủ thể Nếu một chủ thể đang được tồn tại trong các
dạng hoạt động - giao tiếp cụ thể thì do những đặc điểm của thể tạng cũng như kiểu hình thần kinh và cấu tạo cơ thể của họ quy định mà đời sống tâm lý của nó sẽ có sự
độc đáo, khác biệt, không được lặp lại ở người thứ hai Cái đó sẽ tạo ra cái gọi là cá tính ở chủ thể Phức hợp toàn bộ những nét cá tính quy định bản chất con người với tư
cách là một thành viên của xã hội cũng như một công dân, người lao động, một nhà
hoạt động xã hội có ý thức sẽ làm thành nhân cách
Có thể coi nhân cách như là toàn bộ những đặc điểm cùng với những phẩm chất tâm lý cá nhân có tác dụng quy định giá trị và hành vi x∙ hội của một chủ thể Tất cả những cái đó sẽ góp phần tạo nên được nét đặc trưng của bản sắc và giá trị x∙ hội trong nhân cách của họ Nhân cách được coi là tổng hoà không phải mọi đặc điểm
cá thể của con người mà chỉ những phẩm chất chung nào quy định nó như là một thành viên của xã hội cũng như một công dân, người lao động và một nhà hoạt động xã hội
có ý thức Nhân cách của chủ thể sẽ luôn luôn được sống động hiện thực qua toàn bộ những hành vi, quan hệ xã hội trong suốt tiến trình của cuộc sống của họ
Có thể cho rằng việc tổng hoà tất cả những thuộc tính của thể chất cũng như tài năng, phong cách, ý thức, đạo đức, vai trò xã hội của chủ thể để tạo thành một hệ thống
- cấu trúc xác định với một bản sắc riêng và có cá tính rõ nét sẽ góp phần làm hình
thành được một cấu tạo tâm lý đặc biệt là nhân cách ở con người, cái sinh lý cũng như cái x∙ hội và cái tâm lý sẽ luôn luôn có sự tác động biện chứng với nhau trong mọi
thời gian - không gian sống để tạo ra những nét đặc trưng của nhân cách Tất cả ba yếu
Trang 15tố này đều có sự ảnh hưởng, tác động qua lại và quy định lẫn nhau trong việc hình thành nhân cách Vì vậy, cần thiết phải có cách tiếp cận cụ thể, toàn diện và đặc thù khi phân tích quá trình phát triển nhân cách của trẻ, để từ đó, biết cách xác định được nội dung các tác động giáo dục - đào tạo cho phù hợp Bằng cách đó, chúng ta sẽ tránh
được những quan điểm sai lầm của học thuyết duy sinh vật - Biologisme cũng như thuyết duy xã hội - Sociologisme và thuyết duy tâm lý - Psychologisme về bản chất của
sự hình thành nên những cấu tạo tâm lý mới trong nhân cách của con người
Nhìn chung có thể có một quan niệm khái quát cho rằng, ở mỗi một chủ thể đều
có một nhân cách gốc (F Personnalité de base) do nội dung của cơ cấu xã hội quy
định Cơ cấu này sẽ được bao gồm những đặc điểm của thể chế ở hạ tầng cơ sở mà trong đó, chủ yếu là những phương thức tổ chức gia đình và phong cách sinh hoạt như
ăn uống, hình thức cai sữa, kỷ cương đại - tiểu tiện sự cấm kỵ tình dục Những yếu
tố của cơ cấu hạ tầng này đã tác động mạnh đến trẻ, làm nảy sinh ra thái độ của chúng
đối với người lớn Đồng thời, do những yếu tố khác như sự hẫng hụt cùng những tác
động muôn vẻ của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội và vai trò của chủ thể quy định
mà nhân cách của nó sẽ được biểu lộ ra Vì vậy, trong những điều kiện xã hội sẽ biểu
hiện ra loại hình nhân cách do cương vị x∙ hội (F Personnalité statutaire) Khi mỗi
một cá nhân tiến hành đảm nhận những vai trò xã hội nhất định thì vị thế đó sẽ góp phần làm hình thành nên được những nét bề ngoài cũng như nội dung và chí hướng của từng nhân cách ở trong mỗi một điều kiện xã hội xác định đều sẽ có một hệ thống nhân cách theo cương vị tương ứng dùng để làm mẫu cho sự phát triển của các phẩm chất tâm lý cá nhân của trẻ khi các em đóng một vai trò nào đó của một nhóm xã hội Nhân cách một khi đã hình thành sẽ được biểu hiện ở ba mức độ - cấp độ khác
nhau là cá tính, quan hệ liên nhân cách và siêu cá nhân
Nhân cách con người trước hết sẽ được thể hiện dưới dạng cá tính của họ Cái
đó thể hiện rõ sự khác biệt cùng sự độc đáo về thế giới tâm lý của người này so với người khác Trên bình diện này, nhân cách của mỗi một chủ thể sẽ được biểu lộ ra ở
tính không đồng nhất giữa cá tính của nó với các nhân cách khác cũng như với những
cái chung về mặt tâm lý giữa mọi người Do vậy, giá trị đích thực của nhân cách sẽ
được biểu hiện rõ nét ở tính tích cực của chủ thể trong việc khắc phục những khó khăn
do hoàn cảnh sống đem lại cũng như những hạn chế của bản thân mình để thực thi có hiệu quả toàn bộ những nhiệm vụ của các hoạt động và giao tiếp ở đây, chúng ta đã
Trang 16xem xét nhân cách từ góc độ bên trong bản thân của cá nhân như là một đại diện của toàn x∙ hội
Những phẩm chất nhân cách của chủ thể sẽ luôn luôn được biểu hiện ra một
cách sinh động và rõ nét ở toàn bộ những mối quan hệ cũng như liên hệ với mọi
người trong các hoạt động cùng nhau Trong các mối quan hệ này, toàn bộ những phẩm
chất nhân cách của mọi người sẽ không bị hoà tan vào nhau Phẩm chất tâm lý của từng nhân cách sẽ luôn luôn được biểu hiện một cách tập trung trong toàn bộ hành vi,
cử chỉ, thái độ và các mối quan hệ của chủ thể
Chính những mối quan hệ giao tiếp giữa những con người với nhau trong một nhóm xác định sẽ được coi là những nhân tố khách, quan quy định nội dung tâm lý của từng nhân cách Trên bình diện thứ hai này nội dung tâm lý của nhân cách sẽ luôn luôn
được xem xét, phân tích và đánh giá ở mức độ cũng như tính chất của những mối quan hệ giữa các cá nhân trong qúa trình giao tiếp nhóm - tập thể mà nó gia nhập vào
Khi nhân cách đã được phát triển thì những phẩm chất của nó sẽ có thể có khả năng vượt ra khỏi khuôn khổ của cá tính cũng như các mối quan hệ liên nhân cách để
được coi như là một chủ thể đang thực hiện một cách tích cực và có chủ định những tác
động biến đổi các nhân cách khác thông qua mọi hành vi, quan hệ của mình Bằng
những hành động - quan hệ của mình khi tiếp xúc, những nhân cách phát triển sẽ có
thể luôn luôn để lại được những dấu ấn rất sâu đậm của mình trong đời sống tinh thần của những nhân cách khác Điều đó tựa như là đã có những đóng góp về mặt tinh thần của nhân cách này vào việc xây dựng nên những phẩm chất nhân cách tốt đẹp ở các
nhân khách khác Những phẩm chất nhân cách cao đẹp của người giáo viên sẽ mãi mãi
để lại được những dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần của mọi thế hệ học sinh
Có thể cho rằng toàn bộ những biến đổi cơ bản mà cá nhân này tạo ra được ở những chủ thể khác thông qua những hoạt động đối tượng cũng như giao tiếp sẽ tạo thành những nét tính cách đặc trưng và có giá trị nhất của nhân cách của nó Dĩ nhiên,
nhân cách chỉ có thể được xem xét trong sự thống nhất của cả ba bình diện cái tôi (F:
Le moi), cái nó (F: It) và cái siêu tôi (F:Surmoi)
Nhân cách có thể được coi như là sự đại diện một cách lý tưởng của một cá nhân trong đời sống tinh thần của những cá nhân khác cũng như trong các mối liên hệ của nó với họ và trong chính bản thân nó như là một đại biểu của cái toàn
Trang 17thể đ∙ được khám phá ra thông qua thực tế x∙ hội (A.V.Petrovskij) Việc xem xét
nhân cách ở trên cả ba bình diện này sẽ giúp cho chúng ta có đủ điều kiện tâm lý để nhận thức được một cách rõ ràng những đặc điểm của nhân cách Và như vậy, nó sẽ có
ý nghĩa rất quan trọng đối với những quá trình thực thi những tác động giáo dục để đào tạo ra được những phẩm chất nhân cách tốt cho học sinh Nhân cách có những đặc
điểm cơ bản như tính ổn định cũng như tính thống nhất, tính tích cực và tính giao tiếp
Toàn bộ những phẩm chất của nhân cách sẽ luôn luôn được tồn tại ở trạng thái vận động và phát triển trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động cũng như giao tiếp của chủ thể Tất cả những nét tính cách, những phẩm chất này đều sẽ được kết hợp lại thành một chỉnh thể có cấu trúc xác định và ổn định Tuy nhân cách được phát triển, vận động và thay đổi đi cùng với sự biến đổi của hoàn cảnh nhưng những phẩm chất của nó vẫn có sự ổn định tương đối Nhờ đó, ở chúng ta mới có được những cơ sở tâm lý để có thể tiến hành chẩn đoán sự phát triển nhân cách của học sinh một cách có luận cứ cũng như thực hiện tốt những tác động giáo dục cá biệt hoá Những phẩm chất
