MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thông tin liên lạc trên biển đặc biệt quan trọng đối với việc đảm bảo một chuyến đi biển an toàn. Nó được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau và mỗi loại lại có vai trò, thế mạnh nhất định. Khi tàu gần nhau, người ta sử dụng lời nói. Khi ở vị trí xa nhau nhưng quan sát được bằng mắt, phương tiện phi ngôn ngữ như cờ hiệu, đuốc hiệu hay pháo sáng được sử dụng. Khi ở khoảng cách xa không thể quan sát bằng mắt, người ta phải sử dụng phương tiện duy nhất là điện tín hàng hải (ĐTHH) dưới dạng chữ viết. Năm 1973, Ủy ban An toàn hàng hải [126, tr.12] đã chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ giao dịch trong ngành hàng hải. Do trình độ giao tiếp bằng tiếng Anh của thủy thủ còn hạn chế và thủy thủ lại nói thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau nhiều khi xảy ra sự bất đồng trong giao tiếp. Để khắc phục vấn đề này, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO - International Maritime Organization) cho xuất bản cuốn cẩm nang “Từ vựng hàng hải tiêu chuẩn” (Standard Marine Navigational Vocabulary). Cuốn sách giới thiệu các câu chuẩn mực đối với các tình huống giao tiếp và yêu cầu thủy thủ phải nói theo đúng như thế. Tuy vậy, IMO mới chỉ giải quyết được khó khăn khi giao tiếp bằng khẩu ngữ. Hiện nay việc soạn thảo ĐTHH bằng tiếng Anh dưới dạng chữ viết còn bỏ trống các quy định nên việc soạn điện tín hết sức tùy tiện, dễ gây hiểu nhầm dẫn đến tổn thất hàng hải. Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ ĐTHH tiếng Anh để làm cơ sở để ra các quy định biên soạn điện tín trình cơ quan chủ quản cho phép áp dụng trong ngành là quan trọng và hết sức cấp thiết. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Khi triển khai đề tài này, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải tiếng Anh trong ngành hàng hải Việt Nam là để góp phần minh chứng cho lí thuyết về văn bản học và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản điện tín hàng hải, một loại hình văn bản đặc biệt thuộc thể loại thư tín thương mại. Đặc điểm ngôn ngữ điện tín được nhìn nhận qua các phương diện như: Khái niệm, thể loại văn bản, đặc điểm ngôn ngữ vĩ mô và vi mô. Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết tốt các nhiệm vụ sau: (i) Xác định thể loại văn bản điện tín hàng hải; (ii) Xác định cấu trúc văn bản điện tín hàng hải;(iii) Chỉ ra đặc điểm văn bản và các yếu tố ngôn ngữ giúp cho việc soạn điện tín ngắn gọn và NNĐ có thể phục hồi và đọc hiểu chính xác nội dung điện tín; (iv) Xác lập mô hình các tiểu loại điện tín hàng hải. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản điện tín hàng hải bằng tiếng Anh, được lưu hành trong ngành hàng hải Việt Nam. Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ trong điện tín hàng hải nói riêng và trong điện tín nói chung được viết hết sức ngắn gọn vắn tắt do bị chi phối bởi thời gian đọc điện và tiền cước phải trả. Chính vì vậy cấu trúc văn bản điện tín và ngôn ngữ sử dụng trong đó dường như méo mó và rất khó hiểu đối với người ngoài chuyên môn hàng hải và người mới vào nghề. Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu cụ thể là đặc điểm vi mô và vĩ mô ngôn ngữ điện tín hàng hải tiếng Anh trong ngành hàng hải Việt Nam.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN ĐÔN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI TIẾNG ANH TRONG NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu điện tín hàng hải 5
1.2 Cơ sở lý luận 8
1.3 Tiểu kết 46
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VỀ CẤU TRÚC VĨ MÔ 48
2.1 Nhận diện văn bản điện tín hàng hải 48
2.2 Cấu trúc tổ chức văn bản điện tín hàng hải 66
2.3 Đặc điểm lớp từ vựng trong điện tín hàng hải 93
2.4 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ điện tín hàng hải 94
2.5 Tiểu kết 95
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VỀ CẤU TRÚC VI MÔ 97
3.1 Đặc điểm từ ngữ 97
3.2 Đặc điểm cú pháp 122
3.3 Đặc điểm cấu trúc đoạn văn trong điện tín hàng hải 136
3.4 Tiểu kết 144
KẾT LUẬN 147
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
NGUỒN XUẤT XỨ TƯ LIỆU 159
PHỤ LỤC 159
Trang 3
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIÊT TẮT
ĐTATHH Điện tín an toàn hàng hải
ĐTDVTT Điện tín dịch vụ thời tiết
ĐTTTHH Điện tín thông tin hàng hải
VISHIPEL Công ty thông tin điện tín hàng hải Việt Nam
Trang 4DANH MỤC BẢNG Danh mục Bảng:
Bảng 2.1 Cấu trúc vĩ mô của văn bản điện hàng hải âm 54
Bảng 2.2 Cấu trúc vĩ mô thư tín thương mại và điện tín hàng hải 73
Bảng 2.3 Tỉ lệ các loại tỉnh lược theo quan điểm của Quirk 75
Bảng 2.4 Tần suất phương tiện thế trong điện tín hàng hải 77
Bảng 2.5 Tần suất liên tố trong điện tín hàng hải 78
Bảng 2.6 Tần suất sử dụng các chiếu tố 79
Bảng 2.7 Thống kê tần suất xuất hiện chiếu tố 92
Bảng 3.1 Tần suất thực từ và hư từ trong văn bản điện tín hàng hải 98
Bảng 3.2 Tần suất xuất hiện các loại danh từ 100
Bảng 3.3 Tần suất danh từ riêng 101
Bảng 3.4 Tần suất danh từ chung 101
Bảng 3.5 Thời của động từ trong điện tín tiểu loại thông tin hàng hải 105
Bảng 3.6 Thời động từ trong điện tín tiểu loại dịch vụ thời tiết 107
Bảng 3.7 Thời của động từ trong điện tín hàng hải an toàn 108
Bảng 3.8 Thức trong các loại văn bản điện tín hàng hải 110
Bảng 3.9 Tần suất giới từ trong điện tín hàng hải 111
Bảng 3.10 Đặc điểm danh từ ghép trong điện tín hàng hải tiếng Anh 117
Bảng 3.11.Thống kê loại từ tắt 119
Bảng 3.12 Kiểu cấu trúc ghép câu trong điện tín hàng hải 122
Bảng 3.13 Loại câu trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk 123
Bảng 3.14 Loại cú trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk 124
Bảng 3.15 Đặc điểm cú SV trong điện tín hàng hải 127
Bảng 3.16 Đặc điểm cú SVC trong điện tín hàng hải 128
Bảng 3.17 Đặc điểm kiểu cú SVA trong điện tín hàng hải 129
Bảng 3.18 Đặc điểm kiểu cú SVO trong điện tín hàng hải 130
Bảng 3.19 Đặc điểm cú SVOO trong điện tín hàng hải 132
Bảng 3.20 Đặc điểm cấu trúc SVOC trong điện tín hàng hải 132
Bảng 3.21 Đặc điểm kiểu cú SVOA trong điện tín hàng hải 133
Bảng 3.22 Cấu trúc dạng bị động trong văn bản điện tín hàng hải 134
Trang 5Bảng 3.23 Tần suất dạng câu trong điện tín hàng hải 136
Bảng 3.24 Phân bổ kiểu cú trong tiểu loại điện tín 137
Bảng 3.25 Khuôn điện tín hàng hải tiểu loại hàng hóa 139
Bảng 3.26 Khuôn điện tín hàng hải tiểu loại cung ứng hàng hóa 140
Bảng 3.27 Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu dịch vụ 141
Bảng 3.28 Khuôn điện tín hàng hải tình trạng thời tiết 141
Bảng 3.29 Khuôn điện tín hàng hải tiểu loại dự báo thời tiết 142
Bảng 3.30 Khuôn điện tín hàng hải cảnh báo từ tàu 143
Bảng 3.31 Khuôn điện tín hàng hải cảnh báo từ đất liền 143
Bảng 3.32 Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu trợ giúp y tế 143
Bảng 3.33 Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu cứu hộ 144
DANH MỤC BIỂU ĐỒ SƠ ĐỒ Danh mục biểu: Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ thực từ và hư từ trong điện tín hàng hải 98
Biểu đồ 3.2 Tần suất thực từ trong văn bản ĐTHH 99
Biểu đồ 3.3 Tần suất xuất hiện của hư từ trong điện tín hàng hải 110
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ từ tắt trong điện tín hàng hải 119
Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ dạng câu bị động và chủ động trong điện tín hàng hải 136
Danh mục sơ đồ: Sơ đồ 1.1 Phương thức liên kết theo quan điểm của Halliday 20
Sơ đồ 2.2 Phân loại điện tín hàng hải 58
Sơ đồ 2.3 Tóm tắt quy trình phát điện tín 59
Sơ đồ 2.4 Tóm tắt quy trình ĐTHH âm và dương 60
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin liên lạc trên biển đặc biệt quan trọng đối với việc đảm bảo một chuyến đi biển an toàn Nó được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau và mỗi loại lại có vai trò, thế mạnh nhất định Khi tàu gần nhau, người ta sử dụng lời nói Khi ở vị trí xa nhau nhưng quan sát được bằng mắt, phương tiện phi ngôn ngữ như cờ hiệu, đuốc hiệu hay pháo sáng được sử dụng Khi ở khoảng cách
xa không thể quan sát bằng mắt, người ta phải sử dụng phương tiện duy nhất là điện tín hàng hải (ĐTHH) dưới dạng chữ viết
Năm 1973, Ủy ban An toàn hàng hải [126, tr.12] đã chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ giao dịch trong ngành hàng hải Do trình độ giao tiếp bằng tiếng Anh của thủy thủ còn hạn chế và thủy thủ lại nói thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau nhiều khi xảy ra sự bất đồng trong giao tiếp Để khắc phục vấn đề này, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO
- International Maritime Organization) cho xuất bản cuốn cẩm nang “Từ vựng hàng
hải tiêu chuẩn” (Standard Marine Navigational Vocabulary) Cuốn sách giới thiệu
các câu chuẩn mực đối với các tình huống giao tiếp và yêu cầu thủy thủ phải nói theo đúng như thế Tuy vậy, IMO mới chỉ giải quyết được khó khăn khi giao tiếp bằng khẩu ngữ Hiện nay việc soạn thảo ĐTHH bằng tiếng Anh dưới dạng chữ viết còn bỏ trống các quy định nên việc soạn điện tín hết sức tùy tiện, dễ gây hiểu nhầm dẫn đến tổn thất hàng hải Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ ĐTHH tiếng Anh để làm cơ sở để ra các quy định biên soạn điện tín trình cơ quan chủ quản cho phép áp dụng trong ngành là quan trọng và hết sức cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Khi triển khai đề tài này, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải tiếng Anh trong ngành hàng hải Việt Nam là để góp phần minh chứng cho lí thuyết về văn bản học và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản điện tín hàng hải, một loại hình văn bản đặc biệt thuộc thể loại thư tín thương mại Đặc điểm ngôn ngữ điện tín được nhìn nhận qua các phương diện như: Khái niệm, thể loại văn bản, đặc điểm ngôn ngữ vĩ mô và vi mô
Trang 7Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết tốt các nhiệm vụ sau: (i) Xác định thể loại văn bản điện tín hàng hải; (ii) Xác định cấu trúc văn bản điện tín hàng hải;(iii) Chỉ ra đặc điểm văn bản và các yếu tố ngôn ngữ giúp cho việc soạn điện tín ngắn gọn và NNĐ có thể phục hồi và đọc hiểu chính xác nội dung điện tín; (iv) Xác
lập mô hình các tiểu loại điện tín hàng hải
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản điện tín hàng hải bằng tiếng Anh, được lưu hành trong ngành hàng hải Việt Nam Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ trong điện tín hàng hải nói riêng và trong điện tín nói chung được viết hết sức ngắn gọn vắn tắt do bị chi phối bởi thời gian đọc điện và tiền cước phải trả Chính vì vậy cấu trúc văn bản điện tín và ngôn ngữ
