Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội
Trang 1Lời mở đầu
20 năm qua với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn
Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Cùng với sự phát triển kinh tế,các vấn đề xã hội nói chung cũng được quan tâm ở mức độ thíchđáng; việc làm, thu nhập, đời sống của đội ngũ lao động và sau laođộng không ngừng được cải thiện Là một bộ phận của chính sách bảohiểm xã hội , chế độ hưu trí đang là vấn đề bức xúc hiện nay, bởi lẽ
nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người lao động khi về già Trongbối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrườngcó sự quản lý của Nhà nước, khi mà có sự phân tầng và phâncực xã hội đang diễn ra ngày càng rõ nét giữa người lao động vàngười sử dụng lao động nên chế độ bảo hiểm hưu trí phải là sự tươngtrợ cộng đồng, là người trẻ giúp người già nhằm giảm bớt những bấtcập bảo đảm xã hội, bảo đảm cuộc sống vật chất và tinh thần chongười lao động khi về hưu an dưỡng lúc tuổi già
Để thực hiện yêu cầu này, trong những năm gần đây Nhànước đã đầu tư rất nhiều cho việc nghiên cứu cải cách chế độ bảohiểm xã hội nói chung, chế độ bảo hiểm hưu trí nói riêng Cho đếnnay, những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hưu trí đã được luật hoá
và định hình một cách cụ thể bằng việc ban hành luật bảo hiểm xã hộimới có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 Vì chế độ bảo hiểm hưu trí giữ vịtrí quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, là vấn đề quan tâm củatất cả mọi người lao động, nên việc đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh
Trang 2giá những điểm tiến bộ, những mặt còn tồn tại của các quy định mới
về bảo hiểm hưu trí, từ đó đưa ra phướng hướng hoàn thiện trong thờigian tới là việc làm cần thiết Hơn nữa, từ khi luật BHXH 2006 cóhiệu lực chưa có tài liệu nào đề cập đến nội dung này, do đó em chọn
đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình là: “Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí trong luật BHXH 2006” Mặc dù chế độ
bảo hiểm hưu trí bao gồm 2 nội dung: chế độ bảo hiểm hưu trí tựnguyện và chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc, nhưng do thời gian cóhạn, việc gộp chung chúng lại trong giới hạn một khoá luận tốt nghiệp
sẽ không đảm bảo tính sâu sắc, chi tiết, cụ thể, vì thế em tạm thời chỉ
đề cập đến nội dung của chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc trong khoáluận này, còn chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện em sẽ dành đểnghiên cứu vào dịp khác
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là phươngpháp chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác với kim chỉ nam là chủnghĩa Mác – Lênin Điều này sẽ tạo sự gắn bó và logic trong toàn bộ
đề tài
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp phân tích, so sánh,tổng hợp, phương pháp lịch sử với ý nghĩa thực tiễn là nhằm giúp chonghiên cứu đề tài tốt hơn
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, khoá luận được kết cấu làm 3chương: Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm hưu trí
và sự cần thiết đổi mới chế
độ bảo hiểm hưu trí
Trang 3Chương II: Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí theoluật BHXH 2006
Chương III: Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện chế độ bảo hiểmhưu trí ở nước ta
Trang 4
Chương i khái quát chung về bảo hiểm hưu trí
và sự cần thiết đổi mới chế độ bảo hiểm hưu trí
1.1 Khái quát chung về chế độ bảo hiểm hưu trí:
1.1.1 Quan niệm về chế độ bảo hiểm hưu trí:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải laođộng, trong quá trình lao động con người luôn luôn tác động vào tựnhiên và tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra những sản phẩm, nhữnggiá trị cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình Sản phẩm tạo racàng nhiều thì đời sống con người càng đầy đủ, văn minh – nghĩa làviệc thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con ngườiphụ thuộc vào khả năng lao động của chính họ Nhưng một mặc,trong quá trình tác động, khai thác tự nhiên, con người luôn chịu sựtác động của quy luật khách quan, các điều kiện tự nhiên và điều kiện
xã hội, những tác động này nhiều khi con người không kiểm soát nổilàm ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh sống, làm việc của người laođộng Mặc khác cuộc sống con người luôn tuân theo quy luật: Sinh ra,trưởng thành, tuổi già và chết Khi sinh ra phải dựa vào sự nuôi dưỡng
và chăm sóc của cha mẹ, khi lớn lên thì phải tự lao động để nuôi sốngmình và những người phụ thuộc Trong quá trình đó, con ngườikhông phải lúc nào cũng gặp thuận lợi mà nhiều khi gặp khó khăn, bấtlợi làm cho bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sốngkhác như: bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm, tuổi già, Khi rơi vào cáctrường hợp đó các nhu cầu cần thiết của cuộc sống tăng lên, có khi
Trang 5xuất hiện thêm các nhu cầu mới Để vượt qua những khó khăn, rủi rophát sinh, từ lâu người ta thường áp dụng các biện pháp phòng ngừa,khắc phục hậu quả khác nhau, trong đó hữu hiệu nhất là lập quỹ dựtrữ và tiến hành bảo hiểm tập trung trên phạm vi toàn xã hội Về vấn
đề này, Các Mác đã khẳng định: “Vì nhiều rủi ro khác nhau nên dành phải dành một số thặng dư nhất định cho quỹ bảo hiểm xã hội để đảm bảo cho sự mở rộng theo kiểu lũy tiến quá trình tái sản xuất ở mức
độ cần thiết, phù hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số”1
Hệ thống bảo hiểm xã hội ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷXIX là công trình của chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark(1883-1889) với cơ chế 3 bên (Nhà nước – Giới chủ – Giới thợ) cùngđóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trườnghợp họ gặp rủi ro Chế độ bảo hiểm xã hội này bao gồm: Chế độ bảohiểm ốm đau (1883), bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884), và bảohiểm tuổi già, tàn tật( 1889) Sau đó, trước tác dụng tích cực của bảohiểm xã hội trong quan hệ lao động, nhiều nước bắt đầu áp dụng hệthống bảo hiểm xã hội Từ những năm 30 của thế kỷ XX, một số nướccòn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuấthiện khái niệm mới Social Security (an sinh, an toàn xã hội) Bảntuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua
ngày 10/12/1948 cũng quy định:”Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo đảm xã hội … quyền đó được đặt ra trên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội “.
