1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số vấn đề về CHIẾN TRANH và lý LUẬN tác CHIẾN mới ở nước NGOÀI

27 505 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều năm đă trôi qua kể từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 và cuộc Chiến tranh lạnh Xô Mỹ kết thúc. Trước đây mọi người đều cho rằng đối kháng Xô Mỹ trong Chiến tranh Lạnh lŕ nguồn gốc căn bản lŕm tình hình thế giới căng thẳng và rối loạn. Mọi người tin rằng thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh thì tình hình thế giới sẽ hoà dịu, phẳng lặng, nguy cơ chiến tranh sẽ không còn. Nhưng sự thực lại đi ngược với mong muốn của mọi người

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN TRANH

VÀ LÝ LUẬN TÁC CHIẾN MỚI CỦA QUÂN ĐỘI NƯỚC NGOÀI

Phần I: MƯỜI ĐÁNH GIÁ VỀ CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI.

Nhiều năm đă trôi qua kể từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 và cuộcChiến tranh lạnh Xô- Mỹ kết thúc Trước đây mọi người đều cho rằng đối khángXô- Mỹ trong Chiến tranh Lạnh lŕ nguồn gốc căn bản lŕm tình hình thế giới căngthẳng và rối loạn Mọi người tin rằng thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh thì tình hìnhthế giới sẽ hoà dịu, phẳng lặng, nguy cơ chiến tranh sẽ không còn Nhưng sựthực lại đi ngược với mong muốn của mọi người

Thế giới còn một siêu cường xưng bá đã làm cho so sánh lực lượng trênthế giới mất cân bằng, từ đó chiến sự lại nổ ra liên miên và nghiêm trọng hơn sovới thời kỳ hai siêu cường tranh giành bá quyền trong thế giới hai cực Cho dùchiến tranh thế giới lớn không xảy ra, nhưng tình hình thế giới vẫn luôn rối ren

và bất ổn, hoà bình vẫn bị đe doạ ở nhiều khu vực Tình hình thế giới vẫn tồn tạinhiều nhân tố rất không xác định

Những năm trong thời kỳ giao thời giữa hai thế kỷ, các cuộc chiến tranh

và xung đột liên tiếp nổ ra ở Châu Phi, Châu Á và Châu Âu Với sự phát triển kỹthuật quân sự cao, tính chất của cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành có thay đổihay không? Liệu vai trò của vũ khí trang bị có áp đảo nhân tố con người haykhông? Cuộc chiến tranh chống khủng bố do Mỹ tiến hành sau sự kiện11/9/2001 đã tác động mạnh mẽ tới tình hình thế giới, nhưng cuộc chiến tranhnày là cuộc chiến không có chiến tuyến và không nhìn thấy kẻ địch thì có đượccoi là cuộc chiến tranh chính thức như lý luận đă đưa ra hay không? Người Mỹcoi chiến tranh chống khủng bố lŕ "cuộc chiến tranh thế giới thứ 4" (cuộc Chiếntranh Lạnh được coi lŕ cuộc "Chiến tranh thế giới thứ 3"), như vậy cuộc chiếntranh này sẽ kéo dài bao lâu mới kết thúc? Đây đều lŕ những vấn đề lý luận quân

sự cần có câu trả lời

Vừa qua nhà lý luận quân sự nổi tiếng người Anh Lawrence hiện là Giáo sư Trường đại học King, Viện sĩ học viện Hoàng gia Anh- có bàinghiên cứu và đưa ra 10 luận điểm về chiến tranh hiện đại ngŕy nay Mặc dù đâychưa phải là đáp án cuối cùng và còn nhiều điểm tranh luận, nhưng ý kiến củaông đáng để mọi người nghięn cứu, tham khảo L Friedman từng là tác giả củacác tác phẩm nổi tiếng: "Chiến lược hạt nhân và Chiến tranh Lạnh", "Chiến lượchạt nhân và Hoà bình hạt nhân", "Chiến tranh vùng Vịnh: Ngoại giao và chiếntranh của trật tự thế giới mới" Đánh giá về cuộc chiến tranh ngày nay,Friedman viết:

Friedman-Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh kỹ thuật quân sự cao ở các nước thế giới

thứ ba, dùng chiến tranh "đao to búa lớn" đối với một nước châu Phi nhỏ bé Vậy

nước nŕo, Mỹ hay châu Phi, là đại diện cho cuộc chiến tranh hiện đại? Câu trả

Trang 2

lời lŕ: "cả hai", nhưng nó lại không đại diện cho cuộc chiến tranh quy mô lớntheo quy ước giữa các cường quốc nước lớn, vì vậy cần phải xem xét lại tínhchất và định nghĩa lại về chiến tranh trong các sách giáo khoa kinh điển đă xuấtbản.

1- Về tính chất, chiến tranh vẫn là sự tiếp tục của biện pháp chính trị theomột hình thức khác như định nghĩa kinh điển của nhà quân sự người PhổClausewitz đưa ra 170 năm trước đây Chiến tranh lŕ biện pháp bạo lực mangmục đích chính trị Thay đổi hiện nay không phải lŕ định nghĩa về chiến tranh

mŕ thay đổi về mục đích và tính chất của chiến tranh Mỹ là nước lớn siêu cường

có ưu thế quân sự áp đảo, hiện không có nước nŕo hoặc tổ chức đồng minh nŕo

có thể chạy đua quân sự để giŕnh ưu thế hơn Mỹ Do sự phụ thuộc rất lớn lẫnnhau giữa các nước, nên không có lý do gì để một nước đi chinh phục lănh thổhoặc mở rộng lãnh thổ như trước Đấu tranh quyền lực theo truyền thống vẫndiễn ra ở châu Phi vŕ một số nước khác, nhưng bạo lực chỉ mang tính địaphương Cuộc chiến tranh ở những khu vực đó nhěn chung vẫn mang hình thứccủa chiến tranh hiện đại Viện trợ nhân đạo của các nước thế giới đối với cácnước nŕy đều xuất phát từ lợi ích của chính bản thân nước měnh muốn tránhngọn lửa chiến tranh lan tới họ