sử dụng trong đó dường như méo mó và rất khó hiểu đối với người ngoài chuyên môn hàng hải và người mới vào nghề Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu cụ thể là đặc điểm vi mô và vĩ mô ngôn ngữ điện tín hàng hải tiếng Anh trong ngành hàng hải Việt Nam
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là các bức ĐTHH đã được sử dụng giữa tàu biển với nhau và với đất liền Để đảm bảo tính khách quan và các bức ĐTHH thuộc ngành hàng hải Việt Nam, chúng tôi sưu tầm các bức ĐTHH này từ đài phát vô tuyến hàng hải ven bờ biển, tàu biển trên vùng biển Việt Nam và từ thuyền trưởng
và nhân viên người Việt Nam công tác tại đài phát vô tuyến điện ven biển trực tiếp làm công việc đọc và soạn điện tín Cụ thể là các bức điện được nhận từ giám đốc đài vô tuyến ven bờ khu vực Bắc Bộ Inmarsat Hải Phòng.v.v… và các cán bộ công tác trên các tàu như M/S Maple; M/S Mashall,: M/S Double Providence.v.v…trong các năm 2010, 2011,2012,2013 Từ nguồn ngữ liệu trên, chúng tôi lựa chọn được
1530 bức điện chủ yếu có kèm văn bản phục hồi từ NNĐ Đối với một số bức điện không có bản phục hồi, chúng tôi hợp đồng với nhân viên công ty dịch vụ thông tin hàng hải và thuyền trưởng công ty vận tải biển đang nghỉ phép trên đất liền phục
hồi toàn văn bức điện
Theo quy trình soạn điện tín [123, tr.96], người soạn điện (NSĐ) phải lập một văn bản đầy đủ sau đó dùng các thủ pháp ngôn ngữ học lược bỏ những phần có thể
Trang 8hiểu ngầm Văn bản lưu hành là văn bản siêu ngắn gọn Khi nhận được điện tín, người nhận điện (NNĐ) phải phục hồi bức điện về nguyên dạng ban đầu Trong thực tế, quy trình này chỉ áp dụng trong đào tạo và giai đoạn thực tập Khi có kinh nghiệm, NSĐ chỉ hoạch định sẵn trong đầu rồi soạn ngay ra văn bản điện đã rút ngắn NNĐ cũng đọc hiểu ngay nội dung văn bản điện và chỉ tái lập các bản điện quan trọng để phục vụ khiếu nại hay các vấn đề liên quan đến pháp lý Các nhà
chuyên môn hàng hải gọi văn bản giao dịch là điện tín dương và văn bản phục hồi là
điện tín âm Luận án lấy ngữ liệu khảo sát là 1530 văn bản điện tín dương Mặc dù
vậy, do luận án nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ có liên quan đến câu nên chúng tôi dựa vào điện tín âm để thống kê loại câu và xác lập cấu trúc đầy đủ của nó Để ngắn
gọn và tránh lặp lại từ, trong luận án này, chúng tôi dùng thuật ngữ điện tín hàng
hải có hàm ý trong ngành hàng hải Việt Nam và cụm từ “ nghiên cứu điện tín hàng hải” được sử dụng thay cho “nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải”
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là đặc điểm ngôn ngữ vi mô và vĩ mô trong văn bản điện tín hàng hải dương và âm được lưu hành trong thực tế lao động sản xuất trong ngành hàng hải Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Triển khai đề tài này, chúng tôi áp dụng những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả cấu trúc và nội dung bức điện
- Thủ pháp thống kê được sử dụng để chỉ ra tần số, tần suất của từng trường hợp được phân tích, qua đó giúp thấy được mức độ xuất hiện phổ biến hay không của chúng
- Thủ pháp so sánh - đối chiếu được áp dụng khi so sánh văn bản điện âm và văn bản điện dương giúp tìm ra đặc điểm để soạn và đọc hiểu các bức điện một cách nhanh chóng và chính xác
5 Đóng góp mới v ề khoa học của luận án
Luận án có một số đóng góp mới về khoa học như sau:
- Chứng minh điện tín hàng hải là một tiểu loại thư tín thương mại đặc biệt
Trang 9- Cụ thể hóa lí thuyết văn bản rút ngắn bằng việc trình bày một văn bản dị biệt ngắn gọn
- Bổ sung vào kết quả nghiên cứu thư tín thương mại đã có
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về lí thuyết: Luận án chứng minh điện tín hàng hải là một tiểu loại thư tín
thương mại đặc biệt không bao gồm các yếu tố lịch sự rào đón như thường thấy trong thư tín thương mại thông thường khác Điện tín hàng hải là một loại văn bản rút ngắn điển hình ở cấu trúc vĩ mô và vi mô Việc rút gọn được thực hiện triệt để, ở
vi mô, điện tín hàng hải chủ yếu chỉ giữ lại từ vựng quan trọng và việc rút gọn được thực hiện tới cấp độ kí tự trong việc sử dụng từ tắt,một đặc điểm phổ biến trong văn bản điện tín hàng hải Ở vĩ mô, điện tín hàng hải bao gồm một đoạn văn chỉ có thành phần triển khai Các thành phần khác trong cấu trúc vĩ mô được lược bỏ
Về thực tiễn: Kết quả của luận án là cơ sở để biên soạn cẩm nang ĐTHH
chuẩn hóa, giúp rút ngắn quá trình đào tạo và biên soạn điện Ngoài ra, luận án còn hữu ích đối với các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực thư tín nói chung và ĐTHH nói riêng Kết quả nghiên cứu sẽ giúp rút ngắn văn bản điện một cách khoa học hơn
và người nhận điện sẽ đọc hiểu chính xác hơn Ngoài ra, việc rút ngắn văn bản điện còn giúp chủ tàu giảm được tiền cước phải trả và giúp thuyền trưởng đọc hiểu nhanh nội dung văn bản điện tín để kịp ra quyết định nhanh chóng và kip thời
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải và cơ
sở lí luận của luận án
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải về cấu trúc vĩ mô
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải về cấu trúc vi mô
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VÀ CƠ SỞ
LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu điện tín hàng hải
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thư tín thương mại
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu thư tín thương mại trên thế giới
Do yêu cầu cấp thiết của việc giao tiếp trong hoạt động thương mại, việc phân tích diễn ngôn thư tín thương mại đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm
từ rất lâu Đặc biệt là các tác giả Anh- Mỹ đã biên soạn công phu những giáo trình thư tín thương mại tiêu chuẩn, phân loại thư tín nhằm giúp cho người sử dụng nắm bắt nhanh các nguyên tắc, chiến lược hay mô hình biên soạn văn bản thư tín Trong
số những nhà khoa học đã có công trình nghiên cứu đáng chú ý về thư tín thương mại, chúng tôi xin dẫn một số tác giả tiêu biểu như sau:
Bovee [89] đưa ra các nguyên tắc viết nhấn mạnh chiến lược lịch sự dương tính, tránh phân biệt về giới tính (sex discrimination) và nhấn mạnh hành vi trực ngôn (direct discrimination) trong thư tín thương mại
Bhatia [91] đã phân tích diễn ngôn thư tín thương mại theo phương pháp phân
tích thể loại Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày 7 bước thoại dành cho thư bán hàng và thư xin việc trong tiếng Anh
Henry và Roseberry [104] cũng theo hướng phân tích trên, đã đưa ra 14 bước thoại trong thư xin việc
Berhas A.Mill, [119] trong cuốn Business letters (Thư tín thương mại) đã nêu
ra các tình huống, các loại thư tín thương mại Tuy vậy, đây chỉ là cuốn giáo trình phục vụ giảng dạy, không phải là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học
Nhiều nhà nghiên cứu khác tập trung so sánh - đối chiếu thư tín thương mại giữa các nền văn hóa khác nhau và theo hướng khác so với luận án mà chúng tôi đang thực hiện
Trang 111.1.1.2 Tình hình nghiên cứu thư tín thương mại ở Việt Nam
Việc nghiên cứu thư tín thương mại nói chung đã thu hút được giới nghiên cứu
ngôn ngữ học Việt Nam chủ yếu chỉ từ thời kỳ sau Đổi mới (1986) do yêu cầu của
nền kinh tế thị trường Có thể nêu một số tác giả tiêu biểu như sau:
Hoàng Anh [1], trình bày chi tiết văn bản, kết cấu văn bản và phân loại thư tín
và thư công vụ Đây là cuốn sách tham khảo quý đối với những nghiên cứu chuyên sâu về văn bản, kết cấu văn bản Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp cơ sở lí thuyết để phân biệt thư tín công vụ với thư từ giao dịch thương mại
Nguyễn Trọng Đàn [23] viết luận án tiến sĩ nghiên cứu “Phân tích diễn ngôn
thư tín thương mại”.Luận án đã phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực của
thư tín giữa tiếng Anh và tiếng Việt
Nguyễn Đức Hoạt [105],trong luận án tiến sĩ“Politeness Markers in
Vietnamese requests”(Chỉ dấu lịch sự trong lời đề nghị tiếng Việt) đã phân tích sự
khác biệt về một số chiến lược sử dụng câu để thể hiện chiến lược lịch sự trong diễn ngôn thương mại tiếng Việt và tiếng Anh
Trần Thị Thu Hương [44] nghiên cứu chi tiết, phân loại thư tín Đây là cuốn sách cung cấp cho độc giả cơ sở để phân biệt thư từ, thư công vụ và thư tín cũng như điện tín Cuốn sách [1] và [44] hiện được sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong một số trường đại học và học viện hành chính
Nguyễn Thành Lân [50] đã bảo vệ luận án tiến sĩ “Phương pháp xây dựng và
chuyển dịch văn bản thương mại Anh- Việt, Việt – Anh”, nghiên cứu nguyên tắc và
mô hình xây dựng văn bản thư tín thương mại bằng tiếng Anh dành cho người Phương Đông
Nguyễn Xuân Thơm [68] trong luận án tiến sĩ “Các yếu tố ngôn ngữ trong
đàm phán thương mại quốc tế (Anh - Việt đối chiếu).” đã so sánh đối chiếu đặc
điểm về ngữ vực bằng tiếng Anh và tiếng Việt trong đàm phán thương mại
Lê Hùng Tiến [70], trong luận án tiến sĩ “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật
pháp tiếng Việt”, đã phân tích diễn ngôn văn bản luật pháp, trong đó có các văn bản
hợp đồng thương mại
Trang 12Ngoài ra, một số tác giả khác đã biên soạn giáo trình về soạn thảo văn bản để giảng dạy trong một số trường đại học và học viện hành chính Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong việc triển khai đề tài luận án này
Nhìn chung,các công trình trên tập trung phân tích các yếu tố lịch sự hay nghiên cứu phương pháp chuyển dịch văn bản thư tín giữa các nền văn hóa và là các công trình so sánh- đối chiếu, không phân tích văn bản thư tín thương mại rút ngắn
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải trên thế giới
Sau một thời gian phát triển rực rỡ, điện tín dân sinh (ĐTDS) đã chấm dứt Hiện nay chỉ còn những nhánh phát triển của nó trong các lĩnh vực hẹp khác, như quân đội
(Military radiograms), an ninh (Police radiograms) hàng không (Air way radiograms)
và hàng hải (Marine radiograms) Tài liệu trong lĩnh vực này không nhiều
Tổ chức Viễn thông Quốc tế - ITU phát hành cuốn “Manual for use by the
Maritime mobile and maritime mobile- satellite services” (Hướng dẫn sử dụng dịch
vụ vệ tinh di động và các dịch vụ hàng hải di động)
Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) ấn hành tài liệu“IMO standard vocabulary
phrases” (Cụm từ tiêu chuẩn hàng hải) bao gồm các mẫu câu, yêu cầu thủy thủ phải sử
