Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu điện tín hàng hải để tìm ra đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong nó, làm nền tảng biên soạn cuốn cẩm nang soạn và đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội,
Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Phạm Đăng Bình
2 PGS.TS Mai Xuân Huy
Phản biện 1: GS.TS Đinh Văn Đức
Phản biện 2: GS.TS Bùi Minh Toán
Phản biện 3: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân Hà Nội
Vào hồi…… giờ……phút, ngày………….tháng…….năm
2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Phạm Văn Đôn (2005), Elliptical expressions in English marine radiogram
(Diễn đạt tỉnh lược trong điện tín hàng hải tiếng Anh) ĐHNN, ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ bằng tiếng Anh
2 Phạm Văn Đôn (2005), “Tỉnh lược, một yếu tố bắt buộc trong các bức điện tín hàng hải viết bằng tiếng Anh”, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Hàng hải số 3-4 tháng 11/2005, trang 93
3 Phạm Văn Đôn (2006), Đề xuất phương pháp diễn đạt tỉnh lược tiếng Anh
trong ngành vô tuyến điện hàng hải, Đại học Hàng hải Việt Nam, NCKH cấp
Trường
4 Phạm Văn Đôn (2006), Đề xuất phương pháp dịch tối ưu cho việc dịch tài liệu
tiéng Anh chuyên ngành, Đại học Hàng hải Việt Nam, NCKH cấp Trường
5 Phạm Văn Đôn (2006), “Cấu trúc Verb-ing và những khó khăn người dịch tài liệu tiếng Anh chuyên ngành hàng hải hay gặp”, Tạp chí Khoa học- Công nghệ hàng hải số 5 tháng 3 năm 2006 Trang 116
6 Phạm Văn Đôn (2008), “Phương pháp dịch thuật các nhà chuyên môn hàng hải thường dùng”, Tạp chí Khoa học- Công nghệ hàng hải số 13 tháng 4/2008,trang 89
7 Phạm Văn Đôn (2014), “Điện tín hàng hải- Một hình thức liên lạc đặc biệt trên biển” Tạp chí Ngôn ngữ, số11 năm 2014 trang 62-72
8 Phạm Văn Đôn (2015), “Đặc điểm cấu trúc văn bản điện tín hàng hải”, Tạp chí Ngôn ngữ số 6 năm 2015, trang 68-80
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vận tải biển là ngành kinh tế dịch vụ thương mại quan trọng đối với nhiều quốc gia Tàu biển được coi là tài sản quốc gia trên biển Một khi có tổn thất xảy
ra thì thiệt hại về con người trên tàu, giá trị con tàu và số hàng đang chở là không thể tính được Thông tin liên lạc trên biển đóng vai trò quan trọng đảm bảo chuyến
đi biển an toàn Trong nhiều phương pháp thông tin, điện tín hàng hải (ĐTHH) đóng vai trò quan trọng và là phương tiện duy nhất khi tàu xa bờ
Năm 1973,Tổ chức hàng hải thế giới (IMO) đã chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ giao dịch trong ngành Khó khăn phát sinh là trình độ tiếng Anh của thủy thủ không đều, dễ gây hiểu nhầm dẫn đến tai nạn Để khắc phục khó khăn này,Tổ chức hàng hải thế giới phát hành cuốn cẩm nang có tiêu đề “Từ vựng hàng hải tiêu chuẩn IMO” và yêu cầu thủy thủ phải sử dụng các câu đúng theo các tình huống quy định trong cuốn cẩm nang này ĐTHH là văn bản viết bằng tiếng Anh
và còn trống các quy định soạn điện Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu điện tín hàng hải để tìm ra đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong nó, làm nền tảng biên soạn cuốn cẩm nang soạn và đọc điện tín hàng hải sau khi luận án này được bảo vệ đồng thời điện tín hàng hải là một loại hình văn bản rút gọn đặc trưng, việc nghiên cứu nó là cần thiết để đóng góp làm sáng tỏ