2- Trước đây phương thức giao tranh giữa các nước thường do các chínhphủ chính thức tuyęn chiến Nhưng từ Thế chiến thứ Hai tới nay, các nước đềutránh důng phương thức này Cơ sở hợp pháp của tuyên chiến đã được quy địnhtrong điều 51 của Hiến chương Lięn Hợp Quốc (LHQ), Trong đó viết: "Thựchiện quyền tự vệ của cá biệt một nước vŕ của tập đoŕn", tức là đòn đánh phủ đầucũng được thừa nhận một cách hợp pháp, nếu nước đó thực sự chứng minh đượcrằng họ đang đứng trước nguy cơ bị tấn công quân sự từ bęn ngoài

3- Quan điểm cho rằng các nước dân chủ không tiến hŕnh chiến tranh vớinhau Điều nŕy không đúng Hầu hết các nước trong hệ thống quốc tế hiện đạingŕy nay đều lŕ nước thuộc địa phi dân chủ của châu Âu trước đây Trong thế kỷ

20 đă xuất hiện rất nhiều quốc gia mới, một số nước là dân chủ, một số nướckhông dân chủ, nhưng một khi nước đó cho rằng chính nghĩa thuộc về họ thì họvẫn là kẻ hiếu chiến

4- Quan điểm cho rằng chiến tranh chính nghĩa được LHQ ủng hộ lŕkhông đúng Mặc dů điều 7 Hiến chương LHQ quy định khi Hội đồng Bảo anhŕnh động Nhưng mục đích của việc thŕnh lập LHQ là ngăn chặn chiến tranhchứ không phải được giao quyền tiến hành chiến tranh Sự đối đầu giữa cácnước Đông- Tây vŕ việc sử dụng quyền phủ quyết cũng đă cản trở các nướcthành viên LHQ đi tới thống nhất ý kiến đánh giá đối với chiến tranh hợp pháp.LHQ chỉ áp dụng hŕnh động đối với mối đe doạ an ninh của các nước, chứkhông có phản ứng đối với mối đe doạ mŕ lợi ích của công dân và dân tộc ítngười bị xâm phạm Hai nước Trung Quốc và Nga đều quan tâm, lo ngại tớinhững hoạt động chia rẽ tồn tại ở nước měnh, nên họ phản đối áp dụng hành

Trang 3

động quân sự của LHQ ở Côxôvô nhằm bào vệ dân tộc thiểu số Anbani Điềunày, LHQ không dám phê phán.

5- Cuộc chiến tranh chống khủng bố không thể coi là chiến tranh quy ước,nhưng tổ chức Al-Qaeda là ngoại lệ, bởi vì tổ chức này được sự ủng hộ hoàntoàn của Taliban ở Ápganixtan Khi tuyên bố cuộc chiến chống khủng bố, Bush

nói: "Bẳt đầu từ việc tấn công vŕo Al Qaeda sẽ tiến hành tới cùng khi nào phát hiện, ngăn chặn và đánh bại một tập đoŕn khủng bố nào còn lại trên thế giới".

Tuy nhiên, ý nghĩa quân sự của cuộc chiến chống khủng bố có thể bị thổi phồng,bởi lẽ tổ chức khủng bố đang muốn Mỹ coi những hoạt động của chúng lŕ mộthình thức chiến tranh, từ đó thu hút được sự chú ý của toŕn thế giới, dựa vào đóchúng có thể đưa ra những yęu sách chính trị với cộng đồng quốc tế Bởi vậy,nhiều nước trên thế giới chỉ muốn giới hạn hoạt động của thế lực khủng bố trongphạm vi của các hoạt động mang tính chất phạm tội, bạo lực phá hoại vŕ phipháp

6- Quan điểm cho rằng kỹ thuật thông tin hiện đại ngŕy nay đă giảm bớt

sự thần bí của chiến tranh là không đúng Thông tin hiện đại ngŕy nay có thểxuyên lục địa, đại dương vŕ không trung, có thể thu được từ nhiều phương tiện

vŕ thiết bị khác nhau Nhưng làm thế nào để phân biệt cái gì mình cần trong biểnthông tin khổng lồ như vậy? Làm thế nào để nhận biết được thật- giả trong biểnthông tin nŕy để dựa vŕo đó định ra quyết sách? Rő ràng đây là vấn đề khó khăn.Các nhŕ hoạch định quyết sách quân sự vŕ chính trị làm thế nào lựa chọn đượcnhững thông tin quan trọng nhất, tin cậy nhất trong biển thông tin tình báo thuđược hàng ngày Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn Một điều chúng ta cần phảiphân biệt rằng tin tức chưa phải lŕ tin tình báo, muốn trở thành tin tình báo phải

có nghiên cứu, phân tích và rút ra kết luận

7- Tất cả cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ là cuộc chiến tranh khôngcân xứng, bởi vì trong tương lai không có hiện tượng hai nước có thực lực quân

sự hoàn toàn ngang bằng nhau Kết quả cuối cùng của chiến tranh được quyếtđịnh bởi thực lực kinh tế vŕ chế độ chính trị có chịu nổi sự tięu hao và bổ sunglực lượng đã bị thiêu huỷ trong chiến tranh hay không? Mỹ sẽ đánh bất kỳ nướcnào hiện nay trên thế giới nếu giao chiến với Mỹ theo điều kiện quân sự của Mỹ.Nhưng Mỹ và phương Tây sẽ bị sa vào vòng nguy hiểm của thất bại

