1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ SO SÁNH VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

48 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 333 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, lãnhđạo cấp cao hai nước đã nhiều lần xác định sẽ tăng cường hợp tác, traođổi kinh nghiệm trên các lĩnh vực như xây dựng và phát triển ki

Trang 1

CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

NIÊN LUẬN NĂM THỨ BA

NGÀNH ĐÔNG PHƯƠNG HỌC KHÓA 37 (2013 – 2017)

Huế, 7/2016

Trang 2

CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

NIÊN LUẬN NĂM THỨ BA NGÀNH ĐÔNG PHƯƠNG HỌC KHÓA 37 (2013 – 2017)

Giáo viên hướng dẫn Nguyễn Hoàng Linh

Huế, 7/2016

Trang 3

Để hoàn thành niên luận này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đếnthầy giáo – Nguyễn Hoàng Linh – cán bộ giảng dạy tại khoa Lịch sử,trường Đai học Khoa học Huê đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trongthời gian thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô trong khoa Lịch sử, chânthành cảm ơn các cơ quan, phòng tư liệu khoa Lịch sử, trường Đại họcKhoa học Huế, thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế, đã tạo điều kiện thuận lợi vàgiúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và hoàn thành niên luận

Huế, tháng 07 năm 2016

Sinh viên

Dương Thị Trang

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 4

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

6 Đóng góp của niên luận 4

7 Bố cục của đề tài 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I CÔNG CUỘC CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG QUỐC 7 I TIỀN ĐỀ CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG QUỐC 7

II NGUYÊN NHÂN 8

1 Nguyên nhân khách quan 8

1.1 Ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng 8

2.1 Sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại 9

2 Nguyên nhân chủ quan 11

III.ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI 12

1 Tình hình Trung Quốc trước cải cách 12

2 Cải cách – mở cửa kinh tế của Trung Quốc 12

2.1 Đường lối, chính sách cải cách kinh tế 12

2.2 Các giai đoạn thực hiện cải cách – mở cửa kinh tế của Trung Quốc13 2.2.1 Giai đoạn bắt đầu cải cách (12/1978 – 10/1984) 13

2.2.2 Giai đoạn mở rộng cải cách kinh tế (10/1984 – 9/1988) 14

2.2.3 Giai đoạn chấn chỉnh, sửa chữa và tiếp tục cải cách (10/1988 – 12/1991) 15

2.2.4 Giai đoạn bước đầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1/1991 – 11/2002) 16

2.2.5 Giai đoạn từ 2002 đến nay 17

Trang 5

CHƯƠNG II MỘT SỐ SỰ ĐỐI SÁNH VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM .22

I NÉT TƯƠNG ĐỒNG 22

II NÉT KHÁC BIỆT 24III.NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 26IV.NHỮNG CẢI CÁCH VÀ ĐỔI MỚI TRONG KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 30KẾT LUẬN 38TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 6

NDT : Nhân dân tệ (đơn vị tiền tệ của Trung Quốc)

OPEC : Organization of Petroleum Exporting Countries (Tổ chức các

nước xuất khẩu dầu lửa)

TW : Trung ương

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên con đường hội nhập và phát kinh tế luôn luôn đòi hỏi phải có

sự đổi mới để phù hợp với bối cảnh quốc tế Quan hệ quốc tế xuất hiệnnhiều xu hướng: đối đầu, hợp tác, đối thoại… Mọi sự biến đổi ấy đòi hỏicác quốc gia phải thích ứng và thay đổi

Hiểu và nắm bắt được tình hình ấy, nước Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa đã thực hiện cải cách và cuối những năm 70 của thế kỷ XX.Qua những chính sách và đường lối mới Trung Quốc hứa hẹn mở ra mộttrang sử và một tương lai mới cho đất nước này Việc tìm hiểu về quátrình cải cách mở cửa sẽ đưa lại một cái nhìn đầy đủ và toàn vẹn hơn vềcon đường đi đến thành công của Trung Quốc

Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng với TrungQuốc Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vàlãnh đạo cũng đã giành được những thành tựu quan trọng và có ý nghĩalịch sử Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng và Chính phủViệt Nam rất coi trọng tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, nhất là củaTrung Quốc Từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, lãnhđạo cấp cao hai nước đã nhiều lần xác định sẽ tăng cường hợp tác, traođổi kinh nghiệm trên các lĩnh vực như xây dựng và phát triển kinh tế,quản lý đất nước, xây dựng Đảng v.v…

Việc nghiên cứu quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc sẽgiúp chúng ta có thêm kinh nghiệm để phát triển đất nước mình Hơnnữa đối sánh với nước láng giềng, để thấy được những việc đã làm hiệuquả hay chưa? Từ những sai sót để rút ra kinh nghiệm và hướng đếnhoàn thiện quốc gia của mình Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có nhữngđặc điểm riêng biệt, tuy nhiên sẽ có những điểm chung hoặc những đặc

Trang 8

điểm chưa được chú ý cần phát triển hơn Xuất phát từ những nhận thứcthực tiễn trên, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn, tác giả mạnh

dạn lựa chọn vấn đề: “Quá trình cải cách, mở cửa ở Trung Quốc và

một số so sánh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam” làm đề tài niên luận

năm 3 của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc tìm hiểu về quá trình cải các mở cửa của Trung Quốc từ lâu

đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước Đã có nhiều tài liệu, công trình được in ấn, đăng tải, phát hànhrộng rãi

Song song với sự phát triển quan hệ tốt đẹp của quan hệ hợp tácViệt – Trung trong hơn một thập niên gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiệnnhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu về cải cách mở cửa củaTrung Quốc nhằm hiểu rõ hơn về nước láng giềng và đối sánh công cuộc

cải cách của hai quốc gia tiêu biểu phải kể đến như: Hồ Châu: “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Trung Quốc Thực tiễn kinh nghiệm đối với Việt Nam (1994)”, Nguyễn Minh Hằng: “Cải cách kinh tế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lựa chọn mới cho sự phát triển (1995)”, Chu Công Phùng: “Nền kinh tế của Trung Quốc sau 15 năm cải cách mở cửa (6 – 1994)”… ngoài ra, cũng xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên

cứu hợp tác giữa hai nước, điển hình là cuốn Nghiên cứu Trung Quốc

của giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thế Tăng năm 2003, cuốn “Trung Quốc cải cách mở cửa – Những bài học kinh nghiệm (2003)” do nhà nghiên cứu

Nguyễn Văn Hồng chủ biên…

Có nhiều sách báo, tạp chí liên quan đến vấn đề như: “Một số vấn

đề phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc” của tạp chí ngoại

thương (1998), “Một số vấn đề cải cách mở cửa của Trung Quốc và đổimới ở Việt Nam” của Quang Vinh năm 2001

Bên cạnh đó các tư liệu được khai thác tại Viện nghiên cứu TrungQuốc, Học viện ngoại giao Việt Nam… đã cung cấp một số tư liệu gốc

Trang 9

chi tiết, chính xác và những thông tin cập nhật cải cách mở cửa ở TrungQuốc và Việt Nam nhằm bổ sung và làm phong phú thêm cho đề tài.

Những công trình trên đã cung cấp những kiến thức chung về cảicác mở cửa ở Trung Quốc, đặc biệt là kinh nghiệm đối với Việt Nam.Tuy nhiên các cuốn sách và bài viết chỉ mới trình bày chung chung quátrình cải cách mở cửa ở Trung Quốc mà chưa đi sâu phân tích, đánh giáđối sánh với Việt Nam, do đó không thể cho đọc giả cái nhìn toàn diện

và sâu sắc về cải cách mở cửa ở Trung Quốc trong đối sánh với ViệtNam

Kế thừa và phát huy những thành quả mà giới nghiên cứu đã đạtđược, đồng thời muốn tìm hiểu sâu hơn cải cách mở cửa ở Trung Quốc

và một số so sánh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam, tác giả đã thu thậpnguồn tài liệu thành văn, xử lý nguồn tài liệu để trình bày nó một cáchkhoa học và xác thực nhất Từ đó khái quát lên quá trình cải cách mở cửa

ở Trung Quốc 1978 và ảnh hưởng của nó đến công cuộc đổi mới củaViệt Nam 1986

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Về mặt phương pháp luận, công trình được thực hiện trên cơ sở sửdụng quan điểm sử học Macxit, quán triệt quan điểm của Đảng cộng sảnViệt Nam, luôn lấy Chủ Nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng, tôn trọng tính khách quan, trung thực của các nguồn tư liệu

Về các phương pháp cụ thể, niên luận sử dụng các phương phápchung – cở bản của phương pháp luận sử học bao gồm: Phương pháp lịch

Trang 10

Các nguồn tư liệu bao gồm: các công trình viết về cải cách mở cửa

ở Trung Quốc, công cuộc đổi mới ở Việt Nam; các nguồn tư liệu trênbáo chí và tư liệu thông tin trên mạng Internet

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là hai chủ thể TrungQuốc và Việt Nam, cụ thể ở đây là tìm hiểu quá trình cải cách mở cửa ởTrung Quốc và một số so sánh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về cải cách mở cửa vàmột số so sánh giữa hai chủ thể Trung Quốc và Việt Nam

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu tìm hiểu quá trình cải cách mởcửa 1978 ở Trung Quốc trong đối sánh với Việt Nam trong thời gian

1978 đến nay (2016) với những sự kiện quan trọng giữa hai nước như:Cải cách mở cửa ở Trung Quốc; Kinh nghiệm đối với Việt Nam; Côngcuộc đổi mới ở Việt Nam; Nét tương đồng và khác biệt

Về nội dung: Niên luận không trình bày dàn trải cải cách, đổi mớicủa cả hai quốc gia mà chỉ tập trung vào cải cách mở cửa ở Trung Quốc,chọn lọc những sự kiện tiêu biểu liên quan đến vấn đề cải cách mở cửa,kinh nghiệm, ảnh hưởng của nó đến Việt Nam để làm nổi bật nội dung