dụng trong các tình huống cụ thể, trong đó có một số tình huống có liên quan tới ĐTHH Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên cứu ngôn ngữ học nào về điện tín nói chung và ĐTHH bằng tiếng Anh nói riêng
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu điện tín hàng hải ở Việt Nam
Hàng hải là một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia Ngôn ngữ được IMO chọn trong giao dịch là tiếng Anh Mặc dù tài liệu tra cứu chuyên ngành bằng tiếng Anh khá phong phú nhưng theo kết quả chúng tôi tìm hiểu, tài liệu nghiên cứu bằng các ngôn ngữ nói chung và bằng tiếng Anh nói riêng lại rất khiêm tốn, có thể nói hầu như là không có ĐTHH là một lĩnh vực chuyên ngành hẹp, việc nghiên cứu thể loại văn bản này cũng chưa có Chúng tôi chỉ tìm thấy những tài liệu sau:
Trang 13Cuốn “English for nautical students and shipofficers” (Tiếng Anh dành cho sinh
viên hàng hải và sĩ quan tàu biển) [124] do Nguyễn Tường Luân biên soạn, bao gồm
một số đoạn đọc hiểu tiếng Anh hàng hải, trong đó có một số bức ĐTHH Đây cũng chỉ
là tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên hàng hải chứ không phải là một nghiên cứu ngôn ngữ học
Cuốn “Ship’s correspondence” (Thư- Điện- Kháng cáo) [125] do Nguyễn Tường
Luân biên soạn năm 1991 là cuốn sách sưu tầm các bức thư tín hàng hải, ĐTHH và kháng cáo hàng hải cũng chỉ dùng làm tài liệu giảng dạy
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.2.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Khi nghiên cứu văn bản, các nhà nghiên cứu đều thấy cần thiết phải phân biệt
hai khái niệm “ văn bản” và “ diễn ngôn”, nhưng đây là công việc hết sức khó khăn
và còn đang tranh luận chưa dứt Hiện nay có hai nhóm quan điểm Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng hai khái niệm này có thể dùng thay cho nhau Nhóm quan điểm ngược lại cho rằng hai thuật ngữ này không thể đồng nhất Chúng tôi xin bắt
đầu bằng việc phân tích khái niệm “văn bản” như sau:
Việc nghiên cứu văn bản (text) với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ trên câu được bắt đầu bởi J.R Firth - nhà nghiên cứu ngôn ngữ người Anh Đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này, chẳng hạn, Haris (1952),Mitchell (1957),Halliday và Hasan (1976),G.Brown và G.Yule (1983) I.R.Galperin (1987), David Nunan (1993), Hoàng Văn Vân (2006) Dưới đây là một số định nghĩa về văn bản được dẫn theo Diệp Quang Ban [5, tr.5]:
Từ điển Bách khoa thư : “ Văn bản là (1) một quãng viết hay phát ngôn, lớn hay
nhỏ, mà do cấu trúc đề tài chủ đề của nó hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường, v.v… (2) Văn học: trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách… (3) Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói hay diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản”
Trang 14Trần Ngọc Thêm [66]: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống
mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với nhưng câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy”
Halliday & Hasan [102]: “Văn bản là ngôn ngữ thực hiện một chức năng giao
tiếp cụ thể, trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.Văn bản đối lập với các từ, các câu bị tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp.Văn bản có thể ở hình thức ngôn ngữ nói, viết hay bất kỳ các phương tiện diễn đạt nào mà chúng ta có thể nghĩ đến.”
Có quan điểm trái ngược với quan điểm vừa nêu, chẳng hạn, M.A.K Halliday
&R.Hasan, G.Brown & G.Yule (1987), E.Coseriu, I.R Galperin (1987), Hoàng Văn
Vân (2006) Các tác giả này cho rằng hai thuật ngữ văn bản và diễn ngôn chỉ là một Nhóm tác giả phân biệt văn bản và diễn ngôn coi là hai thuật ngữ khác nhau
không phải là không có cơ sở vì văn bản viết và nói có những đặc điểm khác nhau Như chúng ta biết, khi giao tiếp trực tiếp bằng lời nói, chúng ta không chỉ giao tiếp bằng ngôn từ mà còn bằng cả các yếu tố ngoại ngôn, như quần áo, màu sắc, dáng bộ,
cử chỉ, nét mặt, ánh mắt Ngoài ra, còn ánh sáng, tiếng động, v.v… cũng góp phần làm tăng hiệu quả giao tiếp Văn bản viết cũng có những nét khác biệt Ngôn ngữ được tổ chức tốt hơn, người tạo ra văn bản không chịu áp lực lượt lời, v.v…và đặc
Trang 15biệt hơn là có thể nhấn mạnh bằng các thủ pháp như gạch chân, in nghiêng, chữ viết hoa hay viết tắt
Quan điểm đồng nhất hai thuật ngữ văn bản và diễn ngôn cũng có những lý do
thuyết phục vì chúng đều được tạo ra trong một ngữ cảnh nhất định và đều nhằm đạt được một mục đích nhất định Chẳng hạn, ở văn bản nói người ta nhấn mạnh bằng ngữ điệu thì trong văn bản viết bằng cách gạch chân hay in nghiêng Ví dụ: Người phát biểu tại cuộc họp quan trọng đã chuẩn bị viết sẵn bài phát biểu để đọc Đây là
sự kết hợp cả hai loại văn bản
Như vừa trình bày, khi đối tượng đang được tranh luận ở hai dạng thức khác nhau là nói và viết thì lẽ dĩ nhiên sẽ có những nét khác biệt, nhưng tựu trung chúng có cùng chức năng giao tiếp, tuy không thể trùng khít nhau được về mọi phương diện
Chúng tôi dựa theo quan điểm của Halliday và Hasan coi hai thuật ngữ văn bản và
diễn ngôn chỉ là đồng nghĩa để phân tích văn bản ĐTHH Như vậy trong luận án này,
chúng tôi dùng hai thuật ngữ này như nhau
1.2.1.2 Phân tích diễn ngôn
Theo Nguyễn Hòa [34, tr.13], sự phân tích diễn ngôn mới phát triển khoảng 50 năm trở lại đây, đặc biệt mạnh mẽ vào những năm gần đây Tác giả nêu rằng phân
tích diễn ngôn trải qua hai giai đoạn phát triển là ngữ pháp văn bản và hậu ngữ
pháp văn bản [34, tr.14] Ở giai đoạn phát triển ban đầu, vấn đề được tập trung
nghiên cứu chủ yếu là liên kết (Cohesion) Ở giai đoạn sau, các nhà nghiên cứu chú trọng đến vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản và vấn đề này được gọi là phân
tích diễn ngôn (Discourse analysis) Thực tế, sự ra đời của phân tích diễn ngôn là
một tất yếu khách quan khi mà việc nghiên cứu cấu trúc câu độc lập đã đạt đến mức hoàn chỉnh và trở thành chật hẹp trong cách nhìn là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Thực tế đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu lớn hơn câu và những yếu tố bên trong và bên ngoài văn bản (diễn ngôn)
1.2.2 Đường hướng phân tích diễn ngôn
Mặc dù đã có thời gian phát triển hơn nửa thế kỷ, song phân tích diễn ngôn vẫn không được công nhận là một lý thuyết, mà chỉ là đường hướng nghiên cứu
Trang 16nhằm tiếp cận ngôn ngữ hành chức và đường hướng này vẫn còn chưa rõ ràng Năm
1994, Shiffrin đã nhận xét về vấn đề này được Nguyễn Hòa [34,tr.17] dẫn như sau:
“Mặc dù phân tích diên ngôn là một lĩnh vực ngày càng trở nên quan trọng và được nhiều người quan tâm bởi cả hai- bởi chính bản thân nó và bởi nó có thể cung cấp cho chúng ta rất nhiều nội dung về ngôn ngữ, xã hội, văn hóa và tư tưởng- song phân tích diễn ngôn vẫn còn là một lĩnh vực rộng mênh mông và ít nhiều còn mơ hồ của ngôn ngữ học.”
Nguyễn Hòa [34, tr.75] nêu ra 9 đường hướng phân tích diễn ngôn sau: (1)
Đường hướng dụng học,(2) Đường hướng dân tộc học giao tiếp.(3) Đường hướng giao tiếp liên văn hóa,(4) Đường hướng phân tích hội thoại,(5) Phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội,(6) Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán.(7) Ngôn ngữ học xã hội tương tác,(8) Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp,(9) Đường hướng biến đổi ngôn ngữ
Các đường hướng trên có những điểm riêng và điểm chung nhất định, khi được áp dụng vào phân tích một văn bản cụ thể mỗi đường hướng lại có những mặt
mạnh và hạn chế riêng tùy theo mục đích của việc nghiên cứu
Đường hướng dụng học phù hợp với những nghiên cứu tìm kiếm mô hình,
cách thức thực hiện các hành động nói trong những ngữ cảnh khác nhau Dân tộc
học giao tiếp nghiên cứu hai lĩnh vực là phần xã hội và phần văn hóa của ngôn ngữ
Giao tiếp liên văn hóa nghiên cứu tác động của các giá trị văn hóa đến việc tổ chức
diễn ngôn Đường hướng phân tích hội thoại tìm kiếm cách tổ chức hội thoại Phân
tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ để thực
hiện những ý định của người giao tiếp trong lĩnh vực tâm lý xã hội Đường hướng phân
tích diễn ngôn phê phán nghiên cứu mối quan hệ xã hội theo quan hệ quyền – thế, các
quan hệ không bình đẳng trong diễn ngôn Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
phân tích toàn bộ một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc Ngôn ngữ học xã hội
tương tác tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ và miêu tả ngữ cảnh mà ở đó ngôn ngữ
được sử dụng Đường hướng biến đổi ngôn ngữ xây dựng trên giả thiết diễn ngôn có
tính tổ chức và đi sâu xem xét sự đa dạng của các biến từ vựng, biến ngữ pháp trong
Trang 17nên các đường hướng nghiên cứu hành động ngôn từ như đường hướng dụng học,
dân tộc học giao tiếp, Ngôn ngữ học xã hội tương tác hay phân tích hội thoại không
phù hợp và chỉ có giá trị tham khảo Văn bản ĐTHH sử dụng ngôn ngữ trong lĩnh vực chuyên ngành công nghiệp dịch vụ hẹp nên ngôn ngữ mang phong cách trung tính, đặc trưng văn hóa không rõ ràng, quan hệ giữa người soạn điện và người nhận điện là bình đẳng vì đây là lĩnh vực thương mại hợp tác cùng có lợi Vì vậy, các
đường hướng nghiên cứu phân tích phê phán và các đường hướng có liên quan đến
tâm lý hay văn hóa chỉ được tham khảo khi triển khai nghiên cứu luận án này
Đề tài luận án này mang tính ứng dụng cao trong lao động sản xuất Mục đích cuối cùng là xác lập được các mô hình điện tín tiêu chuẩn dựa trên đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản ĐTHH đã có Đối tượng nghiên cứu của luận án là các văn bản viết đã có sẵn và chúng tôi phân tích ngôn ngữ bề mặt trong các văn bản này chứ không đi sâu nghiên cứu quá trình tạo dựng văn bản Sau khi nghiên cứu từ
mọi góc nhìn,chúng tôi chọn đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp và đường
hướng biến đổi ngôn ngữ để triển khai đề tài
1.2.3 Đường hướng phân tích diễn ngôn triển khai đề tài
1.2.3.1 Đường hướng phân tích biến đổi ngôn ngữ
Đường hướng phân tích biến đổi ngôn ngữ có đối tượng là những đơn vị hay
bộ phận của diễn ngôn nằm trong những mối quan hệ hệ thống và khuôn mẫu với
nhau (từ vựng, âm vị hay cú pháp) Đây là cơ sở cho sự ra đời phương pháp phân
tích ngữ vực Phương pháp phân tích ngữ vực, theo Nguyễn Hòa [34,tr.87], là “phân
Trang 18tích hay miêu tả các sự kiện giao tiếp theo hai phương diện chức năng và đặt chúng vào trong một ngữ cảnh tình huống nhất định.”
