7 LỜI NÓI ĐẦU '' Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay'' Tập I đã giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về truyền thống Việt Nam của đề tài KX-07-02 thuộc chương trình k
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỐNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC KX-07
ĐỀ TÀI KX-07-02
CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY
Tập II
Chủ biên Phan Huy Lê
Vũ Minh Giang
HÀ NỘI 1996
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỐNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC KX-07
ĐỀ TÀI KX-07-02
CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY
Tập II
Chủ biên Phan Huy Lê
Vũ Minh Giang
HÀ NỘI 1996
Trang 35
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7 NỘI DUNG CỦA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 8 CHUNG VÀ RIÊNG TRONG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 31 TÌM HIỂU NHỮNG MẶT HẠN CHẾ VÀ TIÊU CỰC TRONG DI SẢN TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TA 55
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA Ý THỨC CÁ NHÂN QUA CÁC MẪU NGƯỜI VĂN HÓA 96
LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT, TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VÀ KẾT CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI 126
GIÀ LÀNG TRONG XÃ HỘI TÂY NGUYÊN 149 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ XỬ LÝ TƯ LIỆU 140 ĐỊA BẠ NĂM 1805 CỦA HÀ ĐÔNG CŨ 166
Trang 57
LỜI NÓI ĐẦU
'' Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay'' Tập I đã giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về truyền thống Việt Nam của đề tài KX-07-02 thuộc chương trình khoa học công nghệ nhà nước KX-07 "Con người Việt Nam, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế- xã hội''
Nay tập II tiếp tục công bố những kết quả nghiên cứu về truyền thống và những cơ sở tạo nên truyền thống Việt Nam với những bài viết về '' Nội dung của truyền thống Việt Nam''
Vũ Minh Giang, " Cái chung và cái riêng trong truyền thống văn hóa của các cộng đồng cư dân Việt Nam'' Củ Phan Đại Doãn, "Tìm hiểu những mặt hạn chế và tiêu cực trong di sản truyền thống của dân tộc'' của Trương Hữu Quýnh, ''Sự phát triển của ý thức cá nhân qua các mẫu người văn hóa'' của Đỗ Lai Thúy,'' Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình lịch
sử và kết cấu kinh tế- xã hội'' của Phan Huy Lê, "Già làng trong xã hội Tây Nguyên'' của Chu Thái Sơn
Trong tập này còn công bố kết quả khai thác và xử lý hai nguồn tư liệu liên quan đến truyền thống Đó là bài "Phân tích kết quả xử lý 140 địa bạ năm 1805 vùng Hà Đông cũ'' của Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang và bài ''Một số định hướng giá trị được phản ánh trong hương ước cái hương của các làng thuộc huyện Chương Mỹ đầu thế kỷ 20'' của Nguyễn Quang Ngọc
Cũng trong tập này, để so sánh và có cơ sở sánh với một số nước vùng Đông á, Chúng tôi giới thiệu bài "Quan
Trang 68
Niệm về độc lập quốc gia của Việt Nam và Nhật Bản trường hợp Phan Bội Châu bà Fukuzeama'' của Vĩnh Sính, bài Tính cộng đồng, đặc trưng nổi bật của con người và xã hội Nhật Bản của Đặng Xuân Kháng và bài " Một số đặc điểm của nông thôn Hàn Quốc '' của Jeong Nam Song
Chúng tôi giới thiệu những kết quả nghiên cứu trên là nhằm trao đổi thông tin bởi các
đề tài khác của chương trình KX-07 và mong nhận được những ý kiến phê bình thảo luận của các bạn đồng nghiệp và của bạn đọc
GS Phan Huy Lê Chủ nhiệm đề tài KX-07-02
Trang 7Dựa vào cuốn từ điển do A de Rhodes soạn năm 1651, chúng ta biết rằng ở thời kỳ này người châu Âu dùng từ nối đời, nối truyền của tiếng Việt để giải nghĩa chữ
* PGS TS Sử học, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 810
Traditio trong tiếng La tinh ( nghĩa đen là " truyền lại ", từ gốc của chữ Tradition trong nhiều ngôn ngữ châu Âu mà nay ta thường dùng từ truyền thống để dịch sang tiếng Việt )1 Như vậy là ở giữa thế kỷ 17 người Việt Nam quan niệm truyền thống là những gì được truyền từ đời này sang đời khác
Cụm từ truyền thống đang được dùng thông dụng trong tiếng Việt hiện đại là một từ Hán - Việt, do đó nó không thể không chịu ảnh hưởng về mặt ngữ nghĩa của tiếng Trung Quốc Trong các từ điển của Trung Quốc, từ này được định nghĩa như sau : " truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ2, tư tưởng, văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác động khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử "3
Để hiểu rõ hơn, có thể dẫn ra đây sự giải thích ý nghĩa của từ truyền thống trong một cuốn Bách khoa từ điển : " Đó là những yếu tố của đi tồn văn hóa, xã hội truyền tù đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị,
tu tưởng, phong tục tập quán và lối sống Truyền thống tác động khống đến mọi xã hội và tất các mọi lĩnh vục trong đời sống xã hội "4
Từ những điều nêu trên có thể thấy truyền thống không đồng nhất với tất cả những
gì đã diễn ra mà chỉ là những yếu tố được di tồn lại Truyền thống là cái hiện hữu nhưng
lại vô hình Nó tồn tại thông qua sự khống chế các
Trang 911
hành vi xã hội của con người Đặc tính này khiến cho việc nghiên cứu những nội dung của
truyền thống là công việc hết sức khó khăn Vì vậy, để xác định nhũng nội dung của truyền thống Việt Nam phải nhìn toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc để tìm ra những di tồn với tư cách
là những yếu tố khách quan có tác động khống chế vô hình đến những hành vi xã hội của người Việt
II NHỮNG NỘI DUNG CỦA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Với những chế định về khái niệm truyền thống như đã nêu ở trên, có thế thấy truyền thống được hình thành do những yếu tố thường xuyên tác động đến cuộc sống của người Việt Do phải đối phó với những tác động đó, nhiều phẩm chất của người Việt được truôi rèn, nhiều thói quen trở thành tập quán và tính cách được định hình Lối ứng xử của một cộng đồng cư dân thực chất là sự thích ứng vô thức và hữu thức đối với tác động lặp đi lặp lại của ngoại cảnh Vì vậy, cách tiếp cận của chúng tôi để tìm ra những nội dung của truyền thống là xem xét những nhân tố hằng xuyên tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội để từ đó tìm ra những hệ quả được coi là truyền thống Những hệ quả này không phải là sản phẩm của những tác động đơn lẻ của yếu tố này hay yếu tố khác mà là kết quả có tính chất tổng hợp Tuy nhiên, để dễ nhận diện, có thể xem xét nội dung của truyền thống theo từng nhân tố có tác động; chính trong việc hình thành nên truyền thống đó
II.1 Môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý
II.1.1.Trong muôn vàn những yếu tố địa lý tác động đến cuộc sống hằng ngày, môi trường sông - nước phải
Trang 1012
được coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã có tác động không nhỏ tới việc hình thành một