8- Quan điểm cho rằng ưu thế trên không là nhân tố quyết định thắng bạicủa chiến tranh hiện đại Điều nŕy không hoàn toàn đúng Trong cuộc chiếntranh vùng Vịnh 1991 và cuộc chiến tranh Irắc năm 2003, Mỹ đều chiếm ưu thếtuyệt đối tręn không không để đối phó với chiến tranh du kích, nếu như lựclượng du kích này lại ẩn nấp, trà trộn trong dân chúng thì ưu thế trên không sẽ bị

vô hiệu hoá

9- Quan điểm cho rằng chiến tranh hiện đại kỹ thuật cao có thể giảm bớtthương vong Điều nŕy không đúng Quan điểm của các nước phương Tây muốn

Trang 4

dùng kỹ thuật khoa học quân sự cao để giảm số lượng thương vong Trong chiếntranh Irắc, Mỹ và liên quân làm được điều nŕy Nhưng cũng chiến tranh đó ở cácnước châu Phi như Angôla, Cônggô, Ruanđa, Xômali, quân Mỹ có 18 người bịthiệt mạng trong khi Xômali có tới hơn 1000 người thiệt mạng Tiếp đó, tại cuộcchiến tranh ở Ruanda thě đă xảy ra các cuộc tàn sát tắm máu làm trên 800 nghìnngười thiệt mạng Như vậy, trong chiến tranh hiện đại thì chỉ người Mỹ, ngườiphương Tây giảm bớt thương vong, nhưng dân chúng nước đối phương không

hề giảm bớt thương vong

10- Quan điểm của các nhŕ quân sự Mỹ cho rằng ở bất kỳ thời gian và địađiểm tác chiến nŕo, quân Mỹ đều giŕnh được thắng lợi Quan điểm nŕy khôngđúng Mỹ có khả năng giŕnh được thắng lợi ở hầu hết các cuộc giao chiến,nhưng Mỹ luôn phải tính xem khả năng chịu đựng được mức độ thương vong tớibao nhięu Bởi lẽ diễn biến thực tế của chiến tranh sẽ không theo ý định tínhtoán chủ quan của Mỹ lŕ kết thúc nhanh chóng Nếu phải đồng thời giao tranhtręn một số mặt trận thì sẽ có nguy cơ làm tiêu hao và tổn thất lớn nguồn tàinguyên và thực lực kinh tế của Mỹ Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng duytrì một đế quốc khó khăn hơn nhiều so với hěnh thành một đế quốc

Phần II: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ BA LOẠI HOÀ BÌNH

SÁU KIỂU CHIẾN TRANH

Theo tài liệu của Uỷ ban Nghiên cứu Quốc phòng Pháp Ứng với thời đại nôngnghiệp, thời đại công nghiệp vŕ thời đại hậu công nghiệp (thời đại thông tin)theo cách chia về sự phát triển thế giới của nhŕ tương lai học người Mỹ A.Toffler, có ba loại hoà bình và 6 kiểu chiến tranh theo phân tích của đại tá hảiquân Pháp J Michenlet, tóm tắt như sau:

I- BA LOẠI HOÀ BÌNH VÀ KHẢ NĂNG ỔN ĐỊNH CỦA CHÚNG

N n t ng c a 3 th i ền tảng của 3 thời đại ảng của 3 thời đại ủa 3 thời đại ời đại đạii

Thời đại nông nghiệp

Thời đại công nghiệp

Thời đại hậu công nghiệp

Kinh tế Tự cấp tự túc Sản xuất hàng loạt Sản xuất chuyên sâu

Trang 5

Việc chuyển xã hội từ thời đại nông nghiệp (TĐNN) sang thời đại công nghiệp(TĐCN) diễn ra tự phát, khi 70% dân số nam giới của một nước được xoá můchữ, nghĩa là biết đọc, viết và đếm Việc chuyển này thường kèm theo nhữngchuyển động mạnh về chính trị và ý thức hệ cấp tiến, rồi cuối cùng tàn lụi trongvài thập kỷ, khi số đông nữ giới cũng không còn mù chữ Tỷ lệ này mãi gần đâymới đạt được ở Ả-rập Xę-út và Pa-ki-xtan; còn I-ran mất khoảng 20 năm Toàn

bộ Trung Đông có những đột biến gắn liền với việc chuyển thời đại, có thể vívới những cuộc chiến tranh tôn giáo ở châu Âu

Chưa rõ các điều kiện chuyển đến thời đại hậu công nghiệp (TĐHCN), nhưngviệc phổ biến biết tiếng nước ngoŕi, truy cập Internet và điện thoại di động rőràng là những tiêu chuẩn xác đáng

1- Hoà bình phong kiến của TĐNN (tiền công nghiệp)

Ngày nay, nhiều nước đang còn ở TĐNN, nhất là châu Phi, Trung Á và sốngdựa vào khoáng sản và nông sản của họ

Các nhóm người là bộ lạc sở tại, chính quyền là phong kiến Các đế quốc đa sắctộc có thể được lập ra, theo các nguyęn tắc của chế độ phong kiến Chúng sụp

