1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬN THỨC VỀ VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CỦA NHỮNG BẬC CHA MẸ CÓ CON Ở ĐỘ TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

57 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 193,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chương III: Nhóm đã phát phiếu khảo sát tới các bậc phụ huynh ở ViệtNam mà địa bàn khảo sát là trường trung học phổ thông Nguyễn HữuHuân tại phường Bình Thọ - Quận Thủ Đức – Thành phố

Trang 1

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: LÊ THỊ THU HIỀN 1256150036

Trang 2

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5

3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài: 8

Lý do chọn đề tài: 8

Mục tiêu của đề tài: 10

Nhiệm vụ của đề tài: 10

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 11

4.1 Cơ sở lý luận của đề tài: 11

4.2.Phương pháp nghiên cứu: 14

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài: 15

5.1.Đối tượng nghiên cứu 15

5.2.Phạm vi nghiên cứu 15

5.3.Khách thể nghiên cứu 15

5.4 Giới hạn của đề tài 15

6 Đóng góp mới của đề tài: 15

7 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn: 16

7.1.Ý nghĩa lý luận 16

7.2.Ý nghĩa thực tiễn 16

8 Kết cấu của đề tài: 17

CHƯƠNG I 18

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 18

1.1 Các khái niệm liên quan 18

1.1.1 Giáo dục giới tính 18

1.1.2 Nhận thức 18

1.1.3 Vị thành niên 20

1.2 Giả thiết nghiên cứu 21

1.3 Khung nghiên cứu 22

CHƯƠNG II 23

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH LÀ THỰC SỰ CẦN THIẾT 23

2.1 Những nhìn nhận về vấn đề giáo dục giới tính 23

2.2 Nội dung của vấn đề giáo dục giới tính 25

2.3 Vai trò của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 26

2.3.1.Trong gia đình 26

2.3.2.Trong nhà trường 28

2.3.3.Xã hội 30

2.4 Những nguyên nhân và tác hại khi trẻ vị thành niên thiếu kiến thức về giáo dục giới tính 30

2.4.1 Nguyên nhân 30

2.4.2 Tác hại 32

2.5 Mẫu nghiên cứu 33

CHƯƠNG III 34

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 34

Trang 3

3.3 Những yếu tố tác động đến nhận thức của những bậc cha mẹ về vấn đề giáo

dục giới tính 39

KẾT LUẬN 42

KHUYẾN NGHỊ 45

Đối với nhà trường: 45

Đối với gia đình 46

Xã hội 48

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 49

Trang 5

Phần 2: Nhóm tác giả chia ra làm 3 chương.

- Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài Nhóm đã tìm hiểu những khái niệm

từ nhiều nguồn khác nhau liên quan tới công trình để người đọc hiểuđược những thuật ngữ khó từ đó hiểu sâu hơn về đề tài Trình bày còn cógiả thiết nghiên cứu và khung nghiên cứu

- Chương II: Nhóm đã chứng minh được việc giáo dục giới tính là cầnthiết Sự khác nhau về suy nghĩ cũng như cách thức giảng dạy, bày tỏ vềvấn đề giới tính tình dục của các nước trên thế giới và nhất là ở ViệtNam Những nội dung cơ bản cũng như vai trò của gia đình, nhà trường,

xã hội tới việc giáo dục giới tính cho trẻ ở tuổi vị thành niên là hết sứccần thiết Nhóm tác giả cũng nêu ra được những nguyên nhân cũng nhưtác hại sẽ xảy ra nếu trẻ không được giáo dục về giới tính một cách đúngđắn và logic

- Chương III: Nhóm đã phát phiếu khảo sát tới các bậc phụ huynh ở ViệtNam mà địa bàn khảo sát là trường trung học phổ thông Nguyễn HữuHuân tại phường Bình Thọ - Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh

về vấn đề nhận thức về việc giáo dục giới tính của các bậc cha mẹ có con

ở độ tuổi Vị thành niên Phân tích và xử lý số liệu một cách hoàn chỉnh

và đúng phương pháp

Phần kết luận và khuyến nghị: nhóm tác giả đã đưa ra những kết luận sau khinghiên cứu công trình và có một số khuyến nghị giúp các bậc phụ huynh có cáinhìn toàn diện cũng như đúng đắn về việc giáo dục giới tính cho con cái mộtcách tốt nhất tránh nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra

Trang 6

M Đ U Ở ĐẦU ẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hiện nay, tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường học tại Việt Nam rất thấp (chỉ cókhoảng 0.3% trường Trung học phổ thông có đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy chohọc sinh) Thiếu hụt kiến thức về giới tính và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếudẫn đến số lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao Điều này ảnhhưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên Theo Hội Kếhoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai

ở độ tuổi 15-19 trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước ĐôngNam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thaităng liên tục qua các năm Việc mang thai ở tuổi vị thành niên để lại những hệ lụy vàhậu quả nặng nề do các bà mẹ nhỏ tuổi còn quá trẻ, thể chất và tinh thần chưa pháttriển để sẵn sàng làm mẹ Giáo dục giới tính dường như vẫn là một khái niệm mớitrong xã hội Việt Nam Giáo dục giới tính, hiểu một cách đầy đủ là sự giáo dục về sinh

lý cơ thể, vệ sinh thân thể, sức khỏe sinh sản và tình dục Thế nhưng ở nhiều gia đình,các bà mẹ không giải thích được cho con những điều căn bản nhất về việc giáo dụcgiới tính cho con cái Cha mẹ cũng chưa hiểu được rằng nhu cầu tìm hiểu về giới tínhcủa con cái là điều tự nhiên, cần thiết và tất yếu nên họ không giáo dục cho con về vấn

đề này, nhiều người hiểu vấn đề nhưng vì ngại nên không muốn nói ra Ở nước ta, giáodục giới tính không được hiểu theo đúng nghĩa của nó Gia đình Việt Nam ngày naycòn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến và bởi vậy, việc giáo dục giớitính hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức Hoạt động giáo dục giới tính phổbiến trong các gia đình chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì Vớinhiều bậc phụ huynh, giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra Trên thực tế

đã có nhiều trường hợp các em nam phạm tội hiếp dâm, các em nữ có thai ở tuổi vịthành niên Nhiều trẻ ở lứa tuổi 14-15, còn cắp sách đến trường, chưa có kinh nghiệm

về cuộc sống gia đình nhưng đã phải làm cha mẹ do thiếu hiểu biết về tình dục Đây làvấn đề làm đau đầu người lớn và người ta cho rằng nguyên nhân là do tác động từ kinh

tế thị trường, sự du nhập của văn hóa ngoại lai, chạy theo lối sống ăn chơi, suy đồi vềmặt đạo đức Vì vậy “Giáo dục giới tính” là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo

Trang 7

dục về giải phẫu sinh dục, quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm,quyền sinh sản và các trách nhiệm, biện pháp tránh thai, và các khía cạnh khác của thái

độ tình dục loài người Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha

mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khoẻ cộngđồng Thế nhưng được biết trong một cuộc khảo sát gần 4700 thanh niên chỉ có 2,6%cho biết kiến thức về giới tính được bố mẹ giáo dục Trung tâm nghiên cứu tâm lý và

sự phát triển nhanh của thanh thiếu niên giải thích: “Các bậc phụ huynh luôn cho rằngnhững vấn đề liên quan tới giới tính rất tế nhị Mặt khác, con mình còn quá nhỏ để tìmhiểu về những vấn đề ấy Có khi chính phụ huynh cũng không nắm rõ kiến thức vềgiới tính để diễn đạt cho con mình hiểu” Chính vì thế mà nhiều trường hợp đáng tiếc