nhân cách đều có sự bền vững thường xuyên, tương đối ổn định và biểu hiện những
đặc trưng cho từng cá nhân mà dựa vào đó, người ta có thể phân biệt được nó với
người khác Những phẩm chất này sẽ được coi là những thuộc tính tâm lý cá nhân Nhân cách được coi là sự phức hợp của những phẩm chất tâm lý cá nhân Nó là
một cấu trúc thống nhất của tất cả những nét nhân cách được vận động trong một chỉnh thể Đây không phải là một phép cộng đơn giản của các thuộc tính tâm lý cá nhân mà
là một hệ thống - cấu trúc thống nhất Điều đó sẽ làm cho toàn bộ các phẩm chất tâm
lý của nhân cách đều có được những mối quan hệ tương tác, quy định và đặt điều kiện cho sự vận động của nhau Chính vì vậy, cần phải đảm bảo được quan điểm toàn diện
khi phân tích những vấn đề của tâm lý học nhân cách Nhân cách sẽ luôn luôn được
hình thành như một thể thống nhất thông qua các quá trình hoạt động và giao tiếp ở
trường nghề, chúng ta phải tiến hành các tác động giáo dục học sinh theo một hệ thống
cấu trúc thống nhất để làm hình thành nên ở các em những nhân cách hoàn chỉnh
Nhân cách không phải là sản phẩm tiêu cực của hoàn cảnh Nó được hình thành
thông qua các quá trình hoạt động - giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo, gắng sức
và say sưa của chủ thể Tính tích cực của nhân cách sẽ được coi là một điều kiện,
phương tiện và sản phẩm tất yếu của các quá trình hoạt động cũng như giao tiếp của
Trang 18chủ thể Tính tích cực này sẽ được thể hiện tập trung ở những hoạt động cũng như quan
hệ đa dạng và muôn vẻ nhằm biến đổi, cải tạo thế giới đối tượng của chủ thể Trên cơ
sở đó, chủ thể sẽ phát hiện ra được lôgic của đối tượng mà tiến hành chiếm lĩnh, biến
đổi nội dung của nó để làm thành ra các phẩm chất nhân cách của mình
Trong nhà trường nghề, khi thực thi bất kỳ tác động sư phạm nào, người giáo
viên cũng phải biết cách tiến hành định hướng tính tích cực của học sinh vào tiếp nhận và giải quyết tốt những nhiệm vụ của hoạt động học tập Nhu cầu học tập đã
được coi là nguồn gốc của tính tích cực thực hiện những nhiệm vụ của hoạt động học tập của học sinh Vì vậy, trong giáo dục - đào tạo kỹ thuật, giáo viên cần thiết phải biết cách hình thành cho bằng được những nhu cầu này ở mọi học sinh
Nhân cách chỉ được nảy sinh, phát triển, biểu hiện và tồn tại trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của những hoạt động và giao tiếp Thông qua các quá trình thực hiện hoạt động cùng nhau và giao tiếp nhóm, học sinh sẽ nhận thức được nội dung của thế giới đối tượng cũng như mới lĩnh hội được các chuẩn đạo đức theo đúng
như những định hướng giá trị xã hội Nhất là thông qua các điều kiện tâm lý xác định
của nhóm và tập thể ở nhà trường, gia đình cũng như x∙ hội mà các phẩm chất tâm lý của nhân cách của các em sẽ được phát triển một cách vững chắc
Trong các điều kiện cụ thể của các quá trình giao tiếp sẽ diễn ra sự truyền đạt ý
đồ, tư tưởng, tỉnh cảm, ý nghĩ cho nhau cũng như sự gây ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
và để lại dấu ấn trong nhau Vì vậy, các em sẽ luôn luôn có thể học tập và tiếp thu
được những phẩm chất nhân cách tốt của nhau, làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện phẩm hạnh của mình Theo luận điểm này thì khi thực thi các tác động sư phạm trong nhà trường, người giáo viên kỹ thuật cần phải biết cách quan tâm đến việc tổ chức và
chỉ đạo cho tốt các quá trình giao tiếp của trẻ với nhau cũng như với người lớn
b Cấu trúc nhân cách
Trong tâm lý học nhân cách còn hiện tồn nhiều loại quan điểm khác nhau về
nhân cách cũng như về cấu trúc tâm lý của nó Nghiên cứu để nắm vững được những thành phần tâm lý trong cấu trúc của nhân cách sẽ được coi là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như phương pháp luận cơ bản, chỉ đạo cho việc thực hiện những tác động hình thành nhằm phát triển đầy đủ tất cả những yếu tố hợp thành đó cho học sinh Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung của một số quan niệm cơ
Trang 19bản về cấu trúc của nhân cách có liên quan đến phương thức thực hiện các quá trình sư phạm trong nhà trường
Quan niệm đơn giản nhất cho rằng nhân cách được cấu thành bởi các thuộc tính
của hoạt động nhận thức cũng như tình cảm và ý chí của cá nhân ở đây, các phẩm chất của tri thức cũng như năng lực nhận cảm, tư duy và tưởng tượng của chủ thể sẽ
được coi là thành phần cốt yếu của tiểu cấu trúc các thuộc tính nhận thức Những thuộc tính của tình cảm cũng như tính xã hội, tính khái quát, tính ổn định, tính chân
thực và tính đối cực của đời sống tình cảm của chủ thể sẽ được coi là những yếu tố hợp thành của tiểu cấu trúc thứ hai Các phẩm chất của ý chí như tính mục đích, tính độc lập, tính kiên cường cùng những thuộc tính của kỹ xảo, kỹ năng và thói quen trong hành động - quan hệ của chủ thể sẽ làm thành tiểu cấu trúc thứ ba
Người ta đã nêu ra quan niệm khác cho rằng nhân cách được cấu thành bởi bốn tiểu cấu trúc bộ phận như sau:
1) Xu hướng cá nhân được bao gồm các thuộc tính của thế giới quan, nhân sinh quan,
lý tưởng, niềm tin, hứng thú và tâm thế sẵn sàng thực hiện các hoạt động cũng như quan hệ với ngưòi khác của chủ thể;
2) Kinh nghiệm sống của cá nhân được bao gồm những phẩm chất của tri thức cũng
như những thuộc tính của năng lực, kỹ xảo, kỹ năng và thói quen thực hiện hành động - quan hệ;
3) Đặc điểm của các quá trình tâm lý được bao gồm các thuộc tính của nhận thức, xúc
cảm và ý chí của chủ thể;
4) Những đặc điểm sinh lý - thần kinh được bao gồm các thuộc tính của thân thể,
chức phận, thể tạng con người cũng như của khí chất, giới tính, bệnh lý, lứa tuổi và phong cách sống của chủ thể
Thông thường, người ta lại nêu ra quan niệm cho rằng nhân cách được bao gồm
bởi hai tiểu cấu trúc đức và tài Những thành tố hợp thành tiểu cấu trúc đức có thể
được xác định theo nội dung như sau:
1) Các phẩm chất đạo đức - chính trị mang tính xã hội của chủ thể được bao gồm thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng, niềm tin, lập trường, thái độ chính trị, quan điểm sống - lao động;
Trang 202) Các phẩm chất của tư cách đạo đức cá nhân, lòng ham muốn, sự hứng thú, các nết và cái thói của chủ thể;
3) Đặc trưng của những phẩm chất ý chí như tính kỷ luật, tính tự chủ, tính mục đích, tính quả quyết, tính phê phán của cá nhân;
4) Những phẩm chất của lối sống và cung cách hành vi - ứng xử với mọi người như tác phong, phong cách sống theo lễ tiết, tính khí và phương thức đối nhân xử thế
Những phẩm chất của tiểu cấu trúc tài có thể được xác định theo nội dung của
sơ đồ sau:
1) Những phẩm chất của năng lực x∙ hội hoá của chủ thể sẽ được biểu hiện ra ở khả
năng thích ứng, phong thái sống hoà đồng cũng như khả năng biết thiết lập ra được các mối quan hệ giao tiếp với mọi người một cách sáng tạo, cơ động, mềm dẻo và linh hoạt của chủ thể;
2) Những phẩm chất của năng lực chủ thể hoá được biểu hiện ở kỹ năng thực hiện
hoàn hảo các thao tác hành vi cùng các mối quan hệ, khả năng biểu hiện bản lĩnh - cái riêng của mình ra ngôn ngữ, cử chỉ, hành động một cách độc đáo và đặc sắc;
3) Những phẩm chất của năng lực tiến hành hoạt động một cách tích cực, tự giác, say
sưa, độc lập, chủ động, đạt hiệu quả tối ưu, sáng tạo được bao gồm kỹ năng định hướng cũng như thực hiện và kiểm tra - đánh giá kết quả - hiệu chỉnh việc thực hiện bất
kỳ một hành động, một quan hệ nào của chủ thể;
4) Những phẩm chất của năng lực giao tiếp được biểu hiện ở kỹ năng định hướng cũng