Trong xã hội hiện đại, các Nhà Nước cũng nhận thấy rằng người lao
Trang 6động là nguồn lực chính, là thành phần quan trọng nhất của xã hội Nếu cuộc sống của những người lao động và những người không còntham gia vào quan hệ lao động nữa gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến sản xuất, đến vấn đề ổn định xã hội Vì vậy, bảo hiểm xãhội , bảo hiểm hưu trí luôn được chính phủ các nước coi là một trongnhững chính sách cơ bản mà Nhà Nước cần quan tâm Trong đó, chế
độ bảo hiểm hưu trí có tầm quan trọng đặc biệt đối với người laođộng, là một trong các trụ cột của bảo hiểm xã hội Do đó, đến nay,hầu hết các nước có quy định về bảo hiểm xã hội trên thế giới đều quyđịnh và thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí, với mục đích nhằm đảmbảo quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn thànhnghĩa vụ lao động đối với xã hội, đảm bảo ổn định cuộc sống chongười lao động khi họ đã hết tuổi lao động về nghỉ hưu an dưỡng lúctuổi già
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế, được Hội đồngquản trị của Văn phòng Lao động Quốc tế triệu tập tại Giơ - ne-vơngày 4 tháng 6 năm 1952, trong kỳ họp thứ 35; sau khi đã quyết địnhchấp thuận 1 số đề nghị về các quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội,
là vấn đề thuộc điểm thứ 5 trong chương trình nghị sự kỳ họp; sau khi
đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức 1 Công ướcquốc tế, nó được thông qua ngày 28/6/1952, có tên là Công ước số
102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội Công ước gồm 87 điềuchia làm 14 phần, trong đó có đưa ra 9 dạng trợ cấp như sau:
1 Chăm sóc y tế
2 Trợ cấp ốm đau
Trang 73 Trợ cấp thất nghiệp
4 Trợ cấp tuổi già (hưu bổng)
5 Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
Công ước số 128 ngày 7/6/1967: công ước về trợ cấp tàn tật,tuổi già và tiền tuất quy định thêm: “nếu độ tuổi quy định bằng hoặccao hơn 65, độ tuổi đó phải được hạ thấp trong những điều kiện quyđịnh nhằm mục đích cấp trợ cấp tuổi già, đối với những người đã làmnhững công việc được pháp luật quốc gia coi là nặng nhọc hoặc độchại
Trang 8Người được bảo vệ đã có một thâm niên 30 năm đóng góp haylàm việc Mức trợ cấp tối thiểu so với thu nhập (trước đó) là 40% (vớingười có vợ ở tuổi về hưu) Các trường hợp nhận trợ cấp phải đượctrả trong suốt thời gian xảy ra trường hợp bảo vệ Tuy nhiên, trợ cấp
có thể bị đình chỉ nếu người thụ hưởng tiến hành những hoạt động cóthu nhập đã được quy định, hoặc có thể giảm bớt trợ cấp có tính chấtđóng góp khi thu nhập của người đó vượt quá một mức quy định và
có thể giảm bớt trợ cấp không có tính chất đóng góp khi thu nhập haynhững phương tiện sinh sống khác của người đó, hoặc cả hai thứ cộnglại vượt quá một mức quy định
Trên đây là những quy phạm tối thiểu mà tổ chức lao độngquốc tế (ILO) đã đưa ra, các quốc gia là thành viên phê chuẩn côngước chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý, nghĩa là khi công ước cóhiệu lực thì nước đó phải áp dụng trong pháp luật và thực tiễn nướcmình nội dung của công ước; những quy định không phù hợp cần sửađổi, bổ sung, trừ những quy định có lợi hơn cho người lao động
Như vậy, theo quan điểm của ILO và hầu hết các nước trên thếgiới, bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm quan trọng, chủ yếu giànhcho người già, người cao tuổi, sau một thời gian dài tham gia lao động
và đóng góp cho quỹ bảo hiểm Kể từ khi đủ điều kiện hưởng, ngườilao động không phải đóng quỹ bảo hiểm nữa mà được hưởng bảohiểm lâu dài, không xác định thời hạn, cho đến hết cuộc đời họ Vìvậy, việc xác định thời gian đóng, tuổi được hưởng và mức hưởng lànhững nội dung quan trọng của bảo hiểm hưu trí
Trang 9ở Việt Nam, chế độ bảo hiểm hưu trí là một trong các chế độnòng cốt trong hệ thống bảo hiểm xã hội và nó luôn được bổ sung,hoàn thiện hơn, vì bất cứ người lao động nào cũng sẽ đến lúc già yếu,hết tuổi lao động nhưng vẫn có nhu cầu được đảm bảo cuộc sống vàlương hưu là nguồn thu nhập chính của họ trong lúc này Chính vì vậy
mà trong lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí làmột trong những chế độ bảo hiểm được thực hiện sớm nhất
Khi còn bị Pháp đô hộ, chính quyền thực dân tuy không thựchiện nhiều chế độ bảo hiểm nhưng đã thực hiện chế độ bảo hiểm hưutrí cho người lao động Tuy nhiên, đối tượng áp dụng chế độ bảohiểm này còn rất hạn hẹp, chủ yếu là những người tham gia phục vụcho chính quyền thực dân
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngay sau khi giànhđược chính quyền cũng đã quan tâm đến chế độ bảo hiểm xã hội dàihạn, trong đó có chế độ bảo hiểm hưu trí đối với người lao động Sắclệnh 54/SL ngày 1/1/1945 ấn định những điều kiện cho công chức vềhưu Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định cấp hưu bổng cho côngchức Sắc lệnh 76 ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn chế độ trợ cấphưu trí đối với công chức Sắc lệnh 77 ngày 22/5/1950 ấn định cụ thểcác chế độ trợ cấp hưu trí đối với công nhân Tuy nhiên, do hoàn cảnhchiến tranh kéo dài , kinh tế còn nghèo nàn nên chính sách bảo hiểm
xã hội , bảo hiểm hưu trí còn hạn chế Sau hoà bình lặp lại, ngày27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ bảo hiểm tạm thời kèmtheo Nghị định số 218/CP về bảo hiểm xã hội cho công nhân viênchức Nhà Nước trong đó có chế độ hưu trí Tiếp đến ngày 18/9/1995
Trang 10cùng với việc cải cách chế độ tiền lương , Hội đồng bộ trưởng banhành Nghị định số 236/HĐBT sửa đổi bổ sung các quy định về cáchquy đổi thời gian công tác, cũng như quy định lại cách tính lương hưutrong chế độ hưu trí.