Phân tích ngữ vực là phân tích các dạng ngôn ngữ được sử dụng trong một
ngữ cảnh tình huống nhất định, tức là các biến thể biến đổi của ngôn ngữ hành chức tương ứng theo ngữ cảnh cụ thể Muốn miêu tả được sự biến đổi này phải dựa vào hai yếu tố là người sử dụng ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ ấy Yếu tố gây ra biến đổi (variation) liên quan đến người sử dụng chủ yếu là phương tiện âm thanh
Yếu tố gây ra biến đổi ngôn ngữ liên quan đến cách sử dụng ngôn ngữ là từ vựng và
ngữ pháp Đối với việc phân tích văn bản ĐTHH, do là văn bản viết nên yếu tố gây biến đổi ngôn ngữ là phương tiện âm thanh (người sử dụng) không có Đường hướng biến đổi ngôn ngữ nghiên cứu các dạng thể hiện khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ, tức là các kiểu văn bản khác nhau trong sử dụng Nó nghiên cứu bề mặt (surface level) của ngôn ngữ
Tóm lại, đường hướng phân tích biến đổi ngôn ngữ là phân tích ngữ vực mà ngữ vực có thể xác định chủ yếu qua các khác biệt về ngữ pháp và từ vựng Phân tích biến đổi ngôn ngữ là phân tích hai cơ sở gây ra sự biến đổi ngôn ngữ là người
sử dụng ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ Biến thể liên quan đến người sử dụng ngôn ngữ được thể hiện qua phương tiện âm thanh, còn yếu tố thứ hai (gọi là ngữ vực) phân biệt chủ yếu ở hình thức ngôn ngữ, tức từ vựng và ngữ pháp ĐTHH là văn bản viết nên không có yếu tố âm thanh của người sử dụng ngôn ngữ mà chỉ có hình thức ngôn ngữ Như vậy, theo đường hướng này, chúng tôi tập trung phân tích
từ vựng và ngữ pháp của văn bản ĐTHH
Kết quả phân tích diễn ngôn ĐTHH theo đường hướng biến đổi ngôn ngữ giúp chúng tôi nắm vững đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản ĐTHH, cơ sở
để rút ra được mô hình điện tín theo mục đích đề ra khi triển khai đề tài luận án
1.2.3.2 Đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp
Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp (integrated method) được Nguyễn Hòa đề xuất trong cuốn sách “Phân tích diễn ngôn và một số vấn đề lí luận và
phương pháp” [34,tr.157] Tác giả cho rằng đây là “phương pháp phân tích toàn bộ
Trang 19một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc.” Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp vŕ
chức năng giao tiếp của nó được thể hiện bằng nhiều hình thức trong đó có văn bản Nhiệm vụ của văn bản hay bất cứ hình thức thực hiện chức năng giao tiếp nào của ngôn ngữ là phải truyền tải nội dung cần thông báo của các bên tạo dựng văn bản Mạch lạc là yếu tố mà không có nó cái gọi là văn bản chỉ là các câu văn đứng cạnh nhau Ngoài ra, mạch lạc còn giúp người tiếp nhận văn bản hiểu chính xác được trọng tâm thông báo, làm hoàn thiện chức năng thông báo của văn bản Đây là vấn
đề rất quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu yếu tố nào giúp thủy thủ đọc những bức điện siêu rút gọn mà vẫn chính xác tuyệt đối
Nguyễn Hòa nhận xét về đường hướng này như sau: “Đây là đường hướng
chức năng coi diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp tương tác giữa các thành viên của xã hội” Tác giả cũng nhấn mạnh“để giải thích rõ ràng tính chất giao tiếp tương tác của diễn ngôn, cần phải dựa vào mạch lạc Và đến lượt nó, mạch lạc lại được dựa trên cơ sở cấu trúc hình thức.”
Halliday cho rằng “…đôi khi có người cho rằng có thể tiến hành phân tích
diễn ngôn mà không cần đến ngữ pháp Đấy chỉ là một ảo tưởng mà thôi Không dựa trên ngữ pháp, phân tích diễn ngôn không phải là sự phân tích, mà chỉ thuần thúy là một bài bình luận tràn lan về một văn bản.”
Flowler cũng có quan điểm tương tự: “Mỗi hình thức biểu hiện ngôn ngữ trong
văn bản, một cách diễn đạt, một sự lựa chọn cú pháp đều có lí do Có những cách diễn đạt khác nhau một nội dung, và đó không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên.”
Schiffrin cũng chia sẻ quan niệm vừa nêu Tác giả cho rằng: “Sự phân tích cấu trúc
dẫn đến việc xác định chức năng, và chức năng được phân tích trong diễn ngôn được hiện thực hóa về mặt ngôn ngữ theo những cách thức tạo ra cấu trúc.”
[Dẫn theo Nguyễn Hòa [34, tr.157 - 156] Nguyễn Hòa [34, tr.156] nhận xét mang tính tổng quát về các đường hướng
phân tích diễn ngôn: “Chức năng và cấu trúc là hai thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ
tuy không nên lẫn lộn, song cũng không nên quá tách bạch hay đối lập chúng Cấu trúc là hình thức tồn tại của chức năng, và chức năng được thể hiện trong cấu trúc,
Trang 20và cũng tác động đến cấu trúc Sự kết hợp giữa chức năng và cấu trúc là cần thiết cho lí luận phân tích diễn ngôn.”
Điểm thống nhất của các tác giả trên là đều chú ý đến tầm quan trọng của việc kết hợp giữa hệ chức năng luận và hệ cấu trúc luận trong phân tích diễn ngôn Đây
là hai mặt của một vấn đề, chúng có mối quan hệ biện chứng qua lại Chức năng ngôn ngữ thực hiện qua cấu trúc của nó Cấu trúc ngôn ngữ bổ sung tăng cường cho việc thực hiện chức năng và chức năng tác động đến cấu trúc
Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp sở dĩ được đặt tên như vậy là do
phương pháp này dựa vào mạch lạc và mạch lạc là cái tích hợp của nhiều biến như
tính tổ chức, liên kết và tính quan yếu Chúng tôi đánh giá, đây là phương pháp
phân tích dung hòa cả hệ chức năng luận với hệ cấu trúc luận Hơn nữa, tác giả đã trình bày rất cụ thể, minh họa bằng việc phân tích diễn ngôn một thể loại tin từ các
góc độ rất rõ ràng là: (i) Cấu trúc như sự hiện thực hóa mạch lạc (đầu đề, phần phát
triển, mô hình tổ chức điển hình của thể loại diễn ngôn); (ii) Mạch lạc của diễn ngôn (hiện thực hóa qua liên kết);(iii) Ngữ vực, bao gồm các đặc điểm từ vựng và ngữ pháp điển hình Việc phân tích đặc điểm từ vựng và ngữ pháp cũng là điểm gặp
nhau của hai đường hướng phân tích diễn ngôn được lựa chọn để triển khai luận án này Đề tài mà chúng tôi đang triển khai nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của một loại hình văn bản đặc biệt ngắn gọn Chính mạch lạc trong văn bản điện tín đã giúp thủy thủ đọc một văn bản ngắn gọn đến biến dạng mà vẫn hiểu chính xác nội dung thông báo Vì vậy, chúng tôi chọn đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp để phân tích diễn ngôn ĐTHH
1.2.4 Yếu tố đặc trưng chung của văn bản
1.2.4.1 Cấu trúc văn bản
Mỗi loại văn bản đều có một cấu trúc nhất định, tức là có sự tổ chức, sắp xếp các bộ phận có nghĩa theo một hình thức nào đó để đạt được mục đích giao tiếp hiệu quả nhất Các kết cấu hay còn gọi là bố cục này tạo lên các khuôn hình văn bản Một số văn bản trong hành chính công vụ như công văn, đơn từ, tờ khai, công hàm, điều lệnh, v.v…được qui định sẵn theo mẫu Đây là những văn bản có khuôn hình
Trang 21cố định cứng nhắc Khác biệt với văn bản có khuôn hình cố định cứng nhắc này là các văn bản có khuôn hình linh hoạt Văn bản có khuôn hình linh hoạt được chia
nhỏ thành văn bản có khuôn hình thường dùng và tùy chọn
Diệp Quang Ban [5,tr.103] chi tiết hóa loại hình văn bản cứng nhắc như sau :
“ Văn bản có khuôn hình cố định cứng nhắc, đã được định sẵn, loại như các văn
bản quy thức dùng trong công vụ hành chính…cụ thể là các công văn, đơn từ, tờ khai, công hàm, điều lệnh,v.v…” Những văn bản này có mẫu qui định sẵn Người
dùng chỉ việc điền thông tin liên quan vào chỗ trống hay chế bản lại các phần quy định cứng Theo Hoàng Anh [1, tr.13] các văn bản có khuôn hình cứng nhắc bao gồm các thông báo, công điện, tờ trình, báo cáo, biên bản, v.v… Các loại văn bản này có các phần cứng Ví dụ như văn bản thông báo phải có 7 phần là: (i) Quốc hiệu
và tiêu ngữ,(ii) Địa danh và ngày tháng năm ra thông báo,(iii) Tên cơ quan thông báo,(iv) Tên văn bản (thông báo), (v) Nội dung thông báo,(vi) Kí tên đóng dấu và (vii) Nơi nhận
Cấu trúc khuôn hình văn bản thường dùng: Cấu trúc của văn bản có khuôn
hình thường dùng gồm ba phần là phần mở, phần thân, phần kết Trong đó phần
thân là quan trọng nhất của kết cấu văn bản Nó có nhiệm vụ triển khai, hiện thực
hóa đầy đủ nội dung đã nêu ở phần mở và làm cơ sở cho phần kết Nói một cách chung nhất, cả ba phần này có liên kết với nhau Phần mở nêu vấn đề có tác dụng định hướng cho người đọc sẽ nhận được gì ở phần kế tiếp Phần thân là phần truyền tải nội dung đã nêu Mọi kết quả trong việc triển khai nội dung trong phần thân sẽ là
cơ sở cho phần kết Theo Diệp Quang Ban [5, tr.106], ngoài ba phần chính vừa nêu
còn có thêm một phần không kém quan trọng là phần đầu đề Tuy đây là phần không bắt buộc nhưng rất quan trọng trong việc chi phối mục đích sử dụng văn bản
Nó cũng đóng góp lớn vào việc thống nhất nội dung trong văn bản Thực tế cho thấy, phần đầu đề trong các văn bản hành chính công vụ giúp người nhận văn bản xác định được văn bản đó bàn về vấn đề gì và thuộc thể loại nào, thông báo hay tờ
Trang 22trình ,v.v… và thường có nội dung tóm tắt dưới đề mục
Trong các văn bản thuộc thể loại văn hóa nghệ thuật hay báo chí, đầu đề tức
là tên các câu chuyện, tiểu thuyết hay các tít báo đều có vai trò bao hàm nội dung câu chuyện hay nội dung bài báo rất cao Trong thực tế công tác dịch thuật, người dịch làm xong công việc dịch thuật cả một cuốn tiểu thuyết hay truyện mới dịch sát nghĩa được tên truyện Diệp Quang Ban [5, tr.105] khẳng định: “Kết cấu của văn bản có khuôn hình thường dùng gồm có bốn thành tố - đó là ĐẦU ĐỀ, PHẦN MỞ, PHẦN THÂN, PHẦN KẾT”
Kết cấu khuôn hình văn bản tùy chọn Kết cấu khuôn hình văn bản tùy chọn không có quy định chính thức Các phần được linh hoạt theo ý người soạn và theo Diệp Quang Ban [5, tr.104] loại văn bản này thường thấy trong các loại hình văn bản văn học nghệ thuật Để một chuỗi câu đứng cạnh nhau trở thành văn bản thì nhất thiết nó phải có yếu tố mạch lạc và tính mạch lạc này được tăng cường bởi yếu
tố liên kết Dưới đây, chúng tôi trình bày chi tiết về hai yếu tố kể trên
1.2.4.2 Liên kết
- Khái niệm về liên kết
Liên kết (Cohesion) là một yếu tố quan trọng của văn bản (text) Chính vì vậy,
khi nghiên cứu văn bản, các nhà nghiên cứu không thể không tìm hiểu yếu tố liên kết trong văn bản đó
Halliday cho rằng: “hiện tượng liên kết xảy ra trong trường hợp việc hiểu
được một yếu tố nào đó trong diễn ngôn phụ thuộc vào yếu tố của một diễn ngôn khác” (Cohesion occurs where the INTERPRETATION of some element in the discourse is dependent on that of another [101, tr.4]).Theo Halliday, liên kết được
hiểu là sự liên hệ ràng buộc giữa các câu trong một văn bản Để hiểu được yếu tố nào đó trong câu văn này phải liên hệ với câu văn khác
Diệp Quang Ban [6, tr.347] định nghĩa như sau: “Liên kết, xét tổng thể, là một
bộ (tập hợp) các hệ thống ngữ pháp – từ vựng phát triển một cách chuyên biệt thành một nguồn lực có thể vượt qua các biên giới của câu, giúp cho các câu trở
Trang 23thành một chỉnh thể Liên kết, xét cụ thể, là quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau.”