đổ khi chế độ công dân kiểu nhŕ nước quốc gia được áp đặt

Khôi phục hoà bình tại một khu vực có cấu trúc tinh thần nông nghiệp cần cómột chính quyền vững chắc, lập ra theo kiểu uỷ nhiệm của Liên Hợp Quốc, vớichức năng không chỉ ngăn chặn nổi loạn, mŕ đặc biệt lŕ nâng cao trình độ họcvấn để tạo thuận lợi chuyển đến thời đại công nghiệp Nhŕ nước quốc gia có thểđược thiết lập, tôn trọng các nguyęn tắc nêu ở phần dưới Ví dụ, khó có thể lập

ra một nhà nước ở Xô-ma-li hoặc Áp-ga-ni-xtan như mong muốn của Liên HợpQuốc Giải pháp duy nhất để dẫn tới hoà bình là lập ra một chế độ uỷ nhiệm củaLiên hợp quốc để một nước ngoài quản lý đất nước đó hoặc một lực lượng đaquốc gia cai quản như chính những người Áp-ga-ni-xtan đňi hỏi

2- Hoà bình quốc gia của TĐCN

Thế kỷ XX chứng kiến sự tiêu vong của các đế quốc, là điển hình của TĐNN và

sự lên ngôi của nhà nước-quốc gia, là điển hình của TĐCN Các nước côngnghiệp hoá mới nằm trong thời đại nŕy, như ở châu Á, Nam Mỹ và Đông Âu

Ở thời đại này, hoà bình chỉ ổn định với 3 điều kiện:

+ Biên giới nhà nước trùng với biên giới quốc gia Việc bảo vệ các dântộc ít người bị áp bức ở nước láng giềng thường là cái cớ của một cuộc xâmlược Giải pháp là vạch biên giới giữa các tộc chính và tổ chức chuyển dân, như

đã diễn ra ở Ba Lan và Đức sau thế chiến II, và giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan (trừvùng Ca-sơ-mia) Lưu ý là các dân tộc ít người không có nhà nước thì không

Trang 6

được bảo vệ tốt và phải đợi đến khi bước vŕo thời đại TĐHCN để không cňn longại về sự thống trị của tộc chiếm đa số, ví dụ tięu biểu: người Do thái.

+ Hoà bình chỉ ổn định trong một nhà nước khi chính quyền từ xã hội cũcủa địa chủ chuyển sang chính quyền mới của tư bản công nghiệp Dân chủ tự

do là hình thái chính trị duy nhất ổn định ở TĐCN Nó có thể bị áp bức từ bęnngoài, như đã diễn ra ở Đức và Nhật Bản

+ Nguồn gốc xung đột thứ 3 lŕ ý thức hệ Có ý thức hệ cấp tiến được hěnhthành khi bước vào thời đại công nghiệp, khi dân số tăng lęn và mất đi gốc rễnông dân của họ Lúc nŕy quốc gia mới chứa đựng nguy cơ với chính měnh vàcác láng giềng Có thể gọi đây là một loại "khủng hoảng thời kỳ non trẻ" của cácquốc gia Tiếp đến là việc giáo dục phụ nữ dẫn đến kiểm soát sinh đẻ, vŕ dânchúng tiến đến hiện đại Rồi hŕng loạt thanh niên từ thất nghiệp nay có công ănviệc làm, về ý tưởng quay trở lại thời đại cũ không hấp dẫn dân chúng đang bắtđầu thưởng thức tiện nghi công nghiệp Ý thức hệ không cňn là nguồn gốc xungđột I-ran là ví dụ rõ ràng về sự chuyển đổi nŕy với tính năng động dẫn đến giảmmột cách đặc biệt tỷ lệ sinh đẻ

Nếu xét trường hợp I-rắc, gồm người Cuốc, người Si-ai và người Sun-ny,

bị khuất phục trước một thị tộc độc tài ý thức đảng BAAS (Xã hội phục hưng rập), có thể thấy nước này chưa hội tụ đủ điều kiện để hưởng một nền hoŕ bình

A-ổn định

Khái quát hơn, căng thẳng hiện nay giữa Hồi giáo vŕ phương Tây khôngthể giải quyết bằng vũ lực mà bằng xoá mù chữ và thúc đẩy dân chúng A-rập đicon đường công nghiệp hoá Công cụ quân sự không đủ để giải quyết các xungđột, nhưng có thể sử dụng để giảm nhẹ hậu quả trong khi chờ các nước đóchuyển từ TĐNN sang TĐCN vŕ ổn định dân chúng

3- Hoà bình trong làng toàn cầu của TĐHCN

Ngày nay, chúng ta chứng kiến sự ra đời của một thế giới dựa vào thôngtin, lúc này gồm những trung tâm đô thị của các nước G7 Cuộc cách mạng nàyđang đổi mới tất cả các mặt của xă hội

Đặc điểm cơ bản của xă hội như vậy là tự do lưu thông thông tin, điều này tăngcường tự do tư tưởng và dân chủ hoá Nguyên tắc phân quyền trở thành nền tảnghoạt động của xã hội, và các trung tâm có quyền quyết định tăng lęn Ngay cáctập thể địa phương có thể đưa ra những nguyęn tắc địa phương, từ đó từng cộngđồng lợi ích, nhất lŕ dân tộc ít người, có thể hưởng những quyền phù hợp với họ

Hoạt động cảnh sát tỏ ra cần thiết, từ gěn giữ hoà bình khu vực đến việccan dự vào công việc giữa các nhà nước Nhà nước có thể ban đầu là người duynhất nắm giữ hợp pháp vũ lực (cảnh sát, quân đội, nhŕ tù), nhưng mất dần tính

Trang 7

chính thống trong quyết định về vai trò của nó vì lợi ích của các tổ chức an ninhtập thể, và lợi ích của một nền tư pháp độc lập.