lí thuyết văn bản học nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Xác định thể loại của văn bản điện tín hàng hải
- Xác định cấu trúc văn bản điện tín hàng hải
Trang 5- Chi tiết hóa các yếu tố ngôn ngữ giúp văn bản điện tín hàng hải ngắn gọn
- Rút ra mô hình tiểu loại văn bản điện tín hàng hải
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ sử dụng trong điện tín hàng hải tiếng Anh, được lưu hành trong ngành hàng hải Việt Nam
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là đặc điểm vĩ mô và vi mô ngôn ngữ
sử dụng trong văn bản điện tín hàng hải âm và dương
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp miêu tả phân tích đặc điểm cấu trúc và nội dung điện tín
- Thủ pháp thống kê tổng hợp các trường hợp được phân tích chỉ ra các số liệu về tần suất của từng trường hợp, qua đó giúp thấy được mức độ xuất hiện phổ biến của chúng
- Thủ pháp so sánh đối chiếu so sánh văn bản dương và văn bản âm
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có m ột số đóng góp khoa học như sau:
- Chứng minh điện tín hàng hải là một loại thư tín thương mại
- Đóng góp vào kết quả nghiên cứu đã có về văn bản rút ngắn bằng việc
trình bày một văn bản dị biệt về ngắn gọn
- Bổ sung vào kết quả nghiên cứu thư tín thương mại đã có về cấu trúc
thành phần, các yếu tố lịch sự, rào đón,v.v…
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về lí thuyết: Luận án đóng góp minh chứng cho lý luận văn bản rút gọn
Về thực tiễn: Kết quả của luận là cơ sở để biên soạn tài liệu hướng dẫn
biên soạn điện tín Ngoài ra, luận án còn là cơ sở tốt cho các nghiên cứu sau này
về lĩnh vực thư tín nói chung và ĐTHH nói riêng
7 Cơ cấu của luận án
Luận án bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải
Chương 2: Cơ sở lý luận của luận án
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải ở cách nhìn vĩ mô
Chương 4: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải ở cách nhìn vi mô
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN
1.1.Tình hình nghiên cứu thư tín thương mại
Ở ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về thư tín thương mại và tập trung vào các nguyên tắc lịch sự dương tính, tránh phân biệt về giới tính, hành vi trực ngôn, bước thoại trong thư bán hàng, thư xin việc,v.v…
Ở trong nước có một số công trình nghiên cứu thư tín thương mại Các nghiên cứu này tập trung so sánh đối chiếu đặc điểm ngữ vực, chỉ dấu lịch sự và một số vấn đề khác liên quan đến việc các nền văn hóa khác nhau đã ảnh hưởng như thế nào đến việc soạn thảo thư tín thương mại và chuyển dịch chúng
1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải
Cho đến nay, chúng tôi chỉ tìm thấy một số ít tài liệu tiếng Anh hàng hải phục vụ đào tạo có liên quan rất ít tới điện tín hàng hải trên thế giới cũng như
trong nước Các cuốn tài liệu đó là: “IMO standard vocabulary phrases” (Cụm từ tiêu
chuẩn hàng hải” do tổ chức hàng hải quốc tế phát hành “English for nautical students and shipofficers” (Tiếng Anh dành cho sinh viên hàng hải và sĩ quan tàu biển) và “Ship’s correspondence” (Thư- Điện- Kháng cáo) do tác giả Nguyễn Tường
Luân biên soạn Đây cũng chỉ là tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên hàng hải chứ không phải là một nghiên cứu ngôn ngữ học