Hai định nghĩa trên có điểm chung là muốn hiểu một yếu tố nào đó trong câu phải dựa vào lần xuất hiện trước đó trong các câu ở phía trước Chúng tôi dựa vào định nghĩa về liên kết của Halliday để phân tích liên kết trong các văn bản ĐTHH
- Phân loại liên kết
Liên kết được các nhà nghiên cứu phân loại theo các hướng khác nhau Trần Ngọc Thêm [66, tr.15] đã tổng kết các hướng phân loại liên kết như sau: (i) Theo ngữ pháp truyền thống; (ii) Dựa vào sự đối lập giữa các phương tiện liên kết đã biết
và các phương tiện liên kết đặc thù ;(iii) Theo mức độ liên kết Hiện nay, dựa vào
các hướng trên, liên kết đã được các nhà nghiên cứu phân thành các loại sau:(i) Liên
kết chủ ngữ, liên kết bổ ngữ, liên kết trạng từ, liên kết động ngữ; (ii) Liên kết từ pháp, liên kết cú pháp; (iii) Liên kết từ vựng, liên kết cú pháp; (iv) Liên kết ngữ pháp và liên kết từ vựng; (v) Liên kết ngữ pháp truyền thống, liên kết logic, liên kết liên tưởng, liên kết hình tượng, liên kết cấu trúc, liên kết phong cách, liên kết tạo nhịp điệu, liên kết chung và liên kết kiểu câu thuần túy; (vi) Liên kết chính, liên kết
bổ trợ, liên kết nội tại chặt, liên kết phân tán, liên kết đồng vị trí tự do; (vii) liên kết hình thức và liên kết nội dung Trong số các cách phân loại liên kết nêu trên, chúng
tôi quan tâm nhiều tới ba tác giả tiêu biểu cho các hướng tiếp cận nêu trên là Halliday, Diệp Quang Ban và Trần Ngọc Thêm
Halliday [101,tr.165] phân loại liên kết thành liên kết ngữ pháp (Grammatical
cohesion) và liên kết từ vựng (Lexical cohesion) Việc phân loại này dựa vào tính
liên kết văn bản thông qua từ vựng và ngữ pháp Chúng có vai trò rất quan trọng tạo lập văn bản Theo Halliday và Hasan, liên kết ngữ pháp là sự đánh dấu bề mặt vào văn bản các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu và cú trong văn bản viết Liên kết
từ vựng là việc trong văn bản có được một hệ thống từ ngữ được lựa chọn thống
Trang 24nhất cùng chủ đề Việc liên kết từ vựng có được do việc lựa chọn từ (This is the
cohesive effect achieved by the selection of vocabulary) Rõ ràng là việc chọn lựa từ
ngữ và cách sử dụng chúng đúng cách càng làm tăng tính liên kết cho văn bản Một văn bản có chủ đề thống nhất là một văn bản có nhiều yếu tố từ vựng có nghĩa liên quan với nhau hay có quan hệ nghĩa với nhau
Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban trong các công trình nghiên cứu riêng
của mình đều thừa nhận có hai loại liên kết, đó là (1) liên kết nội dung và (2) liên
kết hình thức
Liên kết nội dung: Theo Trần Ngọc Thêm [66, tr.20], một văn bản có liên kết
nội dung là một văn bản, “ tất cả các câu trong đó đều phối hợp một cách hài hòa
bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung ” Theo tác giả, một văn bản được
đánh giá là có liên kết nội dung khi và chỉ khi sự xuất hiện của tất cả các câu trong văn bản đó phục vụ mục đích diễn đạt thống nhất một nội dung xuyên suốt Liên kết
nội dung được Trần Ngọc Thêm chia nhỏ thành hai tiểu loại là liên kết chủ đề và
liên kết logic Trong hai tiểu loại của liên kết nội dung, liên kết chủ đề đóng vai trò
quan trọng hơn cả Để có được tiểu loại này, các câu trong văn bản phải “xoay quanh” một chủ đề hay chủ đề của văn bản được thống nhất thông qua việc nhắc lại
cùng sự vật hay một việc nào đó trong các câu có liên kết với nhau Liên kết lô-gích
là sản phẩm của sự ăn khớp giữa các câu theo một logic chặt chẽ
Diệp Quang Ban cho rằng liên kết lô-gích xảy ra ở hai phạm vi rộng hẹp khác
nhau Phạm vi hẹp là nội trong một câu, và phạm vi rộng là giữa các câu văn khác, giữa các cụm câu này với cụm câu khác và thậm chí giữa phần này với phần khác trong cùng một văn bản
Liên kết hình thức: Diệp Quang Ban [5, tr.134] cho rằng “Liên kết hình thức
phải được hiểu là liên kết bằng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ” Theo Diệp Quang Ban, liên kết hình thức có thuộc tính khá hạn hẹp, chỉ diễn ra bằng phương thức lặp ngữ âm và lặp cấu trúc ngữ pháp Cả hai tác giả đều thống nhất cho rằng tuyệt đại đa số các trường hợp đều phải căn cứ vào mặt nghĩa của các yếu tố được liên kết với nhau
Trang 25Mỗi cách phân loại đều có những mặt thuận lợi cho việc khảo sát nhất định Tuy vậy, chúng tôi thống nhất theo cách phân loại liên kết của Halliday để phân tích ĐTHH
Tùy theo cách phân loại liên kết mà các nhà nghiên cứu có cách phân loại phương thức liên kết tương ứng
Trần Ngọc Thêm phân loại phương thức liên kết thành ba nhóm là: (1) Nhóm
phương thức liên kết chung cho ba loại phát ngôn ;(2) Nhóm phương thức liên kết hợp nghĩa;(3) Nhóm phương thức liên kết trực thuộc
Diệp Quang Ban [6,tr.147] phân loại các phương thức liên kết thành năm loại là
(1) phép qui chiếu;(2) phép thế;(3) phép tỉnh lược;(4) phép nối;(5) phép liên kết từ vựng
Halliday đưa ra hai loại phương thức liên kết tương ứng là (1) Nhóm các
phương thức liên kết ngữ pháp và (2) Nhóm các phương thức liên kết từ vựng
Nhóm thứ nhất bao gồm các phương thức quy chiếu (reference), phép tỉnh lược (ellipsis), phép thế (substitution) và phép nối (conjunction) Nhóm thứ hai bao gồm
phép lặp lại (reiteration) và phép phối hợp từ ngữ (collocation) Chúng tôi theo
quan điểm phân loại phương thức liên kết của Halliday để phân tích văn bản ĐTHH
Sơ đồ 1.1 Phương thức liên kết theo quan điểm của Halliday
Phương thức liên kết văn bản
Trang 26- Phương thức liên kết ngữ pháp
Phép tỉnh lược (ellipsis): Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng
tỉnh lược là việc loại ra khỏi câu hay phát ngôn các yếu tố mà sự có mặt của chúng
là không cần thiết vì có thể hồi phục nhờ đã xuất hiện ở phát ngôn hay câu trước đó hoặc được hiểu ngầm Chính điều kiện được phát ngôn trước đó hay được hiểu
ngầm đã phân nhóm các tác giả thành hai nhóm Nhóm thứ nhất chỉ công nhận có
sự phục hồi do đã được nhắc đến ở phát ngôn trước đó mới là hiện tượng tỉnh lược
Nhóm thứ hai công nhận cả hai điều kiện Có nghĩa là cứ phần nào không xuất hiện
trong phát ngôn hay câu mà vẫn được hiểu đều là tỉnh lược không phân biệt nó được nhắc trong phát ngôn trước đó hay ngầm hiểu
[1] - I am happy if you are (*) (Tôi vui nếu như anh cũng (*))
[2] – (Do you want) anything else? (Cần gì nữa không?)
[3] - D: There‘s been an accident (Có một vụ tai nạn.)
C: Has there (*)? Again? (Lại có à?)