"Kịch bản" về sự chuyển đổi hỗn độn giữa hai thời đại sẽ lập lại, nhŕ nước trung

ương tự bảo vệ trước những trung tâm đối kháng nổi lęn Một thế giới như vậy

có thể ổn định khi nguyęn tắc phân quyền mở rộng được áp dụng không nhân

nhượng, như với tất các "diễn viên" khác, nhà nước phải liên tục chứng tỏ tính

chính thống của mình trong từng lĩnh vực mà họ hành động và cuối cùng thay

bằng một "diễn vên" khác thích ứng tốt hơn.

II- VỀ SÁU KIỂU CHIẾN TRANH

Đặc điểm các xung đột trong 3 giai đoạn phát triển

Chiến tranh có những khác biệt cơ bản ở từng giai đoạn phát triển

Vũ khí thay đổi TĐNN sử dụng công cụ bất kỳ lŕm vũ khí cá nhân TĐCN thực

hiện huỷ diệt hŕng loạt TĐHCN sẽ không sử dụng bạo lực quá đáng bởi vě nó

có vũ khí "thông minh" để giới hạn vŕo những mục tiêu cần thiết Tuy nhiên, vũkhí có thể mua bán nên không phải vũ khí đưa ra sử dụng đă đủ để xác định đặcđiểm của một cuộc xung đột Chiến binh của bộ lạc không sợ chết và không đắn

đo khi cần phải chết Chiến binh thời đại công nghiệp cố gắng tôn trọng luật lệxung đột vũ trang

Chiến tranh TĐHCN có sự kiềm chế của quan điểm "không người chết", ở cảđối phương Giá trị cuộc sống trở thành một thông số rất ý nghĩa: nó xác địnhcác nguyęn tắc mỗi bên đối địch phải tôn trọng mục tięu thay đổi Nổi nhất ởTĐNN, một nhŕ nước chiến đấu chừng nŕo họ còn khả năng thống trị hoặckháng cự Ở TĐHCN, công luận lŕ thước đo tính chính đáng của kẻ chiến thắng.Nếu hai bên đối địch có nguồn gốc thời đại khác nhau, có thể có những lầm lẫn,mỗi bęn sẽ tìm thấy chiến thắng theo tiêu chí của mình và xung đột không có lý

do để kết thúc

Giá trị cuộc sống Không có Có thể hy sinh vô cùng

Tiêu chí chiến

thắng

chiếm đóng lănhthổ

Tương quan sứcmạnh

Tính chính đáng

Đối xứng, đối xứng lệch, không đối xứng

Trang 8

Nếu hai bên đối địch có cůng nguồn gốc thời đại, xung đột lŕ đối xứng, lŕ lựclượng có mặt không cùng số lượng, không chung biện pháp (có lễ gọi là đốixứng lệch) Ngược lại, hai bên đối địch có nguồn gốc thời đại khác nhau, xungđột có tính không đối xứng, dů cân bằng về số lượng người có mặt và nguồn tàichính.

Đặc điểm đối xứng hŕm ý so sánh các chuẩn mực về biện pháp như nhau Kếtquả so sánh có thể là sự không cân đối lớn giữa hai đối thủ để gọi lŕ đối xứnglệch Ví dụ, có thể so sánh Ấn Độ với Nę-pan để từ đó suy ra nước nŕo có tácđộng đến nước kia

Ngược lại, có những trường hợp không có những yếu tố thích đáng để so sánhhai đối thủ, ví dụ so sánh các nước SNG với nước Nga lŕ không có nghĩa khi nói

về những thực thể có tính chất khác nhau, nhưng có căng thẳng giữa hai bęn vàkhó có thể giải quyết chừng nào Nga không tiến hoá Đây thuộc phạm trù căngthẳng không đối xứng

6 kiểu chiến tranh

Chi n tranh thay đổi tính chất: vũ khí, quy tắc mục tięu tuỳ theo giai đoạni tính ch t: v khí, quy t c m c ti u tu theo giai o nất: vũ khí, quy tắc mục tięu tuỳ theo giai đoạn ũ khí, quy tắc mục tięu tuỳ theo giai đoạn ắc mục tięu tuỳ theo giai đoạn ục tięu tuỳ theo giai đoạn ęu tuỳ theo giai đoạn ỳ theo giai đoạn đ ạiphát tri n c a t ng b n ủa 3 thời đại ừng bęn đối địch Có 3 giai đoạn phát triển tięu biểu cho ęu tuỳ theo giai đoạn đối địch Có 3 giai đoạn phát triển tięu biểu cho địch Có 3 giai đoạn phát triển tięu biểu choi ch Có 3 giai o n phát tri n ti u bi u chođ ại ęu tuỳ theo giai đoạn

nh ng khác bi t r t áng chú ý, d n ệt rất đáng chú ý, dẫn đến 6 kiểu phối hợp vŕ cũng ngần này ất: vũ khí, quy tắc mục tięu tuỳ theo giai đoạn đ ẫn đến 6 kiểu phối hợp vŕ cũng ngần này đ n 6 ki u ph i h p v c ng ng n n yối địch Có 3 giai đoạn phát triển tięu biểu cho ợp vŕ cũng ngần này ŕ cũng ngần này ũ khí, quy tắc mục tięu tuỳ theo giai đoạn ần này ày

ki u chi n tranh khác nhau, trong ó 3 thu c ph m trù đ ộc phạm trù đối xứng và 3 không ại đối địch Có 3 giai đoạn phát triển tięu biểu cho ứng và 3 khôngi x ng v 3 khôngày

là ẩn số, nhưng chúng có thể phác hoạ như sau:

1- Chiến tranh cổ xưa:

Đây là kiểu chiến tranh đối xứng Tôn Tử đă xây dựng lý thuyết cho kiểu xungđột không có đặc điểm quốc gia nŕy tất cả các cuộc chiến tranh thời cổ và trung

Trang 9

cổ đều thuộc phạm trù đó Kiểu chiến tranh đó ngŕy nay vẫn xuất hiện ở châuPhi (Ăng-gô-la, Li-bê-ri-a, Dai-a ).