như định vị khi tiếp xúc theo mục tiêu, khả năng biết thiết lập và duy trì các mối quan
hệ tốt đẹp lẫn nhau giữa mọi người, kỹ năng cảm hoá, biết cách làm cho đối phương phải tiến hành tự suy nghĩ và thực hiện hành động theo ý nghĩ của mình, năng lực hiểu người và khả năng để lại dấu ấn mạnh, những biểu tượng tốt đẹp về mình ở các chủ thể khác sau mỗi lần tiếp xúc
Đứng trên quan điểm phân tích các thành tố tâm lý của nhân cách, người ta đã cho rằng nó được bao gồm bốn khối cơ bản như sau:
1) Khối xu hướng cá nhân sẽ được cấu thành bởi các phẩm chất của nhu cầu, hứng
thú, niềm tin, lý tưởng sống, thế giới quan, nhân sinh quan;
Trang 212) Khối khả năng hành động - quan hệ sẽ được bao gồm những phẩm chất của khả
năng, năng lực, kỹ năng;
3) Khối phong cách hành vi - quan hệ sẽ được bao gồm các phẩm chất của lối sống,
kỹ xảo, thói quen;
4) Khối hệ thống điều khiển sẽ được bao gồm các phẩm chất của tâm thế, động cơ và
động cơ hoá
Nhân cách được cấu thành bởi hai thành phần phẩm chất và năng lực hay đức và
tài Hai mặt đức và tài của nhân cách thống nhất với nhau Có thể biểu diễn nội dung của cấu trúc này theo sơ đồ sau:
- Phẩm chất xã hội như tư tưởng, đạo đức,
chính trị, thế giới quan, nhân sinh quan niềm
tin, lý tưởng, lập trường, thái độ
- Năng lực xã hội hoá như: khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, cơ động, mềm dẻo, linh hoạt trong toàn bộ cuộc sống xã hội
- Phẩm chất cá nhân như đạo đức, tư cách các
nết, các thói, các “thú”, phong cách, tư cách,
lối sống,
- Năng lực chủ thể hoá như: khả năng biểu hiện tính độc đáo, đặc sắc, khả năng biểu hiện cái riêng, cái “bản lĩnh” của cá nhân
ra hành vi, ngôn phong và quan hệ
- Phẩm chất ý chí như tính kỷ luật, tính tự
chủ, tính mục đích, tính quả quyết, tính phê
phán, phẩm chất của hoạt đọng và giao tiếp
- Năng lực hành động, kỹ năng hành động
có mục đích, có ý thức, chủ động, tích cực, sáng tạo, hăng say
- Cung cách ứng xử, hành vi, ngôn phong tác
phong, lễ tiết, tính khí, thói quen
- Năng lực giao tiếp như: khả năng biết thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người khác
Nhân cách được cấu thành bởi ba thành phần như thuộc tính nhận thức, tình cảm
và ý chí
Theo A.G Côvaliôv, trong cấu trúc của nhân cách có các thuộc tính của quá trình tâm lý cũng như trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân
Trang 22Xem xét cấu trúc nhân cách theo bốn thành phần như các thuộc tính của xu
hướng, tính cách, khí chất và năng lực sẽ được phân tích cụ thể ở phần III – Thuộc tính tâm lý của giáo trình này
2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a.Vai trò chi phối của bẩm sinh – di truyền và hoàn cảnh
a 1 Bẩm sinh, di truyền
Để trả lời câu hỏi rằng “nhân cách từ đâu mà sinh ra, chúng ta phải chú ý đầy đủ
đến bốn yếu tố bẩm sinh - di truyền, hoàn cảnh- môi trường sống, giáo dục, hoạt động -
giao tiếp, rèn luyện - tự rèn luyện, tự tu dưỡng
a 2 Hoàn cảnh
Có quan điểm lại cho rằng “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” Họ cho rằng hoàn cảnh là cái quyết định tâm lý, nhân cách, trong khi lại gạt bỏ tính tích cực, chủ động
và vai trò chủ thể của con người Đối với sự phát triển, vận hành và biểu hiện của các
đặc điểm, thuộc tính tâm lý thì hoàn cảnh cũng có một vai trò nhất định
C Mác đã cho rằng con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy Nhân cách của con người không phải do hoàn
cảnh quyết định một cách máy móc Trong một hoàn cảnh nhất định có sự tồn tại của vô vàn sự vật, đối tượng, hiện tượng và các mối quan hệ xã hội Chỉ sự vật, đối tượng, hiện tượng, quan hệ nào mà con người tác động hoặc có quan hệ với thì mới có ảnh hưởng tới sự hình thành các đặc điểm tâm lý trong nhân cách của họ Khi thực hiện các hoạt động và quan hệ nếu chủ thể càng hết mình thì nội dung của các sự vật, đối tượng, quan hệ mà họ tác động tới sẽ càng được thấm sâu vào nhân cách của mình
b Vai trò quyết định trực tiếp của hoạt động và giao tiếp
Thông qua hoạt động và giao tiếp mà nhân cách của chủ thể sẽ được hình thành Bằng các quá trình hoạt động và giao tiếp, trẻ em sẽ gia nhập vào những mối quan hệ xã hội, tiếp nhận các hiện tượng tâm lý người được sống động hoặc tồn đọng trong các
sự vật, đối tượng và quan hệ ấy, nhập tâm chúng để làm thành các thuộc tính nhân
cách của chính mình Hoạt động và giao tiếp của trẻ em đã là nhân tố quyết định đối với việc hình thành và phát triển của nhân cách của chúng Mặt khác, bắt đầu từ khi có
sự tự ý thức rõ về mình thì cũng thông qua hoạt động và giao tiếp của bản thân, trẻ em
Trang 23sẽ làm xuất tâm lại kinh nghiệm lịch sử – xã hội đã được khúc xạ qua cá nhân mình
vào cả xã hội để tạo thành sự đại diện tâm lý của mình ở người khác
Giao tiếp được coi là điều kiện cho sự tồn tại của cá nhân và xã hội loài người Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người C.Mác đã chỉ ra rằng sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao tiếp một cách trực tiếp và gián tiếp với họ”
- C.Mác F Ănghen Toàn tập, Tập 3, NXB ST HN 1976
Nhờ có giao tiếp, con người sẽ gia nhập vào các mối quan hệ xã hội để lĩnh hội
được nền văn hoá - xã hội và biến nội dung của nó thành ra các phẩm chất nhân cách của mình
Tóm lại, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ người – người - nhóm xã hội - một nhân tố cơ bản, quyết định việc hình thành, phát triển của tâm lí, ý thức, nhân cách Mọi quá trình hoạt động và giao tiếp của con người chỉ có thể được diễn ra trong các điều kiện cụ thể của cộng đồng, nhóm và tập thể
c.Vai trò chủ đạo của nhân tố giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội Đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch
có biện pháp, thống nhất từ trung ương đến địa phương, được pháp luật bảo trợ và có tiền lực về kinh tế vô cùng to lớn Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách của chủ thể
Vai trò chủ đạo của giáo dục được hiểu theo nội dung của các ý sau:
1) Giáo dục biết vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Vì
nó là quá trình tác động có mục đích xác định nhằm hình thành một mẫu người cụ thể cho xã hội – một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống 2) Thông qua giáo dục, thế hệ trước sẽ tổ chức cho thế hệ sau lĩnh hội, tiếp thu nền văn hoá xã hội – lịch sử để tạo nên nhân cách của mình theo các mẫu hình xác định
3) Giáo dục biết cách tác động vào vùng phát triển gần nhất của trí tuệ để làm hình
thành nên cái mới, tạo cho nhân cách thế hệ trẻ có được sự phát triển nhanh, mạnh, hướng về tương lai
Trang 244) Giáo dục biết phát huy tối đa những mặt mạnh của các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như biết cách bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế
do chúng sinh ra
5) Giáo dục có thể uốn nắn được những sai lệch về một mặt nào đó so với các chuẩn mực do tác động tự phát của môi trường gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã hội qua các tác động giáo dục lại
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo, quy định sự hình thành và phát triển nhân cách Không nên tuyệt đối hoá vai trò của giáo dục Giáo dục không phải là vạn năng Cần phải thực hiện các tác động giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt
động, giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các mối quan hệ xã hội, nhóm và tập thể Mọi tác động giáo dục không được tách rời với các quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện,
tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân
Câu hỏi và bài tập
1 Tâm lý là gì? Chức năng, các loại hình, cơ chế hình thành và bản chất của nó? Tâm lý học là gì? Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của nó?