D: Yes, there have been three (*) here this week
(Ừ, tuần này có ba vụ (*) rồi) [4]- Thằng đi làm thêm Đứa làm tiếp thị Thằng làm quán cơm Tối về (*)
một gói mì tôm (Lời bài hát Bạn tôi, Trần Tiến)
[5]- Speak when you are spoken to Come when you are called (*)
Nhóm tác giả theo quan điểm thứ nhất chỉ thừa nhận hiện tượng tỉnh lược
xảy ra như trong ví dụ [1] và [3] Hiện tượng không xuất hiện trong ví dụ [2] & [4]
theo quan điểm này không phải tỉnh lược Vấn đề đặt ra là, phần tỉnh lược trong ví
dụ [4] được hiểu là động từ “ăn” chứ không thể là “làm” Chỉ có thể lý giải việc
hiểu được hay phục hồi được động từ “ăn” này bằng luận suy lô gích hay khả năng
sử dụng ngôn ngữ mà thôi
Haliday [101,tr.142] cho rằng: “Tỉnh lược là một điều gì đó không được phát
Trang 27ngôn ra, không được hiểu là điều không được phát ngôn sẽ không được hiểu mà ngược lại" không được phát ngôn ra" nghĩa là" vẫn được hiểu" Nói cách khác tỉnh lược trên thực tế là được hiểu, ở đây “được hiểu" được sử dụng với ý nghĩa là” đương nhiên" (It is something left unsaid.There is no implication here that what is unsaid is not understood; on the contrary; “unsaid” implies ‘but understood nevertheless”)
Tác giả nhấn mạnh cứ phần nào không được phát ngôn ra (unsaid) nhưng vẫn được hiểu một cách đương nhiên (understood) là tỉnh lược Tuy nhiên, khi phân loại Halliday và Hasan chỉ công nhận có 3 loại tỉnh lược là tỉnh lược danh ngữ, tỉnh
lược động ngữ và tỉnh lược cú Trong thực tế, còn nhiều thành phần khác nữa như
tính từ được tỉnh lược (như tính từ happy trong ví dụ [1]) lại không thuộc loại tỉnh
lược nào trong ba loại tỉnh lược Halliday đưa ra Ngoài ra, theo Halliday, có hiện
tượng tỉnh lược động ngữ hay tỉnh lược danh ngữ chỉ khi một trong các thành phần tạo dựng lên nó đứng thay cho cả động ngữ hay danh ngữ đó theo trình tự Theo hướng đó, tác giả chỉ công nhận có tỉnh lược động từ từ vựng (Lexical verb ellipsis)
và tỉnh lược trợ động từ (Operator verb ellipsis) Trên thực tế, có nhiều trường hợp
cả danh ngữ hay động ngữ như phần hồi phục là “to come” trong ví dụ [5] không
được xuất hiện trong câu nhưng vẫn được hiểu cũng không thuộc loại tỉnh lược nào
vì theo Halliday hiện tượng tỉnh lược chỉ xảy ra trong phạm vi động ngữ khi và chỉ khi một thành phần động ngữ xuất hiện cho cả động ngữ đó Vậy động từ “to come” biến khỏi câu nhưng không thuộc loại tỉnh lược nào theo quan điểm Halliday Sự phân loại của Halliday không bao trùm những trường hợp vừa nêu
Quirk [116, tr.250] không đưa ra định nghĩa rõ ràng trong nghiên cứu của
mình Tác giả chỉ coi hiện tượng tỉnh lược là sự tránh lặp lại từ: “Tỉnh lược được sử
dụng rất phổ biến để tránh lặp từ và trên phương diện này nó giống như phép thế.” (Ellipsis is most commonly used to avoid repetition, and in this respect it is like substitution) Cũng trong cuốn sách “A University Grammar of English” (Ngữ pháp tiếng Anh tổng hợp), Quirk đã thừa nhận một cách gián tiếp những yếu tố không
xuất hiện trong phát ngôn/câu nhưng vẫn được hiểu là hiện tượng tỉnh lược bằng
cách đưa ra phân loại riêng của mình về tỉnh lược Đó là Tỉnh lược phụ thuộc vào
Trang 28ngôn cảnh (Linguistic context) và (ii) Tỉnh lược không phụ thuộc vào ngôn cảnh
(Non-linguistic context) Cách phân loại trên bao hàm mọi hiện tượng không xuất
hiện trong câu/ phát ngôn nhưng vẫn được hiểu đầy đủ do hiểu ngầm hay khả năng luận suy nhờ kinh nghiệm hay khả năng sử dụng ngôn ngữ Việc phân loại này đã khắc phục được phần chưa rõ ràng hay mâu thuẫn trong luận điểm của Halliday giữa định nghĩa tỉnh lược và thực tế phân loại tỉnh lược Chúng tôi dựa vào quan điểm về tỉnh lược và cách phân loại tỉnh lược của Quirk để phân tích phương tiện liên kết của văn bản ĐTHH
- Phép thế (Substitution): Phép thế được các nhà nghiên cứu phân tích từ
nhiều góc độ, nhưng nhìn chung có hai xu hướng tiếp cận Hướng tiếp cận thứ nhất
xem xét phép thế dưới dạng một phạm trù ngữ pháp trong phạm vi câu Tiêu biểu
cho xu hướng này là các tác giả như F.Palmer và R.Quirk và nhóm tác giả Hướng
tiếp cận thứ hai nghiên cứu phép thế với vai trò là một phương thức liên kết câu
Phép thế được nghiên cứu đặt trong nền là văn bản chứ không tách rời trong các câu độc lập Đại diện cho xu hướng tiếp cận này là Halliday & Hasan [101] G.Brown và Yule, David Nunan [94] Để có cái nhìn tổng thể, chúng tôi xin trích dẫn một số định nghĩa về phép thế tiêu biểu:
Downing & Locke [96, tr.237]: “Phép thế được sử dụng để tránh nhắc lại
thông tin mà người nghe đã biết Khác với tỉnh lược để lại một khoảng trống trong cấu trúc, phép thế lấp đầy khoảng trống ấy bằng một từ chuyên thay thế (Substitution is used to avoid repeating information that is known to the hearer Unlike ellipsis which leaves a structural slot empty substitution replaces it by a filler word)”
Halliday và Hasan [101, tr.89]: “Phép thế là một quan hệ ở cấp độ văn bản
trên bình diện từ vựng- ngữ pháp Một từ thay thế có thể xem như là một phương tiện thế chỗ nhằm tránh lặp lại một yếu tố nào đó (Substitution is a relation within the text on the lexico-grammatical level A substitute is a sort of counter which is used in place of the repetition of a particular item)”
Quirk [116, tr.677] : Phép thế là một phương tiện để viết ngắn lại và để tránh
Trang 29lặp lại Ở phạm vi trên câu, phép thế dường như không bắt buộc và phục vụ cho mục đích tu từ Trong phạm vi câu, việc sử dụng phép thế đôi khi mang tính bắt buộc Hầu hết các từ thay thế sử dụng ở phạm vi câu đều có thể sử dụng liên câu
(substitution is a device for abbreviating and for avoiding repetition Across
sentences, substitution seems to be optional, and for stylistic reasons Within sentences, it is sometimes obligatory Most of the substitutes or pro-forms within sentences are also used across sentences.)
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều cho rằng phép thế có vai trò tránh lặp từ
ở các phát ngôn kế tiếp Một số định nghĩa đi sâu vào chi tiết cụ thể như đại từ, v.v…nên làm mất đi tính khái quát Halliday [101] cho rằng các yếu tố có thể được thay thế là danh ngữ, động ngữ và cú Như vậy phương tiện thay thế - thế tố (THT) được phân chia theo phần mà chúng thay thế tương ứng là:
(i) Nhóm các THT cho danh ngữ (Nominal substitution)
(ii) Nhóm các THT cho động ngữ (Verbal substitution)
(iii) Nhóm các THT cho cú (Clausal substitution)
Nhóm thứ nhất: Thế tố cho danh ngữ (Nominal substitution)
Như chúng ta đã biết, một cụm danh ngữ đầy đủ trong tiếng Anh phải bao
gồm 6 yếu tố là yếu tố chỉ định (deitic), chỉ số (numerative), tính từ(epithet), xác
định tố (classifier), danh từ trung tâm (the head), hậu bổ ngữ (qualifier) Phép thế
danh từ xảy ra khi thế tố có thể đại diện được cho cả danh ngữ bị thay thế Halliday
và Hasan [102] nêu ra THT là one và same thay cho toàn bộ danh ngữ Hồ Ngọc Trung [83] bổ sung thêm đại từ nhân xưng, tính từ sở hữu, đại từ sở hữu cũng là
THT cho danh từ
Nhóm thứ hai: Thế tố cho động ngữ (Verbal substitution)
M.A.K Halliday & Hasan [101] Hồ Ngọc Trung [83] và các nhà nghiên cứu
khác đều thống nhất "do" và "do so" là từ thế thay thế cho động ngữ Trong công
trình nghiên cứu của mình, các tác giả kể trên cũng đã phân tích các hình thái của từ
Trang 30thế "do" Ngoài việc công nhận hai từ thế kể trên ra, Hồ Ngọc Trung [82] còn nêu
bổ sung hai từ thế khác là" do it " và " do that."
Nhóm thứ ba: Thế tố cho cú (clausal substitution)
Các nhà nghiên cứu phép thế đề thừa nhận thế tố” so" và” not" được dùng để thế cho cú và “so” là dạng khẳng định còn” not" là dạng phủ định của” so' Để tránh
nhầm lẫn, Hồ Ngọc Trung còn phân biệt từ thế "so" với liên từ "so", trạng từ "so", v.v…
Phép quy chiếu (Reference): Theo Diệp Quang Ban [6, tr.148], quy chiếu là việc liên kết câu với câu về cấp độ nghĩa Ông cho rằng phép quy chiếu là việc giải thích một yếu tố nào đó chưa rõ bằng một yếu tố ngôn ngữ có nghĩa cụ thể ở một câu khác Việc giải thích về nghĩa này liên kết hai câu vừa nhắc đến lại với nhau
Halliday và Hasan khẳng định [101,tr.31] “ trong mỗi ngôn ngữ đều có một số yếu
tố nhất định có đặc tính quy chiếu, theo nghĩa đặc biệt mà chúng ta đang sử dụng thuật ngữ này tại đây: nghĩa là, thay vì được diễn giải chính xác về mặt ngữ nghĩa, chúng quy chiếu sang một yếu tố nào đó khác để diễn giải ý nghĩa của chúng”
(there are certain items in every language which have the property of reference, in
the specific sense in which we are using the term here; That is to say, instead of being interpreted semantically in their own right, they make reference to somethingelse for their interpretation)
Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp [54,tr.361] gọi các từ dùng để qui
chiếu là biểu thức qui chiếu và hai tác giả cho rằng khi một người nào đó dùng biểu thức qui chiếu để chỉ một chiếu vật nào đó, thì người ấy đã thực hiện một hành
động qui chiếu Hai tác giả đã tổng kết ý nghĩa của thuật ngữ “qui chiếu” như sau:
“Vậy, một cách đơn giản nhất, ta có thể hiểu “qui chiếu” là dùng một biểu thức
ngôn ngữ (từ, ngữ) chỉ ra một sự vật cụ thể nào đó Chiếu vật (vật được qui chiếu)
là vật được biểu thức ngôn ngữ chỉ ra.”
Halliday liệt kê các phương thức qui chiếu cụ thể bao gồm qui chiếu nhân
xưng (personal reference), qui chiếu chỉ định (demonstrative reference) và qui chiếu so sánh (comparative reference) Các biểu thức qui chiếu nhân xưng là hệ
Trang 31thống các đại từ nhân xưng, tính từ sở hữu, đại từ sở hữu Qui chiếu chỉ định bao
gồm các chiếu tố là this(này),that (kia), these (những cái này), those (những cái kia),
here(đây), there (đó), then (khi ấy) và the (cái đó) Qui chiếu so sánh là việc sử
dụng các cấp so sánh để qui chiếu
[6] George went out of the house He waved to them
(George ra khỏi nhà Anh ấy vẫy tay chào họ.) [7] He has more than two children That is against the law
(Anh ta có hơn hai con Việc đó là trái pháp luật) [8] He is tall but his brother is taller
(Cậu ấy cao lớn nhưng anh trai cậu ấy còn cao hơn.)