Tuy nhiên, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ bảohiểm hưu trí nói riêng thực sự có thay đổi căn bản bắt đầu từ năm
1993 với nghị định số 43/CP (ngày 23/6/1993) và tiếp sau đó là cácquy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Những đổi mới qua tất cả các thời kỳ đều tập trung vào các nội dungquan trọng của bảo hiểm hưu trí như đối tượng tham gia, điều kiệntuổi đời, thời gian đóng và hưởng trợ cấp
Như vậy, Việt Nam cũng như các nước khác, chế độ hưu trí làmột trong những chế độ bảo hiểm xã hội được Nhà nước hết sức quantâm, luôn có sự sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực
tế Người lao động tham gia bảo hiểm khi hết tuổi lao động hoặckhông còn tham gia quan hệ lao động nữa được hưởng chế độ bảohiểm hưu trí 1 lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật Đây
là khoản trợ cấp nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho người vềhưu, thay thế cho khoản tiền lương trước đây mà họ có được khi cònđang tham gia quan hệ lao động
Có thể thấy ở hầu hết các nước và theo quan niệm của ILO, bảohiểm hưu trí đều được hiểu là một chế độ bảo hiểm xã hội quan trọngnhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặckhi không còn tham gia quan hệ lao động
Trang 11Dưới góc độ pháp luật, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp cácquy phạm pháp luật quy định các điều kiện và mức trợ cấp cho nhữngngười tham gia bảo hiểm xã hội, khi đã hết tuổi lao động hoặc khôngcòn tham gia quan hệ lao động.
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của chế độ Bảo hiểm hưu trí
Trong hệ thống Bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm hưu trí giữ vịtrí quan trọng Tầm quan trọng đó không chỉ vì chế độ hưu trí là vấn
đề quan tâm của mọi người lao động khi tham gia quan hệ bảo hiểm
mà còn do hầu hết mọi người tham gia bảo hiểm xã hội đều là đốitượng của bảo hiểm hưu trí Nếu như các chế độ bảo hiểm xã hội khácchỉ áp dụng cho một số đối tượng lao động nhất định thì chế độ bảohiểm hưu trí lại được áp dụng cho hầu hết các đối tượng tham gia bảohiểm xã hội Hơn nữa, phần lớn phí đóng góp vào bảo hiểm xã hội đềudành cho việc chi trả chế độ bảo hiểm hưu trí Trong số 20% quỹlương mà người lao động và người sử dụng lao động đóng góp vàoquỹ bảo hiểm thì có tới 15% dành chế độ hưu trí và tử tuất Thời gianngười lao động hưởng chế độ hưu trí thường lâu dài nên chế độ nàyảnh hưởng, chi phối tới đời sống của người lao động nhiều hơn so vớicác chế độ bảo hiểm xã hội khác Nó có vai trò hết sức quan trọngtrong đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, điều đó đã đượcchứng minh trong thực tế, tất cả những người tham gia vào bảo hiểm
xã hội đều có mong muốn được tham gia và hưởng chế độ hưu trí Vìvậy, có thể thấy vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí từ 2 góc độ sau:
Trang 12Đối với người lao động: Chế độ bảo hiểm hưu trí có vài trò rất
lớn cho việc bù đắp về thu nhập, đảm bảo đời sống vật chất cho ngườilao động khi họ bị mất thu nhập từ lao động nghề nghiệp do hết tuổilao động, về nghỉ hưu an dưỡng Tiền lương hưu mà họ nhận được làkết qủa tích luỹ trong suốt quá trình làm việc thông qua việc đóng gópvào quỹ bảo hiểm xã hội Đây là khoản thu nhập chủ yếu và là chỗdựa chính nhằm đảm bảo cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần chongười lao động trong quãng đời còn lại sau quá trình lao động Có thểkhi lúc về già, nhiều người lao động cũng có những khoản tích luỹ, cóchỗ dựa là con cháu, song phần lớn là họ trông cậy vào khoản trợ cấphưu trí Hơn nữa, khoản trợ cấp hưu trí này còn là chỗ dựa tinh thầncho những người hết tuổi lao động Những người về hưu sẽ cảm thấyyên tâm trong cuộc sống khi họ được hưởng lương hưu, không bị mặccảm là gánh nặng xã hội
Đối với nhà nước và xã hội: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức,
chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp phát triển của BHXH nói chung
và bảo hiểm hưu trí nói riêng và kiểm tra việc thực hiện các quy định
đó Chế độ bảo hiểm hưu trí đã thể hiện được trách nhiệm của Nhànước trong việc thực thi các công việc của xã hội khi thông qua việcđảm bảo cuộc sống cho người già, thực hiện các chương trình an sinh
xã hội và đề ra định hướng cho sự hoạt động, phát triển của chế độbảo hiểm hưu trí, là điều kiện góp phần nhất định vào công cuộc ổnđịnh, phát triển kinh tế – chính trị Ngoài ra, Nhà nước còn ban hànhcác quy định cụ thể để gắn trách nhiệm của chủ sự lao động đối vớingười lao động trong và sau quá trình sử dụng lao động, họ không chỉ
Trang 13phải trả tiền lương cho người lao động khi làm việc mà còn phải đóngquỹ bảo hiểm để đảm bảo đời sống người lao động khi nghỉ hưu nhằmbảo vệ lợi ích hợp pháp của những người lao động này Do đó, chế độhưu trí là cách thức để nhà nước quản lý rủi ro xã hội, để có chínhsách phù hợp với tình hình kinh tế – chính trị của đất nước Hơn nữa,thực hiện tốt tất cả các chính sách, chế độ BHXH, bảo hiểm hưu tríđến với mọi người dân không những là mục tiêu của nhà nước ta mà làmục tiêu chung của các quốc gia bởi vì nó là thước đo năng lực vàtrình độ của mỗi quốc gia Chỉ có quốc gia nào có hệ thống BHXH,bảo hiểm hưu trí hoàn thiện chứng tỏ quốc gia đó là quốc gia pháttriển.