2 Chứng minh rằng tâm lý có bản chất hoạt động và giao tiếp Qua đó, hãy phân tích ý nghĩa sư phạm của vấn đề này
3 Nhân cách là gì? Đặc điểm, cấu trúc và cơ chế tâm lý của việc hình thành nó? Tại sao lại cho rằng nhân cách có bản chất hoạt động, giao tiếp và điều đó có ý nghĩa gì đối với việc giải quyết hệ thống các nhiệm vụ của quá tình sư phạm kỹ thuật
Chương II: Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý,
Trang 25Cảm giác có những đặc điểm sau:
1) Nó là một quá trình tâm lí có sự nảy sinh, diễn biến và kết thúc một cách rõ
rệt, do kích thích của bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan vào giác quan và não mà sinh ra
2) Nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng Đặc điểm
này cho thấy cảm giác là mức độ nhận thức thấp nhất Phản ánh của cảm giác mang tính đơn nhất
3) Nó phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp Nghĩa là sự vật, hiện
tượng phải trực tiếp tác động vào giác quan của ta mới gây ra cảm giác Đặc điểm này cũng nói lên mức độ thấp cuả cảm giác, nói riêng và nhận thức cảm tính, nói chung trong sự phản ánh hiện thực khách quan
Cũng như những hiện tượng tâm lý khác, cảm giác của con người có bản chất xã hội - lịch sử được thể hiện ở những điểm sau:
1) Đối tượng phản ánh của cảm giác ở con người không phải chỉ là những sự vật, hiện tượng vốn có trong tự nhiên mà còn bao gồm cả những sản phẩm do lao động tạo ra
2) Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở sự tác động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà cả ở hệ thống tín hiệu thứ hai nữa
3) Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giao tiếp
Có các loại cảm giác bên trong như cảm giác vận động, cảm giác thăng bằng và cảm giác cơ thể
Có năm loại cảm giác bên ngoài như cảm giác nhìn, cảm giác nghe, cảm giác ngửi, cảm giác nếm, xúc giác
a 2 Các quy luật cơ bản của cảm giác
Cảm giác có một số quy luật sau:
Quy luật về ngưỡng cảm giác
Trang 26Không phải mọi sự kích thích vào giác quan cũng đều gây ra được cảm giác Mọi kích thích qúa yếu hay quá mạnh đều không gây ra cảm giác Giới hạn của cường
độ kích thích mà ở đó nó gây ra được cảm giác thì gọi là ngưỡng cảm giác
Có hai loại ngưỡng cảm giác là ngưỡng tuyệt đối cao và ngưỡng tuyệt đối thấp
- Ngưỡng cảm giác phía dưới thể hiện cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm
giác
- Ngưỡng cảm giác phía trên thể hiện cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây
ra được cảm giác về đối tượng đó Ngưỡng tuyệt đối của cảm giác sẽ tỷ lệ nghịch với
tính nhạy cảm của chủ thể Ví dụ như ngưỡng phía dưới của thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 390 mμ, còn ngưỡng phía trên là 780 mμ Ngoài hai giới hạn trên, những tia cực tím - tử ngoại và cực đỏ - hồng ngoại thì mắt người sẽ không nhìn thấy được
Ngoài ra, người ta còn nói đến ngưỡng sai biệt Đó là mức độ chênh lệch tối
thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được chúng
Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hằng số và nó tỷ lệ nghịch với độ nhạy cảm
sai biệt của cảm giác
Quy luật về sự thích ứng của cảm giác
Để đảm bảo cho sự phản ánh được đối tượng tốt nhất và bảo vệ cho hệ thần kinh
khỏi bị huỷ hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích Đó là
khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích Khi cường độ kích thích tăng thì cảm giác của con người sẽ có tác dụng làm giảm độ nhạy cảm nếu cường độ kích thích giảm thì nó lại làm tăng độ nhạy cảm
Ví dụ như khi ta đang ở chỗ sáng có cường độ kích thích thị giác mạnh mà đi vào chỗ tối có cường độ kích thích yếu hơn thì lúc đầu, mình sẽ không nhìn thấy gì cả, sau một thời gian ngắn, ta mới dần dần thấy rõ đối tượng Trong trường hợp này, xảy ra
sự tăng độ nhạy cảm của thị giác
Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau Khả năng thích ứng của cảm giác có thể được phát triển do hoạt động nghề nghiệp và sự rèn luyện của chủ thể
Trang 27Quy luật về sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác
Các cảm giác ở con người không tồn tại biệt lập mà luôn tác động qua lại với
nhau Sự tác động qua lại giữa các cảm giác đã tạo ra sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này dưới ảnh hưởng của một cảm giác kia Sự tác động qua lại đó sẽ diễn
ra theo một quy luật chung Khi có kích thích yếu lên một giác quan này, nó sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một giác quan kia và kích thích mạnh lên một giác quan này, nó
sẽ làm giảm độ nhạy cảm của một giác quan kia
Ví dụ như khi uống một cốc nước đường còn nóng thì ta sẽ cảm thấy ít ngọt hơn Còn chính cốc nước đường đó khi để nguội, ta uống vào sẽ cảm thấy ngọt hơn Như vậy, ở ta, nhiệt giác đã có ảnh hưởng đến vị giác
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra một cách đồng thời hay nối
tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại Sự tương phản chính là sự biểu hiện của sự tác động qua lại giữa các cảm giác thuộc cùng một loại Đó là sự biểu thị của
sự thay đổi về cường độ và chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời
Ví dụ như nếu ta đặt hai tờ giấy màu xám như nhau lên một cái nền trắng và một cái nền đen thì ta sẽ cảm thấy tờ giấy màu xám đặt trên nền trắng xám hơn tờ giấy màu xám đặt trên nền đen Đó là sự tương phản đồng thời Sau khi nhúng tay vào nước lạnh nếu ta lại nhúng vào nước ấm, ta sẽ có cảm giác nước có vẻ nóng hơn Đó là sự tương phản nối tiếp
Quy luật bù trừ cảm giác
Chúng ta đều biết rằng nếu các giác quan của chủ thể mà được hoàn thiện thì năng lực cảm giác sẽ tăng còn khi giác quan bị khuyết tật thì năng lực cảm giác của họ
sẽ bị giảm Đối với con người, cảm giác lại có khả năng bù trừ chức năng thật kỳ diệu Khi ở họ, có một giác quan nào đó bị mất đi hoặc bị yếu kém thì tính nhạy cảm của các giác quan khác lại được tăng cường Nhờ đó mà con người vẫn có thể trả lời được những tác động khác nhau của các kích thích từ ngoại giới Ví dụ như người mù có thể nghe tiếng bước chân của người khác để phân biệt, nhận ra từng người hoặc có thể sờ chữ nổi để đọc được Tức là ở họ có xúc giác và thính giác rất tinh nhạy Nếu một người vừa bị mù vừa bị điếc thì khả năng xúc giác đặc biệt được phát triển ở Nga, chị
Trang 28O.Khorosodova bị mù, câm, điếc từ nhỏ, đến năm 40 tuổi mới được học một cách đặc biệt và trở thành tiến sỹ triết học
b Tri giác (Perception)
Tri giác có những đặc điểm cơ bản như tính đối tượng, tính lựa chọn, tính ổn
định, tính ý nghĩa, tính trọn vẹn và quy luật tổng giác
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp, cụ thể và trọn vẹn những thuộc tính bề ngoài của đối tượng
Dựa theo giác quan nào vai trò chính trong quá trình tri giác mà người ta chia nó
ra thành loại tri giác nhìn, tri giác nghe, tri giác ngửi, tri giác nếm và xúc giác
Dựa theo tính chất của đối tượng được phản ánh bằng tri giác mà người ta chia