đề tài nghiên cứu

6 Đóng góp của niên luận

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sưu tầm, xử lý vàtổng hợp thông tin có liên quan đến quá trình cải cách mở cửa ở TrungQuốc và một số so sánh trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Vì vậy,niên luận là tài liệu tham khảo đáng tin cậy đối với những ai quan tâmđến vấn đề này

Trên cơ sở kế thừa và sử dụng các nguồn tư liệu đã có, niên luậngóp phần xây dựng nên bức tranh toàn cảnh về cải cách mở cửa ở TrungQuốc trong đối sánh với Việt Nam Ngoài ra niên luận không chỉ trình

Trang 11

bày, đánh giá sự kiện trong bối cảnh hai nước mà còn đi sâu lý giảinhững nguyên nhân của sự kiện đó, đặt nó trong tác động của các nhân tốtrong nước và quốc tế Bên cạnh đó, ở chương I, người viết đã khái quáttiền đề cải cách mở cửa trước năm 1978, điều này có tác dụng cung cấpnhững hiểu biết bước đầu giúp cho việc nhìn nhận vấn đề chính dễ dàng

Chính vì vậy đề tài mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giátổng quát mà chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu, nên chắc chắn đề tàicần nhiều sự bổ sung và hoàn thiện hơn

Tuy tác giả được đào tạo có hệ thống trong suốt 3 năm bậc Đạihọc, nhưng khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn rấthạn chế Đây là công trình đầu tay của một sinh viên bước đầu làm quenvới công tác nghiên cứu khoa học, trình độ chuyên môn còn hạn chế,việc nghiên cứu chưa được sâu sắc Vì vậy, niên luận không thể tránhkhỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý chânthành từ quý thầy cô cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này để tácgiả có thể đúc rút kinh nghiệm cho hành trình nghiên cứu khoa học trongtương lai

Trang 12

Nhân đây, tác giả niên luận cũng xin chân thành cảm ơn các cơquan Đơn vị ở Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả về tư liệu trong quátrình tìm kiếm thông tin Xin chân thành biết ơn quý thầy cô giáo trongkhoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Huế về dạy dỗ về phương phápnghiên cứu, kiến thức bổ trợ cho việc nghiên cứu đề tài Đặc biệt, tác giảxin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáoNguyễn Hoàng Linh đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn và động viên khích lệtrong quá trình tác giả thực hiện và hoàn thành niên luận năm 3.

Huế, tháng 7 năm 2016

Sinh viên thực hiện Dương Thị Trang

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG I CÔNG CUỘC CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG

QUỐC

Đối với công cuộc cải cách, đổi mới thì hoàn cảnh có vai trò hếtsức quan trọng Tuy đó không phải là điều kiện quyết định đối với thànhcông của cuộc cải cách, đổi mới nhưng nó lại góp phần vào sự thànhcông và thắng lợi Và thực tế lịch sử ở Trung Quốc đã chứng minh điều

đó

Công cuộc cải cách và mở cửa kinh tế ở Trung Quốc, xuất phát từnhững bối cảnh lịch sử nhất định, đó là cuộc cách mạng khoa học côngnghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa

và toàn cầu hóa Những gợi mở của thực tiễn xây dựng Chủ nghĩa xã hộitrong phong trào Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế Chính điều đó đã buộcTrung Quốc phải có những điều chỉnh trong Đường lối phát triển kinh tế;

về bối cảnh trong nước: ở Trung Quốc lúc bấy giờ do có những khó khăn

về kinh tế, nền kinh tế lâm vào trì trệ và khủng hoảng nghiêm trọng cũng

đã buộc Trung Quốc phải có những điều chỉnh trong Đường lối và chínhsách phát triển kinh tế

Cải cách Kinh tế Trung Quốc (giản thể: 改 革 开 放 ; bính

âm: Găigé kāifàng) (Cải cách khai phóng) là một chương trình thực hiện

các thay đổi về kinh tế gọi là "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc TrungQuốc" ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được những người theo chủnghĩa thực dụng bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc do Đặng TiểuBình lãnh đạo và vẫn đang tiếp diễn cho đên đầu thế kỷ 21 Mục tiêu của

Trang 14

cải tổ kinh tế Trung Quốc là tạo ra giá trị thặng dư đủ để cung cấp tàichính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Hoa Đại lục.

Cả nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa được những người bảothủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và nỗ lực của Chủ nghĩaMao trong một cuộc “Đại nhảy vọt” từ xã hội chủ nghĩa sang cộng sảnchủ nghĩa trong nông nghiệp (với chế độ công xã) đều không tạo đủ giátrị thặng dư để phục vụ cho những mục đích này Thách thức ban đầucủa cải cách kinh tế là giải quyết vấn đề thúc đẩy công nhân và nông dânsản xuất một giá trị thặng dư lớn và xóa bỏ những vấn đề thiếu cân bằngkinh tế thường có ở các nền kinh tế chỉ huy

Mặc dù cải cách kinh tế Trung Quốc đã được nhiều người phươngTây mô tả là sự quay trở lại tư bản chủ nghĩa, các quan chức Trung Quốc