Ngược lại, nếu những cuộc chiến tranh ý thức hệ đầu tięn (chiến tranh tôn giáothời kỳ phục hưng) giống các xung đột cổ xưa về kĩ thuật chiến đấu vŕ quy tắc,thì việc nghiên cứu một vấn đề đồng nhất về ý thức hệ có thể gắn chúng với cáccuộc chiến tranh hiện đại

2- Chiến tranh du kích: TĐNN chống TĐCN

Đây lŕ chiến tranh không đối xứng Clausewitz gọi kiểu xung đột nŕy là chiếntranh của nông dân và ông xem như không xuất phát từ nghệ thuật chiến tranhnói chung

Quân đội công nghiệp phân biệt thường dân với quân nhân, tôn trọng luật lệxung đột vũ trang, thực hŕnh bắt tù binh, quân đội nông dân tiến công bất cứ ai

mà họ có thể tiến công, bất chấp luật pháp quốc tế, và thản nhiên tự treo cổ khi

+ Hoà bình chỉ đạt được như tất cả các thủ lĩnh địa phương chịu khuất phụcchính quyền thực dân, điều nŕy trở lại việc chiếm đóng lănh thổ, hoặc ngược lạikhi quân đội thực dân ra đi Như vậy chiến thắng cuối cůng dành được tuỳ theotiêu chí của bên đối địch kia chứ không theo tięu chí bên này

Chiến tranh giải phóng dân tộc, sử dụng các kĩ thuật xuất phát từ kiểu xung đột

đó, có một số đặc điểm của chiến tranh hiện đại Luật pháp quốc tế về xung đột

vũ trang thừa nhận điều đó, thừa nhận các quy tắc đặt ra cho các nhŕ nước là cólợi cho các mặt trận giải phóng dân tộc (không giống nhau v.v) Chiến tranh

giành độc lập được quy tắc hoá như vậy có tính đối xứng hơn.

3- Chiến tranh hiện đại (hoặc kinh điển) của TĐCN

Đây lŕ chiến tranh đối xứng giữa hai nhà nước mà Clausewitz đă hệ thống hoáđầy đủ vŕ được giảng dạy ở tất cả các nhŕ trường quân sự Kiểu xung đột nŕy làđối tượng của các quy tắc, luật lệ về xung đột vũ trang, được phổ biến vŕ vậndụng Đây lŕ kiểu chiến tranh duy nhất mà luật lệ được cả hai bên tôn trọng Vũ

Trang 10

khí hạt nhân có tác dụng răn đe kiểu chiến tranh hiện đại nŕy Các ví dụ về chiếntranh hiện đại có nhiều, từ chiến tranh ly khai ở Mỹ đến hai cuộc thế chiến.

4- Cuộc cách mạng những vấn đề quân sự: TĐCN chống TĐHCN

Clausewitz chưa nhận thấy hết Lần này một nhà nước, còn ở giai đoạn côngnghiệp sử dụng vũ lực để chống lại đối thủ ở giai đoạn hậu công nghiệp: chiếntranh Vůng Vịnh Ngược lại, các quy tắc mới đặt ra cho thế giới hậu côngnghiệp: tách rięng sức mạnh và tính chính đáng không người chết Hội đồngBảo an Lięn Hợp Quốc là tổ chức duy nhất phán xét tính hợp pháp của mộtcuộc chiến tranh Hành động vũ lực không được thừa nhận, như ở đảo Síp, TâyXa-ha-ra hoặc Pa-le-xtin

Mỹ nhận thức đầy đủ điều đó vŕ hy vọng sự phát triển mạnh mẽ công nghệ chophép họ giữ một lợi thế mà họ gọi là cuộc cách mạng những vấn đề quân sự(RMA) Tuy vậy, giới lãnh đạo Mỹ vẫn chưa chấp nhận những kiềm chế mớicủa thế giới hậu công nghiệp trong đó Mỹ không thể theo đuổi lợi ích của họbằng sức mạnh nếu không có đčn xanh của LHQ và trước hết là dư luận trongnước họ cũng sẽ ngăn cản, như đă diễn ra thời gian gần đây trong cuộc đối đầucủa Mỹ với I-rắc

Dù là chính đáng, hành động quân sự ngày càng hạn chế Các công ước La Hay

và Giơ-ne-vơ tỏ ra không đủ Công luận đňi hỏi hầu như không có tổn thất nhânmạng Ngay tổn thất của đối phương cũng phải được bŕo chữa thận trọng trướcphán xét của toà án hình sự quốc tế Bên cạnh đó, chiến tranh với việc sử dụngngày càng tăng công nghệ thông tin, trinh sát bằng vệ tinh, bom đạn "thôngminh", vŕ còn chịu sức ép của kinh tế, luật pháp quốc tế, truyền thông đại chúng

Không tính các nhà nước, các tổ chức khác dính líu cũng phải chứng tỏ tínhchính đáng của họ theo những tiêu chí, và có sự đồng thuận, như trường hợp một

số nước SNG đă giành được một sự giúp đỡ đặc biệt của giới truyền thông đạichúng Các tổ chức đó nhằm vŕo nhà nước để thúc đẩy các giá trị hậu côngnghiệp: điều kiện sinh thái, các quyền xă hội, v.v