nó ra thành loại tri giác không gian, tri giác thời gian và tri giác chuyển động Căn cứ vào mức độ chỉ đạo của ý thức khi tri giác, người ta chia ra loại tri giác có chủ định và tri giác không chủ định ở con người, có loại tri giác của con người - bởi con người
b 2 Các quy luật cơ bản của tri giác
Tri giác có một số quy luật cơ bản như tính đối tượng, tính lựa chọn, tính ý nghĩa, tính ổn định, tổng giác và ảo giác
Quy luật về tính đối tượng của tri giác
Do sự tác động của những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới xung quanh vào giác quan ta mà tri giác được hình thành Nội dung của sự vật và hiện tượng sẽ quy
định tính đối tượng của tri giác Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng phản ánh một sự vật, hiện tượng nhất định nào đó của thế giới bên ngoài Nhờ có tính
đối tượng của tri giác mà chủ thể sẽ gọi được tên sự vật, hiện tượng Nó làm cơ sở tâm
lý cho việc định hướng mọi hành vi và quan hệ của con người Sự hình thành tính đối
Trang 29tượng của tri giác trong quá trình phát triển cá thể được gắn liền với những hành động thực tiễn đầu tiên của đứa trẻ Những hành động này mang tính có đối tượng, được hướng vào những khách thể bên ngoài nhằm giúp cho chủ thể biết cách hành động cho thích ứng với những đặc điểm, vị trí và hình dáng của chúng Sau này, khi tri giác được tách thành một hệ thống hành động tương đối độc lập thì hoạt động thực tiễn sẽ tiếp tục
đề ra cho chủ thể những nhiệm vụ tri giác khác và do đó, tất yếu ở họ lại sẽ có một sự phản ánh đối tượng mới một cách phù hợp đối với hiện thực hơn
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác
Thực chất quá trình tri giác là một hệ thống hành động lựa chọn tích cực Khi người ta tri giác một sự vật nào đó, có nghĩa là họ đã tách sự vật đó ra khỏi đối tượng xung quanh, tách nó khỏi bối cảnh và tách bạch giữa hình với nền để lấy nó làm đối tượng cho sự phản ánh của mình
Trong khi giải quyết nhiệm vụ tri giác, chủ thể phải xác định rõ cái nào là đối tượng và bối cảnh Vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau Một vật nào đó lúc này là đối tượng của tri giác, lúc khác lại có thể trở thành bối cảnh và ngược lại
Nội dung của tính lựa chọn của tri giác sẽ bị phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan như hứng thú, nhu cầu, tâm thế.vv và khách quan như đặc điểm của vật kích thích, ngôn ngữ của người khác, tính chất của hoàn cảnh khi tri giác vv Nội dung tâm lý của các quy luật khác của tri giác cũng có tác dụng đối với sự vận hành của quy luật lựa chọn này Quy luật này có sự biểu hiện trong mối tương tác với tính trọn vẹn của tri giác
Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác
Những hình ảnh mà con người đã thu nhận được qua tri giác sẽ luôn có một ý nghĩa xác định ở con người, hành động tri giác luôn được thực hiện trong mối quan hệ biện chứng với tư duy, tưởng tượng cũng như với kinh nghiệm và với sự hiểu biết về bản chất của sự vật Khi tri giác sự vật một cách có ý nghĩa, người ta sẽ gọi được tên của nó, xếp nó vào một nhóm, một lớp các sự vật xác định và khái quát tên gọi nó thành một từ xác định Ngay cả khi tri giác một sự vật không quen thuộc, chúng ta cũng cố thu nhận trong nó một sự giống nhau nào đó với những đối tượng mà mình đã biết để xếp hạng theo một phạm trù xác định Khi tri giác một sự vật nào đó, trong hoạt
động tâm lý của chủ thể sẽ diễn ra sự tìm kiếm cơ động bằng cách tổng hợp những tài liệu đã có, tách đối tượng ra khỏi bối cảnh, hiểu được ý nghĩa và nêu tên gọi của nó
ra
Quy luật về tính ổn định của tri giác
Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật, hiện tượng một cách không đổi khi điều kiện cảm nhận có bị biến đổi.Tính ổn định của tri giác được hình
Trang 30thành trong hoạt động đối tượng và là một điều kiện tâm lý cần thiết cho cuộc sống, hoạt động và quan hệ của con người Trong khi tri giác, ở người nào không có tính ổn
định này thì họ sẽ không thể nào định hướng được hành động, quan hệ của mình trong thế giới đa dạng và biến đổi vô tận này Có được tính ổn định của tri giác là do kinh nghiệm của chủ thể mang lại
Quy luật tổng giác, ảo giác
Ngoài việc phụ thuộc vào bản thân kích thích, tri giác của con người còn bị quy
định bởi một loạt các nhân tố nằm trong chính bản thân chủ thể khi tri giác Không phải cơ quan thụ cảm như cái tai, con mắt.vv tri giác được sự vật Những đặc điểm nhân cách của chủ thể khi tri giác như thái độ, nhu cầu, động cơ, tâm thế, hứng thú, nguyện vọng, sở thích, tình cảm.vv của cá nhân sẽ luôn quy định hiệu quả và chất lượng của sự tri giác của họ Trong khi tri giác, tất cả sự hoạt động của mọi giác quan
đều sẽ diễn ra một cách tổng hợp theo một hệ thống, tuân thủ cấu trúc của đối tượng tạo ra tính tổng giác
Câu thơ của Nguyễn Du “ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là thể hiện cái
ý, cái nghĩa trong tri giác
Như vậy, tri giác được coi là một quá trình nhận thức tích cực mà chủ thể có thể
điều khiển được nó Người giáo viên phải biết vận dụng các quy luật của cảm giác và tri giác trong dạy học nhằm nêu cao hiệu quả của hoạt động nhận cảm và năng lực quan sát, góp phần nâng cao chất lượng của dạy học và giáo dục
Tri giác có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra tính tích cực cho việc điều
chỉnh hành động của con người Có thể coi tri giác như một quá trình, một hành động hay một hoạt động nhận thức
Nếu căn cứ vào thuộc tính của đối tượng khi tri giác chúng ta thấy có loại hình tri giác không gian, tri giác thời gian và tri giác chuyển động Nếu căn cứ vào mức
độ chỉ đạo của ý thức khi tri giác, ta có tri giác có chủ định - quan sát và tri giác không chủ định ở người, có loại hình tri giác con người bởi con người Tri giác có các quy luật cơ bản như tính đối tượng, tính lựa chọn (hình1, 2, 3), tính có ý nghĩa (hình 4), tính ổn định và quy luật tổng giác của tri giác (hình 4)
Trang 31
Hình 1 Hình 2 (Già, trẻ) (Lọ hoa, hai mặt người)
(Cô gái, bà già) ( Tính tổng thể của tri giác và ảo giác)
c Biểu tượng (Image)
c 1 Biểu tượng là gì ? (Image)
Quá trình làm hiện lại ở trong não chủ thể tất cả hình ảnh của đối tượng đ∙
được tri giác hoặc dựa vào các hình ảnh đã có để tạo ra các hình ảnh mới theo một quy trình, một mục đích nhất định được gọi là biểu tượng Có thể cho rằng, biểu tượng
là quá trình làm xuất hiện ra ở trong não chủ thể những hình tượng của các sự vật -
hiện tượng mà họ đã tri giác một cách nguyên vẹn hay có sáng tạo, mặc dù những
thuộc tính của các sự vật - hiện tượng đó không còn đang trực tiếp tác động vào giác quan của họ nữa Hình ảnh của biểu tượng có tính chất trung gian, quá độ, chuyển tiếp giữa các hình ảnh của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
c 2 Tính chất của biểu tượng
Biểu tượng đều giống cảm giác và tri giác ở chỗ nó mang tính trực quan Nhưng