1.3 Tiểu kết
Ngôn ngữ điện tín hàng hải là chuyên ngành hẹp nên chưa thu hút được các nhà nghiên cứu Rất khó khăn chúng tôi mới tìm được một số lượng ít ỏi công trình nghiên cứu về điện tín cả ở ngoài nước và trong nước Tuy vậy, đây chỉ là các cuốn tài liệu phục vụ đào tạo, không phải là công trình nghiên cứu ngôn ngữ theo đúng nghĩa Có thể nói, điện tín hàng hải là lĩnh vực hoàn toàn mới và chưa
hề được nghiên cứu trong Việt ngữ học
Trang 7CHƯƠNG 2
C Ơ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 2.1 Khái niệm diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
2.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Hiện nay, thuật ngữ văn bản (text) và diễn ngôn (discourse) đang được các
nhà khoa học tranh luận theo hai hướng đồng nhất và không đồng nhất hai thuật
ngữ này Halliday và Hasan coi hai thuật ngữ văn bản và diễn ngôn chỉ là đồng nghĩa Hai tác giả trên định nghĩa như sau: “Văn bản là ngôn ngữ thực hiện một
chức năng giao tiếp cụ thể, trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.Văn bản đối lập với các từ, các câu bị tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp.Văn bản có thể ở hình thức ngôn ngữ nói, viết hay bất kỳ các phương tiện diễn đạt nào mà chúng ta có thể nghĩ đến.”Chúng tôi dựa vào định nghĩa của Halliday và Hasan để nghiên cứu đề
tài Như vậy, hai thuật ngữ này được sử dụng như nhau trong luận án này
2.1.2 Phân tích diễn ngôn
Sự ra đời của phân tích diễn ngôn là một tất yếu khách quan khi mà việc nghiên cứu cấu trúc câu đã đạt tới mức hoàn chỉnh và trở nên chật hẹp trong cách nhìn như là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Thực tế đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu
ở phạm vi lớn hơn câu và những yếu tố bên trong và ngoài văn bản (diễn ngôn)
2.2 Đường hướng phân tích diễn ngôn
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa đã tổng hợp 9 đường hướng phân tích diễn
ngôn khác nhau Mỗi đường hướng phân tích có điểm mạnh - yếu khác nhau Chúng tôi lựa chọn đường hướng phân tích biến đổi ngôn ngữ và phương pháp
phân tích diễn ngôn tổng hợp để triển khai đề tài này
2.3 Đường hướng phân tích diễn ngôn để triển khai đề tài
2.3.1 Đường hướng biến đổi ngôn ngữ
Đường hướng này phân tích ngữ vực Ngữ vực cái có thể xác định chủ yếu qua các khác biệt về ngữ pháp và từ vựng Đường hướng này phân tích hai cơ sở
Trang 8gây ra sự biến đổi, đó là người sử dụng và cách sử dụng ngôn ngữ Biến thể là người sử dụng thể hiện qua phương tiện âm thanh Biến thể cách sử dụng thể hiện qua những phân biệt về hình thức ngôn ngữ, tức từ vựng và ngữ pháp Điện tín là văn bản viết nên không có yếu tố âm thanh Như vậy, theo đường hướng này,
chúng tôi tập trung phân tích từ vựng và ngữ pháp của văn bản ĐTHH
2.3.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
Phân tích diễn ngôn tổng hợp nghiên cứu mạch lạc với tư cách là cái tích hợp
của nhiều biến như tính tổ chức, liên kết và tính quan yếu Phương pháp phân tích này
dung hòa cả hệ chức năng luận với hệ cấu trúc luận Ở Việt Nam, Nguyễn Hòa đề xuất phương pháp này và minh họa bằng việc phân tích diễn ngôn một thể loại tin từ
các góc độ rất rõ ràng là: (i) Cấu trúc như sự hiện thực hóa mạch lạc (ii) Mạch lạc của
diễn ngôn (iii) Ngữ vực, bao gồm các đặc điểm từ vựng và ngữ pháp điển hình