đã khẳng định rằng cuộc cải cách này là một dạng của chủ nghĩa xã hội,tương tự như Lenin đã từng thực hiện Chính sách kinh tế mới tại Liên Xôthập niên 1920 Tuy nhiên, họ đã không lập luận tiền đề mà nhiều cuộccải tổ liên quan đến việc áp dụng các chính sách kinh tế đang được ápdụng ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa, và một trong những tiền đề củacông cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc là Trung Quốc không nên nétránh áp dụng "bất kể tác phẩm nào" vì lý do hệ tư tưởng

Ngoài ra, nhiều cơ cấu kinh tế được tạo ra trong quá trình cải tổkinh tế Trung Quốc có vẻ bên ngoài giống với các cải cách ở các quốcgia khác nhưng trên thực tế là hoàn toàn duy nhất

1 Nguyên nhân khách quan

1.1 Ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng

Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, là thời kỳ giá dầu

mỏ tăng cao gây áp lực lớn cho nền kinh tế Bắt đầu diễn ra từ ngày 17

Trang 15

tháng 10 năm 1973 khi các nước thuộc Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuấtkhẩu dầu mỏ (gồm các nước Ả Rập trong OPEC cùng với AiCập và Syria) quyết định ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng

hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria(gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Tây Âu) Sự kiện này đã khiến giádầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-

1975 có quy mô toàn cầu

Tiếp theo là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế, tàichính… Những cuộc khủng hoảng này đặt nhân loại đứng trước nhữngvấn đề bức thiết phải giải quyết như tình trạng vơi cạn dần nguồn tàinguyên, bùng nổ dân số… ở Trung Quốc lúc bấy giờ do có những khókhăn về kinh tế, nền kinh tế lâm vào trì trệ và khủng hoảng nghiêm trọngcũng đã buộc Trung Quốc phải có những điều chỉnh trong Đường lối vàchính sách phát triển kinh tế

1.2 Sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học kỹthuật đã đem lại sự biến đổi sâu sắc, nhanh chóng chưa từng có tronglịch sử nhân loại Cuộc cách mạng đó được tiến hành trong các lĩnh vựckhoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và xã hội Sự phát triển vượt bậccủa khoa học kỹ thuật được thể hiện bằng 1 loạt các cuộc cách mạng nốitiếp nhau như cách mạng công nghệ mới, cách mạng thông tin, các ngành

có “hàm lượng” khoa học kỹ thuật cao…

Cuộc cách mạng trong giai đoạn này được gọi là cuộc cách mạngkhoa học công nghệ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thể hiện lànsóng vĩ đại của đổi mới công nghệ góp phần thúc đẩy việc tổ chức lạimột đời sống xã hội về mọi mặt từ kinh tế đến văn hóa Trong cuộc cáchmạng lần này, những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến việc hìnhthành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới Cuộc cách mạng khoa học– công nghệ sau chiến tranh đã lấy kỹ thuật điện tử làm hạt nhân, đẩy

Trang 16

mạnh quá trình tự động hóa sản phẩm, làm giảm tỷ trọng các ngành sảnxuất vật chất trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ trong đóthông tin phát triển mạnh nhất Nền chính trị xã hội và quan hệ kinh tếcũng thay đổi sâu sắc [5:8]

Các nước tư bản có sự biến đổi to lớn về kinh tế xã hội, chuyểndần từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin hoặc xã hội hậu côngnghiệp Trong các nước tư bản phát triển, Nhà nước như là một trungtâm điều tiết vĩ mô, như người tổ chức đời sống kinh tế - xã hội Cuộccách mạng khoa học – công nghệ đã đẩy chủ nghĩa tư bản đến một giaiđoạn mới – giai đoạn tư bản đọc quyền Nhà nước Chủ nghĩa tư bảnthích ứng với cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội mới đang hình thành,đẩy mạnh sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong các nước tư bản xã hội

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ chủnghĩa tư bản đã phát triển lên một bước mới về lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, quốc tế hóa, khu vực hóa các tổ chức kinh tế sự điềuchỉnh và thích ứng mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại tạo ra thời cơ cóthể rút ngắn quá trình phát triển nhưng cũng tạo ra những thách thức mớivới những nước đang phát triển trong đó có Trung Quốc và Việt Nam

Thế giới đang bước vào thời kỳ phát triển mới mà những lợi thế

về nguồn nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên ngày càng ít tác dụng.Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của mọi nước phụ thuốc nhiều vào áp dụngkhoa học công nghệ Đổi mới công nghệ ngày càng chủ yếu tạo ra nănglực cạnh tranh trên thị trường thế giới

Các nước đang phát triển trước tác động của cuộc cách mạng khoahọc công nghê đang gặp những thách đố gay gắt Các nước này thườnggiàu nguồn nhân lực, không thiếu tài nguyên thiên nhiên, có truyền thốngvăn hóa phong phú những nghèo về tri thức khoa học và năng lực côngnghệ vì vậy thiếu sự cạnh tranh trên thị trường thế giới

Trang 17

Yêu cầu cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội để thích nghi với sựphát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giaolưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ theo xu thế quốc tếhoá