số truyền thống của người Việt Dựa vào những chứng cứ khảo cổ học, chúng ta có thể biết được địa bàn sinh tụ chủ yếu của các cư dân Việt cổ là lưu vực hai con sông lớn : sông Hồng
và sông Mã Các mũi khoan thăm dò địa chất đã thấy dấu vết trầm tích biến tuổi chừng 2 -
3000 năm ở nhiều nơi thuộc đồng bằng Bắc bộ Sự vắng bóng hoàn toàn các di tích khảo cổ thời đại đồ đá mới ở vùng Thái Bình, Nam Định cùng với nhiều "di tích côn sò điệp ở ven biển Quỳnh Lưu cách xa bò biển hiện nay tới 10 km cho phép nghĩ rằng cách đây vài, ba nghìn năm, biển còn ăn rất sâu vào đất liền Địa bàn cư trú chủ yếu của tổ tiên người Việt là một vùng đất mới được bồi lấp, nằm giữa một bên là núi cao tạo bởi chân dãy Hymalava và một bên là biển cả Địa bàn đó là nơi giao tiếp giũa núi và biển thông qua mưa lũ hằng năm Điều kiện tự nhiên đó đã tạo nện một hệ thống sông ngòi thoát nưóc dày đặc , có dạng hình nan quạt,, xoè ra ở phía hạ nguồn Khi những cư dân sinh sống ở đây chưa có khả năng đắp
đê ngăn nước thì mùa mưa lũ hằng năm nước tràn ra khắp mọi chỗ trũng, tạo nên vô số đầm,
hồ quanh năm đọng nước Những cứ liệu địa lý trên cho chúng ta hình dung khái quát về địa hình mà tổ tiên người Việt đã từng sinh sống, làm ăn suốt nhiều thiên niên kỷ là một địa hình chi chít sông ngòi, đầm hồ dày đặc Địa hình đó đã tác động đến cuộc sống hàng ngày của con người Các di tích khảo cổ học cho chúng ta biết rằng tất cả các địa điểm cư trú thời cổ đều năm trên các gò bãi cao có nước bao quanh Nước tạo nên biên giới thiên nhiên quy định
cụ thể tùng vùng đất Sông - nước là môi trường sinh sống của người Việt Nam Từ xa xưa, khái niệm về quê hương xứ sở, tổ quốc của người Việt được thể hiện bằng tên của môi
Trang 1113
trường gắn chặt với cuộc sống của mình : NƯỚC Dấu vết của môi trường sông nước đã in khá đậm lên cách tư duy của người Việt Có thể thấy rất nhiều từ, hình ảnh về nước hoặc liên quan đến nước được sử dụng trong tiếng Việt để khái quát cho nhũng tình huống, trạng thái hoặc những ứng xử phổ biến Chẳng, hạn như người Việt có thể khái quát cho tất cả nhũng hiện tượng không biết lo xa, chuẩn bị trước, đến khi tình huống xảy đến thì phải xử lý một cách gấp gấp, vội vàng bằng một thành ngữ quen thuộc "nước đến chân mới nhảy" Hoặc để diễn đạt mọi trường hợp cố gắng đến mức cao nhất nhằm làm một việc gì đó mặc dù khả năng làm được rất mong manh, người ta có thể dùng ngạn ngũ " còn nước còn tát " Nhiều truyền thống đã được hình thành do tác động của hoàn cảnh địa lý này
Biểu hiện của những truyền thống đó có thể tìm thấy trong hầu hết các mặt của đời sống xã hội, những giá trị văn hóa và ngay cả trong một số sở trường của người Việt Nếu như ăn, mặc, ở, đi lại là những nhu cầu tối cần thiết của con người và cũng chính ở những lĩnh vực nay bản sắc văn hóa truyền thống được biểu hiện rõ nhất thì có thế thấy ngay rằng đối với người Việt chất đạm chủ yếu trong thúc ăn truyền thống là thủy sản Có thể tìm thấy trong các di chi khảo cổ học vô số những dấu tích của các động vật ở nước như vỏ sò, vỏ ốc, xưong cá v.v , trong khi đó xương động vật thường rất hiếm hoi Nhà ở truyền thống của người Việt là sàn , chủ yếu là để phòng nước ngập Ngoài ra, rất đông người Việt còn có thói quen ở thuyền Những điểm tụ cư như vậy gọi là vạn Đến tận thế kỷ XVIII - XIX, hiện tượng cư trú trên thuyền, coi thuyền là nhà còn rất phổ biến Người phương Tây từng đã có nhận xét : " Họ ( chỉ người Việt - VMG ) rất thích ở nước,
Trang 12làn điệu chèo - một loại hình văn nghệ truyền thống rất đặc trưng cho người Việt - cũng gắn rất chặt với những sinh hoạt trên thuyền Có thể nói người Việt có một truyền thống văn hóa
sông - nước và Quen với sông nước, thạo nghề sông nước, có tư duy của một cư dân sông nước là một nội dung quan trọng của truyền thống Việt Nam Nhờ có truyền thống này mà
người Việt có khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và có lối ứng xử mềm dẻo phù hợp với hoàn cảnh sống gần // trên sông nước Điều hiếm thấy ở nhũng cư dân thuần túy nông nghiệp
II.1.2 Khi xét đến yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên, có thể thấy rõ Việt Nam là một
xứ sở có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp Trước hết và chủ yếu phải nói đến tiềm năng dồi dào của đất đai Độ phì của đất cao và diện tích đất canh tác có điều kiện để phát triển Khác với các quốc gia vùng Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc là những nước quỹ dự trữ đất đai giành cho nông nghiệp bị cạn kiệt từ rất sớm, ở Việt Nam chỉ riêng sông Hồng với hàng trăm tỷ m3 nước chở nặng phù sa đổ ra biển đã khiến cho cho đồng bằng ngày càng được mở rộng Do còn có điều kiện để khai hoang tăng thêm
Trang 1315
diện tích canh tác, nông nghiệp Việt Nam luôn luôn tìm thấy lối thoát mỗi khi khủng hoảng xuất hiện Chính vì vậy mà người Việt đã lựa chọn nông nghiệp là làm nghề sống chính của mình suốt mấy nghìn năm và đã từng tạo dựng nên một văn minh nông nghiệp có thời tỏa sáng khắp khu vực Đông Nam Á Và cũng chính vì vậy mà người Việt bị trói chặt vào kinh tế nông nghiệp Cho đến nay ba hằng số lớn của lịch sử dân tộc : kinh tế nông nghiệp, cư dân nông dân, xã hội nông thôn vẫn là những chỉ số quan trọng để nhận diện người Việt Nam Do
đó những căn tính nông dân, những đặc trưng của một xã hội nông nghiệp có ảnh hưởng rất
lớn đến tất cả mọi truyền thống Việt Nam
II.1.3 Bên cạnh những thuận lợi, thiên nhiên Việt Nam luôn đặt ra cho con người muôn vàn những thử thách hiểm nghèo, hay gây ra những tai biến bất thường nhất là các hiện tượng mưa theo mùa tạo ra lũ lụt, bão tố, ẩm thấp gây sâu bệnh tàn hại mùa màng Bằng trí sáng tạo, tinh thần quả cảm và sức mạnh tập thể người Việt đã vượt qua mọi thử thách đó Cuộc đấu tranh vật lộn với thiên nhiên cùng với những cuộc chiến đấu kiên cường bảo vệ sự
tồn vong của giống nòi ( sẽ nói trong phần sau ) đã tạo nên truyền thống không chùn bước
trước khó khăn và biết cố kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh để vượt qua thử thách
II.1.4 Nói tới vai trò của điều kiện tự nhiên của Việt Nam không thể không nói những tác động đặc biệt của vị trí địa lý Nằm ở khu vực tiếp xúc giữa nhiều nền văn hóa và có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt Nam luôn luôn bi xô đập bởi các biến cố khu vực và của
thế giới Tính
Trang 1416
cách dễ thích ứng và nhạy cảm phần nhiều được hình thành do tác động của yếu tố này Đó
cũng có thể coi là một nội dung của truyền thống Việt Nam Cũng do nằm ở vị trí giao tiếp và
sụ phân bố địa lý, Từ lâu Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều cộng đồng sắc tộc với" những đặc trưng văn hóa khác nhau Nhưng mặc dù vậy, người Việt (Kinh ) luôn luôn đóng vai trò chủ thể vì số lượng đông và trình độ phát triển kinh tế xã hội cao hơn hẳn so với các