Xu hướng già hóa của dân số thế giới càng nhiều dẫn đến sốlượng những người nghỉ hưu ngày càng gia tăng, để đảm bảo ổn định
xã hội và an toàn xã hội, đòi hỏi bảo hiểm xã hội hưu trí ra đời làkhông thể thiếu và ngày càng phải được mở rộng, hoàn thiện hơn đểphù hợp với tình hình kinh tế –chính trị – xã hội Do đó, chế độ bảohiểm xã hội đã thể hiện được tính nhân đạo của bảo hiểm xã hội đốivới con người Đồng thời, chế độ hưu trí còn khơi dậy và giữ vữngđạo lý tốt đẹp của dân tộc về tương trợ cộng đồng, săn sóc và quantâm đến người cao tuổi cũng như phản ánh trình độ văn minh của mộtchế độ xã hội
Như vậy, chính sách bảo hiểm hưu trí nhìn chung phải là mộtchính sách mang tính lâu dài, tương đối ổn định Chế độ bảo hiểm hưutrí là một trong những vấn đề xã hội, đang dành được sự quan tâm rất
Trang 14lớn của người lao động, của Nhà nước, của ILO và các tổ chức Quốc
1.2.1 Những nội dung hợp lý
Sau một thời gian thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí đãmang lại những kết quả đáng ghi nhận:
Một là, đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí đã được mở rộng
đến tất cả các thành phần kinh tế:Nhà nước và phi Nhà nước
Hai là, quỹ bảo hiểm hưu trí hình thành từ sự đóng góp của
người sử dụng lao động và người lao động; quỹ hoạt động theonguyên tắc hạch toán, cân đối thu chi, độc lập với ngân sách nhà nước
và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật
Ba là, chế độ bảo hiểm hưu trí đã góp phần ổn định đời sống của
người lao động trong quá trình lao động và nghỉ hưu, bảo hiểm hưu trí
đã quy định rõ trách nhiệm của người lao động, mức hưởng bảo hiểmhưu trí đã trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng.Mức bảo hiểm xácđịnh trong khoảng 45% đến 75% lương đóng là hợp lý
Trang 15Trên thực tế, bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nóiriêng ngày càng phát triển, khẳng định vai trò của mình trong đời sống
xã hội Năm 2005 đã chi trả cho 121.800 người hưởng BHXH hàngtháng, tăng 20,7% so với năm 2004, trong đó có 100.000 người hưởngchế độ hưu trí, tăng 21,3%; đồng thời năm 2005 cũng chi trả cho225.500 người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần, tăng 31,3%; hoạtđộng bảo hiểm xã hội đã góp phần không nhỏ để giảm bớt khó khăn,giải quyết các nhu cầu cần thiết cho người nghỉ hưu (Theo số liệuBáo cáo tổng kết chính sách BHXH của Bộ lao động thương binh xãhội ngày 10/8/2005)
Việc quản lý Nhà nước về bảo hiểm hưu trí đã được thực hiệnthống nhất trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước vớichức năng hoạt động sự nghiệp của bảo hiểm xã hội
1.2.2 Những vấn đề còn tồn tại:
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, chính sách bảo hiểm xã hộicòn bộc lộ những tồn tại, cụ thể như sau:
a, Về ban hành chính sách bảo hiểm xã hội
Điều lệ bảo hiểm xã hội đã ra đời từ cách đây hơn 10 năm màđến năm 2006 vẫn mang tính tạm thời, các văn bản chỉ đạo thực hiện,sửa đổi, bổ sung các chế độ cụ thể vẫn là các văn bản dưới luật, cộngvới sự tuân thủ pháp luật chưa nghiêm đã hạn chế nhiều đến hiệu quảtrong thực tế Mặc khác, chế độ bảo hiểm hưu trí được sửa đổi quánhiều lần trở lên chắp vá, thiếu tính khoa học, nhiều nội không hợp lý
và thiếu thống nhất
b, Về phạm vi đối tượng
Trang 16Trong suốt thời gian qua, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắtbuộc tuy đã được mở rộng nhưng với số người tham gia chưa nhiều.Hiện nay, trong khoảng hơn 10 triệu người có quan hệ lao động thì chỉmới có 6 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, chủ yếu vẫn là laođộng thuộc khu vực Nhà nước; số lao động làm việc ở khu vực ngoàiquốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm khoảng 20%tổng số lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội.