2.4 Yếu tố đặc trưng chung của văn bản
Để nhận diện văn bản điện tín hàng hải, chúng tôi trình bày chi tiết các vấn đề lí thuyết luận án dựa vào để phân tích, khảo sát văn bản điện tín Các vấn đề này rất cơ bản trong lí thuyết ngôn ngữ nên chúng tôi không trình bày trong tóm tắt này mà chỉ nêu tên Các vấn đề đó là: (i) cấu trúc văn bản,(ii) liên kết và mạch lạc,(iii) từ
ngữ,(iv) câu và cú (v) đoạn văn
2.5 Một số yếu tố chi phối đặc điểm văn bản
2.5.1 Ngữ vực
“Ngữ vực” dùng để miêu tả các dạng thể hiện khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ Theo Bhatia, thuật ngữ “ngữ vực” được dùng để chỉ các kiểu văn bản khác nhau trong sử dụng Halliday tin rằng thuật ngữ “ngữ vực” được đưa ra để giải thích cho cách thức ngôn ngữ được dùng Các ngôn cảnh khác nhau sẽ cho ra cách ngôn ngữ được sử dụng khác nhau Có nghĩa là ngôn ngữ bị biến đổi tương ứng với ngôn cảnh.Theo quan niệm trên, việc xác định ngữ vực phải dựa vào sự
khác biệt về ngữ pháp và từ vựng Mỗi ngữ vực có ba đặc trưng là: Trường (field), thức (mode) và không khí (tenor)
Trang 9Khi phân tích về thuật ngữ “ngữ vực” và “phong cách”, Nguyễn Văn Khang
đã nêu ra tính “ gần như là một ” giữa hai thuật ngữ này.Dựa vào quan điểm này, chúng tôi sử dụng hai thuật ngữ phong cách và ngữ vực theo cùng một ý nghĩa I.R.Galperin phân loại phong cách thành 5 loại như sau (i) Phong cách văn học
nghệ thuật (The Belles-Letters style).(ii) Phong cách chính luận (Publicistic style)
(iii) Phong cách báo chí (Newspaper style).(iv)Phong cách khoa học (Scientific
prose style).(v)Phong cách tài liệu chính thống (tạm dịch) (The style of official documents).Chúng tôi lấy quan điểm của I.R Galperin để phân tích đặc điểm
phong cách ngôn ngữ trong ĐTHH
2.5.2.Thể loại
Trong luận án này, chúng tôi trích dẫn định nghĩa về thể loại của Bhatia và Nguyễn Hòa Cả hai tác giả đều cho rằng mục tiêu giao tiếp của một diễn ngôn cụ thể nào đó là yếu tố mà các nhà nghiên cứu dựa vào để xác định thể loại của diễn ngôn đó Hay nói cách khác, mục tiêu giao tiếp quy định thể loại diễn ngôn mà cộng đồng giao tiếp đó chấp nhận
2.5.3 Cộng đồng diễn ngôn
Cộng đồng diễn ngôn là một cộng đồng được hình thành do có chung mục
đích giao tiếp Mục đích này liên kết thể loại với cộng đồng diễn ngôn Mục đích giao tiếp của một thể loại được chấp nhận bởi các thành viên cộng đồng đó và tạo nên tính hợp lý của thể loại, tính hợp lý này giúp hình thành cấu trúc sơ đồ của diễn ngôn và ảnh hưởng tới sự lựa chọn nội dung và thể loại
2.5.4 Mục đích giao tiếp
Định nghĩa về mục đích giao tiếp của Martin và Swales là cơ sở cho chúng tôi dựa vào để phân tích mục đích giao tiếp của thể loại diễn ngôn đề tài đang theo đuổi Cả hai tác giả đều cho rằng mục đích giao tiếp rất quan trọng cho việc xếp loại cho một diễn ngôn cụ thể
2.5.5 Ngữ cảnh giao tiếp
Đỗ Hữu Châu cho rằng các nhân tố giao tiếp chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung Ngữ cảnh, theo tác giả, là một trong ba nhân tố giao tiếp
Trang 10có ảnh hưởng nhiều tới đặc điểm diễn ngôn Ngữ cảnh là yếu tố có mặt trong một
cuộc giao tiếp nhưng lại ở ngoài diễn ngôn Ngữ cảnh bao gồm nhân vật giao tiếp
và hiện thực ngoài diễn ngôn Nhân vật giao tiếp là người tham gia giao tiếp bằng