công đồng dân tộc anh em khác Đặc điểm trên đây đã tạo nên truyền thống đa dạng trong
văn hóa nhưng hướng tâm vào văn hóa chủ thể - văn hóa Việt
II.2 Tác động của quá trình lao động sản xuất
Đối với bất kỳ một nền văn hóa nào, sản xuất ra của cải vật chất bao giờ cũng đuợc coi là thành tố quan trọng nhất Nó quy định đặc điểm; tính cách của một cộng đồng cư dân
và nội dung của nhũng truyền thống cơ bản ở Việt Nam hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước Do hoàn cảnh tự nhiên, lao động nông nghiệp ở Việt Nam rất cần tới sức mạnh tập thể Để thích ứng với cuộc sống sản xuất đó, một loại công xã nông thôn (làng) đã xuất hiện và tồn tại rất lâu dài trong lịch sử Sau lũy tre làng biết bao nhiêu truyền thống đã được hình thành
II.2.1.Trước hết đó là truyền thống cộng đồng mà mặt tích cực của nó là đoàn kết,
tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong lúc gặp khó khăn, hoạn
nạn Khởi nguyên của truyền thống này là sự nương tựa vào nhau của các thành viên cộng đồng và của mỗi thành viên với tập thể để làm ăn và sinh sống Đồng
Trang 1517
bằng các con sông của Việt Nam có độ phì cao, đất đai màu mỡ những rất khó khai thác Lũ lụt hằng năm, hạn hán hay xảy ra và muôn vàn bất trắc thiên nhiên như bão tố, dịch bệnh của một xứ sở nhiệt đới gió mùa khiến con người phải cố kết nhau lại Chứng cứ lịch sử cho thấy người Việt đã khai phá ruộng đất theo phương thức tập thể và vì vậy, đất đai canh tác trong suốt một thời gian lịch sử rất dài thuộc về sở hữu tập thể Tuy nhiên do đặc điểm của loại hình nông nghiệp trông lúa nước, ngay từ đầu hình thức sản xuất theo theo hộ gia đình nhỏ đã được xác lập như một mô hình tổ chức lao động hợp lý Những đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các truyền thống Đoàn kết, tương trợ nhau và nguyên tắc cá nhân tồn tại trong sự phụ thuộc vào cộng đồng dần trở thành một tập tục có cơ chế kinh tế - xã hội bảo đảm
Một trong những chỉ báo quan trọng giúp ta có thể hình dung được truyền thống là những tổng kết dân gian, được xàng tuyển qua nhiều thế hệ Trong ý nghĩa đó, số lượng những câu ca dao tục ngữ nói về một vấn đề nào đó cũng phản ánh mức độ quan tâm và ý thức của con người đối với lĩnh vực đó Công trình nghiên cứu gần đây nhằm phân tích định lượng ca dao, tục ngữ cho thấy trong số 4075 câu cao dao, tục ngữ do Nguyễn Văn Ngọc tập hợp7 có 1634 câu có thể xếp vào loại hình " nói về các quan hệ xã hội" Trong số đó chỉ riêng
về quan hệ cộng đồng đã có tới 641 câu,chiếm 79,23 % Điều đó hẳn nói lên rằng trong muôn vàn các khía cạnh của quan hệ xã hội, tâm thức của người Việt chủ yếu giành cho các quan
hệ cộng đồng
Nét đặc biệt của truyền thống cộng đồng Việt Nam
Trang 1618
là bên cạnh mối quan hệ giữa cá nhân với các cộng đồng lớn như làng, nước, cộng đồng gia đình, dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng Theo phân tích thống kê, những câu ca dao, tục ngữ nói về quan hệ gia đình, dòng họ chiếm tới trên 77 % toàn bộ những câu nói về quan
hệ xã hội Không phải ngẫu nhiên mà những người phương Tây đến Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ này đã đưa ra nhận xét :" Tinh thần gia đình là đặc tính cơ bản nhất của con người Việt Nam thuộc tất cả mọi tầng lớp Đối vói họ, gia đình là tất cả" 8
Hoặc " Gia đình là cơ sở, là hạt nhân của xã hội An Nam Đó là một trực trung tâm mà mọi lợi ích, mọi ý nghĩ đều quay xung quanh nó " 9
Có thể nhận thấy rằng trong truyền thống cộng đồng Việt Nam, ít thấy những quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà thường là quan hệ trách nhiệm giữa các cấp cộng đồng Một gia đình (hay rộng ra là một gia tộc) có trách nhiệm với xóm làng, làng có trách nhiệm với nước và ngược lại Do đó, suy cho cùng, một cá nhân bình thường chỉ có vai trò trong khuôn khổ gia đình họ mà thôi, còn ra đến cộng đồng lớn, cá nhân luôn luôn " không là cái gì " Cũng chính vì thế mà nói đến truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau cũng thường thể hiện ở cấp gia đình trở lên Cùng với đặc điểm này, tính chất của cộng đồng cư dân Việt đã góp phần làm nên nhiều truyền thống tín ngưỡng liên quan đến gia đình, dòng tộc
mà tiêu biểu nhất là truyền thống thờ cúng tổ tiên P.Ory đã rất có lý khi đưa ra nhận xét: " Đối với người dân An Nam, cái có tính chất truyền thống nhất và thiêng liêng nhất chính là đạo thờ cúng tổ tiên " 10
Tuy nhiên, cộng đồng đóng Vai trò tạo nên sức
Trang 1719
mạnh tập thể của người Việt là làng xã Nếu như gia đình là đơn vị cố kết các cá nhân thì làng
là đơn vị tụ cư được hình thành do nhu cầu cố kết các gia đình, họ tộc trong quá trình chinh phục thiên và tổ chức lao động sản xuất Các quan hệ cộng đồng làng xã được bảo lưu khá lâu bền trước hết là do nó có cơ sở kinh tế đảm bảo Ruộng công làng xã ở Việt Nam là một hiện tượng kinh tế khá đặc biệt đã từng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Loại hình sở hữu ruộng đất này tồn tại khá lâu dài ở Việt Nam Cho đến tận thế kỷ XIX, trong tổng số ruộng đất canh tác ở Việt Nam còn có tới gần 20 % diện tích là công điên11 Đó là hiện tượng hiếm thấy, ngay cả ở châu Á Trong cơ cấu sở hữu ruộng công hầu như làng nào cũng có một phần ruộng đất riêng của mình nhằm đảm bảo các hoạt động của làng Đó là bệ đỡ kinh tế cho cả một thiết chế cộng đồng làng xã Để đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế, hầu như làng nào cũng có những quy định riêng gọi là hương ước Làng thực sự là một đơn vị có tổ chức khá chặt chẽ và đóng vai trò chính yếu trong việc bảo vệ và củng cố mối quan hệ cộng đồng Trong ý nghĩa nguyên khai, cộng đồng làng xã là tổ chức bảo vệ lợi ích của các thành viên và vì vậy nó được mọi người thừa nhận và góp phần củng cố Tinh thần đoàn kết, tương trợ cũng được thể hiện chủ yếu và đậm nét trong phạm vi làng Có thể thấy tình làng, nghĩa xóm của người Việt là sự mở rộng quan hệ gia đình Người ta quan niệm làng như một gia đình lớn mà mỗi thành viên có trách nhiệm quan tâm giúp đỡ nhau, bênh vực nhau trong những lúc cần thiết Do đó mỗi thành viên trong làng đều có ý thức bảo vệ danh dự của cộng đồng làng xã
Từ một truyền thống được hình thành trong cuộc sống lao động và sản xuất, đoàn kết, tương trợ được nhân
Trang 1820
lên, trở thành một chuẩn mực đạo lý, một giá trị thiêng liêng của dân tộc khi người Việt luôn phải đối mặt với thảm họa xâm lăng của ngoại bang, phải cố kết nhau lại để bảo tồn giống nòi
II.2.2 Gắn liền với truyền thống cộng đồng là truyền thống dân chủ làng xã Để duy