hình ảnh của biểu tượng không đầy đủ, không rõ ràng, không chính xác bằng hình
ảnh của tri giác Hình ảnh của biểu tượng không mang tính trực quan đơn thuần như
cảm giác và tri giác mà đã mang tính khái quát, có nội dung phong phú hơn Vì mang
tính trực quan nên biểu tượng có một phần thuộc về nhận thức cảm tính Mặt khác vì mang tính khái quát, biểu tượng còn có quan hệ với nhận thức lý tính
c 3 Các loại biểu tượng
Trang 32Có hai loại biểu tượng là biểu tượng của trí nhớ và biểu tượng của tưởng tượng Nội dung của những vấn đề này sẽ được xem xét cụ thể trong mục trí nhớ và
tưởng tượng của chương này Phương tiện của hoạt động nhận thức là trí nhớ, ngôn ngữ
và chú ý
d Trí nhớ (Memory)
d 1 Định nghĩa, vai trò, đặc điểm của trí nhớ
Trí nhớ là sự phản ánh những cái đã qua dưới hình thức biểu tượng
Khái niệm trí nhớ trong tâm lý học được hiểu là sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại toàn bộ những gì mà chủ thể đã thu nhận trong hoạt động cũng như cuộc sống
và giao tiếp của mình Những quá trình trí nhớ này đã không tự nhiên mà có Nó cũng không diễn ra một cách tự động
Trí nhớ được coi là một quá trình, một hoạt động, phương tiện và điều kiện tâm lý cần thiết cho hoạt động, giao tiếp luôn tồn tại gắn liền với toàn bộ cuộc sống hành động của con người Những hình thức biểu hiện bên ngoài của nó cũng sẽ rất đa dạng Chúng
được phân loại theo những đặc điểm của hoạt động của chủ thể mà trong đó sẽ diễn ra các quá trình ghi nhớ cũng như tái hiện Thông thường, khi phân loại trí nhớ người ta đã xuất phát từ những chỉ tiêu chủ yếu của nó
Nếu dựa vào tính chất của tính tích cực tâm lý đang nổi bật nhất, giữ địa vị thống trị trong một hoạt động nào đó để tạo ra trí nhớ mà người ta phân ra các trí nhớ vận động, trí nhớ xúc cảm, trí nhớ hình ảnh và trí nhớ từ ngữ - logic
Nếu căn cứ vào tính chất của mục đích hành động nhớ mà người ta phân ra trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định Nếu căn cứ vào mức độ kéo dài của sự giữ gìn tài liệu có liên quan đến ý nghĩa của nó đối với hoạt động cũng như giao tiếp mà người ta phân ra trí nhớ ngắn và trí nhớ dài hạn
Trong hoạt động trí nhớ của chủ thể có loại trí nhớ vận động Người ta hiểu trí nhớ vận động là sự ghi nhớ và tái hiện những thông tin về quá trình vận động ít nhiều mang tính chất tổ hợp
Trí nhớ xúc cảm được coi là một đặc trưng của trí nhớ con người.Tình cảm xuất
hiện trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp với người khác trước hết phụ thuộc vào
nhu cầu, mục đích và hứng thú của chúng ta đã được thoả m∙n như thế nào
Trang 33Trí nhớ hình ảnh là một loại trí nhớ đặc trưng của thao tác viên cũng như của
nghệ sỹ, nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, hoạ sỹ Trí nhớ hình ảnh phản ánh nội dung của một biểu tượng do một ấn tượng mạnh mà các cơ quan cảm giác đã tạo ra
Ngược lại, trí nhớ đối với mùi vị được phụ thuộc vào tính chất của những nghề nghiệp
đặc biệt Chúng được phát triển do ảnh hưởng của những điều kiện làm việc đặc biệt của chủ thể trong các lĩnh vực lao động xác định Trí nhớ đối với mùi vị đã được phát triển tới một trình độ đặc biệt cao ở những người mù hoặc điếc Còn trí nhớ hình ảnh
được phát triển mạnh ở những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ Trí nhớ hình ảnh được coi là
điều kiện tâm lý quan trọng, đảm bảo cho chủ thể có thể thực hiện được các thao -
động tác kỹ thuật
Trí nhớ logic - từ ngữ được đặc biệt phát triển ở những nhà khoa học Khái
niệm đã tạo nên nội dung của trí nhớ logic- từ ngữ Cơ sở lí luận của trí nhớ logic là ngôn ngữ - hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai ở một mức độ nhất định, với những hình thức sơ đẳng của nó, người ta đã quan sát thấy ở động vật cũng có trí nhớ vận động, trí nhớ xúc cảm và trí nhớ hình ảnh Nhưng trí nhớ logic - từ ngữ thì chỉ
riêng con người mới có Nó được phát triển trên cơ sở những loại hình trí nhớ khác và
ngày càng chiếm vị trí hàng đầu trong hoạt động nhớ ở con người, trí nhớ logic - từ ngữ sẽ luôn luôn quy định sự phát triển của trí nhớ vận động, trí nhớ xúc cảm và trí nhớ hình ảnh Trong quá trình học tập, trí nhớ logic - từ ngữ dần dần sẽ chiếm vị trí hàng
đầu trong sự phát triển của trí nhớ nói chung ở học sinh Trí nhớ của chủ thể về nội dung của khái niệm, biểu tượng và thực hành kỹ thuật sẽ được coi là điều kiện tâm lý quan trọng của hoạt động kỹ thuật
Trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định cũng có những đặc trưng của
nó Tuỳ theo mục đích của hoạt động nhớ mà người ta đã phân ra trí nhớ không chủ định
và trí nhớ có chủ định Người ta có thể ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện thông tin về một cái gì đó mà không đặt ra mục đích chuyên biệt Trong trường hợp này, ở chúng ta có trí
nhớ không chủ định Khi người ta đặt ra mục đích phải ghi nhớ một cái gì đó, ở trong
đời sống tâm lỹ của họ sẽ có trí nhớ có chủ định Để có thể ghi nhớ có chủ định, người
ta thường phải dùng những biện pháp có tính chất kỹ thuật khi tiến hành các thao tác
nhớ
Trang 34
Tính chất của trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn sẽ đề cập được đến phạm trù
thời gian của hoạt động nhớ Nội dung của giai đoạn đầu của sự ghi nhớ đã được các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu một cách đặc biệt Đó là giai đoạn mà nhà nghiên
cứu đã xác định rằng dấu vết do sự ghi nhớ đã mang lại cái mới được hình thành, nhưng lại chưa được củng cố vững chắc Một nội dung xác định nào đó muốn được củng cố trong trí nhớ thì nó đòi hỏi ở chủ thể cần phải có sự gia công - củng cố vết Sự
gia công này luôn đòi hỏi phải có một thời gian nhất định Khoảng thời gian này được
gọi là thời gian củng cố dấu vết
Nét đặc trưng cho trí nhớ dài hạn là sự giữ gìn một tài liệu lâu dài sau khi người
ta đã thường xuyên nhắc lại và tái hiện nó Trong trí nhớ ngắn hạn thì sự tái hiện lại
sẽ diễn ra ngay lập tức sau một vài giây tri giác tài liệu Nhờ có trí nhớ ngắn hạn,
người ta có thể ghép vần, viết và đọc thành câu Nhờ có trí nhớ dài hạn, người ta có thể thực hiện được một hành động, thao - động tác lao động phức tạp
Về nguyên tắc, trí nhớ ngắn hạn và dài hạn chỉ là hai giai đoạn của một quá
trình thống nhất Trí nhớ ngắn hạn được coi là cơ sở của trí nhớ dài hạn Trí nhớ dài hạn đã được bắt đầu từ trong trí nhớ ngắn hạn bằng cách củng cố những vết vừa mới hình thành Các loại hình trí nhớ này đều sẽ bị phụ thuộc vào nội dung của tài liệu cũng như phương thức ghi nhớ, phương pháp dạy học, động cơ - mục đích - tâm thế ghi nhớ và vào hoạt động - giao tiếp của chủ thể
d2 Quá trình cơ bản của trí nhớ
Hoạt động trí nhớ được bao gồm các quá trình ghi nhớ - tạo vết, giữ gìn - củng
cố vết, tái hiện và quá trình quên Mỗi quá trình riêng lẻ này đều có được một chức năng xác định, không đối lập với nhau mà làm thành một thể thống nhất trong hoạt