c, Về chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng
Các quy định về quyền lợi và trách nhiệm của người lao độngđược quy định trong chế độ hưu trí này chưa hợp lý:
+ Công thức đóng/ hưởng chưa hợp lý:
- Công thức tính lương hưu hàng tháng còn có sự phânbiệt giữa lao động nam và lao động nữ, trong khi tỷ lệ đóng bảo hiểm
là như nhau Điều đó là không công bằng giữa các lao động này
- Đối với người lao động hưởng hưu trí hàng tháng vớimức thấp thì sẽ giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn
cứ đóng bảo hiểm xã hội nếu nghỉ việc trước tuổi là tương đối thấp
Nó chưa thể hiện sự công bằng giữa tỷ lệ cộng – trừ cho cùng một đơn
vị thời gian cũng như không đảm bảo được chế độ cân đối thu chi củaquỹ bảo hiểm xã hội
+ Về cách tính bình quân lương hàng tháng làm căn cứ đóngBHXH còn có sự phân biệt giữa khu vực Nhà nước và ngoài quốcdoanh
Trang 17- Công thức tính bình quân gia quyền các mức tiền lươngtháng làm căn cứ đóng BHXH của người lao động đóng theo bảnglương do Nhà nước quy định
Tổng số tiền làm căn cứ đóng BHXH của 60 tháng
(5 năm cuối) trước khi nghỉ hưu
=
60 tháng
- Công thức tính bình quân gia quyền các mức tiền lươngtháng làm căn cứ đóng BHXH của người lao động không theo thangbản lương do Nhà nước quy định bằng tổng giá trị tiền lương đóngBHXH của từng tháng nhân với khu vực liên doanh, tư nhân,
- Công thức áp dụng cho người đồng thời đóng hai loạiBHXH trên:
Tổng số TL làm căn
cứ đóng BHXH không
theo thang lương bảng do Nhà nước quy địnhTổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội
Trang 18Cách tính khác nhau như trên không phù hợp với nguyên tắcbình đẳng giữa các thành phần kinh tế, không bình đẳng giữa nhữngngười lao động
+ Theo quy định tại Đ25 của Điều lệ bảo hiểm xã hội, để đượchưởng hưu trí đầy đủ, ngoài điều kiện tuổi đời phải có đủ 20 nămđóng BHXH trở lên.Song, tại Đ26 quy định để được hưởng hưu tríhàng tháng với mức lương thấp hơn cho phép có thời gian đóngBHXH từ đủ 15 năm đến đủ 20 năm, phải có tuổi đời đủ 60 tuổi đốivới Nam, 55 đối với Nữ Tương tự, tại Đ4 của NĐ09/CP lại quy định
để được hưởng hưu trí hàng tháng, cán bộ xã, phường ngoài điều kiệntuổi đời (nam đủ 55, nữ đủ 50) thì chỉ cần có đủ 15 năm trở lên cóđóng BHXH Qua đó, ta thấy sự chưa thống nhất trong quy định về tờigian đóng bảo hiểm tối thiểu giữa các đối tượng tham gia
+ Mức lương trợ cấp 1 lần khi hưởng bảo hiểm, hưu trí hàngtháng cho người có thời gian đóng BHXH lâu hơn khống chế khôngquá 5 tháng lương là không phù hợp, vì nó không khuyến khích cácđối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội nhiều hơn, đóng gópcông sức nhiều hơn
+ Tuổi về hưu của lao động nữ được quy định chung là 55 tuổi làchưa linh hoạt, vì hiện nay, trong một số lĩnh vực, ngành nghề (ví dụ:nghiên cứu khoa học, bác sĩ, giáo viên, ) mặc dù đã đến tuổi về hưunhưng đa số họ vẫn đủ sức khỏe và đang phát huy kinh nghiệm làmviệc Như vậy, quy định này vừa lãng phí lao động, vừa dẫn đến thấtthu và bội chi quỹ bảo hiểm xã hội
d, Về chế độ bảo hiểm hưu trí một lần:
Trang 19+ Về đối tượng hưởng hưu trí 1 lần, pháp luật cũ còn quy địnhquá nhiều đối tượng và không có sự thống nhất giữa các văn bản:Theo nghị định số 01/2003/NĐ-CP thì chỉ có 2 trường hợp đượchưởng hưu trí 1 lần: người lao động định cư hợp pháp ở nước ngoài vàtrường hợp người lao động nghỉ việc đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc suygiảm khả năng lao động từ 61% trở lên do ốm đau, tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH để hưởng hưutrí hàng tháng Đến thông tư 07/2003/TT-BLĐTBXH lại cho phépngười lao động nghỉ việc chưa đủ điều kiện hưởng hưu trí hàng thángnhưng nếu 6 tháng không tiếp tục làm việc thuộc đối tượng tham giabảo hiểm xã hội bắt buộc mà người lao động có đơn tự nguyện thì sẽgiải quyết trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
+ Về mức lương bảo hiểm hưu trí 1 lần quy định là mỗi nămđóng BHXH tính bằng 1 tháng lương bình quân làm căn cứ đóng bảohiểm xã hội Mức lương này là quá thấp, không tương xứng với mứcđóng
e, Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội:
Vấn đề này còn một số hạn chế, chưa có giải pháp tích cực đểchống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng BHXH Tồn tại này
là do người sử dụng lao động và người lao động chưa nhận thức đầy
đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội;công tác tuyên truyền về BHXH chưa được coi trọng; việc thanh tra,kiểm tra chưa được thường xuyên và chưa có các chế tài đủ mạnh để
xử lý vi phạm Một số quy định về thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ bảo
Trang 20hiểm xã hội cho người lao động chưa minh bạch và chưa đảm bảo yêucầu của cải cách hành chính.