đã xảy ra như: Con mắc bệnh thủ dâm, quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành, biếnđổi giới tính… Bố mẹ thường tránh né, ngại ngùng khi trẻ hỏi về chuyện tình dục.Chính vì các quan niệm sai lầm đó của các bậc phụ huynh mà không ít lần ngườilớn “đỏ mặt” trước các thắc mắc của trẻ Một phụ huynh đã chia sẻ rằng: “Dạo này, côcon gái 5 tuổi của chị hay hỏi rất nhiều chuyện liên quan đến giới tính, sinh sản Cháuhỏi tại sao gái đi tè phải ngồi, con trai lại đứng, con sinh ra ở đâu… làm chị phải lôingay chuyện khác để đánh lạc hướng con Thế nhưng cháu vẫn đeo mẹ để hỏi bằngđược “Con sinh ra ở đâu?” Bí quá chị trả lời: “Con sinh ra ở bệnh viện Từ Dũ”.” Một phu huynh khác chia sẻ lâu nay, tôi vẫn vòng vo nói với cậu con trai 8 tuổi là cháusinh ra từ nách, từ rốn mẹ Lần đó, hai mẹ con đến dự một chương trình tư vấn giớitính, khi được chuyên gia hỏi: “Con biết mình được sinh ra từ đâu không?” tôi ngỡngàng khi cháu đáp: “Con sinh ra từ “cái ấy” của mẹ” Hóa ra cháu biết nhiều hơnmình tưởng mà mình cứ né tránh

Về phía nhà trường hiện nay những trường hợp nữ học sinh trở thành mẹ haynhững cái chết thương tâm bởi bản thân vướng vào con đường tình yêu, tình dục quásớm… không còn xa lạ Đó là hệ quả tất yếu từ việc “xem nhẹ” chương trình giáo dụcgiới tính và sức khỏe sinh sản trong trường học hiện nay Chương trình giáo dục giớitính hay bị bố mẹ né tránh cho rằng giáo dục giới tính là việc của nhà trường Nhưngthực tế hiện nay ở trường học, việc giáo dục giới tính chưa được thực hiện đến nơi đếnchốn nên học trò đang phải tiếp cận kiến thức một cách “nửa vời” Nếu như ở cấp tiểuhọc học sinh học về giới tính ở lớp 5 thì lên cấp Trung học cơ sở, phải đợi tới lớp 8,giáo dục giới tính mới trở lại, chủ yếu nằm ở môn sinh học như cơ quan sinh dục nam/

Trang 8

nữ, thụ tinh/thụ thai và phát triển thụ thai, cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai.Tới cấp Trung học phổ thông, học sinh đều đã bước vào tuổi trưởng thành thì giáo dụcgiới tính lại chỉ được dạy theo kiểu “lồng ghép” qua các môn giáo dục công dân, vănhọc, địa lý, sinh học Theo cô giáo Nguyễn Thị Phương, Phó Hiệu trưởng trường tiểuhọc Đoàn Thị Điểm, giáo dục giới tính bắt đầu được Bộ GD-ĐT đưa vào giảng dạycho học sinh từ lớp 5 Cụ thể, trong sách Khoa học lớp 5, các em đã được học về “sinhsản", phân biệt giới tính "nam hay nữ", "Cơ thể chúng ta hình thành như thế nào?".Tuy nhiên, đúng là cách tiếp cận vấn đề giới tính hiện chưa hấp dẫn và vẫn mang nặngkiến thức khoa học nhiều hơn là tâm lý Vì thế, học sinh càng học thì càng tò mò.Chẳng hạn sau khi cô giáo dạy “quá trình tinh trùng kết hợp với trứng được gọi là sựthụ tinh Trứng đã được thụ tinh gọi là hợp tử", đa phần các em thắc mắc tiếp… “làmthế nào để tinh trùng gặp được trứng?” Theo cô Phương, học sinh tiểu học cần kiếnthức khoa học nhưng chỉ vừa phải Quan trọng hơn là phải giúp các em sẵn sàng vớibiến đổi cơ thể, biết tôn trọng bạn khác giới, đặc biệt là có kỹ năng phòng chống xâmhại tình dục Tiếc rằng, những điều này sách giáo khoa không hề nhắc tới.

Vì vậy cha mẹ phải quan tâm đến con cái ở lứa tuổi này để nhận biết đúng sựthay đổi của con cái để có sự uốn nắn kịp thời Để cho các em ít hoang mang lo lắngtrước sự thay đổi của bản thân, bởi vậy việc giáo dục giới tính cho các em là hết sứccần thiết, và các bậc cha mẹ cũng không nên hiểu rằng giáo dục giới tính là chỉ cho trẻhiểu biết những cơ sở của lối sống tình dục Giáo dục giới tính, như nhà nghiên cứuV.Vladi- D.CapuXtin trong cuốn Giáo dục giới tính tuổi thơ đã chỉ rõ: “Giáo dục giớitính là bộ phận không thể tách rời của giáo dục đạo đức, gắn liền với một loạt các vấn

đề giáo dục học và y học Nó giúp cho trẻ hiểu biết được vai trò của con trai hoặc congái, của một thanh niên hoặc một phụ nữ, tiếp đó là phải hiểu vai trò của người đànông hoặc người đàn bà, cả vai trò của người chồng hoặc người vợ, người bố hoặcngười mẹ cho phù hợp với các nguyên tắc đạo đức xã hội…” Cũng như giáo dục nóichung, giáo dục giới tính phải được tiến hành có phân hoá tuỳ theo từng lứa tuổi, cókhối lượng và hình thức phù hợp để đứa trẻ có thể nhận thức được Muốn giáo dụcđúng thì các bậc cha mẹ phải nắm bắt được và biết tất cả các giai đoạn phát triển thôngthường và những dấu hiệu không bình thường Để cho đứa trẻ sớm có những hiểu biết

về giới tính của mình thì ngay từ lúc đang còn nhỏ

Trang 9

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu.

Liên quan đến đề tài, đã có những bài viết, công trình nghiên cứu sau:

Bài nghiên cứu '' Sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên Việt Nam '' nằm trongchương trình điều tra ban đầu của RHIYA ( Sáng kiến sức khỏe thanh thiếu niên châu

Á ) do PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng, ThS Lưu Bích Ngọc thực hiện, đã chỉ ra nhữngsai lầm trong kiến thức về giới tính nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng Đề tàiđược thực hiện vào năm 2006, với đối tượng là thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 15-20.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các kiến thức hợp về sức khỏe sinh sản-tình dục,tránh thai và các bệnh liên quan đến đường tình dục chỉ được xác định ở mức biết banđầu, chỉ có 21% thanh thiếu niên được đánh giá là có kiến thức này Trong đó, kiếnthức về sinh sản và phòng tránh thai được đánh giá là kém nhất trong các kiến thức vềsức khỏe sinh sản, chỉ có 46.7% thanh thiếu niên có kiến thức đúng về sinh sản Kiếnthức về bệnh liên quan đến đường tình dục là kém thứ hai chỉ có 1/3 thanh thiếu niênđược hỏi nêu được tên ba loại bệnh trở lên, rất ít trong số đó biết được cách chữa trị vànơi chữa trị Kiến thức về về sử dụng biện pháp tránh thai được đánh giá là kém thứ

ba Từ những kết quả nghiên cứu cứu này, đề tài đã cho chúng ta một bức tranh tổngquát về kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản

Bài viết “Tại sao cần giáo dục giới tính cho lứa tuổi Vị thành niên” của trangcẩm nang sức khỏe1 cũng đã có bài viết nêu rõ một số nguyên nhân để chứng minhrằng việc giáo dục kiến thức giới tính ở độ tuổi VTN là rất quan trọng Trong bài viếtnày tác giả cũng đã đưa ra những con số cụ thể của việc trẻ không được GDGT như:

“Việt Nam là nước đứng thứ 5 thế giới về tình trạng nạo phá thai ở tuổi vị thành niên.Theo số liệu của Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, tỷ lệ trẻ vị thành niên có thai trongtổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010 là 2,9%, năm 2011 là3,1% và đến năm 2012 là 3,2% tương ứng với tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2%năm 2010, 2,4% năm 2011 và 2,3% năm 2012.” Những số liệu cụ thể cũng đã phầnnào minh chứng cho việc giáo dục giới tính ở trẻ VTN là rất quan trọng và cầnthiết.Giúp các em trong bị đầy đủ các kiến thức cơ bản nhất về vấn đề giới tính chính

là một cách phòng tránh cho các em những trường hợp đáng tiếc xảy ra

Bài viết “Người lớn là rào cản khi giáo dục giới tính”2 của tác giả Lê Hiền

1 http://nhatkybe.vn/cam-nang/suc-khoe/tai-sao-can-giao-duc-gioi-tinh-cho-lua-tuoi-vi-thanh-nien.html

2 http://www.thanhnien.com.vn/giao-duc/nguoi-lon-la-rao-can-khi-giao-duc-gioi-tinh-44839.html

Trang 10

đăng trên báo Thanhnien online, bằng việc những số liệu nghiên cứu của Trung tâmSáng kiến sức khỏe và dân số tác giả đã chứng minh việc thiếu hụt kiến thức về giớitính ở độ tuổi vị thành niên là rất lớn, đồng thời cũng chỉ ra những sai lầm trong quanniệm của cha mẹ và thầy cô trong việc giáo dục giới tính Theo tác giả việc giáo dụcgiới tính trong nhà trường còn mang tính hàn lâm, khô cứng, không thiết thực, khiếncho nó trở nên nhàm chán không thu hút được sự quan tâm và hứng thú của học sinh.

Vì thế, các em có xu hướng tự tìm hiểu, khám phá, đây chính là nguyên nhân dẫn đếnnhững suy nghĩ và hành vi lệch lạc về giới tính Bài viết cũng thể hiện những mongmuốn của trẻ trong việc tiếp cận với những thông tin về giới, họ mong muốn người lớncoi chuyện tình yêu tình dục tuổi vị thành niên một cách nghiêm túc Thông qua bàiviết tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục về giới tính, mà vai tròcủa người lớn đối với vấn đề này

Trang vinaresearch.net đã có một khảo sát dựa trên nhóm đáp viên trực tuyếnVinaresearch về vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ”3 Ở đây trang đã khảo sát trựctuyến các bậc cha mẹ độ tuổi từ độ tuổi 20 với 862 mẫu hợp lệ và cho ra các kết quả,

số liệu cụ thể rõ ràng và chi tiết Bài nghiên cứu với những câu hỏi thiết thực về vấn đềliên quan tới vấn đề cha mẹ giáo dục giới tính cho con cái mặt khác mẫu nghên cứucũng đã cho thấy được rằng các bậc phụ huynh chỉ thỉnh thoảng hay lúc con cái thắcmắc về vấn đề giới tính mới bày tỏ, nói cho con hiểu nhưng mà vẫn không giải thích tỉ

mỉ cho con cái, nhưng giải thích cũng chỉ dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của bảnthân Hầu hết các bậc phụ huynh ủng hộ vấn đề GDGT trong trường học nhưng cũng

có một bộ phận các phụ huynh không đồng ý vì sợ ảnh hưởng tới tâm lý trẻ nếu GDGTquá sớm Bài khảo sát cũng đã cho ta thấy được cha mẹ cũng đã có nhiều xu hướngnhìn nhận tích cực về vấn đề GTGT cho trẻ, giúp trẻ nhận thức tốt về vấn đề giới tính.Thà vẽ cho hươu chạy đúng đường còn hơn là để hươu chạy sai đường

Một bài viết thuộc bản quyền của viện Xã hội học4 của tác giả Nguyễn Thị TốQuyên viết về vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” Tác giả đã đề cậpđến nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em không được giáo dục giới tính từ cha mẹ,nhà trường do tâm lý ngại ngùng nên họ sẽ im lặng trước các câu hỏi liên quan tới giớitính mà các em thắc mắc thì các em sẽ tò mò mà tìm đếm các mạng xã hội, sách báo

để thỏa chí tò mò Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra mục đích cuối cùng mà giáo dục

3 https://www.vinaresearch.net/userfiles/file/Report_Year%202013/Report_Giao_duc_gioi_tinh_cho_tre.pdf

4 bản quyền của viện Xã hội học số 1 (89), 2005- 85 của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên

Trang 11

giới tính mang lại cho các em đó chính là trang bị những kiến thức tâm lý đặc điểmcủa mỗi giới Tác giả cũng đã có những số liệu cụ thể về tính cần thiết cũng như mức

độ hiểu biết về giới tính của các bậc cha mẹ trong đó thì phần lớn cha mẹ vẫn ý thứcđược tầm quan trọng của những cuộc nói chuyện trao đổi trực tiếp với con cái Nhưngcũng có một số bộ phận cha mẹ còn chưa ý thức được tầm quan trọng của GDGT chothấy họ vẫn còn có những tầm nhìn hạn hẹp, theo xu hướng truyền thống hơn là hiệnđại Thông điệp mà tác giả giửi đến đó là cha mẹ cần nghiêm túc, tế nhị trong giảngdạy về giới tính cho con trẻ và không được đánh trống lảng hay bỏ mặc trẻ trongnhững vấn đề nhạy cảm như giáo dục giới tính

ThS Đào Thị Vân Anh thuộc trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông cũng

đã có bài viết “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình”5 Tác giả đã đưa ranhững dẫn chứng cụ thể cần thiết về việc GDGT cho trẻ, những nguyên nhân kháchquan và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng cách Tác giả cũng đã nóirằng: “Giáo dục tình dục thật ra có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm

lý phù hợp nhất trong cuộc sống yêu đương để rồi có một đời sống tình dục thực sự hàilòng, thực sự hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT haykhông GDGT cho con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rấtlớn tới việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đềgiới tính thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường Tác giả cũng đã kết luậnrằng cần giáo dục giới tính cho trẻ tự nhiên, bình thường như các chương trình giáodục khác và phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha mẹ và con cái Những phântích cụ thể của Ths Đào Thị Vân Anh đã cho ta thấy tầm quan trọng của cha mẹ vềvấn đề giáo dục giới tính đã viết cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện hơn về việc định hướng vànhìn nhận, suy nghĩ đúng đắn của kến thức về giới