trì những quan hệ cộng đồng, cách ứng xử được coi như chuẩn mục là cá nhân phải hòa mình vào tập thể và ngược lại cơ chế quản lý làng xã phải được tổ chức sao cho đảm bảo được quyền bình đẳng của các thành viên Biểu hiện rõ nét của truyền thống này là quyền được tham gia bầu chọn ra những người đại diện, tham gia vào bộ máy quản lý làng xã Những người thay mặt tập thể để điều hành công việc chung phải là những người có uy tín, tiêu biểu cho tình thần đoàn kết, được tập thể kính trọng và tin yêu Trước những quyết định hệ trọng, dân làng được hỏi ý kiến Trong cơ chế này, " luật pháp " của làng là những phong tục tập quán, tục lệ được hình thành trong một quá trình lâu dài Công cụ điều chỉnh hành vi của các
cá nhân trong cộng đồng chủ yếu là du luận, nhũng lời đồn đại, thái độ khích lệ hoặc chê cười của dân làng Trong những trường hợp đặc biệt, làng áp dựng biện pháp phạt vạ hoặc một số hình thức bêu xấu, làm nhục trước tập thể người vi phạm nghiêm trọng lệ làng Như vậy là tập thể có vai trò rất quan trọng đối với quá trình " lập pháp " và " hành pháp " cũng như đối với việc xét xử trong làng nên dân làng dễ dàng thừa nhận những chuẩn mục đó là của mình Trong truyền truyền thống dân chủ làng xã Việt Nam có những biểu hiện khá độc đáo Thông thường dưới thời phong kiến phụ nữ và người nghèo là những lớp người bị coi thường và hầu như không có quyền hành gì trong kinh tế và xã
Trang 1921
hội Thế nhưng qua một số công trình nghiên cứu gần đây có thế thấy rằng trong bộ máy quản lý làng xã có khoảng 30% là những người hoàn toàn không có ruộng đất tư hữu là hiện tượng khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ đầu thế kỷ XIX Cùng thời điểm đó con số trên dưới 20% các chủ sở hữu là phụ nữ cũng Tất đáng được lưu ý12 Các chuyên gia về Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên cho biết, ở các nước này không có hiện tượng tương tự như vậy
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng dân chủ làng xã nói tới ở đây là một hình thức dân chủ
sơ khai Thực chất của thiết chế dân chủ này là một hình thức tự quản nên các thành viên giám sát lẫn nhau trở thành một yêu cầu tự nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỷ cương Phương thức này chứa đựng tiềm tàng hai khuynh hướng cực đoan Khuynh hướng thú nhất là tạo ra tâm lý giám sát thái quá biến thành sự can thiệp của tập thể vào quá trình phát triển của cá thể, nhất là trong hoàn cảnh bình quân chi phối mọi quan hệ trong làng xã Khuynh hướng thứ hai là khi dư luận không còn được coi trọng thì những hành vi tự do, tùy tiện (vô chính phủ ) rất dễ nảy sinh
II.23 Cuộc sống gắn bó nhiều đời với sản xuất nông nghiệp khiến cho người Việt luôn có điều kiện gần gũi với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, tạo nên truyền thống giản
dị chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ, xa hoa Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với thiên nhiên cùng với những giá trị vật chất và tinh thần do sức sáng tạo của tập thể sản sinh ra là những yếu tố quan trọng góp phần dung dưỡng tâm hồn và tình cảm của người Việt Nam Cũng nhờ đặc điểm này mà người Việt có tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn Trong một công trình
Trang 2022
nghiên cứu về tài năng trẻ Việt Nam, cá số liệu thống kê cho thấy trong số 11 lĩnh vực mà các
tài năng trẻ đã biểu hiện thì văn hóa là lĩnh vực có tần số xuất hiện cao nhất 13
II.2.4 Nhưng mặt khác, sản xuất nông nghiệp với nhũng điều kiện thô so đòi hỏi con người phải lao động vất vả, cực nhọc Đặc biệt là trong điều kiện của thiên nhiên Việt Nam nắng lắm, mưa nhiều, ầm thấp nên hay có hạn hán, lũ lụt và dịch bệnh Quá trình vật lộn với những khó khăn thủ thách đó để lao động sản xuất và tạo dựng cuộc sống đã rèn đức nên
truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ Thậm chí chịu khổ còn
trở thành một lối nghĩ, một triết lý sống được nhiều người chấp nhận Có thể bắt gặp không ít những thành ngữ dân gian như " đói sạch, rách thơm " hay triết lý " an bần, lạc đạo " trong ngôn ngữ của người Việt
II.2.5 Trước khi bước vào thời kỳ định cư lấy trồng lúa nghề sản xuất chính, tổ tiên của người Việt hoàn toàn không trải qua hình thức kinh tế du mục như nhiều dân tộc ở châu
Âu và bắc Á Do đó gần như thiếu hẳn một truyền thống kén chọn thủ lĩnh từ những người tài giỏi Đặc trưng nổi bật của nông nghiệp trồng lúa là tính ổn định của quy trình sản xuất và phẩm chất được đề cao là dày dạn kinh nghiệm, thông thạo thời tiết, mùa màng Phẩm chất này chỉ thường có ở những người lớn tuổi Do đó có vai trò lớn trong sản xuất và trong đời sống xã hội ở các làng quê là các" lão nông tri điền những người'' sống lâu lên lão làng "
Truyền thống trọng tuổi tác, trọng người già được hình thành, chủ yếu là do vậy Nhưng
cũng xuất phát từ truyền thống này lại nảy sinh vấn đề quyền lực người già mà các nhà
nghiên cứu thường gọi là ―lão
Trang 2123
quyền” Ảnh hưởng của loại quyền lực này nhiều khi có ảnh hưởng tiêu cực đến vai trò và vị
trí xã hội của tầng lớp những người trẻ tuổi
II.2.6 Cũng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp truyền thống, người sản xuất không quen hạch toán kinh tế Đối với kinh tế nông nghiệp truyền thống hầu nhu mọi tư liệu vật chất phục vụ cho sản xuất đều có sẵn trong tay người nông dân, giống má thì dành từ mùa thu hoạch trước cho vụ sau, phân bón thì có sẵn trong chuồng lợn và đặc biệt không bao giờ
họ tính toán đến công sức của mình bỏ ra Sự lo toan chủ yếu chỉ tập trung vào chu trình sinh
trưởng của cây lúa trong thời gian một vụ Từ đây đã hình thành một tập tính kém hạch toán,
không quen lường tính xa Hơn thế, sự thành bại của nông nghiệp hoàn toàn bị phụ thuộc vào
thiên nhiên nên đã tạo ra tâm lý cầu an, cầu may và "ăn xổi "
II.2.7 Di tồn dưới dạng tập quán của sản xuất nông nghiệp - một loại hình lao động
tương đối tự do còn được biểu hiện ở tác phong tùy tiện, kỷ luật không chặt chẽ Sự thực là vì
sản xuất nông nghiệp không cần tới những tính toán chuẩn xác và sự hiệp đồng thật chặt chẽ Hầu hết các cư dân nông nghiệp trên thế giới đều có chung đặc tính này Nhưng quá trình công nghiệp hóa với những đòi hỏi khắt khe của sản xuất công nghiệp, lối sống tùy tiện, thiếu
kỷ luật chặt chẽ dân dần được thay thế bằng tác phong chuẩn xác, có kỷ luật thường được gọi
là tác phong công nghiệp.Việt Nam chưa trải qua một thời kỳ công nghiệp hóa nên ảnh hưởng của lối sống nông nghiệp còn rất đậm nét trong mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 2224
II.2.8 Sự tồn tại dai dẳng của chế độ công hữu ruộng đất và các quan hệ làng xã ở Việt Nam là do những tác động tổng hợp của rất nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội và kinh tế nhưng trước hết và chủ yếu là do yêu cầu của sản xuất nông nghiệp trong hoàn cảnh của Việt
Nam Chúng là mảnh đất màu mỡ dung dưỡng tâm lý bình quân chủ nghĩa và một số hạn chế
vốn có của quan hệ cộng đồng làng xã