Ở TĐHCN, điều có thể lŕ ảo tưởng nếu trông cậy vào răn đe hạt nhân để ngănchặn xung đột với các nhŕ nước còn ở giai đoạn công nghiệp, và có lẽ chỉ có thểdựa vào thành tựu công nghệ tiên tiến vũ trang cho lực lượng cổ điển mới hyvọng hiệu quả răn đe

Các quy tắc hoàn toàn không đối xứng, nên thế giới hậu công nghiệp phải tìm ralợi thế của một trật tự khác: công nghệ, kinh tế, pháp luật

Một ví dụ về kiểu xung đột nŕy là cuộc xung đột chống cộng đồng quốc tế củachủ nghĩa A-pa-thai ở Nam Phi Chiến tranh Vůng Vịnh và di hại của nó cũng lànảy sinh từ kiểu xung đột nŕy, dù công nghệ đã sử dụng vẫn chủ yếu là TĐCN;kết quả là không đối xứng một cách điển hěnh: cộng đồng thế giới hŕi lòng là đã

Trang 11

khôi phục Cô-oét, còn Xát-đam Hút-xen vẫn nắm giữ chính quyền Không bênnào chiến thắng theo tiêu chuẩn của từng bên và kết quả cuối cùng là không ổnđịnh, điều nŕy cho thấy rõ ràng tính chất không đối xứng của cuộc chiến tranhđó.

5- Chiến tranh thực dân mới: TĐNN chống thời đại hậu công nghiệp

Các cuộc chiến tranh này càng không đối xứng hơn

Vũ khí của cách mạng quân sự mới rất ít tác động đến một xă hội nông nghiệp.Ngược lại những người thất học cũng không thể làm được điều gě lớn ở xa họ,trừ vào lúc đặc biệt: khi họ bắt đầu được trang bị công nghệ cao Điều nŕy có thểxảy ra trước khi họ có thời gian để phát triển ý thức của họ đối với các quy tắclięn quan đến luật xung đột vũ trang, thậm chí quyền sống của họ Phương thứchŕnh động khủng bố được thực hiện đơn giản chỉ vě muốn khai thác điều khácbiệt về giá trị cuộc sống, không phụ thuộc vŕo các kĩ thuật đưa ra sử dụng Đó lŕ

sự kiện đă xảy ra ngày 11-9-2001 ở Mỹ

Ở đây chỉ có những lệch lạc về mục đích mŕ mỗi bên dính líu tìm cách đạt được.Hai thế giới lięn quan khác nhau đến mực không bęn nào có ảnh hưởng đến bênkia Những con người tiền công nghiệp chịu tai hoạ của toàn cầu hoá nói chung,nhưng họ không làm được điều gě lớn Dư luận thế giới mất hi vọng về nhữngtập quán nhất định, mŕ họ phán xét là cổ lỗ, ti tiện nhưng cũng không thể làmđược điều gě lớn, ngoại trừ giáo dục và kiên nhẫn

Thắng lợi của TĐNN đă diễn ra khi các nước SNG, giới truyền thông đại chúng

vŕ tất cả các "diễn viên" phương Tây đă rời bỏ khu vực của kiểu chiến tranh chẳng

muốn chống lại nữa, phó mặc nó cho số phận (đây chính lŕ điều mŕ Osama Binladen đňi cho A-rập Xê-út) Thắng lợi ở TĐHCN đňi hỏi chiếm đóng lănh thổlâu dài và có chiều sâu điều này cần có nỗ lực lớn (như ở Ban-căng)

Khi xảy ra một cuộc khủng hoảng bạo lực tại một khu vực ở TĐNN (do đókhông có nhŕ nước theo nghĩa đă chấp nhận) các nghị quyết LHQ, luật phápquốc tế và sức ép truyền thông đại chúng, không đủ để giải quyết vấn đề Cầnphải těm kiếm một nước chấp nhận nguy cơ về cuộc sống với người của họ,cung cấp cho họ khả năng lŕm chậm lại sức mạnh mà TĐHCN mang lại, và yêucầu họ chiếm đóng lãnh thổ đủ lâu dài để bỏ qua về mặt trí tuệ và những rối loạn

ở giai đoạn công nghiệp (xoá mù chữ và chuyển dân số) Nếu không tìm thấymột quốc gia như vậy chấp nhận thực hiện "quyền xen vào", chỉ còn cách camchịu và tạm cách li khu vực và chờ cho cơn sốt thuyên giảm trong khi tỏ rathương xót về mặt ngoại giao số phận đă dành cho các nạn nhân

Chiến dịch Mỹ tiến hành ở Áp-ga-ni-xtan cho thấy một ví dụ rõ ràng về kiểuxung đột này và hoà bình khó có thể đạt được nếu không có chiếm đóng dŕy đặclănh thổ Cuộc xung đột I-xra-en – Pa-le-xtin cũng nảy sinh từ phạm trù đó vàcho thấy nó khác biệt với kiểu chiến tranh giữa hai nhà nước

Trang 12

6- Xung đột TĐHCN

3 kiểu xung đột, bằng bạo lực hoặc sức ép, có thể phân biệt trong thế giới hậucông nghiệp: tranh chấp công cụ sức mạnh; xung đột kinh tế, và xung đột phápluật về tính chính đáng