Bài viết “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn”6 của TS Thụy Anh đăngtrên wedsite Tuoitre.vn Bài viết đã cho chúng ta thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ trẻ đã

có những thắc mắc, tò mò về vấn đề giới tính thông qua các câu được đặt ra cho bố

mẹ Đó chính là những tìm hiểu đầu tiên về giới tính chính đáng cần được bố mẹ giảiđáp rõ ràng, khéo léo, dễ hiểu chứ không phải lảng tránh hoặc lờ đi Bắt đầu từ nhữnghỏi - đáp như thế, bố mẹ có thể giáo dục giới tính cho con rất nhẹ nhàng và tự nhiên

5 http://www.ier.edu.vn/content/view/544/174/

6 nguoilon.html

Trang 12

http://tuoitre.vn/tuoi-tre-cuoi-tuan/cuoc-song-muon-mau/520809/Giao-duc-gioi-tinh-va-thai-do-cua-Nếu bố mẹ có thói quen bỏ qua không đối mặt với những câu hỏi hóc búa của conhoặc những câu hỏi liên quan đến các vấn đề tế nhị, không sớm thì muộn đứa trẻ sẽtiếp cận nguồn thông tin khác để thỏa mãn tò mò của mình Vô hình chung, đây chính

là bước đầu tiên cho việc chính các phụ huynh bị sốc sau này khi bé con khoe nhữngkiến thức thu nhặt được bên ngoài, từ các nguồn đáng tin hoặc chưa được kiểm chứng.Cũng theo tác giả vai trò của bố mẹ hoặc giáo viên rất quan trọng Họ phải vượt quađược cảm giác ngại ngùng khi bàn vấn đề này với trẻ và tỏ ra rất bình thản, đúng mực,không hoảng hốt Thái độ đó khiến trẻ nhìn vấn đề một cách khoa học hơn và cũngkhông quá lo sợ khi nhìn ra thế giới Thêm vào đó, người lớn phải có thái độ chấpnhận và đối mặt với bất kỳ vấn đề gì trẻ nêu ra, cũng lại một cách bình thản, để giữatrẻ và người lớn có thể có những thảo luận thật sự, chân thành, không e ngại, cũngkhông tự đánh lừa mình rằng “con/học trò của mình còn quá bé, chưa biết đến điều nàyđâu” Thái độ tôn trọng, bình tĩnh, tiếp nhận vấn đề và sẵn sàng cùng giải quyết bất kỳvấn đề nào của trẻ là thái độ cần có trong giáo dục giới tính

Thông qua những bài viết, công trình nghiên cứu này Đã cung cấp cho chúngtôi một số thông tin để phục vụ cho đề tài như là thực trạng việc giáo dục giới tính hiệnnay, những sai lầm trong quan niệm của những bậc cha mẹ, đồng thời còn giúp chúngtôi giải thích được một số nguyên nhân dẫn đến việc ngày càng nhiều trẻ những nhậnthức sai lệch về giới tính Từ đó, giúp đưa ra một số kiến nghị, giải pháp giúp các nhàlãnh đạo có những chiến lược phù làm giảm bớt tình trạng trên

3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

Lý do chọn đề tài:

Theo báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểutoàn quốc của Đảng, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm (2001-2006) đạt 7% Tổng vốnđầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn năm 2001-2005, đạt 42.9% GDP Mặc

dù khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu nhưng thu hút vốn đấu tư nước ngoài sảnphẩm trong nước (GDP) năm 2010 tính theo giá trị thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26lần năm 2000, GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD Hầu hết các ngành, các lĩnhvực kinh tế đều có bước phát triển khá Xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh xã hộiđạt kết quả tích cực Trong 5 năm đã giải quyết được việc làm cho trên 8 triệu lao

Trang 13

động, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm 9,5%, tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5% Vớinhững con số ấn tượng mà nước ta đã đạt được trong hơn một thập kỉ thì đây chính lànhững thành tựu đáng kể về sự phát triển kinh tế xã hội trong kỷ nguyên mới… Tuynhiên, chính sách hội nhập và mở cửa cũng làm phát sinh và gia tăng những thách thứcmới về văn hóa xã hội như : tham nhũng, ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV… Điều này

đã gây ra những tác động lớn đối với trật tự xã hội ở Việt Nam và ảnh hưởng mạnh mẽtới lớp trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước

Dù bất cứ quốc gia nào thì vai trò của người trẻ luôn được khẳng định, họ làtiềm năng to lớn quyết định sự thịnh vượng của mỗi quốc gia, dân tộc, chính vậy mà

họ luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của nhà nước và toàn xã hội trong việc chămsóc, bảo vệ, đặc biệt là việc giáo dục Ở đây việc giáo dục không chỉ dừng lại ở việcgiáo dục nhân cách, nhận thức, hành vi, hay văn hóa Mà việc giáo dục về giới tínhcũng rất được coi trọng nhất là ở các nước phương Tây như:

Ở Hà Lan7, hầu như mọi trường cấp II đều có các bài giảng về giáo dục giớitính một phần của môn sinh học, hơn một nửa trường tiểu học có thảo luận về tình dục

và tránh thai Truyền thông đã khuyến khích đối thoại công khai và chương trình chămsóc sức khỏe đảm bảo một cách tiếp cận bí mật và không phán xét Hà Lan có tỉ lệmang thai vị thành niên ở hàng thấp nhất thế giới, và cách tiếp cận của Hà Lan thườngđược các nước khác coi là hình mẫu

Ở Thụy Điển8, giáo dục giới tính trở thành chương trình bắt buộc trong giáo dụchọc đường từ năm 1956 Môn học được bắt đầu từ tuổi lên 7-10 và tiếp tục ở nhữnglớp cao hơn, có liên hệ chặt chẽ với những môn như sinh học và lịch sử Ở Anh và XứWales, giáo dục giới tính trong trường học không phải là môn bắt buộc do có nhiềubậc cha mẹ e ngại không muốn cho con tham gia Chương trình nhắm vào việc giảngdạy hệ thống sinh sản, sự phát triển của bào thai và những thay đổi tâm sinh lý của tuổithiếu niên

Còn ở nước ta, do đặc trưng văn hóa và nhận thức của người dân còn hạn chế,nên vấn đề giới tính được xem là tế nhị nên thường lảng tránh và không đề cập côngkhai

Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc mỗi năm tại Việt Nam trung

7 http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_gi%E1%BB%9Bi_t%C3%ADnh

8 http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_gi%E1%BB%9Bi_t%C3%ADnh

Trang 14

bình có khoảng 300.000 ca nạo phá thai, tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trong khu vựcĐông Nam Á và được xếp thứ 5 trên thế giới9 Điều đáng buồn nhất là tỉ lệ nạo pháthai lại rơi chủ yếu vào lứa tuổi vị thành niên Nếu chúng ta không thay đổi quan niệm

và cách tiếp cận ngay bây giờ thì con số ấy sẽ còn ra tăng vào những năm tiếp theo

Nhận thấy tầm quan trọng và cần thiết của việc giáo dục giới tính hiện nay, nên

nhóm chúng tôi đã thực hiện đề tài '' Nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên ( điểm cứu P.Bình Thọ, Q.Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh )'' nhằm tìm hiểu về mức độ nhận thức của những bậc cha mẹ về vấn đề giới

tính, những lý do gì khiến họ lảng tránh vấn nó Từ đó đưa ra những kiến nghị và giảipháp góp phần thay đổi cách suy nghĩ của họ một cách tích cực

Mục tiêu của đề tài:

Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu nhận thức thực trạng về việc giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ

có con ở độ tuổi vị thành niên

Mục tiêu cụ thể

Với đề tài '' Nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ có con

ở độ tuổi vị thành niên'' chúng tôi mong muốn đạt được những kết quả sau đây:

Tìm hiểu nhận thức thực trạng việc giáo dục giới tính của những người làm cha mẹ cócon ở độ tuổi vị thành niên

Đánh giá mức độ coi trọng việc giáo dục về giới của những người làm cha mẹTìm hiểu những khó khăn trở ngại của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho con cáicủa họ từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị Giúp các cơ quan có cái nhìn tổngquát vế vấn đề giáo dục giới tính nhằm đưa ra những chiến lược kế hoạch can thiêp kịpthời

Nhiệm vụ của đề tài:

Vì đề tài của chúng tôi là “ nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậccha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên” nên nhiệm vụ của đề tài chúng bao gồm nhưsau: Nhiệm vụ đầu tiên: Phải làm cho các bậc cha mẹ nhận thức tốt và rõ ràng hơn vềviệc giáo dục giới tính ở lứa tuổi vị thành niên Bởi vì khi bậc cha mẹ càng hiểu rõ vềviệc giáo dục giới tính thì việc giáo dục giới tính mới mang tính hiệu quả thiết thực và

9 http://kienthucgioitinh.org/tinh-trang-nao-pha-thai-o-viet-nam-hien-nay.html

Trang 15

xóa bỏ những suy nghĩ sai lệch về việc giáo dục giới tính

Nhiệm vụ thứ 2: Là đề tài phải nêu lên tầm quan trọng của việc giáo dục giớitính không những ở trong gia đình mà còn ở trường học và trong xã hội cũng là nhữngmôi trường để thực thi việc giáo dục giới tính Như ta biết gia đình là môi trường xãhội hóa đầu tiên của con người, trong đó bố mẹ là nhân tố quan trọng nhất đến sự pháttriển của con cái, cũng qua nghiên cứu chúng tôi cho thấy được tầm quan trọng củamôi trường gia đình trong việc giáo dục giới tính (chiếm 45%) Ngoài ra không ítnhững bậc cha mẹ chọn môi trường trường học là nơi để giáo dục giới tính vì họ chorằng trường học là nơi giáo dục tốt nhất (chiếm 51%), và đây là môi trường quan trọng

và hiểu quả không kém so với gia đình Gia đình và trường học nơi có điều kiện giáodục tốt nhất, tuy nhiên các tổ chức xã hội cũng mang lại sự hỗ trợ không nhỏ cho qáutrình thay đổi nhận thức của mọi người về giáo dục giới tính theo phương thức thẩmthấu từ ngoài vào trong (chiếm 7%)

Nhiệm vụ thứ 3: Nêu lên nguyên nhân và tác hại khi trẻ vị thành niên thiếu kiếnthức về giáo dục giới tính Khi xem về nhiêm vụ này của đề tài ta thấy khi các emkhông được giáo dục đầy đủ, kém hiểu biết về giới tính, không làm chủ được một sốbản năng, thì sẽ dễ đưa các em sa vào các con đường sai trái Chỉ ra được một sốnguyên nhân chủ yếu như là thiếu hiểu biết về nguyên nhân, ảnh hưởng phim ảnh,không được gai đình quan tâm, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, ảnh hưởng qualối sống du nhập từ nước ngoài…

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Cơ sở lý luận của đề tài:

4.1.1 ''Lý thuyết xã hội hóa” 10

Xã hội hóa là quá trình học tập văn hóa của mọi người và phong cách sốngtrong nền văn hóa ấy Đối với cá nhân, xã hội hóa mang lại những động lực cần thiếtcho hoạt động và tham gia xã hội Đối với cá nhân, xã hội hóa là những phương tiện đểđạt được sự tương tác văn hóa của xã hội thông qua việc đưa các thành viên cá nhânvào các luật lệ, cách ứng xử, giá trị, động lực của xã hội Đây chính là ý tưởng tập hợpcủa Clausen (1968) Từ nền tảng các lý thuyết xã hội hóa đã có từ Platon, Montaigne

10 Trích:giáo trình công tác xã hội cá nhân, Lê Chí An, Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh

Trang 16

và Roussean, Clausen định nghĩa: ''Xã hội hóa là khiến con người có tính xã hội, thíchhợp với xã hội''.

Ely Chinoy (1961) xã hội hóa gồm 2 chức năng chủ yếu:

+ Chuẩn bị cho cá nhân những vai trò mà người ấy sẽ thực hiện, cung cấpnội dung cấn thiết vế thói quen tín ngưỡng, các giá trị, mẫu thức về cách ứng dụng tìnhcảm, cách cảm nhận, các kỹ năng và kiến thức cơ bản

+ Truyền thông những nội dung văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác đểduy trì sự bền vững và tương ứng về văn hóa

Từ điển American Heritage đã định nghĩa xã hội hóa một cách tổng quát Xãhội hóa là '' Một quá trình tương tác, nhờ đó cá nhân đạt được sự nhận biết mình và cácchuẩn tác, giá trị, cách ứng sử và các kỹ năng xã hội thích hợp với vị trí của mình Mộthành động hoặc một quá trình hành động tạo tính xã hội''

Xã hội hóa sẽ mang đến cho cá nhân những kỹ năng cần thiết mà xã hội đòi hỏi,nhờ các kỹ năng đó có đủ khả năng hòa nhập mà chính họ đang sống và làm việc Quátrình xã hội hóa có thể đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều.Quá trình xã hội hóa diễn ra ở ba quá trình: giai đoạn gia đình, giai đoạn nhà trường,giai đoạn mà người ta thực sự bước vào đời Đây là ba tác nhân giúp cá nhân hòa nhậpvào xã hội Trong quá trình xã hội hóa của một cá nhân chúng ta cần chú ý đến quátrình đứt đoạn xã hội hóa thì phải tái hòa nhập dù vậy ở đây xảy ra trường hợp nếu cánhân đã bị đứt đoạn xã hội hóa quá lâu thì việc tái hòa nhập là một khó khăn

Lý thuyết này cho phép chúng ta tìm hiểu về đề tài nhận thức của cha mẹ vềviệc giáo dục giới tính cho con của họ Dưới góc độ tìm hiểu những yếu tố tác động vàảnh hưởng của văn hóa lên nhận thức của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho concái của họ chẳng hạn như trình độ học vấn, thu nhập, lối sống văn hóa Từ đó hìnhthành nên những đặc điểm trong suy nghĩ của bậc cha mẹ về vấn đề giới tính Có thểnói đa số những người làm cha mẹ ở Việt Nam đều đánh giá sai về tầm quan trọng củaviệc giáo dục giới tính, họ coi giới tính là một vấn đề tế nhị nên thường lảng trách khicon cái của họ đề cập đến nó

Theo Clausen quá trình xã hội hóa chia làm ba giai đoạn trong đó giai đoạn đầu

là từ gia đình Chính gia đình là nơi cung cấp những kiến thức đầu tiên cho cá nhân đểhòa nhập vậy nên việc thay đổi suy nghĩ sai lệch về vấn đề giáo dục giới tính là rất cầnthiết