II.3 Tác động hằng xuyên của hoàn cảnh lịch sử
Vị trí địa lý chiến lược của Việt Nam và số phận lịch sử của dân tộc Việt Nam sinh ra
và lớn lên bên cạnh đế chế Trung Hoa lớn, mạnh đã trở thành nhân tố quan trọng tạo ra những hoàn cảnh lịch sử thường xuyên tác động đến Việt Nam Thử thách lịch sử hiểm nghèo đầu tiên mà dân tộc Việt Nam phải trải qua là cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ chống lại ách đô hộ và âm mưu đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc Rồi tiếp sau đó là những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm liên tục trong suốt chiều dài của lịch sử Hầu như trong tất cả những cuộc chiến tranh ấy người Việt luôn phải đọ sức với những kẻ thù lớn và mạnh hơn mình rất nhiều Hoàn cảnh này đã tạo nên
truyền thống anh dũng quật cường, mưu trí sáng tạo và hun đúc cho mỗi người dân lòng yêu nước nồng nàn và ý thức tự tôn dân tộc và tinh thần bất khuất, tự lập, tự cường rất cao
Trên cái nền rộng lớn của những truyền thống nói trên, rất nhiều truyền thống khác
cũng đã được hình thành Một trong những biểu hiện dễ thấy là truyền thống sùng bái và thờ
cúng anh hùng Hầu như ở bất cứ đâu trên đất
Trang 23Cũng do tác động của truyền thống chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, ở Việt Nam đã hình thành nên truyền thống thượng võ - một truyền thống khá đặc sắc của dân tộc
II.4 Tác động của môi trường văn hóa khu vực
II.4.1 Nói tới tác động văn hóa khu vực, trước hết phải nói tới cơ tầng văn hóa Đông Nam Á Tuy ở mỗi nước đều có biến thái riêng nhưng tất cả các nước Đông Nam Á đều có một mẫu số chung về văn hóa Theo đó, cấu trúc tổ chức xã hội truyền thống tương đối lỏng
và khai phóng Điều này khiến cho truyền thống dân chủ làng xã có điều kiện để tồn tại và phát triển Cũng bởi đặc điểm này mà Việt Nam là một dân tộc dễ thích nghi và hội nhập
II.4.2 Việt Nam ở vào một khu vực giao tiếp của nhiều nền văn hóa, nhưng quan trọng nhất là hai nền văn minh lớn của nhân loại : Trung Hoa và Ấn Độ Dưới ảnh hưởng của văn minh Trung hoa, nhiều yếu tố văn hóa mới đã được du nhập vào Việt Nam, trong đó ảnh hưởng rõ nét nhất là Khổng giáo Những chuẩn mực Khổng giáo được hòa trộn và điều chỉnh bởi các giá trị vốn có của người Việt
Trang 2426
đã tạo nên một số truyền thống, trong đó hiếu học là một nội dung quan trọng Trong các phẩm chất được đề cao, đối với người Việt Nam, đạo hiếu là quan trọng nhất Cũng do ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, ở Việt Nam đã hình thành truyền thống trọng tước, thích
làm quan và coi quan tước là một thang bậc đánh giá sự tiến bộ của một cá nhân
Ảnh hưởng đáng kể nhất của văn minh Ấn Độ ở Việt Nam là Phật giáo Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam khác rất xa Phật giáo Ấn Độ Sự truyền bá rộng rãi tư tưởng Phật giáo
cùng với những tính cách của cư dân bản địa đã tạo nên truyền thống nhân ái, vị tha và rộng
lượng của người Việt
mà mới là chỉ ra các truyền thống cơ bản cùng với một, số luận giải về nguồn gốc hình thành
và nội dung chủ yếu của các truyền thống đó Chúng tôi thấy cũng cần phải nhắc lại trong kết luận này là truyền thống cùng với những nội dung xác định của nó hình thành không phải chỉ
do tác động của một nhân tố riêng biệt nào đó mà luôn luôn là kết quả của những tác động
Trang 2527
của đa nhân tố Nhưng dù thế nào thì trong quá trình hình thành đó cũng có những nhân tố đóng vai trò chủ đạo Cách tiếp cận của chúng tôi ở đây, một mặt muốn làm đơn giản sự nhận diện nội dung của các truyền thống, mặt khác cũng là muốn nhấn mạnh các yếu tố đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành nội dung của một truyền thống nào đó
Với những điều đã trình bày ở trên có thể thấy bên cạnh những giá trị cao đẹp của truyền thống dân tộc mà chúng ta đã đang và sẽ còn phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa cũng có không ít những vấn đề đặt ra từ di sản truyền thống
1 Trước hết đó là những thói quen, những tập tính và những hạn chế của một cư dân nông nghiệp khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa Chúng ta thường hay nói tới một nhược điểm gây rất nhiều hậu quả tai hại là không có thói quen nhìn xa Cùng với nhược điểm này, tâm lý " ăn xổi " cũng chi phối khá mạnh mẽ đến hành vi của người Việt Suy cho cùng những thói quen có tính nhược điểm này là biểu hiện của những tàn dư lịch sử Nếu không có những nhận thức thật sâu sắc để có những biện pháp khắc phục thật hữu hiệu thì đây là một cản trở lớn cho sự phát triển Trong thời đại ngày nay, người ta trù liệu trước cho sụ phát triển ít nhất cũng phải tới vài ba chục năm
2 Như đã trình bày hạch toán kinh tế vốn là một sở đoản của cư dân nông nghiệp Sở đoản này có ở người Việt, khi bước vào nền kinh tế thị trường và cạnh tranh quốc tế, sở đoản này cần phải cần thấy cho hết để chủ động và khiêm tốn học hỏi để khắc phục dần từng bước Vấn đề quan trọng là ở chỗ có nhận thức được đầy đủ và sâu sắc hay không mà thôi
3 Đặc biệt có hại cho sự phát triển là tâm lý bình
Trang 2628
quân cào bằng Đây là sản phẩm của cơ cấu kinh tế - xã hội nông nghiệp - công xã Trong lịch sử, sự bình đẳng làng xã, sự phân hóa xã hội không mấy sâu sắc đã từng đóng vai trò quan trọng cho sự cố kết // đoàn kết cộng đồng Vì vậy tâm lý ghét sự trội vượt - một biểu hiện của tâm lý bình quân đôi khi là một nhân tố cần thiết để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân Nhưng trong phát triển nói chung đây là nhân tố có sức cản vô cùng mạnh mẽ
4 Sẽ không đi vào xã hội công nghiệp được nếu không xây dựng được một lối sống
có kỷ luật Truyền thống tự do, tùy tiện, thiếu kỷ luật chặt chẽ và thói quen trọng tục lệ hơn luật pháp cần phải được khắc phục bằng những biện pháp kiên quyết Chúng ta biết rằng trước khi Nhật Bản bước vào thời đại công nghiệp họ đã trải qua thời kỳ đưa xã hội vào kỷ luật dưới thời Mạc phủ Tokugawa với những hệ thống luật pháp cai trị vô cùng khắt khe và tổ chức xã hội chặt chẽ kiểu Samurai
Tuy nhiên, truyền thống dân tộc cũng để lại cho chúng ta rất nhiều di sản quý mà nếu biết khai thác triệt để và phát huy tốt sẽ không phải chỉ là để có được những giá trị cao quý để chiêm ngưỡng, để tự hào mà còn có lợi thế trong cạnh tranh quốc tế:
1 Trước hết đó là tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức độc lập tự cường rất cao Đây là nội dung cực kỳ quan trọng của truyền thống Việt Nam và là nhân tố cấu thành phẩm chất của người Việt Nam Truyền thống này đã được thể hiện rõ rệt trong những lần Việt Nam phải đối phó với họa xâm lăng từ bên ngoài Tinh thần dân tộc cao sẽ là động lực và sức mạnh thúc đẩy một dân tộc vươn tới đỉnh cao Vấn đề đang đặt ra hiện nay cho Việt Nam là làm thế nào để động viên được tới mức cao nhất sức mạnh này trong công cuộc xây dựng đất nước và cạnh tranh quốc tế