Để phân tích tính liên kết trong văn bản ĐTHH, chúng tôi hiểu khái niệm phép qui chiếu theo ý kiến vừa nêu của Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp Đối với việc phân loại chiếu tố, chúng tôi dựa vào quan điểm phân loại của Halliday và Hasan để khảo sát đặc điểm phép qui chiếu liên kết
Phép nối (Conjunction): Phép nối là phép sử dụng các phương tiện nối kết
để liên kết các câu lại với nhau Các nhóm từ này bao gồm các từ chỉ quan hệ và các
từ chỉ nối kết Diệp Quang Ban [6, tr.166] cho rằng kết quả của các từ này cho sản phẩm là các mối quan hệ bổ sung, thời gian, nguyên nhân, mục đích, điều kiện và tương phản Quan điểm của Diệp Quang Ban cũng phù hợp với quan điểm của Halliday về vấn đề vừa nêu Theo Halliday, các liên tố (từ dùng trong phép nối để
liên kết câu) bao gồm các liên từ như and (và), but (nhưng), yet (nhưng), so (do đó)
và then (sau đó)
Liên kết từ vựng
Phép lặp lại (Reiteration): Phép nhắc lại hay phép lặp là phương thức liên
kết từ vựng bằng cách lặp lại từ vựng ở các câu trong một văn bản
Trần Ngọc Thêm [66,tr.87] định nghĩa: “Phép lặp là phương thức liên kết thể
hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn Phép lặp diễn ra
Trang 32ở ba dạng thức là lặp từ vựng, lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm
Halliday [101, tr.278] định nghĩa: “Phép lặp là một hình thức liên kết từ vựng bao gồm việc nhắc lại một yếu tố từ vựng, sử dụng từ khái quát hàm ẩn trở lại một yếu tố từ vựng khác và vô số các sự vật khác giữa các cách sử dụng đồng nghĩa, gần nghĩa hay từ bao hàm nghĩa ”(Reiteration is a form of lexical cohesion which involves the repetition of a lexical item and a number of things in between the use of
a synonym, near-synonym, or superordinate)
[9] There is a boy climbing that tree
(Có một thằng bé đang trèo cái cây đó)
(a) The boy is going to fall if he doesn’t care
(Thằng bé sẽ ngã nếu nó không cẩn thận)
(b) The lad is going to fall if he doesn’t care
(Thằng cu sẽ ngã nếu nó không cẩn thận)
(c) The child is going to fall if he doesn’t care
(Đứa trẻ sẽ ngã nếu nó không cẩn thận)
(d) The idiot is going to fall if he doesn’t care
(Thằng ngốc sẽ ngã nếu nó không cẩn thận.)
Theo Halliday, từ the boy (thằng bé) được lặp bằng chính nó (a), bằng từ
đồng nghĩa (b), bằng từ bao hàm (c), bằng từ khái quát (d)
Phép lặp từ vựng là một dạng thức của phương thức lặp mà ở đó chủ tố là
những yếu tố từ vựng (từ thực, cụm từ) Phép lặp hay nhắc lại từ ngữ xảy ra ở nhiều
mức độ như nhắc lại đúng từ đó hoặc từ đối nghĩa, v.v…
[10] “Cơm xong, Minh trở về buồng mình nằm xem báo Anh chưa đọc hết
nửa trang báo thì nghe tiếng gọi ngoài cửa.” (Nguyễn Thị Ngọc Tú Buổi sáng)
Lặp ngữ pháp là việc lặp lại ở kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn
[11] “Đòn gánh có mấu Củ ấu có sừng” (Đồng dao)
Cấu trúc Danh từ + Có+ Danh từ được lặp lại niều lần
Trang 33Lặp ngữ âm là lặp lại ở kết ngôn yếu tố ngữ âm đã có ở chủ ngôn
Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng lên thành đồng Tổ quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre (dẫn theo Diệp Quang Ban)
Phép phối hợp (Collocation) Phép phối hợp từ ngữ là phép sử dụng cặp từ
sử dụng cùng nhau Khi một trong hai yếu tố xuất hiện làm cho ta liên tưởng tới yếu
tố thường được đi cùng Theo cách này, hai yếu tố ở hai câu khác nhau có tác dụng liên kết hai câu lại với nhau và liên kết được thực hiện
[12] Why does this little boy wriggle all the time? Girls don’t wriggle
(Tại sao cậu con trai này lại liên tục uốn éo? Con gái không thế.)
1.2.4.3 Mạch lạc
- Khái niệm về mạch lạc
Diệp Quang Ban [6,tr.52] cho rằng có liên kết hình thức vẫn có thể không có
văn bản và có văn bản có thể không cần liên kết hình thức Như vậy, liên kết hình
thức không đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng nên một văn bản Vậy cái quyết định một chuỗi câu đứng cạnh nhau là một văn bản (being a text) thì được gọi
là mạch lạc Tính mạch lạc dễ nhận biết nhưng rất khó định nghĩa bởi nó được tạo
thành từ nhiều yếu tố trừu tượng và là kết quả chung của nhiều thành phần Ta có thể hiểu tầm quan trọng của nó như sau: Không có mạch lạc thì cái được gọi là văn
bản chỉ là tập hợp những câu văn riêng lẻ “minh họa cho sự lạc đề liên tục” (Diệp
Quang Ban)[6, tr.50] mà thôi Có ý kiến cho rằng mạch lạc là “liên kết về mặt
nghĩa” (semantic cohesion) và liên kết được định nghĩa là “mạch lạc về văn bản” (textual coherence) Nunan [95, tr.60] định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là
tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có“mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan nhau.” Chúng tôi dựa
vào định nghĩa của Nunan về “mạch lạc” để làm cơ sở phân tích văn bản ĐTHH
- Biểu hiện của mạch lạc trong văn bản
Theo Diệp Quang Ban [5,tr.52], mạch lạc có thể được nhận diện thông qua một số hiện tượng dễ quan sát là (1) tính thống nhất đề tài – chủ đề; (2) tính hợp
Trang 34logic của sự triển khai mệnh đề;(3) trình tự hợp lý logic giữa các câu (mệnh đề);(4)
khả năng dung hợp nhau giữa các hành động ngôn ngữ
Tính thống nhất của đề tài
Thống nhất đề tài là dấu hiệu của mạch lạc dễ nhận thấy nhất trong nghiên cứu văn bản Vì mục đích của văn bản về một vấn đề x nào đó thì các câu hay mệnh
đề đều tập trung về chủ đề đó để tạo thành tính thống nhất tổng thể Bất cứ một câu
lạc đề tài nào xuất hiện đều như một kẻ ngoại lai lạc lõng Diệp Quang Ban [6,
tr.52] bổ sung tính thống nhất của đề tài cũng chưa hẳn là điều kiện, là nguyên nhân của mạch lạc Minh chứng cho điều này, ông chọn bài đồng dao làm ví dụ
Tính lô-gích của sự triển khai mệnh đề
Việc triển khai đề tài một cách hợp lý là dấu hiệu nhận biết tính mạch lạc
trong văn bản Tính lô gích giúp cho câu văn sau ăn nhập với câu văn trước Sự ăn nhập này chính là tính mạch lạc trong văn bản Các đoạn đối đáp gây cười trong phim hài chính là việc tác giả lợi dụng sự vi phạm tính lô gích của lời đối đáp trước với lời đối đáp sau
[13] Cô giáo dạy sử: Liễu Thăng bị chém ở đâu?
Học trò: Liễu Thăng bị chém ở cổ
Đoạn thoại trên gây cười ở chỗ cô giáo dạy sử kiểm tra học sinh bài cũ nên mọi người mong đợi câu trả lời lô gích là địa điểm Liễu Thăng bị chém, nhưng câu trả lời không lô gích với cảnh huống nên gây cười, v.v…
Trình tự lô gích giữa các câu hay mệnh đề
Đây là trình tự hợp lý trước sau về thời gian xảy ra sự kiện, nguyên nhân, kết quả hay trong lập luận, v.v…
Khả năng dung hợp nhau giữa các hành động ngôn ngữ
Mức độ chấp nhận nhau giữa các câu trước và sau là một biểu hiện của mạch
lạc trong văn bản Diệp Quang Ban [5, tr 55] nhấn mạnh “cái được chú ý là những
hành động nói được thực hiện trong những câu ấy có chấp nhận nhau không.”
Trang 351.2.4.4 Từ ngữ
- Khái niệm về từ
Từ (words) là một loại đơn vị ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học
quan tâm nghiên cứu, với mong muốn đưa ra một định nghĩa có tính lý thuyết chung nhất cho mọi ngôn ngữ Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng các định nghĩa đã có chỉ đúng ở mặt này mặt kia chứ chưa đủ Khó có thể đưa ra
một định nghĩa về từ chung cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới
Jack C Richard [108,tr.406] định nghĩa: “ Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có thể xuất hiện độc lập trong ngôn ngữ nói hay viết” (Word is the smallest of the
LINGUISTIC UNITS which can occur on its own in speech or writing)
Chúng tôi lấy định nghĩa về từ nêu trên để khảo sát từ ngữ trong luận án này
- Phân loại từ
Qua các công trình nghiên cứu đã có, chúng tôi nhận thấy có các xu hướng phân loại từ ngữ khác nhau Một số tác giả phân loại từ ngữ theo cách thức từ được
cấu tạo thành từ đơn, từ ghép và từ láy Một số khác phân loại từ theo chữ cái đầu
từ (giống như trong từ điển) Chúng tôi dựa vào cách phân loại từ ngữ theo từ loại
để khảo sát điện tín hàng hải Theo cách phân chia này, các nhà khoa học ngôn ngữ
chia từ ngữ thành thực từ (lexical words) và hư từ (function words) Jack C Richard
[108.tr.81] cho rằng: “Thực từ là những từ biểu thị sự vật, tính chất, trạng thái, hành động và có nghĩa từ vựng khi đứng một mình Hư từ là từ cho thấy mối quan hệ ngữ pháp trong và giữa câu.” Tác giả còn cụ thể hóa thực từ là những từ như danh từ, tính từ, động từ, số từ, trạng từ Hư từ là những từ như liên từ, giới từ, quán từ, cảm
từ, trợ từ, v.v… Chúng tôi dựa vào cách phân loại từ theo từ loại của Jack C.Richard để khảo sát từ vựng trong ĐTHH
- Cấu tạo từ
Cấu tạo từ ở mỗi ngôn ngữ có những nét khác nhau nhất định Theo Nguyễn
Đức Tồn [75, tr.121] điểm chung thống nhất là phải sử dụng những yếu tố có sẵn
trong ngôn ngữ đó Theo tác giả, cấu tạo từ là “một tổng thể các quy tắc và cách
Trang 36thức tạo ra từ mới trên cơ sở những yếu tố đã có trong một ngôn ngữ nào đó” Từ
điển Longman [108] cho rằng: “Thuật ngữ cấu tạo từ là quá trình (được sử dụng
để) tạo ra từ mới trong một ngôn ngữ (processes used in a language for the creation
of new words) Từ điển Long man đã đưa ra 9 phương thức cấu tạo từ mới khác
nhau nhưng đi khá sâu vào chi tiết tỉ mỉ, không mang tính khái quát Chúng tôi tìm thấy 9 cách phân chia phương thức cấu tạo từ này trong bốn phương thức cấu tạo từ
khái quát do Quirk [116, tr.429] đưa ra là phương thức phụ tố (affixation), phương thức chuyển loại (conversion), phương thức ghép từ (compounding), phương thức
lặp từ (reduplicatives)
- Phương thức phụ tố (affixation)
Phụ tố là cách tạo ra một từ mới bằng cách thêm một phụ tố nào đó vào
trước, giữa hay sau mỗi căn tố Các yếu tố này là các tiếp ngữ phụ tố (affixes) và có tên gọi lần lượt là tiền tố (prefixes), trung tố (infix) và hậu tố (suffixes) Quirk chỉ