ngôn ngữ, tạo ra diễn ngôn Giữa những người tham gia giao tiếp có quan hệ phân vai và quan hệ liên cá nhân với nhau Trong một giao tiếp cụ thể, nhân vật phát ra diễn ngôn tức là vai nói hoặc viết và nhân vật tiếp nhận diễn ngôn sẽ là vai nghe hay đọc Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, trình độ, thái độ giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân còn
được xét theo trục quyền uy và trục thân cận Hiện thực ngoài diễn ngôn là tất cả mọi yếu tố không được nhắc đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp, không phải là nhân vật giao tiếp Tác giả chi tiết hóa hiện thực ngoài diễn ngôn thành:
Hiện thực- đề tài của diễn ngôn; hoàn cảnh giao tiếp; thoại trường, và ngữ huống giao tiếp
2.6 Đoạn văn
2.7 Tiểu kết
Điểm gặp nhau của hai đường hướng lựa chọn để triển khai luận án là tập trung phân tích từ vựng và ngữ pháp của văn bản Chương 2 đã phân tích tổng hợp các khái niệm và quan điểm về từ, cú và câu, đoạn văn, văn bản và các lý thuyết văn bản như cấu trúc văn bản, mạch lạc và liên kết, phong cách,v.v… Phục vụ việc phân tích một thể loại văn bản bằng tiếng Anh, chúng tôi chủ yếu dựa và quan điểm của các tác giả ngôn ngữ Anh và có tham khảo quan điểm của các tác giả quốc tịch khác
Trang 11CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI Ở CÁCH NHÌN VĨ MÔ 3.1 Nhận diện văn bản điện tín hàng hải
3.1.2 Vị trí của điện tín hàng hải
Điều lí thú là trong ngành hàng hải các hình thức thô sơ đến hiện đại đang cùng song song tồn tại là: (i) thông tin bằng cờ hiệu ,(ii) thông tin bằng cờ tay,(iii) thông tin bằng đèn hiệu (iv) Thông tin bằng âm hiệu,(v)Thông tin bằng lới nói ,(vi) thông tin bằng điện tín, (vii) thông tin bằng vô tuyến điện thoại
3.1.3 Thể loại văn bản điện tín hàng hải
Theo Thông tư số 01/2010/TT-BNV, thư công là thư được dùng trong các
cơ quan tổ chức Thư từ là thư được dùng để giao dịch giữa các tổ chức kinh tế và
doanh nghiệp Điểm khác biệt giữa thư công và thư từ nói chung là dựa vào đối tượng là cơ quan tổ chức hay các doanh nghiệp Thư công ra quyết định vè quản
lý hành chính trong khi đó thư từ chỉ dùng để trao đổi thông tin Thư từ được phân loại theo hình thức chuyển giao Thư từ được chuyển phát bằng thiết bị điện tử
được gọi là thư điện tín và gọi tắt là điện tín
Thuật ngữ “thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các hoạt động dịch vụ liên quan đến hàng hóa Vận tải đường biển là một loại dịch vụ hàng hóa mang tính thương mại ĐT dùng để trao đổi thông tin liên quan đến lĩnh vực thương mại nên điện tín hàng hải (ĐTHH) là thư tín thương mại
3.1.4 Định nghĩa điện tín hàng hải
Dựa vào lập luận trên và định nghĩa điện tín trong Từ điển bách khoa thư, chúng tôi hiểu về ĐTHH như sau: ĐTHH là thông điệp chính thống dưới dạng
Trang 12văn bản viết, được truyền phát bằng thiết bị vô tuyến giữa tàu thủy với tàu thủy và giữa tàu thủy với đài vô tuyến ven biển và ngược lại
3.1.5 Phân loại điện tín hàng hải
Dựa vào nội dung truyền tải, chúng tôi phân loại ĐTHH thành 3 loại chính
như sau: (i) Điện tín dịch vụ thông tin hàng hải (ĐTDVTTHH) (ii) Điện tín dịch vụ
an toàn hàng hải (ĐTDVAT)(iii) Điện tín dịch vụ thời tiết(ĐTDVTT)
3.1.6 Điện tín hàng hải âm và dương