Trang 17

4.1.2 “Lý thuyết nhu cầu của Maslow” 11

Theo thuyết nhu cầu của Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chiathành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh phản ánh mức độ cơ bản của nó với

sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một thực thể

xã hội

Theo Maslow về căn bản nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính:nhu cầu căn bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu căn bản liên quan đến vấn đề thể lý củacon người như mong muốn có thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ, tình cảm Nhữngnhu cầu cơ bản này đều là những nhu cầu không thể thiếu vì nếu con người khôngđược đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không thể tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh

để dành được và tồn tại trong cuộc sống hằng ngày Các nhu cầu cao hơn các nhu cầutrên gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần sựđòi hỏi công bằng, an tâm vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng Trong đó các nhu cầu cơbản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này

Chi tiết nội dung tháp nhu cầu này: Cấu trúc của tháp nhu cầu này gồm 5 tầng,trong đó thứ những nhu cầu con người được liệt theo một cấu trúc trật tự thứ bậc hìnhkim tự pháp

Những nhu cầu căn bản ở phía đáy tháp, phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đếncác nhu cầu khác Các nhu cầu bậc cao hơn sẽ nảy sinh và mong muốn và thỏa mãnngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ

Năm tầng tháp trong nhu cầu của Maslow:

+ Tầng thứ nhất : Các nhu cầu căn bản nhất về '' thể lý'' đó là thức ăn, nướcuống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

+ Tầng thứ hai : Nhu cầu an toàn, cần có cảm giác yên tâm về an toàn thânthể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

+ Tầng thứ ba : Nhu cầu giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn đượctrong một cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

+ Tầng thứ tư : Nhu cầu được quý trọng, kính mến, cần có cảm giác đượctôn trọng, kính mến, được tin tưởng

+ Tầng thứ năm : Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, muốn sáng tạo được thểhiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành công

11 Trích: http://vi.wikippedia.org

Trang 18

Cấp độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con ngườigồm nhu cầu ăn, mặc, ở Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu bảo vệ.Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ giữa người với người, quan hệ con ngườivới tổ chức với tự nhiên Con người luôn có nhu cầu được yêu thương gắn bó, nhậnđược sự chú ý Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp đến cao Những nhucầu ở cấp cao hơn sẽ thỏa mãn khi nhu cầu cấp thiết hơn được đáp ứng.

Đề tài sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét nhu cầu của trẻ vị thànhniên Trong đó nhu cầu tình dục trong tháp nhu cầu được xếp ở đáy Chính vì thế, trẻ ở

độ tuổi vị thành niên rất cần được trang bị những kiến thức liên quan về giới như quan

hệ tình dục, kiến thức sinh sản

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Nhằm mục đích tìm hiểu về nhận thức trong việc giáo dục giới tính của những

bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên, đang cư trú tại 11, Đoàn Kết, P.Bình Thọ,

Q Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu,

thu thập thông tin sau đây:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội

Phương pháp nghiên cứu định lượng ( bảng hỏi ) là chính kết hợp với phươngpháp nghiên cứu định tính ( phỏng vấn sâu )

Xử lý thô bằng tay và tổng hợp những số liệu có sẵn được sử dụng theo mụctiêu của đề tài

Mẫu nghiên cứu : Tổng số mẫu là 100 ( bảng hỏi ) (dùng mẫu phi xác suất) và 5trường hợp phỏng vấn sâu Đối tượng phát bảng hỏi là những người có con ở độ tuổi

vị thành niên đang sinh sống và làm việc tại 11, Đoàn Kết, P.Bình Thọ, Q Thủ Đức,

Tp Hồ Chí Minh

Cách tiếp cận lấy mẫu : phi xác suất

Khó khăn trong việc lấy mẫu Do không có nhiều thời gian tiếp cận với đốitượng được lựa chọn và thông tin trong đề tài nghiên cứu này dựa vào những thông tin

có được do các đối tượng cung cấp nhưng thông tin có thể không đầy đủ như mongmuốn vì nhiều lý do tế nhị và nhiều trở ngại trong việc trao đổi thông tin nên nhómgặp rất nhiều khó khăn khi tiến hành thu thâp thông tin Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cốgắng để tận dụng và xử lý những thông tin thu thập được

Trang 19

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là nhận thức của những bậc làm cha làm

mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên trong việc giáo dục giới tính

5.2 Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên

đang sinh sống và làm việc tại 11, Đoàn Kết, P.Bình Thọ, Q Thủ Đức, Tp Hồ Chí

Minh.

5.3 Khách thể nghiên cứu.

Khách thể nghiên cứu trong đề tài là những những bậc cha mẹ có con ở độ tuổi

vị thành niên đang sinh sống, làm việc tại 11, Đoàn Kết, P.Bình Thọ, Q Thủ Đức,

Tp Hồ Chí Minh.

5.4 Giới hạn của đề tài.

Đề tài xoay quanh về đối tượng là cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên

Chúng tôi chỉ nghiên cứu ở một địa điểm nhỏ nên khó có thể có cái nhìn toàn diện vềvấn đề này, cũng như việc không thể nghiên cứu sâu vào các vấn đề nhỏ của đề tài.Trong quá trình làm bài nhóm cũng gặp nhiều khó khăn nên không thể tránh khỏi việc

đề tài còn nhiều sai sót Nhưng cũng mong đề tài sẽ là một trong những nền tảng chocác nghiên cứu sau này

6 Đóng góp mới của đề tài:

Qua những nhiệm vụ được chúng tôi đề ra, chúng tôi cũng đã có một số đónggóp thông qua đề tài đó là: Nói lên được tầm quan trọng của bậc cha mẹ trong việcgiáo dục giới tính đối với trường học, gia đình và xã hội Mỗi môi trường đều gópphần vào công cuộc giáo dục giới tính, vấn đề quan tâm ở đây là những môi trường đó

sẽ tác động theo chiều hướng nào mà thôi Bậc cha mẹ là rất quan trọng trong việcgiáo dục giới tính nhưng nếu bậc cha mẹ không nhận thức và nhận thức sai lệch về vấn

đề giới tính thì hậu quả sẽ rất tai hại Qua đề tài chúng tôi đã cho thấy được nhiều bộphận các bậc cha mẹ vẫn chưa nhận thức đúng về việc giáo dục giới tính họ coi vấn đề

Trang 20

giới tính là một vấn đề tế nhị và ít khi đề cập đến Ngoài ra chúng ta còn thấy có rấtnhiều yếu tố tác động đến nhận thức của những bậc cha mẹ về việc giáo dục giới tính,chủ yếu họ hầu hết chỉ đọc qua sách báo, các phương tiện truyền thông (chiếm 54%),điều này cho thấy sự tác động rất lớn của phương tiện truyền thông đến nhận thức của

họ Có quá nhiều thông tin thì họ lại không biết chọn lọc các thông tin Một số bộ phậnnhỏ bậc cha mẹ lại chịu ảnh hưởng văn hóa, tâm lý của phương đông từ bao thế hệ nay

và không dạy cho trẻ biết tường tận về vấn đề giới tính, trong đầu lúc nào cũng mangsuy nghĩ “vẽ đường cho nai” nên tỉ lệ trẻ làm mẹ sớm ngày càng tăng Nhìn chung thìcác bậc cha mẹ đều có nhận thức đúng về nội dung giáo dục giới tính dù bên cạnh đóvẫn còn 25% chưa nhận thức được hoặc chưa đầy đủ về nội dung của vấn đề giáo dụcgiới tính Dù là ở môi trường nào “gia đình, trường học, các tổ chúc xã hội thì vai tròcủa bậc cha mẹ vẫn rất quan trọng trong việc giáo dục con cái ở đây là giáo dục giớitính