Trong thế giới hậu công nghiệp, nhà nước giữ độc quyền về công cụ sức mạnh:quân đội, cảnh sát, nhưng họ không lŕm chủ được tính chính đáng trong sử dụngsức mạnh, vŕ điều trở thŕnh khó quan niệm khi xảy ra chiến tranh giữa họ Tuynhiên, có những đối thủ khác có thể tranh giành độc quyền về sức mạnh đóhoặc luật pháp mŕ tính chính đáng bęnh vực: tội phạm quốc tế có tổ chức, các

giáo phái, các phong trào chính trị dân chủ Đây sẽ lŕ những cuộc "chiến tranh" duy nhất bạo lực về vật chất trong thế giới hậu công nghiệp Chống lại các "diễn viên" bạo lực phi nhà nước, răn đe không có tác dụng, nęn nhà nước phải có

những đơn vị có khả năng hŕnh động trong lňng xã hội dân sự hoặc tổ chức biếnbinh phù hợp với vai trò hậu công nghiệp đó

Các xung đột kinh tế không tŕn phá vật chất ít khi được coi lŕ xung đột thực sự,nhưng tác động của chúng được thừa nhận ở những thất bại vŕ người bị thấtnghiệp Nhà nước được các tổ chức đa quốc gia sử dụng vŕo cuộc đấu tranh cho

sự tồn tại của họ vŕ nghiên cứu tìm kiếm lợi nhuận Để có vị trí tốt nhất trongcác xung đột đó, các nhŕ nước phải đấu tranh với họ để xem ai quyết định cácquy tắc mŕ kẻ khác buộc phải tôn trọng

Thế giới hậu công nghiệp có đặc trưng thể hiện ở sự cần thiết thường xuyęn đối

với mọi "diễn viên" là phải chứng tỏ tính chính đáng của mình: điều này cũng làm

cho chính nhà nước phải nỗ lực trong từng lĩnh vực tinh thông truyền thống Họ

sẽ phải tự xoá bỏ khi một "diễn viên" khác tỏ ra thích ứng hơn, có thể đây lŕ một tổ

chức trên quốc gia, dưới quốc gia, phi chính phủ hoặc tư nhân Trong trườnghợp xảy ra xung đột về tính chính đáng, bęn chiến thắng là bên thành công trongviệc khuất phục họ có tính chính đáng hoặc hợp pháp hơn đối thủ, mŕ trọng tài làtrưng cầu dân ý, truyền thông đại chúng, công lý quốc tế, v.v ở đây, vẫn sẽkhông có cái chết vật chất, mà những gì liên quan đến lý do tồn tại của toàn bộcác khu vực nhà nước

Trong thế giới hậu công nghiệp, điều cấp bách nhất lŕ tư duy về vai trò của nhànước và sau đó là tổ chức nó

Kết luận: chấp nhận tính đa dạng

Giáo lý cho rằng nhà nước-quốc gia là "diễn viên" duy nhất trong quan hệ quốc tế

ngăn cản việc kết thúc nhiều cuộc xung đột vŕ đạt được một nền hoŕ bình bềnvững ở nhiều khu vực là điều hoang đường

Phải chấp nhận việc xem xét là dân chúng trên toàn thế giới không chia sẻ hoàntoàn các giá trị mà chúng ta hình dung là phổ biến, đặc biệt giá trị cơ bản nhất-

Trang 13

giá trị cuộc sống con người Điều nŕy tác động đến cách điều hŕnh chiến tranhcũng như cách khôi phục hoà bình sau một cuộc xung đột.

Vì những khác biệt đó chỉ dựa vào giai đoạn phát triển, các dân tộc có xu hướngchia sẻ về lâu dŕi các giá trị cao thượng nhất, và cần phải để họ có thời gian đánhgiá chúng theo nhịp độ của họ, trong khi sử dụng sức mạnh quân sự để tự bảo vệchứ không phải áp đặt bằng vũ lực các giá trị chưa phổ biến

lý luận tác chiến Bài viết này dựa vào những tài liệu có uy tín của nước ngoài

để qui nạp, tìm tòi, phân tích những phát triển và sáng tạo mới về lý luận tácchiến của lý luận quân sự nước ngoài đối với tác chiến thông tin, tác chiến liênhợp mới, tác chiến vũ trụ, tác chiến chính xác

I- LÝ LUẬN TÁC CHIẾN THÔNG TIN

Từ năm 1976, khi nhŕ lý luận quân sự Mỹ Tôm Rô-nan đưa ra khái niệm tácchiến thông tin, đặc biệt lŕ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, tác chiến thông tinvẫn là vấn đề bàn luận sôi nổi của các nhà lý luận quân sự các nước Mấy nămgần đây, giới lý luận quân sự của các quốc gia chủ yếu tręn thế giới, đặc biệt lŕ

Mỹ, Nga, đă có những nhận thức sâu sắc và phát triển hơn đối với tác chiếnthông tin

1- Lý luận tác chiến thông tin của quân đội Mỹ

Một số văn kiện chính thức mŕ quân đội Mỹ mới ban hành gần đây đă có nhữnggiải thích mới đối với tác chiến thông tin như sau:

1 Sử dụng khái niệm "hành động thông tin" (IO).

Từ năm 1996, Bộ Quốc Phòng Mỹ đưa ra "hành động thông tin" trong "Báo cáo quốc phòng" đến nay, các văn kiện chính thức vŕ điều lệnh của quân đội Mỹ đă

sử dụng thuật ngữ này "Hành động thông tin" là "hành động gây ảnh hưởng đếnthông tin vŕ hệ thống thông tin của địch, bảo vệ thông tin vŕ hệ thống thông tincủa ta trong thời bình, thời khủng hoảng và thời chiến"; và "tác chiến thông tin"(IW) là "hành động thông tin" thời khủng hoảng và thời chiến

2 Phát triển thêm nội dung của tác chiến thông tin.

Ngày đăng: 20/09/2016, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w