Theo quy trình, người soạn điện phải soạn văn bản điện tín đầy đủ rồi dùng các thủ pháp lược cắt bớt cấu trúc văn bản, từ ngữ và kí tự sao cho có số kí
tự và dấu cách ít nhất có thể được Văn bản siêu rút ngắn này được gửi đi và người nhận điện đọc hiểu nhanh rồi lập toàn và lưu giữ lại để bảo vệ mình nếu sau này có sự cố về kiện tụng hay tranh cãi trách nhiệm Thực tế, quy trình này chỉ áp dụng khi đào tạo hay tập sự Ngày nay người soạn điện soạn ngay văn bản ngắn gọn và người nhận điện chỉ lập toàn bức điện quan trọng Điện tín lưu hành
được giới chuyên môn gọi là điện tín dương Điện tín phục hồi là điện tín âm
3.1.7 Đặc trưng cơ bản của văn bản điện tín hàng hải
Ngữ cảnh giao tiếp Nhắc đến ngữ cảnh giao tiếp của một diễn ngôn cụ thể
là nhắc đến các nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn ĐTHH là loại
văn bản thư tín thương mại dùng để giao dịch thương mại giữa các tổ chức kinh tế trong ngành hàng hải với nhau Mỗi thể loại giao dịch ĐTHH có số tham thể là nhân vật giao tiếp khác nhau Chẳng hạn, khi giao dịch ĐTHH được sử dụng giữa tàu thủy với đại lý ở cảng, nhân vật giao tiếp là tàu thủy và đại lý.Vai phát ra diễn ngôn là người soạn điện soạn ra ĐTHH và vai tiếp nhận diễn ngôn là người nhận điện Hai vai này cũng có sự luân chuyển cho nhau Không phải loại hình giao dịch ĐTHH nào cũng có sự thay vai như vừa nêu Đối với giao dịch ĐTDVTT, vai phát ra diễn ngôn chính là đài vô tuyến ven bờ khu vực tàu thủy đi qua Vai nhận là tàu thủy nhưng không có sự trả lời hay xác nhận nhận điện nên không có chuyện đổi vai trong giao dịch ĐTDVTT hay ĐTATHH tiểu loại thông báo phòng tránh hàng hải
ĐTHH dùng để trao đổi giữa hai tổ chức kinh tế có quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi Quan hệ liên nhân giữa hai nhân vật giao tiếp không có gì đặc
Trang 13biệt khi xem xét theo trục quyền uy và trục thân cận Hai bên đều cần nhau và như vậy không có chuyện một bên có địa vị cao hơn bên còn lại Vì vậy, ĐTHH lược
bỏ câu rào đón, yếu tố lịch sự và đi thẳng vào vấn đề
Hiện thực ngoài diễn ngôn Khi giao dịch, người soạn điện và người nhận
điện là người cùng công tác trong lĩnh vực hàng hải và sau một thời gian làm việc
họ có hiểu biết nhất định về công việc mà họ thực hiện hàng ngày Có nghĩa là họ
có một lượng kiến thức về ngành vận tải biển hay còn gọi là tiền giả định giao tiếp
Ngoài ra, mỗi sự kiện giao tiếp ĐTHH nào diễn ra cũng có một thời gian không gian cụ thể như khi ra vào cảng, v.v…
Đặc trưng văn bản điện tín hàng hải có những điểm quan trọng sau đây:
Về mục đích sử dụng:
ĐTHH có mục đích là để liên lạc giữa tàu thủy với tàu thủy và giữa tàu thủy với đất liền Mục đích là để trao đổi thông tin hàng hải, thông tin thời tiết và yêu cầu cứu nạn trong các trường hợp khẩn cấp Chính mục đích này đã chi phối nhiều tới hình thức văn bản điện tín
Về yếu tố nội dung:
ĐTHH chứa đựng nội dung nhất định theo từng loại Điểm đặc biệt của bản điện là mỗi bản điện chỉ truyền tải một nội dung duy nhất toàn văn bản
Về yếu tố cấu trúc:
ĐTHH là văn bản có cấu trúc riêng biệt Mọi lời chào xã giao thường thấy tại phần mở đầu của các văn bản thư tín đều bị loại bỏ để trình bày thẳng ngay vào vấn đề cần thông báo Các câu bắt đầu cũng cực kì ngắn gọn, từ ngữ được giản lược, cắt ngắn, ngầm hiểu và sửa chỉnh sao cho ngắn nhất có thể được Chỉ những