7 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn:

Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội tốt để nhóm được thực tập và hiểu rõ hơn

về phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội Đồng thời đề tài cũng cho thấy thái

độ của những bậc cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho con mình Cung cấp nhữngthông tin và giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của họ về vấn đề giáo dục giới tính.Thông qua đề tài, chúng tôi cũng hi vọng những nhà hoạt động trong lĩnh vực giáodục, sẽ có những chính sách, chương trình phù hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ trongviệc thay đổi nhận thức và thấy được tầm quan trọng trong việc giáo dục giới tính

Và quan trọng nhất, là thông qua đề tài nhóm có thể học thêm đươc nhiều kinh nghiệmcho mình để thực hiện các đề tài nghiên cứu khác

8 Kết cấu của đề tài:

Trang 21

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục đề tài liệu tham khảo, đề tài chúng tôichia làm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

+ Chương 2: Tổng quan vài nét về vấn đề giáo dục giới tính

+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết luậnKhuyến nghị

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 22

1.1 Các khái niệm liên quan.

1.1.1 Giáo dục giới tính 12

Là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục , sinh sản ,quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các tráchnhiệm, tránh thai , và các khía cạnh khác của thái độ tình dục của loài người Nhữngcách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, cácchương trình trường học và các chiến dịch sức khoẻ cộng đồng

Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khi một ai

đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người lãnh đạo tôngiáo, hay qua truyền thông Nó cũng có thể được truyền dạy qua các tác giả với các tácphẩm về giới tính, chuyên mục báo chí, hay qua các trang web về giáo dục giới tính.Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trường học hay người cung cấp dịch vụchăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này

Thỉnh thoảng giáo dục giới tính chính thức được dạy như một chương trình đầy

đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học hay trung học cơ sở Ởnhững trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong một lớp học rộng hơn về sinhhọc, sức khỏe, kinh tế gia đình hay giáo dục thể chất Một số trường không dạy giáodục giới tính, bởi nó vẫn là một vấn đề gây tranh cãi ở một số quốc gia, đặc biệt là Hoa

Kỳ (đặc biệt về vấn đề độ tuổi trẻ em cần nhận được sự giáo dục như vậy, số lượng chitiết liên quan, và các chủ đề về khuynh hướng tình dục ví dụ như cách thực hiện, tìnhdục an toàn, thủ dâm, tình dục trước hôn nhân và đạo đức tình dục)

1.1.2 Nhận thức 13

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sựphản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy vàkhông ngừng tiến đến gần khách thể

Theo “quan điểm triết học Mác-Lênin”, nhận thức được định nghĩa là quá trìnhphản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tíchcực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn

Nhận thức còn là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người,

sự phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, máy móc, đơn giản, thụ động mà là

12 Trích nguồn từ thư viện giáo án điện tử)

13 http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADn_th%E1%BB%A9c

Trang 23

cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, sáng tạo

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức con người đi

từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Một khái niệm khác lại cho rằng: Nhận thức là hành động (quá trình) con người tìmhiểu thế giới tự nhiên Trong quá trình này, con người lý giải vạn vât theo từng giaiđoạn nhận thức của mình; từ đó tìm ra qui luật vận động và phát triển, thay đổi và tiếnhóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần

Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc vớicác sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nétcơ bản của

sự vật hiện tượng (Ví dụ con người gò đá thấy lửa) Cứ như vậy, nhận thức của conngười ngày càng được mở rộng

Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tưduycủa con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũngnhưkhông thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tớichân lý khách quan

Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận thức là toàn

bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá,được mã hoá,được lưu giữ và sử dụng Hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình

đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc conngười, được con người lưu giữ và mã hoá,…

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phảnánh vàtái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, nhận thức được hiểu làmột quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thếgiới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mứcđộ thấp, hiểu biết làmức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)

Các quan niệm khác về nhận thức: “Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, đểhiểu biết các sự vật hiện tượng” Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất nhưnhau Nhờ hoạt động trí tuệ này mà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng

Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng :” Nhận thức là sự phản ánh hiện thựckhách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm; Nhận thứccảm tính vàNhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau vàcơ sở, mục đích vàtiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội “

Trang 24

Khái niệm của nhà Tâm lý học người Đức đã phản ánh tương đối đầy đủ nộihàm của Nhận thứcvà chúng ta sử dụng khái niệm này

1.1.3 Vị thành niên.

Vị Thành Niên14là người đang chuyển tiếp từ trẻ con sang người trưởng thành.Tuổi từ 10 – 19 tuổi ( Theo WHO ) và chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu: 10 tuổi – 13 tuổi

- Giai đoạn giữa: 14 tuổi – 16 tuổi

- Giai đoạn sau: 17 tuổi – 19 tuổi

Theo giáo án điện tử15 thì vị thành niên là một giai đoạn ( một thời kỳ ) trongquá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanhchóng để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội

và định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm đầy đủ trong cuộc sống saunày Giai đoạn này được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn “sau trẻ con và trướcngười lớn” của mỗi cá thể, được gọi là thời kỳ “vị thành niên”

Về độ tuổi của vị thành niên, Tổ chức Y tế thế giới cũng đã chính thức đề nghị

vị thành niên là những người có độ tuổi từ 10 – 19 tuổi Tuổi vị thành niên được chiathành 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu (tiền vị thành niên): 10 – 13 tuổi Giai đoạn giữa(trung vị thành niên): 14 – 16 tuổi Giai đoạn cuối ( hậu vị thành niên): 17 – 19 tuổi.Việc phân định này cần thiết để kết hợp phát triển sinh học và tâm lý xã hội từng thời

kỳ Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, năm 1995, Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ,trẻ em và KHHGĐ – Bộ Y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổi VTN thành hai nhóm tuổi,nhóm một từ 10 – 14 tuổi và nhóm hai từ 15 – 19 tuổi

Theo trang thanhnien.net16 thì tuổi vị thành niên là một giai đoạn đặc biệt củađời người, giai đoạn này được đánh dấu bằng những thay đổi đồng loạt và xen lẫnnhau từ đơn giản sang phức tạp…

Một giai đoạn đặc biệt của đời người, giai đoạn này được đánh dấu bằng nhữngthay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp bao gồm: sự chín muồi

về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh về tâm lý và các quan hệ xã hội,chuẩn bị cho một

cơ thể trưởng thành cả về thể chất và tâm lý xã hội

14 http://suckhoesinhsan.com.vn/suc-khoe-sinh-san-vi-thanh-nien/

15 (trích nguồn từ thư viện giáo án điện tử)

16 http://thanhnienviet.vn/vi-VN/t221c320p2410/Hoi-Tuoi-vi-thanh-nien-la-gi.aspx

Trang 25

Theo tổ chức Y tế thế giới thì tuổi Vị thành niên là giai đoạn từ 10-19 tuổi Căn

cứ vào mức độ phát triển thể chất, tâm lý xã hội và nhu cầu, tuổi VTN được chia làm

ba giai đoạn nhỏ hơn:

- Giai đoạn đầu tuổi VTN (10-13)

- Giai đoạn giữa tuổi VTN (14-16)

- Giai đoạn cuối tuổi VTN (17-19)