Trong bối cảnh trên, yêu cầu lịch sử đặt ra đối với tất cả các nước

là phải nhanh chóng cải cách về kinh tế, chính trị – xã hội để thích ứng

2 Nguyên nhân chủ quan

Đối nội: Từ năm 1959 đến năm 1978 Trung Quốc trải qua 20 nămkhông ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội Với việc thực hiện đường lối

“Ba ngọn cờ hồng” nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn,sản xuất giảm sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn…

Năm 1976 khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời đã để lại đấtnước sự bế tắc, thiếu thốn, sa sút, mất cân đối nghiêm trọng Năm 1976khi kết thúc “Cách mạng văn hóa” thu nhập quốc dân, sản xuất côngnghiệp và sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng âm: - 2,7%; - 2,4%;

và - 0,4% so với năm 1975 Đời sống nhân dân giảm sút và vô cùngkhốn khổ Trong 11 năm (1965 – 1976) thu nhập bình quân của côngnhân thành phố giảm 2,5%, còn thu nhập của nông dân trung bình theođầu người mỗi năm tăng không đến 1nhân dân tệ [2;15] Trong nội bộĐảng và Nhà nước Trung Quốc diễn ra những bất đồng gay gắt về đườnglối, tranh chấp về quyền lực, đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hóa

vô sản” (1966 – 1976)…

Đối ngoại: ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ của nhân dân ViệtNam…xảy ra những cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với cácnước Ấn Độ, Liên Xô… Tháng 2 – 1972, Tổng thống Mĩ R.Níchxơnsang thăm Trung Quốc, mở đầu quan hệ mới theo chiều hướng hoà dịugiữa hai nước

Trang 18

Nếu trước đây Trung Quốc coi trọng yếu tố an ninh và ý thức hệ,coi lợi ích kinh tế là thứ yếu, đóng cửa xây dung, tự lực cánh sinh làchính thì ngày nay Trung Quốc cho rằng: “Sự phát triển của Trung Quốckhông thể tách khỏi thế giới” [6;1].

Bối cảnh lịch sử trên đòi hỏi Trung Quốc tiến hành cải cách đểphù hợp với xu thế chung của thế giới và đưa đất nước thoát ra khỏi tìnhtrạng không ổn định

III ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

1 Tình hình Trung Quốc trước cải cách

Tình hình kinh tế Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòaNhân dân Trung Hoa (1/10/1949), cho đến trước cải cách – mở cửa kinh

tế trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với nhiều hạn chế, yếu kém của môhình kế hoạch hóa tập trung Thông qua những chính sách kinh tế sailầm, coi thường các quy luật khách quan của “ Đại nhảy vọt” và “Đạicách mạng văn hóa vô sản”, nền kinh tế Trung Quốc đã rơi vào khủnghoảng và sa sút Hậu quả là, thu nhập quốc dân giảm, các ngành kinh tế

bị thụt lùi, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng Cuộc “Đại nhảy vọt”

và “Công xã nhân dân” đã gây ra lãng phí to lớn về sức người, sức của,làm nền tài chính bị cạn kiệt… Trong mười năm cách mạng văn hóa, thunhập quốc dân của Trung Quốc đã bị thiệt hại khoảng 500 tỷ nhân dân tệ,mức lương trung bình của công nhân viên giảm 4,9%, thu nhập bìnhquân của nông dân không được cải thiện, thậm chí nhiều nơi rơi vào tìnhtrạng đói kém [2;17] Trước những thực trạng trên, nền kinh tế TrungQuốc đứng trước yêu cầu phải thực hiện cải cách một cách triệt để

2 Cải cách – mở cửa kinh tế của Trung Quốc

2.1 Đường lối, chính sách cải cách kinh tế

Công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc chính thức được phátđộng từ Hội nghị TW 3 khóa XI tháng 12/1978 Với quan điểm “ giải

Trang 19

phóng tư tưởng, thực sự cầu thị, đoàn kết nhất trí, hướng về phía trước”,Hội nghị đã đánh giá lại điểm xuất phát của nền kinh tế Trung Quốc, phêphán sai lầm của giai đoạn trước, đưa ra nhận thức mới về chủ nghĩa xãhội Trong các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, những lý luận về cải cách, mởcửa của Trung Quốc đã được khẳng định và tổng kết thành những quanđiểm lớn sau đây: Thực hiện “giải phóng tư tưởng” nhằm thay đổi nhậnthức về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc Chủ trương đa dạnghóa sở hữu, khôi phục và phát triển nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa

xã hội Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo hướng tập trung phát triểnnông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành công nghiệp đáp ứngnhu cầu cấp bách của đất nước Đối với các ngành công nghiệp nặng,Trung Quốc chủ trương giảm bớt quy mô và tốc độ phát triển, ưu tiênđầu tư cho công nghiệp nhẹ và các ngành khác Mở cửa, thu hút nguồnlực từ bên ngoài Cải cách thể chế chính trị gắn liền với cải cách kinh tế