động nhớ của chủ thể Sự thống nhất ấy sẽ được biểu hiện ở sự phụ thuộc lẫn nhau của các quá trình trí nhớ Chúng sẽ được thâm nhập vào nhau và chuyển hoá một cách
biện chứng từ quá trình này sang quá trình khác
Trí nhớ được các nhà tâm lý học coi là một hoạt động thống nhất bao gồm trong
đó nhiều quá trình riêng lẻ, gắn chặt với nhau theo những quy luật xác định Sự diễn biến của quá trình trí nhớ sẽ được quy định bởi nội dung của cuộc sống, hoạt động và giao tiếp của cá nhân
Trang 35Ghi nhớ thông tin được xem như là một hành động của hoạt động nhớ Nhờ có
sự ghi nhớ mà thông tin của một tài liệu nào đó sẽ được giữ lại trong ý thức chúng ta
bằng cách gắn liền nội dung của nó với những kiến thức hiện có Điều đó rất cần để
tiếp thu tri thức, tích luỹ kinh nghiệm sống cho chủ thể Con người sẽ ghi nhớ trước hết
nội dung của đối tượng mà trên đó họ phải thực hiện những hành động của mình
Không phải những đối tượng được đặt cạnh nhau một cách đơn giản đều sẽ được chủ
thể ghi nhớ như nhau Tất cả những cái gì có liên quan với nhu cầu, động cơ, mục
đích, tâm thế, hoạt động - giao tiếp của chủ thể thì đều sẽ được họ ghi nhớ
Trong trí nhớ logic, việc tiến hành phân tích, tổng hợp, mô hình hoá, so sánh, phân loại và hệ thống hoá tài liệu được coi là những biện pháp cần thiết cho
việc ghi nhớ của chủ thể phải dùng khi thực hiện các nhiệm vụ nhớ
Để có thể ghi nhớ tốt nội dung tài liệu chủ thể cần đặc biệt chú ý thực hiện
được những thao tác tư duy sau đây: 1) Suy nghĩ để định hướng hoạt động tư duy vào việc phân tích toàn bộ nội dung của tài liệu; 2) Tiến hành phân chia và tìm hiểu tài liệu thành ra những nhóm yếu tố cơ bản của nó; 3) Suy nghĩ để xác định ra những mối liên hệ nội bộ ở trong mỗi nhóm; 4) Tiến hành xác định những mối liên
hệ giữa các nhóm đó với nhau và thực hiện việc ôn tập, lặp lại chúng trong một thể
thống nhất
Gìn giữ thông tin là quá trình làm củng cố vững chắc những dấu vết đã hình thành được trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ Có hai hình thức gìn giữ tiêu cực và tích cực Gìn giữ tiêu cực là sự gìn giữ thông tin được dựa trên sự tri giác và tri giác lại nhiều lần đối với tài liệu một cách đơn giản Còn gìn giữ tích cực là sự gìn giữ được thực hiện bằng cách nhớ lại, cần làm hiện lại tài liệu đó
Trong hoạt động học tập của học sinh, quá trình gìn giữ thông tin được gọi là ôn tập Kinh nghiệm “đi truy, về trao” của học sinh chính là một cách ôn tập tích cực mà
sự gìn giữ được thực hiện bằng cách nhớ lại tái hiện - trong óc nội dung tài liệu đã ghi nhớ, không phải tri giác lại tài liệu đó
Tái hiện thông tin là một quá trình của hoạt động trí nhớ, trong đó, những
nội dung đã được chủ thể ghi lại trước đây có thể sẽ được làm sống lại Quá trình tái hiện của chủ thể có thể xảy ra dễ dàng hoặc khó khăn Đôi khi những đối tượng đã
được chủ thể ghi nhớ trước đây gần như đồng thời sẽ xuất hiện lại một cách tự động Song cũng có không ít trường hợp, chúng ta phải có sự nỗ lực rất nhiều mới có thể
Trang 36tái hiện được chúng Thường thường, trong hoạt động trí nhớ, những hình thức tái
hiện sẽ được chủ thể phân ra thành các loại như sau: a) Sự nhận lại; b) Sự nhớ lại; c) Sự hồi tưởng lại
Nhận lại thông tin được coi là hình thức tái hiện khi sự tri giác đối tượng sẽ
phải được chủ thể lặp lại Sự nhận lại rất có ý nghĩa trong đời sống của mỗi người
Nó giúp cho chúng ta biết tiến hành định hướng được tốt và đúng đắn hơn mọi hành
động của mình Sự nhận lại cũng có thể được chúng ta thực hiện một cách không
đầy đủ và không xác định Trong các cuộc tiếp xúc, có khi gặp gỡ ai mà ta biết chắc chắn đó là người quen nhưng ngay lúc ấy mình vẫn không thể nào nhớ ra được tên của họ Cũng có lúc, ta nhận ra một người và cũng biết cả tên của họ nhưng lại không thể nhớ ra là đã làm quen với họ vào lúc nào và ở đâu Khi nhận lại, nó đòi hỏi ở chủ thể phải có những quá trình thao tác với hình ảnh rất phức tạp để đạt tới một kết quả xác định Trong trường hợp này, chúng ta phải dựa vào một đối tượng đã biết nào đó
mà tưởng tượng lại nội dung của những cái khác có liên quan, rồi dần dần mới có thể
nói chính xác được về cái ta muốn có ở đây, sự nhận lại đã trở thành sự nhớ lại
Khác với nhận lại, nhớ lại thông tin là hình thức tái hiện mà ngay lúc đó sự tri giác lại đối tượng sẽ không diễn ra Hình ảnh của sự nhớ lại là điều kiện tâm lý
quan trọng để chủ thể có thể tiến hành hoạt động Trong thực tế, không phải lúc nào người ta cũng đặt ra mục đích nhớ lại một cái gì đó Nhiều khi, các thao tác dùng để nhớ sẽ diễn ra gần như tự động mà chúng ta đã không kịp ý thức được xem trong hoạt động vừa qua mình đã nhớ lại những gì Trong trường hợp này, chúng ta đã tiến hành nhớ lại một cách không chủ định Cái đó đã được diễn ra do các kích thích bởi đối tượng tri giác hoặc một hình ảnh của tưởng tượng hay của tư duy đang vận động theo quy luật của sự liên tưởng
Quên sẽ được coi như là sự ức chế những sự hoạt động của các vết đã hình
thành trên vỏ não của chủ thể - đường liên hệ thần kinh tạm thời Để chống sự quên,
chủ thể phải biết cách tiến hành ôn tập một cách thường xuyên - liên tục - có hệ
thống, ôn ngay sau khi học, ôn tập một cách tích cực - tự giác - hăng say, ôn bằng
hành động tích cực của tất cả mọi các giác quan khi xác định rõ tâm thế - động cơ - mục đích ghi nhớ đúng đắn và ôn có đề cương - có kế hoạch Trí nhớ được coi là một hoạt động tâm lý được bao gồm các hành động ghi nhớ, nhận lại và nhớ lại
Trang 37e Tư duy (Thinking)
e 1 Khái niệm chung về tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Tư duy được coi là một mức độ nhận thức mới, cao hơn về chất so với nhận thức cảm tính Nếu cảm giác, tri giác mới chỉ phản ánh được một cách cụ thể, trực tiếp, đơn nhất những thuộc tính bên ngoài thì tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
liên hệ, quan hệ bên trong, có tính chất quy luật của các sự vật- hiện tượng trong thực tại khách quan một cách khái quát, gián tiếp bằng ngôn ngữ Tư duy biểu hiện chất lượng mới trong nhận thức của con người mà cảm tính không thể có được Tư duy mang bản chất x∙ hội - lịch sử và hoạt động - giao tiếp, có tính x∙ hội - lịch sử và do nhu cầu của xã hội quy định Hoạt động tư duy của con người mang tính tập thể mà các ý nghĩ của nó được hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ nóng hổi nhất của cả một giai đoạn lịch sử đương đại Hoạt động tư duy của con người luôn diễn ra rất cơ động, linh hoạt và sáng tạo Còn tư duy của máy và người máy lại được thực hiện theo một chương trình đ∙ định sẵn của con người Tính chủ thể trong hoạt động tư duy của con người được biểu hiện rõ ràng, sâu sắc và độc đáo Tư duy có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nhận thức tính quy luật của thế giới cũng như chỉ đạo hoạt động cải tạo nó theo nhu cầu tìm tòi cái mới và trong sự phát triển của nhân cách ở từng con người Tư duy có thể được coi là một quá trình, một hành động và một hoạt động nhận thức