2 Tính cách mềm dẻo, cởi mở và dễ hội nhập - một nội dung của truyền thống Việt Nam là một nhân tố hết sức
Trang 2729
thuận lợi trong hoàn cảnh ngày nay, khi mà thế giới ngày càng phát triển theo xu thế hội nhập
và chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng có xu hướng rút ngắn
3 Truyền thống hiếu học và khả năng trí tuệ của người
Việt đã và đang trở thành một nhân tố bảo đảm cho sự phát triển với tốc độ cao của đất nước và trở thành một thế mạnh trong canh tranh quốc tế trong tương lai
4 Chúng ta đã nói tới nhiều tới sự phát triển chậm trễ, những món " nợ lịch sử " mà sớm muộn chúng ta phải trả ( như công nghiệp hóa chẳng hạn ) Nhưng xét về nhiều phương diện, trong hoàn cảnh thế giới ngày nay sự chậm trễ đó lại đang tạo cho chúng ta một lợi thế :
lợi thế của người đi sau Ô nhiễm môi trường đang là mối lo của cả nhân loại vì trong quá
trình công nghiệp hóa trước đây, nhiều quốc gia, dân tộc đã không có hiểu biết đầy đủ và kinh nghiệm cần thiết trong lĩnh vực này Những nước công nghiệp hóa sau không phải chỉ
có điều kiện đi tắt, đón đầu về công nghệ hiện đại mà còn có đầy đủ kinh nghiệm của các nước đi trước để học tập Nhưng điều có nghĩa quan trọng hơn trên phương diện bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống là chúng ta vẫn còn kịp, nếu như có được sự nhận thức sáng suốt và đầy đủ về tầm quan trọng của việc phải xây dựng một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc xứng với tầm vóc lịch sử của dân tộc và phát huy được lợi thế dân tộc trong cạnh tranh quốc tế
CHÚ THÍCH:
1 A De Rhodes : Từ điển Annam - Lusitan - La tinh, KHXH 1991, tr 567
2 Từ " chế độ" ở đây cần được hiểu là chế định xã hội
3 Từ Hải - Súc ấn bản, Thượng Hải 1989 tr.242
4 Sách khoa từ điển Xô - Viết, Matxcơva 1993, tr.1339
Trang 2830
5 J.v Tavemier : Relation nouvelle et singulière du royaume de Tonkin, R.I
1908-1909
6 Xin xem thêm Vũ Minh Giang - Vũ Văn Quân : Biểu hiện của truyền thống Việt
Nam qua phân tích thống kê " Tục ngữ phong dao " trong tập sách Các giá trị truyền thống
và con người Việt Nam hiện nay, Hà Nội 1994
7 Nguyễn Văn Ngọc : Tục ngữ phong dao NXB tp Hồ Chí Minh 1991
8 J Boissiere : L' Indochine avec les francaises Paris 1890, p.58
9 J.L.Lanessan : Le Tonkin et la mère Paris 1890, p.266
10.P Ory : La commune Anamite au Tonkin, Paris 1894 Bản dịch, Hà Nội 1992,
Trang 2931
CHUNG VÀ RIÊNG TRONG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Phan Đại Doãn1*
I Thế kỷ 15 Nguyễn Trãi viết Dư địa chí và những bạn của ông là Lý Tử Tấn,
Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thiên Túng viết cấn án và thông luận cho sách này chắc chắn đã
nhận rõ cái chung, và cái riêng trong truyền thống các cộng đồng cư dân Đại Việt qua quá
trình phát triển lịch sử và điều kiện địa lý nhân văn Các ông không chỉ phân biệt phạm vi khu vực hành chính các trấn xứ, đặc điểm kinh tế mà cũng phân biệt phong tục tập quán tùng
địa phương Khi bàn về đất Bắc Giang (Hà Bắc) Lý Tử Tấn viết : "Người vùng Kinh Bắc hay
oán giận hung tợn, đầu thời thái bình cũng thường ngang ngạnh Thần trước làm chức hành khiển ở đạo ấy, tâu bày việc nơi biên cảnh, có xin tặng quân số phòng thủ Khi nói về đất Hải
Dương, ông viết: Đạo Hải Dương đất tốt, người hung hãn Thời thái bình thì thuận tòng, thời
loạn thì cường ngạnh, từ Đinh Lê đến giờ vẫn thế " Hoặc khi nói đến Nghệ An, ông viết: "Ở Nghệ An, lòng người nham hiểm hung hãn hơn người Châu Ái Đường sá xa xôi thủy thổ thương quen, các triều đại lấy nơi đó để chế ngự những man đi ở phía Tây Nam"1
Lý Tử Tấn còn nêu một số đặc điểm phong tục tập quán, tính nết con người các vùng Sơn Tây, Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam, có tốt, có xấu, có ưu điểm
* GS Sử học Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 3032
và nhược điểm, theo con mắt của nhà cai trị lúc bấy giờ
Thế kỷ 17 có Dương Văn An viết Ô châu cận lục, thế kỷ XVIII Lê Qúy Đôn viết Phủ
biên tập lục, Trần Danh Lâm viết Hoan châu phong thổ chí, Bùi Dương Lịch viết Nghệ An
ký Sang thế kỷ XIX, hàng loạt sách dư địa chí được biên soạn cẩn thận, chi tiết và đa dạng
Các tác giả Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Siêu cho ra đời
các bộ Hoàng Việt dư địa chí, Gia Định thành thông chí, Phương Đình dư địa chí Và đặc
biệt là các sử thần của Quốc sử quán thời Tự Đức (1847-1883) đã biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí (28 quyển) Ngoài ra còn có thể kể một số địa chí viết về địa phương miền núi như
Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Bình Chính/ Hưng Hóa ký lược của Phạm Tiến Duật,
Cao Bằng thực lục của Bế Hữu Cung v.v
Cái chung và Cái riêng trong sách dư địa chí và địa phương chí của các tác giả trên
được nhận thúc khá sâu sắc, đặc biệt là những biến đổi diên cách địa lý hành chính; về đặc điểm kinh tế (nông lâm sản, các nghề thủ công); về địa hình sông ngòi núi non; về các nhân vật chính trị nổi tiếng; các anh hùng có công với nước với dân và cả về phong tục tập quán và
tính cách con người Phan Huy Chú trong sách Dư địa chí (thuộc bộ Lịch triều hiến chương
loại chí ) có nhận xét về người Nghệ An như sau: "Núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu Người thuần mà chăm học, súc vật thì nhiều thú
Trang 3133
quý của lạ Được khí tốt của núi sông nên sinh ra nhiều bậc danh hiền" Sách trên cũng cho
rằng người Sơn Nam tụ khí anh hoa, tục gọi là văn nhã, còn người Sơn Tây "Phong khí và
nhân vật gần giống như đời cổ, có thói quen theo tính thật thà." 2
Sách Đại Nam nhất thống chí viết nói về người Hà Nội: "Đàn ông chăm học, phụ nữ siêng dệt may, công nghệ tinh khéo, Thành thị là nơi tụ họp công thương, có lẫn cả người nước Thanh, tập tục thích xa hoa, dân thôn quê tằn tiện chất phác" Hoặc bàn về người Hưng
Yên, sách này viết: "Kẻ sĩ gắng học, nhà nông chăm cày ưa tiết kiệm, tránh xa xỉ, cũng giống
như phong tục Nam Định Dẫn huyện Hưng Nhân gián hoặc có người điêu toa ngoa ngoắt, trai huyện Kim Động phần nhiều lười biếng chơi bời"3
Nhận xét về tính cách của người Bắc Ninh, Đại Nam nhất thống chí viết: " Tập tục
văn vẻ mà cần kiệm, gần giống như Hà Nội Đến như làng Phù Đổng thì nổi tiếng trung nghĩa; làng Đằng Yên không cẩu thả về mặt hôn thú, làng Trần Xá chuộng tiết nghĩa, biết lễ phép"4 Mỗi tỉnh chí của bộ sách này đều có mục phong tục chuyên bàn luận về phong tục tập
quán, về tính cách con người Chẳng hạn người Sơn Tây thì "thô lỗ, hung hãn có học thì mới
thoát khỏi tập tục", người Thừa Thiên thì "tập tục thuần hậu, sĩ phu chăm học hành, dân tứ siêng cấy, dệt, kỹ nghệ tinh khéo, văn vật sáng tươi"'; người Khánh Hòa thì "phong tục thuần hậu, tập quán quê mùa Kẻ sĩ chất phác mà trầm tĩnh, nhân dân kiệm mà lành " 5