2.2 Các giai đoạn thực hiện cải cách – mở cửa kinh tế của Trung Quốc

2.2.1 Giai đoạn bắt đầu cải cách (12/1978 – 10/1984)

Nhằm xây dựng một kỷ nguyên mới bắt đầu với một hội nghị củaĐảng Cộng sản Trung Quốc ngày 18/12/1978, đánh dấu bằng việc côngnhận trang trại tư nhân quy mô nhỏ, bước đầu tiên từ bỏ chính sách công

xã trong nông nghiệp và công nghiệp thời Mao Trạch Đông, dựng mộtnền kinh tế bắt đầu từ nông nghiệp Cải cách kinh tế Trung Quốc mở đầubằng việc thực hiện "chế độ trách nhiệm trong sản xuất nông nghiệp" màsau này được người ta gọi tắt là "khoán sản lượng tới hộ" vốn đã diễn rathực tế trước đó tại hai tỉnh An Huy và Tứ Xuyên Với việc để cho ngườinông dân được tự chủ làm ăn và được hưởng toàn bộ sản phẩm làm ratrên mảnh đất được phân phối sau khi nộp cho nhà nước một số phầntrăm thu hoạch, tính tích cực sản xuất hay là nói sức sản xuất trong nôngnghiệp Trung Quốc đã được giải phóng mạnh mẽ Thuế nông nghiệp đãđược xoá bỏ, con em nông dân một số vùng sâu vùng xa được phát sách

Trang 20

giáo khoa, được miễn học phí, chính sách hộ khẩu với những nông dânvào thành phố làm thuê đã được nới lỏng Chỉ trong một thời gian ngắn,với diện tích canh tác chỉ chiếm 7% thế giới, nhưng Trung Quốc đã nuôiđược 22% dân số thế giới Cho đến nay có thể nói đây là bước cải cáchmang tính đột phá, là thành tựu lớn nhất trong cải cách nông nghiệp ởTrung Quốc Năm 1979, Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khukinh tế, gồm ba đặc khu kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tạitỉnh Quảng Đông và đặc khu kinh tế Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến Việcquyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật và giao lưukinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài),đưa khoa học kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc Từ năm 1978-2007,FDI tích lũy vượt 760 tỉ USD, đứng đầu thu hút FDI tại các nước đangphát triển và đứng thứ hai thế giới Năm 1982, Trung Quốc thực hiệnkhoán sản lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân Việc giải phóngnăng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bướcnhảy vọt trong kinh tế nông thôn Giá trị tổng sản lượng nông nghiệptăng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, gấp 3,5 lần giaiđoạn 1953 – 1980 [15;58] Tuy nhiên, quá trình thực hiện khoán sảnphẩm đã nảy sinh những hạn chế, tiêu cực: tư tưởng bình quân chủ nghĩatrong khoán ruộng đất, tâm lý “sợ thay đổi” trở nên khá phổ biến, côngtác quản lý ruộng đất trở nên hỗn loạn, cơ sở hạ tầng trong nông thôn yếukém lại bị phân tán… Để khắc phục tình trạng này, từ năm 1984 TrungQuốc đã thực hiện những biện pháp hoàn thiện chế độ khoán sản phẩm,trong đó có hai nội dung quan trọng: quy định thời gian khoán ruộng đất

từ 15 năm trở lên và áp dụng chính sách “hộ chuyên” Những biện phápnày đã đưa công cuộc cải cách kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đạt đượcnhững kết quả ban đầu khá căn bản Trên đà những thắng lợi đạt được ởkhu vực nông thôn, Trung Quốc bước đầu cải cách ở thành thị Tronggiai đoạn này, cải cách ở thành thị chỉ dừng lại ở mức thăm dò thí điểm

Trang 21

2.2.2 Giai đoạn mở rộng cải cách kinh tế (10/1984 – 9/1988)

Năm 1984, Trung Quốc mở cửa 14 thành phố ven biển nhằm thuhút đầu tư nước ngoài và mở rộng điều kiện ngoại thương, buôn bán Giaiđoạn này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc đẩy mạnh cải cáchkinh tế ở Trung Quốc , cải cách toàn diện thể chế kinh tế của TrungQuốc Trọng tâm của giai đoạn này là cải cách kinh tế thành thị, đặt hiệuquả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các thành phần kinh tế,tách chức năng quản lí nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh, táchquyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh, làm sống môi trường kinh doanhbằng việc đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, mở cửa thị trường, cảicách hệ thống giá cả, tiếp tục cải cách kinh tế nông thôn theo hướngthương phẩm hóa , hiện đại hóa

2.2.3. Giai đoạn chấn chỉnh, sửa chữa và tiếp tục cải cách (10/1988 –

12/1991)

Trên cơ sở của việc phất triển kinh tế ở các giai đoạn trước, từnăm 1988 Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tếDuyên Hải làm cho các tỉnh này có thể tham gia trực tiếp vào việc buônbán quốc tế Theo Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc lựa chọn con đường cảicách mở cửa và kiên trì theo con đường đó, do vậy Trung Quốc coi “ổnđịnh là trên hết” [9;416], “ Trung Quốc không cho phép loạn lạc ”[9;418] Trong giai đoạn này cũng tiếp tục cải cách về thể chế kinh tế,cho phép ký hợp đồng mua bán thuê mướn và chuyển nhượng ruộng đất,lập lại xí nghiệp, ban bố luật thuế và nhiều đạo luật khác Đồng thời, tiếptục cải cách về tài chính, tài vụ, chỉnh Cải cách – mở cửa kinh tế TrungQuốc đốn trật tự kinh tế, ổn định giá cả, tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng Đặc biệt trong thời gian này Trung Quốc đã tiến hành nhiều biệnpháp nhằm khắc phục tình trạng quá nóng của nền kinh tế, như: Thực thicác biện pháp xiết chặt tiền tệ, thực hiện nghiêm ngặt chính sách bốngiảm: giảm quy mô đầu tư, giảm tăng cầu xã hội, giảm lạm phát và giảmtốc độ tăng trưởng công nghiệp Trong đó, kìm hãm và loại bỏ lạm phát