Ở tuổi VTN, các em phải đương đầu với hàng loạt thách thức như sự biến đổinhanh về thể chất, tâm sinh lý, tình yêu, tình bạn, những hiện tượng sinh lý sinh dụcmới xuất hiện (cường dương, kinh nguyệt, sự ham muốn về tình dục), sự lôi kéo vàsức ép từ phía bạn bè, chưa có hiểu biết và chưa được trải nghiệm các kĩ năng tự bảo

vệ, khó khăn trong mới quan hệ với người lớn…Tất cả những điều đó làm các em dễlung túng và gặp những nguy cơ trong giai đoạn này

1.2 Giả thiết nghiên cứu.

Giả thiết 1: Do nhận thức sai về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính nên

những bậc cha mẹ không coi trọng việc giáo dục giới tính cho con cái của họ

Giả thiết 2: Giới tính là một vấn đề nhạy cảm nên những bậc cha mẹ gặp khó

khăn trong việc nói chuyện và giáo dục về vấn đề này

Giả thiết 3: Do những bậc cha mẹ thiếu thông tin về những vấn đề liên quan đến

giới tính nên không thể chia sẻ với con của mình

1.3 Khung nghiên cứu.

Trang 26

CHƯƠNG II GIÁO DỤC GIỚI TÍNH LÀ THỰC SỰ CẦN THIẾT.

Trang 27

để lại cho thấy ở Trung Quốc các cô gái khi về nhà chồng thường được mẹ đặt trongrương quần áo, hay hộp của hồi môn những món quà quý giá nhất Đó là những quyểnsách dạy làm tình, có mô tả hoặc thường là hình vẽ dạy các tư thế làm tình sao cho cảhai vợ chồng đều đạt đến khoái cảm cao nhất (loại hình giáo dục giới tính cổ đại).Ngược lại có một số nền văn hóa coi tình dục là vấn đề nghiêm cấm và nghiêm khắc

đề nén những biểu hiện của tình dục, như trẻ em người Kwoma ở New Guinea bị trừngphạt nếu như chơi trò chơi giới tính, và cấm chạm vào người nhau

Ngày nay giáo dục giới tính đã trở nên cần thiết cho con người nên một sốquốc gia như Tiệp Khắc, HungGaRi, Ba Lan đã đưa chương trình giáo dục giới tínhvào trong nhà trường bằng những chương trình bắt buộc Còn các nước phương Tâynhư Anh, Đan Mạch, Thụy Điển đã tiến hành giáo dục học sinh khá sớm (1966) ỞPháp chương trình giáo dục nội dung này thực hiện từ năm 1973 Đặc biệt một số nước

ở ChâuÁ, Phi Mỹ Latinh cũng đưa chương trình giới tính vào trường phổ thông và đạtnhiều kết quả tốt Trung quốc tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh từ năm 1974 vàhiện nay là một trong những nước có công trình nghiên cứu cũng như có sự phát triểncao về khoa học về giới tính, nhằm cung cấp cho các em những kiến thức và kỹ năngliên quan đến sự phát triển về tâm sinh lý của bản thân

Con người ngày càng hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của giáo dục giới tínhnên đã có nhiều dự án, chương trình giáo dục về giới cho các em học sinh Tùy vàođiều kiện phát triển của từng vùng miền vào khả năng thực hiện nên có những chươngtrình riêng như việc nghiên cứu sức khỏe sinh sản giáo dục dân số (1984, 1986), cáchội nghị UNESCO khu vực đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống giađình và giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục dân số ở các nước khu vực Châu Á

Trang 28

Thái Bình Dương Ở Châu Mỹ La tinh đưa dịch vụ sức khỏe sinh sản cho thanh niên

về tình dục, kế hoạch hóa gia đình, bệnh lây truyền qua đường tình dục và phá thai.Châu Phi huấn luyện cán bộ giáo dục đồng đẳng để cải thiện sức khỏe sinh sản, tìnhdục Còn ở Châu Á giáo dục giới tính đã được đưa vào trong trường học như TrungQuốc, Thái Lan, Singapo Philipin…

Theo SIECUS, Hội đồng Thông tin và Giáo dục Giới tính Hoa Kỳ17, 93% ngườilớn được họ khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84%ủng hộ nó tại các trường trung học cơ sở Trên thực tế, 88% cha mẹ học sinh cáctrường trung học phổ thông và 80% cha mẹ học sinh các trường trung học phổ thôngtin rằng giáo dục giới tính trong trường học khiến họ cảm thấy dễ dàng hơn khi tròchuyện với con mình về tình dục.Tuy nhiên một vài nơi trên thế giới giáo dục giới tínhchưa được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mực Theo như Một nghiên cứu mới đây

của Trường Đại học Los Angeles phối hợp với một trung tâm sức khỏe sinh sản (The

Rand Center for Reproductive Healt) chỉ ra rằng các bậc phụ huynh lại thường chần

chừ quá lâu Thậm chí đến khi họ quyết định mở miệng thì…sự đã rồi Ủy ban dân số

và kế hoạch hóa gia đình, Trung tâm tư vấn về kế hoạch hóa gia đình và Trung tâm

sức khỏe sinh sản của tỉnh Tô Châu, Trung Quốc đã điều tra vấn đề “Thái độ của thanh niên và phụ huynh học sinh đối với vấn đề giới tính”, mang lại kết quả sau: Có

đến 19.37% phụ huynh cho rằng không nên giáo dục giới tính cho con cái và 25% chorằng nên Cuộc điều tra cho thấy các bậc phụ huynh đang có sự lúng túng trong giáodục giới tính với con cái, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hiểubiết của thanh niên về giới tính

Theo kết quả nghiên cứu, thống kê gần đây của Google17 thì Việt Nam là mộttrong những nước gõ câu lệnh “Sex” nhiều nhất thế giới Từ đó có thể cho thấy nhữngmối đe dọa e ngại tới vấn đề giáo dục giới tính Câu hỏi được đặt ra là có bao nhiêungười, bao nhiêu trẻ em hiểu được đúng bản chất của vấn đề giáo dục giới tính và cócác kiến thức lành mạnh và thực sự cần thiết cho bản thân mình để bước vào giai đoạnphát triển tâm lý tình dục tốt nhất Thực tế cho thấy thì tình trạng giáo dục giới tính ởViệt Nam còn khá yếu và kém Giáo dục giới tính chủ yếu chỉ được đưa vào một sốphần nhỏ trong sách giáo khoa nhưng nội dung kiến thức còn sơ sài, tập trung chủ yếu

17 duong/292-giao-dc-gii-tinh-vn-cp-thit-cho-th-h-tr

Ngày đăng: 20/09/2016, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Quang Uẩn (2003), Tâm lý đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Bản quyền của viện Xã hội học số 1 (89), 2005- 85 của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản quyền của viện Xã hội học số 1
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Quyên
Năm: 2005
7. Trích:giáo trình công tác xã hội cá nhân, Lê Chí An, Đại học Mở Tp. Hồ Chí MinhWedsite Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Nhà XB: Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh
1. PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh, Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính, NXB giáo dục, 2006 Khác
3. Bùi Văn Vân – Lê Thị Phi (2001), Đề cương bài giảng giáo dục giới tính Khác
4. Giáo trình công tác xã hội cá nhân, Lê Chí An, Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh Khác
5. TS Nguyễn Văn Đồng.- Tâm lý học phát triển giai đoạn thanh niên đến tuổi già.NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w