f, Vấn đề quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn:
Quỹ hưu trí chưa đảm bảo cân đối lâu dài Theo mức đóng,hưởng bảo hiểm như quy định trước đây, dự tính cho thấy quỹ có khảnăng cân đối thu – chi đến năm 2020, từ 2021 trở đi, số chi lớn hơn sốthu Quỹ sẽ giảm nhanh và dự báo đến 2031, số chi sẽ lớn hơn rấtnhiều so với số thu
g, Có sự pha trộn giữa chế độ BHXH với một số chính sách khác
Do trước đây cùng một nguồn quỹ là ngân sách Nhà nước nênchế độ hưu trí bị đan xen, lồng ghép với các chính sách xã hội khácnhư chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách việclàm Một trong những biểu hiện của việc đan xen này là việc giảm tuổiđời hoặc quy đổi thời gian công tác Điều này góp phần làm cho mứcchi trợ cấp cho các chế độ hưu trí và mất sức lao động là rất lớn
1.3 Sự cần thiết phải đổi mới chế độ bảo hiểm hưu trí theo Luật BHXH 2006
Theo sự phân tích trên, bảo hiểm hưu trí còn nhiều vấn đề tồntại, chưa có khả năng phát triển bền vững Vì vậy, yêu cầu đổi mới chế
độ bảo hiểm hưu trí, giải quyết các tồn tại trên theo hướng:
+ Cần pháp điển hoá các chế định về bảo hiểm hưu trí trong mộtvăn bản thống nhất, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựuđạt được
Trang 21+ Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội nói chung và bảohiểm hưu trí nói riêng, không chỉ theo hình thức bắt buộc mà còn theohình thức tự nguyện.
+ Xác định công thức đóng – hưởng hợp lý trên cơ sở: thốngnhất dần cách tính bảo hiểm giữa các thành phần kinh tế, giải quyếtchế độ hưu trí cho lao động nữ một cách hợp lý, thống nhất điều kiện
về thời gian đóng để hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng…
+ Cần tách chế độ bảo hiểm hưu trí với các chế độ, chính sáchkhác
+ Cần có quy định về đầu tư, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội đểquỹ phát triển hiệu quả, đảm bảo cân đối thu – chi
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trongnhững năm qua cũng đòi hỏi bảo hiểm xã hội phải có sự đổi mớitương ứng
Qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi
cơ bản từ một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lýtập trung, bao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường,định hướng XHCH, không những đã thoát khỏi khủng hoảng và lạmphát mà đã có sự tăng trưởng Sau khi kết thúc kế hoạch 5 năm (1991– 1995), với hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đều hoàn thành và hoànthành vượt mức, đất nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế,
10 năm gần đây, là 10 năm phát triển kinh tế ổn định với tốc độ cao,GDP đạt bình quân 7,5%/ năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%; mức bìnhquân theo đầu người năm 1995 là 206 nghìn đồng, năm 2005 là 640USD, năm 2006 là 720 USD Như vậy, mức GDP tính theo đầu người
Trang 22năm 2005 gấp 2,2 lần năm 1995 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăngnhanh, năm 2005 đạt trên 5,2 tỷ USD, tính chung mọi nguồn vốn chođầu tư phát triển, hàng năm đã chiếm 35% đến 37% GDP, là mức đầu
tư cao so với các nước trong khu vực (Nguồn:http://www.cesti.gov.vn/left/stinfo/the_gioi_du_lieu/solieu
thongke/kt_xh/2005/122005/b3 được lưu vào ngày 1/5/2007 05:40:12GMT của Google) Theo báo cáo mới nhất về “Tổng quan kinh tếchâu á 2006” của ngân hàng phát triển châu á (ADB) thì tăng trưởngkinh tế của Việt Nam đạt 7,8%, dự báo là 7,6% cho năm 2007 Theocông bố của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng tổng sản phẩm trongnứơc của năm 2006 tăng 8,17% so với năm 2005 Cũng trong 20 nămqua, cơ cấu kinh tế có những chuyển biến tích cực theo hướng côngnghiệp hoá - hiện đại hoá gắn sản xuất với thị trường, gắn nhập khẩuvới xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng đột phá để phát triển kinh tế Vềchuyển dịch cơ cấu ngành, thể hiện rõ nhất thông qua việc điều chỉnh
tỷ trọng từng nganh trong cơ cấu GDP, so sánh năm 2005 với năm
1988 thì thấy: tỷ trọng nông nghiệp trong GDP từ 46,3% giảm xuốngcòn 21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 41%, tỷtrọng dịch vụ tăng từ 33% lên 38% Những số liệu trên đây cho ta thấynền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, năm sau caohơn năm trước Trên cơ sở đó, Nhà nước đã năm lần điều chỉnh mứclương tối thiểu nhằm phù hợp với thực tế tăng trưởng và biến động giá
cả, tiền tệ, kéo theo sự tăng trưởng tương ứng của lương hưu và trợcấp Điều đó đã tác động đến sự ổn định của bảo hiểm hưu trí cũng
Trang 23như việc hoạch định và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, đòi hỏi có sựthay đổi, tính toán cho phù hợp.
Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, còn có sựđóng góp rất lớn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước, ngoài cácdoanh nghiệp tư nhân và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung.Luật đầu tư chung, luật doanh nghiệp … có hiệu lực đã đóng góp rấtlớn trong tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội ở nước ta Vì thế , đã cóhàng trăm nghìn doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập vàphát triển tạo việc làm, thu nhập cho hàng triệu lao động, hàng nămkhu vực ngoài quốc doanh đã đóng góp khoảng hơn 60% trong GDP
Do đó, việc hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và chế độbảo hiểm hưu trí nói riêng theo hướng mở rộng đối tượng tham gia làvấn đề rất cần thiết
Nước ta đang thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhànước Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng hìnhthành, người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳngtrước pháp luật … Thực tế đó cũng đóng góp không ít thành côngtrong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bên cạnh đó cũngcòn bộc lộ một số vấn đề cần khắc phục
Việc thực thi các chính sách còn chưa triệt để tạo nhiều kẽ hởcho nhiều đối tượng lao động và sử dụng lao động dựa vào đó để tìmcách vi phạm pháp luật về bảo hiểm hưu trí, hàng triệu người lao độngthuộc diện bắt buộc nhưng chưa tham gia bảo hiểm xã hội, đặc biệt làkhu vực ngoài Nhà nước
Trang 24Hơn nữa, qua gần 20 năm phát triển kinh tế thị trường và 10năm tách quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với Ngân sách Nhà nước, chothấy Việt Nam đã có kinh nghiệm để hoàn thiện bảo hiểm xã hội nóichung và bảo hiểm hưu trí nói riêng phù hợp với điều kiện mới củănền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ tình hình nói trên, việc ban hành luật BHXH nhằmpháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các quy định mới vềbảo hiểm xã hội cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng nguyện vọng đông đảo củangười lao động, đảm bảo an sinh xã hội và hội nhập quốc tế
Trang 252.1 Chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng:
2.1.1 Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng
a) Điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm
Luật Bảo hiểm xã hội 2006 bổ sung quy định thời gian đóng bảohiểm xã hội tối thiểu để đủ điều kiện nghỉ hưu là 20 năm: “Người laođộng quy định tại các điểm a, b, c, e khoản 1 Điều 2 của Luật này có
đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu…”(Đ50.1) Như vậy, đã có sự thay đổi đáng kể so với quy định củaĐiều lệ bảo hiểm trước đây, điều kiện chung để được hưởng chế độhưu trí là có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên (Điều lệ bảohiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/11/1995của Chính phủ )
Trang 26Thông thường, để được hưởng một chế độ bảo hiểm xã hội,người hưởng bảo hiểm phải đảm bảo một số điều kiện nhất định Tuỳtừng chế độ bảo hiểm cụ thể mà điều kiện hưởng là khác nhau, nhưngnhìn chung là căn cứ vào mức độ đóng góp của người tham gia bảohiểm Trước đây, Quỹ bảo hiểm xã hội thực chất là do Ngân sách Nhànước tài trợ, chỉ có người lao động là công nhân viên chức làm việctheo hình thức tuyển dụng vào biên chế Nhà nước được tham gia bảohiểm và họ không phải đóng góp bất kỳ một khoản nào vào Quỹ bảohiểm xã hội Nhưng từ khi Nghị định 43/CP năm 1993 có hiệu lực,chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta đã thực hiện nguyên tắc đóng –hưởng, cả người sử dụng lao động và người lao động đều có tráchnhiệm đóng góp và đó là nguồn cơ bản hình thành Quỹ bảo hiểm xãhội Với quy định đóng góp bằng 15% quỹ lương và sau 30 năm làmviệc sẽ được hưởng 75% mức lương bình quân của 5 năm đóng gópbảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu Xét về khía cạnh kinh tế, quyđịnh này chưa phù hợp bởi nếu một người lao động đóng bảo hiểm xãhội trong suốt 30 năm thì số tiền đóng góp của họ kể cả tính tăngtrưởng là 6%/năm cũng chỉ đủ chi lương hưu cho bản thân người đóđược khoảng 6 – 8 năm, trong khi đó bình quân số năm hưởng lươnghưu khoảng 15 năm, quy định tỷ lệ đóng – hưởng trên đáp ứng đượcyêu cầu thực tế trong giai đoạn chuyển đổi nhưng sẽ tác động tiêu cựcđến Quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí trong tương lai Mặc dù Quỹ bảohiểm xã hội đang có lượng tồn tại khá lớn, dự báo đến năm 2022 Quỹ
sẽ có số dư là 200.000 tỷ đồng, nhưng với tỷ trọng thu chi như hiệnnay thì sau đó sẽ giảm dần và sẽ âm vào năm 2036 Mỗi năm Nhà
Trang 27nước phải bỏ ra 10.000 tỷ đồng để trả lương cho khoảng một triệungười về hưu trước 1/1/1995 Với mức đóng hiện nay và chế độ vềhưu sớm, tỷ lệ người đóng bảo hiểm xã hội cho một người hưởnglương hưu giảm dần, năm 2000 là 34/1; năm 2002 là 23/1và năm 2004
là 19/1 thì chỉ 10 –15 năm nữa sẽ dẫn đến chi vượt thu,Quỹ bảo hiểm
xã hội sẽ phá sản Về nguyên tắc, kể từ năm 1995, sau ít nhất mườinăm năm mới có đối tượng hưởng chế độ hưu trí đầu tiên, nhưng thực
tế sau khi tách ra khỏi Ngân sách Nhà nước (1995) Quỹ bảo hiểm xãhội còn phải chi trả chế độ hưu và trợ câp bảo hiểm xã hội cho 2,9triệu người trong khu vực Nhà nước được hưởng bảo hiểm xã hội từtrước năm 1995 Vì thế, Luật mới đã nâng cao số năm đóng bảo hiểm
xã hội tối thiểu từ 15 năm lên 20 năm, mục đích chủ yếu để đảm bảonâng dần mức đóng đủ cho hưởng lương hưu từ 15 năm trở lên màtrước đó không đủ hưởng, đảm bảo cân bằng của Quỹ bảo hiểm hưutrí
b) Điều kiện về độ tuổi nghỉ hưu
Tại Đ50.1 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định:
“1 Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, e khoản 1 Điều
2 của Luật này có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên đượchưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độchại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm
Trang 28việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên Tuổi đời đượchưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác doChính phủ quy định”.