Trang 22

là mục tiêu hàng đầu Tiếp tục mở rộng quyền tự chủ cho các xí nghiệp,điều chỉnh hệ thống giá cả theo hướng cơ chế thị trường, chuẩn bị nhữngđiều kiện để hình thành thị trường chứng khoán Những biện pháp trên

đã tỏ ra rất hiệu quả thông qua chỉ số tăng trưởng kinh tế hàng năm củaTrung Quốc trong giai đoạn này năm sau cao hơn năm trước, chẳng hạnnhư: Ngoại thương của năm 1988 có doanh số 82 tỉ USD bằng 41 lầnnăm 1978 [17;1] Số hợp đồng liên doanh với nước ngoài cũng tăng lêndưới nhiều hình thức và tỉ lệ khác nhau Trung Quốc đã mở cửa nhiềuthành phố lớn, thị trấn cho người nước ngoài vào kinh doanh và du lịch

2.2.4 Giai đoạn bước đầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ

nghĩa (1/1991 – 11/2002)

Từ năm 1992 trở lại đây, các cải cách kinh tế ở Trung Quốc bướcvào giai đoạn mới: xây dựng thể chế kinh tế thị trường và tăng cường hộinhập quốc tế Đặc điểm chính của giai đoạn này là cải cách chuyển sangxây dựng thể chế mới, từ điều chỉnh chính sách sang sáng tạo mới về chế

độ kinh tế, từ cải cách đơn lẻ sang cải cách đồng bộ, từ đột phá trọngđiểm chuyển sang kết hợp giữa thúc đẩy tổng thể với đột phá trọng điểm.Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược ''tăng tốc'' màmục tiêu là tăng gấp đôi giá trị tổng sản lượng quốc gia so với năm 1990vào năm 2000, tạo cơ sở cho giai đoạn cất cánh kinh tế trong những thập

kỷ đầu thế kỷ 21 và lại tiếp tục tăng GDP gấp bốn lần mức GDP năm

2000 vào năm 2020 [18;1]

Để thực hiện chiến lược mới, Trung Quốc ưu tiên hàng đầu nhiệm

vụ chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường với năm trụ cộtchính là ''hai hệ thống" gồm hệ thống điều tiết vĩ mô của nhà nước và hệthống thị trường thống nhất “ba chế độ” là: chế độ xí nghiệp hiện dại,chế độ phân phối thu nhập mới và chế độ bảo hiểm xã hội; đề ra mục tiêu

ba bước để xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Đồngthời Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa toàn phương vị: “duyênhải - ven biển - ven sông - các khu sâu trong nội địa”, thực hiện ở cả ba

Trang 23

miền: miền Đông, miền Trung và miền Tây, theo cả hai hướng: ven biển

và nội địa; cả hai thị trường: trong nước và quốc tế, xây dựng các khuphát triển từ đơn lẻ thành quần thể mà trọng điểm là Thượng Hải, QuảngĐông, Giang Tô, Sơn Đông, Đại Liên Từ năm 1992, Trung Quốc đã tiếnhành một loạt các biện pháp cải cách mới mẻ như: cải cách tài chính tiền

tệ, cải cách hệ thống ngân hàng, cải cách thuế, cải cách hệ thống ngoạithương, từng bước cải cách hệ thống giá cả, thống nhất tỷ giá hối đoái,cải cách mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xoá bỏthua lỗ, xây dựng chế dộ xí nghiệp hiện đại thích ứng với yêu cầu củakinh tế thị trường, từng bước đưa các doanh nghiệp làm quen và thíchứng với các yêu cầu mới sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới WTO [3;95]

2.2.5 Giai đoạn từ 2002 đến nay

Đây là giai đoạn tiếp tục cải cách sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnhxây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và bước đầu thựchiện mục tiêu “tập trung lực lượng xây dựng toàn diện xã hội khá giả”.Hiện nay, Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối của quá trình thực hiện

kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006 – 2010) và cả giai đoạn đến 2020 đượcthông qua tại Hội nghị Trung ương khóa 5 tháng 12/2005, Đại hội lầnthứ XVI Đây là một hội nghị then chốt Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cómột ý nghĩa vô cùng trọng đại bởi đây là thời kỳ Trung Quốc chuyển từ

xã hội nông thôn sang xã hội công nghiệp, từ xây dựng xã hội ấm nosang xã hội khá giả, với những mục tiêu và nội dung sau:

Đảm bảo tăng trưởng bền vững, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo,phát triển một “xã hội hài hòa” có tầm quan trọng như phát triển kinh tế,chính trị xã hội Thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế: Chuyển từđầu tư và xuất khẩu vào công nghiệp, tài nguyên và nhân lực sang tiêudùng và đầu tư, công nghiệp và dịch vụ, nhân lực và khoa học kỹ thuật,tăng trưởng có chất lượng cao Thay đổi cơ cấu ngành nghề, tăng ngành

có hàm lượng khoa học cao Phát triển cân đối giữa các vùng, các khu

Trang 24

vực, giữa thành thị và nông thôn Giải quyết tốt vấn đề tam nông (nôngnghiệp, nông thôn và nông dân) Giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm môitrường, tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp và các vấn đề xã hội Xâydựng một xã hội công bằng, văn minh Về đối ngoại thực hiện nguyêntắc hòa bình và phát triển, hợp tác Thực hiện khẩu hiệu: “An ninh vớiláng giềng, giàu có với láng giềng, hợp tác với láng giềng”.

IV Hạn chế và bài học kinh nghiệm từ cải cách – mở cửa kinh tế của

Trung Quốc đối với Việt Nam

Thời kỳ đầu, trước con đường mới mẻ, Trung Quốc thực hiệnnhững thử nghiệm kinh tế ở quy mô nhỏ, khi thành công được áp dụngrộng ra toàn quốc Bắt đầu, các thành phố và đặc khu ven biển có ưu thếđịa lý ở miền Đông tiến hành cải cách mở cửa, tạo ra các nhân tố đầu tưtốt, điển hình, như xây dựng cơ sở hạ tầng, hậu cần và quy chế quản lý…Miền Đông trở thành đầu tàu lôi kéo kinh tế cả nước Sự cạnh tranh lànhmạnh giữa các thành phố, các khu vực kinh tế kích thích mạnh mẽ việctạo môi trường tốt cho kinh doanh và đầu tư nước ngoài Trung Quốc cơbản hình thành cục diện phát triển kinh tế theo khu vực, mở rộng quy môngành nghề với trình độ hiện đại hóa cao Xuất khẩu và đầu tư trực tiếpnước ngoài là hai động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc.Bên cạnh việc huy động mạnh mẽ vốn nước ngoài, phát huy tối đa nguồnnhân công giá rẻ, Trung Quốc chú trọng tiếp thu công nghệ, đào tạo mớinguồn nhân lực và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty nướcngoài Trung Quốc thành công nổi bật trong việc kết nối với thị trườngtoàn cầu Nền kinh tế năng động chuyển đổi cơ cấu sản xuất và côngnghệ, không ngừng thích ứng với thị trường toàn cầu Từ hàng sơ cấpsang thành phẩm công nghiệp, từ sản phẩm sử dụng nhiều lao động sangsản phẩm kỹ thuật cao Đầu tư nước ngoài được ưu hóa Trung Quốc đạtđược tiến bộ rõ rệt trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ, thểhiện nổi bật qua những thành tựu khám phá vũ trụ, tự lực phát triển các

Ngày đăng: 20/09/2016, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Châu, (1994) “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Trung Quốc. Thực tiễn kinh nghiệm đối với Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Trung Quốc. Thực tiễn kinh nghiệm đối với Việt Nam
2. Nguyễn Minh Hằng, (1995) “Cải cách kinh tế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lựa chọn mới cho sự phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cải cách kinh tế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lựa chọn mới cho sự phát triển
3. Chu Công Phùng, (6 – 1994) “Nền kinh tế của Trung Quốc sau 15 năm cải cách mở cửa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nền kinh tế của Trung Quốc sau 15 năm cải cách mở cửa
4. Nguyễn Văn Hồng (cb) (2003) “Trung Quốc cải cách mở cửa – Những bài học kinh nghiệm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc cải cách mở cửa – Những bài học kinh nghiệm
5. Quang Vinh (2001) “Một số vấn đề cải cách mở cửa của Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề cải cách mở cửa của Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam
6. Thu Thưởng Văn – Trần Tích Hỷ: “Sự phát triển của Trung Quốc không thể tách khỏi thế giới”, NXB Chính trị quốc gia. H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự phát triển của Trung Quốc không thể tách khỏi thế giới”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. H.1997
7. “Có một Việt Nam như thế”, NXB Chính trị quốc gia, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Có một Việt Nam như thế”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
8. M.Giuarenơ “Sự đảo lộn của thế giới địa – chính trị thế kỷ XXI”, Sách tham khảo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M.Giuarenơ “Sự đảo lộn của thế giới địa – chính trị thế kỷ XXI”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
9. Giang Trạch Dân – Lý Bằng, “Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, NXB Sự thật, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”
Nhà XB: NXB Sự thật
10. Đặng Tiểu Bình, “Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc”, NXB Thế giới, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc”
Nhà XB: NXB Thế giới
11. Tống Thái Khánh, “Thời đại Trung Quốc”, NXB Nhân dân Quảng Châu 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thời đại Trung Quốc”
Nhà XB: NXB Nhân dân Quảng Châu 1993
12. Đỗ Mười, “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội”, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w