độc đáo và sáng tạo của con người
Tư duy có vai trò quan trọng, quyết định phẩm chất trí tuệ của hoạt động nhận thức của con người Nó sẽ làm cơ sở lý tính cho các quá trình ý chí và đời sống tình cảm của chủ thể đồng thời, nó cũng có tác dụng quy định các phẩm chất tâm lý của kỹ năng và tài năng trong cấu trúc của nhân cách ở mỗi một chủ thể, tư duy luôn giữ
được vai trò quyết định trong việc đặt kế hoạch hoạt động cũng như xây dựng các nhiệm vụ hoạt động - giao tiếp và kiểm tra - đánh giá tiến trình, kết quả hoạt động - giao tiếp đó để hiệu chỉnh khi cần thiết Chỉ có, bằng và thông qua tư duy, chủ thể
Trang 38mới có được các điều kiện tâm lý cần thiết để hiểu mình, hiểu người cũng như nắm vững quy luật của các sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan mà sống hạnh phúc, hoạt động đạt hiệu quả và giao tiếp đúng mực với mọi người Thông qua các
hoạt động tư duy, người giáo viên sẽ có thể hiểu được học sinh Từ đó mới biết đặt mình đúng vào vị trí của các em mà suy nghĩ để dạy dỗ - giáo dục và đối xử khéo léo sư phạm Do vậy, họ mới đạt hiệu quả cao trong giáo dục - đào tạo và được các em yêu mến, kính trọng Như vậy, phẩm chất của năng lực tư duy sư phạm kỹ thuật sẽ được coi như là một thành phần quan trọng trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên, có tác dụng quy định hiệu quả và chất lượng của các tác động giáo dục - đào tạo của họ Tư duy có vai trò chỉ đạo về lý luận và rất quan trọng trong đời sống, hoạt động cũng như giao tiếp của con người
Tư duy đã có khả năng mở rộng mọi giới hạn của hoạt động nhận thức để đi sâu vào cái bản chất của đối tượng mà cảm tính không thể có được
Tư duy sẽ giúp cho con người biết cách giải quyết được tốt các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Nó có khả năng tìm ra cái bản chất, tính quy luật của sự tác động của mọi sự vật, hiện tượng trong thực tại và mối quan hệ phổ biến của chúng
Tư duy có khả năng cải tạo lại thông tin do các quá trình nhận thức cảm tính
đem lại để phục vụ đắc lực cho mọi hoạt động cũng như quan hệ của con người
Nhờ có tư duy mà con người biết cách nắm vững các quy luật của đối tượng, do vậy, hoạt động sẽ tiết kiệm được sức lực và mang lại hiệu quả cao
Tư duy có những đặc điểm cơ bản như tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng, tính khái quát, tính chất lý tính, có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
và lấy ngôn ngữ làm phương tiện Thực chất của các quá trình tư duy là chủ thể tiến hành các hoạt động suy nghĩ để giải các bài toán hay hoàn cảnh có vấn đề và các vấn
đề Về mặt tâm lý học, có thể cho rằng bài toán và vấn đề đều là những tình huống
được bao gồm phức hợp các sự kiện được liên hệ với nhau theo những quy luật xác
định nhưng chưa có lời giải Chúng chỉ có thể được phát hiện ra thông qua các hoạt
động tư duy tích cực và sáng tạo của chủ thể khi họ đã tiếp nhận hoặc đứng trước
chúng Nhưng cấu tạo tâm lý của vấn đề lại phức tạp hơn cấu tạo tâm lý của bài toán - hoàn cảnh có vấn đề Hoàn cảnh có vấn đề được tạo ra do sự áp đặt một cách khách quan từ phía người khác mà dựa vào đó, chủ thể sẽ tiếp nhận và tiến hành giải để tìm
ra đáp số Còn vấn đề lại được tạo ra do sự áp đặt một cách chủ quan, mà chủ thể tự
Trang 39đặt ra khi phân tích thực tại rồi tự tiến hành các hoạt động tư duy tích cực và sáng tạo
để giải quyết chúng một cách gắng sức, độc lập và thiết thân (O.K.Trikhomirov 1969,
V.V.Davydov 1975 Nguyễn Quang Uẩn 1988 và những người khác) Tư duy là một quá
trình và tính quá trình đó đã được K.K Platonov (1977) xác định theo nội dung của sơ
Các giai đoạn của quá trình tư duy đã được xác định như sơ đồ trên mới chỉ phản
ánh được cấu trúc bên ngoài của hoạt động tư duy Nội dung của các cấu trúc bên trong của nó lại là một quá trình vận động phức tạp của các hành động ý nghĩ đi từ cái đ∙ biết đến cái phải tìm, từ sự kiện đến cái khái quát, các kết luận, lời giải, khái niệm, phán đoán, suy lý và các quyết định Các hành động ý nghĩ được diễn ra trong não của chủ thể thông qua các thao tác trí tuệ như phân tích - tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, cụ thể hoá và khái quát hoá Mục đích của hành động ý nghĩ này là xác
định lời giải cho bài toán hay vấn đề đang được đặt ra trước chủ thể khi dựa vào những tri thức và phương thức tư duy đ∙ có
Trang 40Tư duy có thể được coi như một hoạt động nhận thức độc đáo và sáng tạo của chủ thể Đối tượng của hoạt động tư duy là các bài toán hay các vấn đề đang đặt ra trước chủ thể và được họ nhận thức Mỗi một hoạt động tư duy cụ thể lại được kích thích bởi một hệ thống động cơ, trong đó, có một động cơ sẽ đóng vai trò chủ đạo Có loại động cơ tạo ý (motivasija) và động cơ kích thích (motiv) cho các hoạt động tư duy
cụ thể này Hoạt động tư duy của con người mang tính độc đáo vì nó phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú, tâm thế và cá tính của chủ thể Hoạt động nhận thức này mang tính sáng tạo vì nó đã đem lại cho chủ thể những sản phẩm mới Mỗi một hoạt
động tư duy cụ thể bao giờ cũng được thực hiện bằng những hệ thống hành động ý nghĩ nhất định mà mỗi một hành động tư duy này lại hướng vào việc thực hiện một mục đích bộ phận xác định, thông qua một hệ thống thao tác tư duy nhất định Hoạt động tư duy này sẽ được thực hiện khi dựa trên các phương tiện ngôn ngữ, chú ý, trí nhớ, tri thức, kỹ năng đã có và vào các điều kiện tâm - sinh lý cá nhân,
điều kiện tâm lý - x∙ hội cũng như các điều kiện vật chất - tinh thần cụ thể của các
hoàn cảnh tư duy
Khi nghiên cứu cấu trúc của tư duy con người, O.K.Tikhomirov (1969) đã xác
định được nội dung của cơ chế tâm lý của hoạt động này theo ba ý như sau: 1) Cơ chế kết hợp thường xuyên các thao tác tư duy lại với nhau thành một hệ thống, có cấu trúc phù hợp với cấu trúc thực của chính bài toán đang được đặt ra trước chủ thể; 2) Cơ chế mở rộng liên tục sự đảm bảo của các thành phần nhận thức cho hành
động; 3) Cơ chế tương tác giữa mức độ của tính tích cực tư duy với khả năng tiên
đoán đúng lời giải của chủ thể
Xét về phương diện lịch sử hình thành của loài cũng như cá thể, người ta có thể chia nó ra thành ba loại tư duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình ảnh và tư duy trừu tượng
Tư duy trực quan - hành động được hiểu là loại hình suy nghĩ mà việc giải quyết nhiệm vụ của nó sẽ diễn ra trong quá trình chủ thể thực hiện các hành động trực quan
cụ thể Loại hình tư duy này có cả ở người và động vật Người lao động tay chân sử dụng chủ yếu loại hình tư duy này
Tư duy trực quan - hình ảnh được hiểu là loại hình suy nghĩ mà việc giải quyết nhiệm vụ của nó sẽ thực hiện bằng sự cải tổ và chế biến các hình ảnh Loại hình tư duy này chỉ có ở người Trong khi giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động sáng tạo