ra hai tiểu loại phụ tố trong tiếng Anh là tiền tố và hậu tố Theo Quirk, tiền tố thường không làm thay đổi từ loại của thân từ (stem) mà chủ yếu làm thay đổi nghĩa
của thân từ đó và chức năng chính của hậu tố là làm biến đổi từ loại của thân từ Ngoài ra, Quirk còn phân loại tiền tố thành 11 loại nhỏ dựa vào ý nghĩa chúng làm thay đổi thân từ và 7 loại hậu tố theo từ loại mà chúng thay đổi từ thân từ
- Phương thức chuyển loại (conversion)
Chuyển loại là phương thức sử dụng một từ nào đó như một từ thuộc từ loại
khác so với từ ban đầu mà không làm thay đổi cấu tạo của nó Quirk [116, tr.429] gọi phương thức chuyển loại là phương thức phụ tố zero Tác giả cũng liệt kê các loại chuyển đổi từ loại từ động từ thành danh từ, từ tính từ thành danh từ, động từ hay danh từ thành động từ
[14] This wine is bottled in New York (bottle / to bottle) (Loại rượu này được
đóng chai ở New York)
- Phương thức ghép từ (compounding)
Ghép từ là phương thức phổ biến trong mọi ngôn ngữ trên thế giới Nguyễn
Trang 37Đức Tồn [75, tr.122] cho rằng từ ghép là từ được tạo ra bằng cách ghép hai từ độc
lập trở lên Quirk [116, tr.443] định nghĩa từ ghép là một từ bao gồm từ hai thân từ trở lên.(A compound is a unit consisting of two or more base) Ông còn phân loại
các từ ghép dựa vào các yếu tố có sẵn trong ngôn ngữ để cấu tạo ra chúng thành các tiểu loại là (i) Danh từ ghép;(ii) Tính từ ghép; (iii) Động từ ghép
Các phương thức khác
Ngoài các phương thức phổ biến kể trên, Quirk nêu các phương thức cấu tạo từ
như lược từ (clipping), cắt ghép từ (blends) và tắt từ (acronyms) Chúng tôi trở lại vấn đề
này ở phần sau
- Từ tắt
Khái niệm từ tắt: Từ tắt hay từ viết tắt là những từ đã được lược bỏ một số ký
tự ra khỏi cấu tạo Việc rút bớt ký tự ra khỏi từ xảy ra ở nhiều cấp độ, hoàn cảnh và vì nhiều mục đích khác nhau Trong một số trường hợp, người ta rút gọn ký tự trong một
từ có thể cắt kiểu cơ học và cũng có thể chọn vài ký tự để lược bỏ (abbreviation) Ví dụ, như confirm (xác nhận) thành cfm hay about (về) thành abt Trong các trường hợp khác, người ta lại cắt hoặc là đoạn ký tự đứng đầu (như parachute (cái dù) thành chute),
đoạn ký tự đứng sau hoặc cả hai phần đầu và cuối mà chỉ giữ lại giữa (influenza thành
flu).Ngoài ra, việc rút ngắn từ còn diễn ra ở cụm từ hay hai từ độc lập Breakfast and
lunch (bữa sáng và bữa trưa) thành brunch; doesnot thành doesn’t; international (quốc tế) thành inter’l, v.v…) Đặc biệt tên một số tổ chức hay công ty có tần suất sử dụng
nhiều và cấu tạo bao gồm quá nhiều từ thì thường được rút ngắn lại bằng các chữ cái
(international maritime organization (tổ chức hàng hải quốc tế) thành IMO) Như vậy
có thể hiểu là từ tắt là những từ hay cụm từ đã được lược bỏ bớt các ký tự trong thành phần cấu tạo ra khỏi từ /cụm từ vì mục đích nào đó như để tiện phát âm, rút ngắn văn bản
Phân loại từ tắt/chữ viết tắt trong tiếng Việt
Việc nghiên cứu chữ viết tắt được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhìn
chung các tác giả Việt ngữ tập trung nhiều tới việc phân loại chữ viết tắt theo (i)
Phạm vi sử dụng; (ii) Nguồn gốc; (iii) Cấu tạo của từ/ chữ viết tắt Một số nhà
Trang 38nghiên cứu khác phân loại từ/chữ viết tắt theo (iv) Tính bền vững trong sử dụng
Tuy vậy, do nghiên cứu trên dữ liệu văn bản tiếng Anh nên chúng tôi tập trung theo cách phân loại từ viết tắt trong tiếng Anh
Phân loại từ/chữ viết tắt trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, việc rút gọn từ được các nhà ngôn ngữ học truyền thống
phân thành năm loại như sau: (i) Lược từ (Clipping);(ii) Cắt ghép từ (Blend;(iii)
Lược ghép từ (Contraction);(iv) Rút gọn từ (Abbreviation) và (v) Tắt từ (Acronym)
Nhìn chung, trong số các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tham khảo, các tác giả đều xếp năm loại trên vào phần cấu tạo từ (word formation) và chỉ nêu hiện
tượng và định nghĩa Có một số loại trùng lặp chưa rõ ràng như phần viết về rút gọn
từ (abbreviation), lược từ (clipping) và tắt từ (acronym)
Phép lược từ (Clipping): Từ được cắt ngắn theo phép lược gọn từ là những từ
đã được lược bỏ phần âm tiết đầu, cuối hay cả âm tiết đầu và âm tiết cuối khi là từ
đa âm tiết Dựa vào vị trí của lưu tố trong từ viết tắt, Murchand [111,tr.128] phân
chia thành ba loại như sau: Tiền lược gọn (fore clipping), trung lược gọn (middle clipping) và hậu lược gọn (back clipping) Tác giả gọi tên theo phần lược tố đối với
tiền và hậu lược gọn nhưng đối với trung lược gọn ông lại dựa vào phần lưu tố để
gọi tên Chúng tôi thống nhất gọi tên ba loại lược gọn từ này theo phần lưu tố Tiền
lược gọn từ là từ có phần âm tiết đứng đầu là lưu tố (Vd advert trong
advertisement) (quảng cáo); Trung lược gọn là từ có phần lưu tố là âm tiết đứng
giữa từ (Vd flu trong influenza( cúm)) Tương tự, hậu lược gọn là từ lược gọn có phần lưu tố là âm tiết cuối của từ được lược gọn (Vd chute trong parachute (dù)) Tiếng Việt cũng có hiện tượng tương tự Ví dụ như người có bằng cử nhân được gọi
là anh cử hay nhạc do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác được gọi là nhạc Trịnh
Phép cắt ghép từ (Blends): Phép cắt ghép từ cho phép hai từ độc lập hoặc
hai thành tố trong một danh từ ghép ghép lại với nhau thành một từ mới, trong đó mỗi từ rút bỏ một phần âm tiết Dĩ nhiên phần lược bỏ của mỗi từ phải tương ứng với vị trí từ đó trong tổ hợp từ Có nghĩa là phần âm tiết tiếp giáp hai từ sẽ được cắt
bỏ trước khí ghép
Trang 39[15] Breakfast and lunch (bữa sáng và bữa trưa) thành brunch hay motor
hotel (khách sạn có chỗ đỗ ô tô) thành motel
Phép lược ghép từ (Contraction): Phép lược ghép từ là thuật ngữ dùng để chỉ
trường hợp một từ nào đó được ghép với một từ khác nhưng trước khi ghép với từ khác nó đã được cắt bỏ một phần âm tiết hoặc là đứng đầu hoặc là nguyên âm trong
cấu tạo của nó Thực chất đây là hiện tượng lược gọn (clipping) một hay cả hai từ ở
phần tiếp giáp nhau và ghép lại thành một từ có sử dụng dấu phẩy Tuy vậy vẫn còn những ngoại lệ vừa dùng dấu phẩy vừa rút gọn ký tự trong từ
[16] I’m; He’s; there’re; He doesn’t,v.v…
Phép tắt từ (Acronym): Phép tắt từ cho ra sản phẩm là các từ tắt bao gồm
những ký tự là chữ cái đứng đầu của các từ trong cụm danh từ Ví dụ như IMO là từ
tắt bao gồm chữ cái đứng đầu của cụm danh từ International Maritime Organization
Đặc điểm dễ nhận biết là từ tắt luôn gồm các chữ cái viết in hoa như UNO, UNIDO,
PLO, v.v… Số ít các từ tắt trở thành từ đơn được viết thường như: radar
Phép rút gọn từ (Abbreviation): Phép rút gọn từ là phép lược bỏ ký tự chữ cái
trong thành phần cấu tạo từ Khác với hiện tượng lược gọn từ, trong đó cắt bỏ phần đầu, phần cuối hay cả phần đầu và cuối của từ, phép rút gọn giữ các ký tự đứng đầu và cắt
bớt các ký tự trong thành phần cấu tạo từ để thành từ mới Vd: Confirm ( xác nhận) thành cfm; about ( về) thành abt)
Việc phân loại từ tắt nói chung của các nhà ngôn ngữ học tiếng Anh còn trùng
lặp, thiếu nhất quán Theo Quirk [116,tr.448] cho rằng: “từ viết tắt (acronyms) là
những từ được cấu tạo từ những chữ cái đứng đầu (hay phần lớn) của nhiều từ Từ viết tắt được sáng tạo tự do, đặc biệt là tên các tổ chức.” (Acronyms are words formed
from the initial letters (or larger parts) of words New acronyms are freely produced, particularly for names of organizations) Quirk không định nghĩa từ rút gọn
(abbreviations) nhưng trong phần chú ý III.6 [116, tr.459], tác giả đề cập đến phần từ rút gọn (abbreviations) và cách dùng hệ thống dấu ngắt câu trong ngôn ngữ Ở đây ông
mặc nhiên thừa nhận các trường hợp khác như từ lược (clipping) từ cắt ghép (blends)
Trang 40hay lược ghép từ (contraction) là từ rút gọn Chúng tôi theo quan điểm của Quirk về
vắn đề từ tắt để khảo sát ĐTHH
1.2.4.5 Một số vấn đề ngữ pháp
- Câu (Sentences)
Nhìn chung, các định nghĩa về câu tập trung nêu bật các yếu tố đặc trưng của
câu về hình thức, nội dung, chức năng của nó và lĩnh vực nghiên cứu Về hình thức,
câu có cấu tạo ngữ pháp cả bên trong lẫn bên ngoài, có tính chất tự lập, có ngữ điệu
kết thúc Về nội dung, câu có nội dung là một tư tưởng trọn vẹn cùng với thái độ, cảm xúc của người nói Về chức năng, câu có chức năng hình thành và biểu hiện,
truyền tải tư tưởng, nội dung thông báo của người tạo ra nó và câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ Các tác giả đã có định nghĩa về câu chúng tôi quan tâm là Diệp Quang Ban, Mai Ngọc Chừ, Cao Xuân Hạo và một số tác giả nước ngoài khác
David Butt [95, tr.30] định nghĩa hoàn toàn dựa vào hình thức thể hiện trong
ngôn ngữ Tác giả định nghĩa: “Câu là một đoạn ngôn ngữ viết trong tiếng Anh
thường bắt đầu bằng chữ cái đầu viết hoa và kết thúc tại dấu chấm kết câu tiếp theo.” (a sentence is a piece of written language that in English conventionally
begins with a capital letter and ends at the next following full stop.)
Jack C.Richards và Richard Schmidt [108], định nghĩa: “Câu là đơn vị tổ
chức ngữ pháp lớn nhất trong đó từ loại (như danh từ, động từ, trạng từ) và các đơn vị ngữ pháp (ví dụ từ, ngữ đoạn, mệnh đề) có thể thực hiện được chức năng.”
Chúng tôi lấy định nghĩa trên của Jack C.Richards và Richard Schmidt về câu làm cơ sở để khảo sát trong luận án này
Phân loại câu
Hiện nay, việc phân loại câu được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thực hiện căn
cứ vào (1) mục đích nói; (2) mối quan hệ với hiện thực;(3) cấu tạo câu Khi dựa vào mục đích nói, câu được chia thành câu kể, câu hỏi, câu mệnh lệnh và câu cảm thán
Căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực, câu được phân thành câu khẳng định và câu
phủ định Dựa vào cấu tạo, người ta phân câu thành câu đơn, câu phức và câu ghép