Trang 3234
Ngày nay xem lại những nhận xét như trên có lời bàn chưa hẳn đã chính xác, nhưng
cố gắng của các tác giả là cố tìm ra những đặc điểm con người địa phương từng tỉnh
Trong thời Pháp thuộc cho đến năm 1945, địa phương chí được biên soạn nhiều hơn Các tác giả có người Việt, người Pháp, có người là học giả, có người là quan chức địa phương Trong cả nước, tỉnh nào cũng có một vài bộ địa chí, bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng
Pháp Nổi tiếng là các bộ sách Le Thanh Hóa của C.Robequin, Les pavsans du delta
Tonkinois (những người nông dân châu thổ Bắc Bộ ) của P.Gourou, Địa chí Hưng Yên của
Trịnh Như Tấu, Địa chí Hà Đông của Hoàng Trọng Phu
Số lượng địa chí của các tỉnh thuộc Nam Kỳ cũng rất phong phú Các tỉnh Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Chợ Lớn, Gia Định, Long Xuyên, Mỹ Tho, Trà Vinh, Vĩnh Long đều có những chuyên khảo công phu
Các địa chí được biên soạn trong thời Pháp thuộc trình bày về nhiều mặt như địa lý tự nhiên, địa lý nhân văn, sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội v.v Nhưng về mặt nhân học (dưới góc độ nhân cách, lối sống) lại khá sơ lược hoặc không đề cập Mục đích viết địa chí của các tác giả thời kỳ cận đại đến năm 1945 là chú trọng đến nội dung kinh tế - chính trị Cái riêng của địa phương được tác giả trình bày chủ yếu là những ưu, nhược điểm về kinh tế
Sau năm 1945, nhất là những năm gần đây, các loại địa chí phát triển phong phú, đa dạng: có tỉnh chí, có huyến chí
Trang 3335
có xã chí Kể có đến hàng trăm Riêng trong những năm 80 đến nay có các bộ sách tỉnh chí lớn là Hà Bắc, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre Các bộ tỉnh chí này thật đáng qúy Đó là loại bách khoa toàn thư của địa phương Người đọc không chỉ biết được
các mặt địa chất, địa lý, lịch sử, kinh tế, dân tộc, tôn giáo, nhân vật lịch sử mà cả về văn hóa (văn học, nghệ thuật v.v.„) cũng khá cụ thể
Về huyện chí có Hậu Lộc (Thanh Hóa) Các địa chí dù đã được biên soạn cách ngày nay mấy thế kỷ hoặc vừa mới xuất bản cũng là sự tự ý thức riêng về một địa phưong trong cái
chung của đất nước Điều dễ nhận thấy là các nhà biên soạn thường chú ý cái riêng của mình
là một xã, một huyện hay một tỉnh Các nhà biên soạn chưa đưa ra sự so sánh cái riêng của địa phương với cái chung của cả nước, hay ít nhất là một vùng (Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây
Nguyên) Nói cách khác, các nhà biên soạn địa chí chưa chú ý đến mối tương quan, tương, hỗ giữa địa phương từng vùng và với cả nước Họ mới chỉ thấy cái riêng mà chưa thấy cái riêng trong cái chung rộng lớn hơn
Một nhược điểm của các địa chí đã xuất bản trong mấy năm gần đây, là theo lối viết
một chiều, chỉ thấy Cái tốt, cái đẹp của địa phương mà không thấy những hạn chế, những
nhược điểm của bán thân con người, của hoàn cảnh địa lý, của kinh tế và văn hóa Đồng thời các tác giả còn nhẹ về những vấn đề hiện đại, đương đại mà thiên về cổ đại, trung đại hoặc thiên về miêu tả các hiện tượng chiến đấu chống ngoại xâm mà còn nhẹ về các vấn đề xây dựng kinh tế - chính trị - văn
Trang 3436
hóa, hoặc nói nhiều về mặt chính diện (dương tính) mà ít phản ánh về mặt phản diện (âm tính)
II MẤY ĐẶC TRƯNG CHUNG
Qua quá trình lịch sử lâu dài, chịu ảnh hưởng của môi trường thiên nhiên, đặc điểm sinh thái, của các hình thái kinh tế xã hội, của công cuộc giữ nước và dụng nước, văn hóa chung của con người Việt Nam, có mấy đặc trưng chủ yếu sau:
.♦ - Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phải trải qua thời kỳ dài hơn, nghìn năm bị phong kiến Trung Quốc thống trị Tưởng rằng người Việt bị đồng hóa thành người Hán, đất nước Việt Nam thành địa phương của Trung Quốc Nhưng không, đúng như nhiều nhà sử học
nhận định: nước mất, nhưng làng không mất Trải qua hàng ngàn năm bị phương Bắc thống
trị, con người Việt Nam đã biết tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa Hán, lại làm cho văn hóa, ngôn ngữ, cuộc sống" kinh tế và xã hội của chính mình thêm phong phú, tăng thêm sức mạnh cho dân tộc Các phong tục tập quán được hình thành lâu đời trong làng quê vẫn được bảo vệ
và lưu truyền
Từ năm 938 về sau, Việt Nam mới thực sự bước vào một kỷ nguyên độc lập mới Song từ bấy giờ đến cuối những năm 70 này nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn phải tiến hành các cuộc kháng chiến toàn dân khốc liệt-chống Tống, chống Nguyên Mông, chống Minh, chống Thanh, chống Pháp, chống Mỹ Mỗi lần kháng chiến, tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam càng được củng cố Tể
Trang 3537
tướng Lý Thường Kiệt khẳng định Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn nói với vua Xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi hãy hàng, tướng quân Trần Bình Trọng mắng quân giặc Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc
Đó chính là tính thần xả thân vì nước
Tới thế kỷ 15, tính thần yêu nước lại được nâng lên với lòng tự hào dân tộc, có một
nền văn minh cao không kém nền văn minh phương Bắc Nguyễn Trãi nói Duy ngã Đại Việt
chí quốc thực vi văn hiến chi bang (Bởi nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến)
Thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ lòng dân yêu nước lại được nâng lên gấp bội Trong
30 năm liên tục, toàn dân Việt Nam đã dốc sức chống kẻ thù xâm lược quyết dành lại nền độc lập dân tộc theo khẩu hiệu Tất cả để chiến thắng Yêu nước trở thành quy phạm đạo đức cao nhất và cũng là chuẩn mực giá trị cao nhất của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói: Thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ là
nguyên tắc cuộc sống Tinh thần yêu nước của người Việt Nam như một chủ nghĩa chỉ dẫn cao nhất của ứng xử xã hội
♦ Tinh thần cộng đồng: Hiện nay hơn 80% dân số Việt Nam trong các làng, ấp, bàn,
buôn ở nông thôn Giữa những con người trong các làng, ấp, bản, buôn còn bảo lưu nhiều quan hệ cộng đồng chồng xếp lên nhau
Trang 3638
Trước hết đó là tinh thần cộng đồng gia đình và dòng họ Gia đình Việt Nam phổ biến
là loại gia đình hạt nhân hay nửa hạt nhân Một số dân tộc miền núi ở Tây Bắc và Tây Nguyên còn mang dấu vết đại gia đình Nhưng nền kinh tế nông nghiệp lúa nước truyền thống đã khiến cho các cá nhân và gia đình phải liên kết lại Mối liên kết đầu tiên có tính tự nhiên là theo huyết thống và nó luôn luôn được tái sinh, tái lập Bởi vậy nên cộng đồng dòng
họ xuất hiện sớm, tồn tại phổ biến lâu dài trong hầu hết các làng quê và thành thị Tục ngũ
Việt Nam có câu giọt máu đào hơn ao nước lã Nhiều dòng họ còn có tộc ước quy định
những điều lệ giúp nhau sản xuất, học hành đối xử với nhau theo lễ nghĩa, có kỷ cương trên dưới, lương thiện nhân tù