Tại Điều 26 trong Nghị định 152/CP ngày 22/12/2006 có quyđịnh hướng dẫn chi tiết hơn như sau:
“… 3 Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20năm đóng bảo hiểm xã hội trở nên mà trong đó có đủ 15 năm làmcông việc khai thác than trong hầm lò
4 Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp và có đủ
20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên”
Luật Bảo hiểm xã hội 2006 ban hành đã có những quy định rõràng, cụ thể, chi tiết hơn Điều này xuất phát từ lý do điều kiện làmviệc của nguời lao động trong một số ngành nghề có tính chất nặngnhọc, độc hại, ở những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc trong những lĩnh vựcquan trọng như an ninh quốc phòng … có sự khác nhau Đồng thời, nócũng nhằm khuyến khích người lao động vào làm việc trong cácngành nghề lĩnh vực này, tạo sự phân công lao động đồng đều giữacác ngành, các vùng với nhau Những người lao động phải làm việctrong điều kiện lao động không thuận lợi hoặc làm những công việctính quan trọng đến an ninh đất nước có thể ảnh hưởng đến cuộc sốngbình thường của họ thì sẽ được hưởng những chế độ ưu đãi dặcbiệt.Thực chất hơn, quy định này do thực trạng sức khoẻ của ngườilao động trong ngành, vùng này bị ảnh hưởng, không thể làm việc đến
độ tuổi quy định chung Do đó, họ cần được nghỉ hưu sớm so với tiêuchuẩn chung
Trang 29Như chúng ta đã biết, để xác định được độ tuổi hưởng chế độhưu trí hợp lý thì phải căn cứ vào rất nhiều cơ sở:
+ Cơ sở sinh học: cơ cấu dân số, tuổi thọ dân cư, sức khoẻ ngườilao động
+ Quan hệ cung cầu của thị trường lao động, tiềm lực kinh tế củamỗi quốc gia
+ Khả năng cân đối, chi trả lâu dài cho mỗi Quỹ bảo hiểm hưutrí
Theo quy định của pháp luật Việt nam trước đây, điều kiệnchung để được hưởng chế độ hưu trí là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi Tuổinghỉ hưu này được giảm xuống 5 tuổi trong các trường hợp người laođộng đủ 15 năm làm việc ở nơi có nghề hoặc công việc nặng nhọc,độc hại; có đủ 15 năm làm việc tại nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7trở lên; hoặc có đủ 15 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày30/04/1975, ở Campuchia trước ngày 31/08/1989 và đối với nhữngngười làm trong lực lượng vũ trang
Như vậy, so với trước đây thì quy định hiện nay của Luật Bảohiểm xã hội là phù hợp hơn với điều kiện Việt Nam và tương đồng vớinhiều nước cùng trình độ phát triển trên thế giới
Bởi lẽ, thứ nhất, lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt bảo vệ
Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, chống lại mọi âm mưu và hànhđộng chống phá chính quyền nhân dân, Nhà nước Việt nam, vì thế ,lực lượng vũ trang có một đặc trưng khác biệt đối với ngành nghềkhác đó là sự cơ động, khoẻ mạnh, trẻ trung, yếu tố tuổi trẻ là rất quantrọng Thế nhưng nếu để đạt dến độ tuổi: nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi mới
Trang 30giải quyết cho về hưu là không hợp lý, họ sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ
so với lớp tuổi trẻ hơn Tuy nhiên, không phải bất cứ ai làm việc tronglực lượng vũ trang đều cần phải nghỉ hưu sớm và muốn nghỉ hưu sớm
Thứ hai, Đ52.1.b quy định rất linh hoạt không cứng nhắc như
trước kia, pháp luật mới cho người lao động được lựa chọn tuổi nghỉhưu: “Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi; nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại,nguy hiểm … hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực
hệ số 0,7 trở lên” Như vậy, đối tượng thuộc hai nhóm nghề nghiệptrên nếu có nhu cầu về sớm hơn so với tuổi chuẩn thì vẫn được giảiquyết để hưởng hưu trí hàng tháng như bình thường Quy định này đãxét đến nguyện vọng của người lao động vì không phải cứ làm việctrong môi trường độc hại nguy hiểm hay ở khu vực có hệ số phụ cấp0,7 trở lên đều muốn về hưu sớm và cần về hưu sớm Quy định nàycũng khuyến khích người lao động tiếp tục làm việc nếu còn sức khoẻ
và có nguyện vọng, mặc dù họ có đủ tiêu chuẩn về hưu Đây là mộtđiểm mới thực sự cần thiết đối với Việt Nam, phù hợp với quy địnhnhiều nước trên thế giới, vì nếu so sánh trên bình diện quốc tế, tuổinghỉ hưu hiện nay ở nước ta vào loại trung bình thấp, trong khi tuổithọ trung bình của dân số ngày càng tăng Hiện nay do tuổi thọ trungbình của người dân tăng lên nên một số nước đang có xu hướng tăngtuổi nghỉ hưu của người lao động hoặc áp dụng các chế độ hưu trímềm dẻo với các biện pháp không chính thức khuyến khích người laođộng tiếp tục làm việc và nghỉ hưu muộn hơn (ví dụ: tăng lương chonhững người nghỉ hưu muộn hơn như ở Anh, Mỹ, Canada) Trong khi