Ngoài ra, người Việt còn có cộng đồng dân cư xóm ngõ theo quan hệ dân cư trong làng Mỗi làng ấp theo các trục đường làng, cư dân được chia theo từng xóm nhỏ Mỗi làng phố biến hon 1000 người, được phân thành 4, 5 xóm Mỗi xóm lại là một cộng đồng cư dân nhỏ, song bên cạnh nhau Cộng đồng xóm ngõ bổ sung hữu hiệu và giúp đỡ kịp thời cho gia đình nông dân trong công việc đồng áng, trong đời sống vật chất và tinh thần
Tinh thần cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức và tâm lý người Việt Nam Những
lễ hội truyền thống với niềm hân hoan và sụ đồng cảm được tổ chức hàng năm lại thắt chặt thêm mối quan hệ cộng đồng Nhìn chung các quan hệ cộng đồng như trên cùng đồng thời tồn tại, không mâu thuẫn mà nhiều khi lại bổ sung cho nhau, là điểm tựa
Trang 3739
trong mọi mặt cuộc sống của từng cá nhân, từng gia đình Các tộc người Việt Nam rất tôn trọng người già Tuổi thọ được xem là tiêu chuẩn giá trị Hàng năm vào dịp Tết Âm lịch, gia đình, dòng họ xóm làng đều tổ chức mừng thọ cho các cụ 60, 70 trở lên Ở miền núi lại có già làng người quản lý buôn bản có quyền uy bậc nhất Ngày nay, làng xã nào cũng có hội lão Hội lão giúp cho người già hòa nhập vào xã hội, không đơn lẻ Hội mục đồng giúp cho trẻ em biết đoàn kết, yêu thương biết giúp gia đình và làng xóm từ thuở nhỏ Dòng họ và xóm làng còn giúp cho người nông dân vượt qua những trở ngại khó khăn Cộng đồng là những điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày, trong hòa bình và c trong chiến tranh
Trên thực tế thì tính cộng đồng vốn có nhiều yếu tố tích cực, tuy nhiên do nhiều tầng bậc lớn nhỏ khác nhau nên trong một số trường hợp dễ mang đến tính địa phương, cục bộ trong xử lý cuộc sống cũng như trong quản lý hành chính Trong kháng chiến cùng chống xâm lược thì các cộng đồng làng xã địa phương và cả nước chồng xếp lên nhau như là những vòng tròn đồng tâm, tạo nên sức mạnh vô địch, nhưng trong hòa bình thì mối liên hệ giữa các cộng đồng không chặt chẽ như trước, thâm chí còn xảy ra hiện tượng cục bộ, hẹp hòi có khi còn mâu thuẫn xung đột
♦ Tín ngưỡng hòa nhập: Trước hết người Việt có tập thờ cúng tổ tiên Có người nói:
Đó là ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Có một phần như vậy Nhưng nếu quan sát chi tiết thì tục thờ cúng tổ tiên của người Hán là cái gì
Trang 3840
đương nhiên huyết thống, còn ở người Việt thì dường như có cách suy nghĩ khác: đó là vì ơn
nghĩa và là để đền ơn đáp nghĩa Trên bức đại tụ của nhiều nhà thờ họ thường có câu Ân đức
lưu truyền và trong nhiều gia phả các dòng họ Việt Nam thường có câu mở đầu nước có nguồn, người có tổ tiên; do vậy uống nước phải nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây và
con cháu phải luôn luôn nhớ công lao nuôi dạy của tổ tiên Có thể cho rằng tục thờ cúng của người Việt trước hết là ghi nhớ ơn nghĩa người xưa
Mỗi một làng Việt đều có đình thờ thành hoàng, Ở vùng Nam Bộ thì số lượng đình ít hơn Đình làng vốn là nơi dân tụ họp bàn bạc công việc và cũng là thờ các vị thành hoàng, thần tượng cao nhất của làng Tục thờ thành hoàng ở làng và ngôi đình làng là điểm độc đáo của Việt Nam Trung Quốc cũng có tục thờ thành hoàng nhung chủ yếu là ở thành thị Thần thành hoàng thờ trong các đình nước ta có thiên thần (các hiện tượng tự nhiên có liên quan đến nông nghiệp như mây, mưa, đất, nước ) và nhân thần (những người đã khuất nổi tiếng trong làng nước) Phần lớn các nhân thần là những anh hùng dân tộc, là những người có công
sơ khai lập ấp Quốc tố vua Hùng và nhiều anh hùng, chống Tống, chống Nguyên, chống Minh, chống Thanh là thành hoàng
Như vậy người Việt Nam có tín ngưỡng đa thần (trừ Công giáo) Thần của người Việt
không ở cao xa như một lý trí tuyệt đối siêu nhiên như chúa Jésus, nhu Thánh A La Hoặc như Phật Như Lai Thần của người Viêt cũng không phải là chúa sáng thế hay chúa cứu thế sinh
ra loài người
Trang 3941
và cứu vớt loài người Thần của người Việt sống bên cạnh con người, làm nhiệm vụ hộ quốc,
bảo dân, như sắc thần của triều đình ban xuống Người ta thờ thần là vì cuộc sống trước mắt
chứ không phải cứu vớt linh hồn lên với chúa Trời Người ta thờ thần là vì hiện thế mà không phải vì lai thế
Người Việt Nam không có cuồng tín tôn giáo Các lớp tôn giáo và tín ngưỡng trong gia đình (dòng họ), làng xã và quốc gia hòa hợp nhau, bổ sung cho nhau Thậm chí trong một con người trong một gia đình đều có thờ tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ Phật, thờ Khổng Tử Sự hỗn hợp này là đặc điểm rất lớn, thể hiện sự hòa nhập tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng người Việt xưa và nay
Tư duy trung hòa: Khi xét về tư tưởng của con người Việt Nam không nên tách biệt
với tín ngưỡng và tôn giáo Người Việt chịu ảnh hưởng của Nho giáo khá sâu đậm qua giáo dục và thi cử Nho học hàng ngàn năm, đồng thời người Việt Nam cũng theo Phật giáo Thiền tông, từ bi nhân hậu mà rất hiện thực Người Việt cũng có nhiều yếu tố Đạo giáo Đó là những
hệ tư tưởng và tôn giáo từ Trung Quốc truyền nhập vào các thế kỷ sau công nguyên Nho
giáo ràng buộc con người vào trật tự xã hội- Phật giáo lại giải thoát cá nhân khỏi bể khổ
trầm luân và Đạo giáo lại tạo ra một ước mơ bay bổng cho cuộc sống Cả ba hệ tư tưởng và
tín ngưỡng trên dung hòa thể hiện tư duy người Việt không cố chấp, mà ngược lại rất cởi mở, bao dung Từ thời Lý đến cuối thời Nguyễn, người Việt đã sử dụng Nho giáo để tổ chức xã hội, nhưng hầu như làng quê nào cũng có
Trang 4042
chùa của Phật giáo Phật giáo và Nho giáo vẫn tồn tại song song làm cho tu duy của người Việt linh hoạt
Nhiều nhà nghiên cứu muốn khái quát tư tưởng cơ bản của người Việt Nam bằng một
từ ngắn gọn là trung, là hiếu hay là nghĩa Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên đều chịu ảnh hưởng của Nho giáo, đó là điểm chung Nhưng ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc đến
Nhật Bản và Việt Nam lại có những tác động khác nhau và bị tái cấu trúc Các học giả Nhật
Bản đều cho rằng: Nho giáo đến với Nhật Bản, được người Nhật Bản tiếp nhận chủ yếu là Trung (tất nhiên không loại trừ hiếu và nghĩa) Lý do là lịch sử và xã hội Nhật ẩn có đặc điểm khác với Trung Quốc và Việt Nam ở mấy điểm sau:
♦ Gần nghìn năm qua, dòng họ làm hoàng đế Nhật Bản không thay đổi Các thời đại Kamakura (1185-1335), Ashikaga Bakufu và Seneoku Jidai (1336-1590), Tokugawa (1603-
1870) kế tiếp nhau nhưng trước sau cũng chỉ có một dòng họ làm Thiên hoàng (và được duy
trì đến hiện nay)
♦ Một đẳng cấp võ sĩ đạo được tồn tại suốt trong thời kỳ phong kiến Gần 700 năm,
đẳng cấp vũ sỉ (Bushi hay samurai) xây dựng chính quyền Bakufu (Mạc phủ) ở Kamakura vào năm 1185 cho đến lúc chính quyền Tokugawa Bakufu bị lật đổ vào năm 1867 Đẳng cấp này vì quyền lợi của họ, luôn luôn đề cao chữ Trung
Do đặc điểm trên, nên trong quan niệm và tư tưởng Nho giáo truyền thống chủ yếu
của Nhật Bản là Trung