1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

92 699 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 325 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triểnchung của thế giới Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng này màphải nắm bắt cơ hội để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập với khuvực và thế giới một cách chủ động, tích cực, đạt hiệu quả cao Thựchiện chủ trương đó, trong những năm qua Việt Nam đã tích cự thamgia vào quá trình này, hiện Việt Nam đã là thành viên của ASEAN,APEC, ASEM, đã ký kết hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ vàtrong năm 2006 Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO kể từ ngày11/01/2007

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng cókhông ít thách thức cho các quốc gia đang phát triển Bởi vì, Hội nhậpkinh tế quốc tế nhằm tới đích là tự do hóa thưong mại, điều này cũngđồng nghĩa với việc phải dỡ bỏ những rào cản do các nước lập nênnhằm hàng hoá di chuyển giữa các nước được thuận lợi hơn trên cơ sởcạnh tranh bình đẳng Lợi ích lớn nhất của tự do hoá thương mại làthúc đẩy ngày càng nhiều nước tham gia buôn bán trao đổi hàng hoá

từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tranh thủ được vốn, khoa học-côngnghệ, nguyên liệu, thị trường…, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựachọn hàng hoá tốt hơn với giá rẻ hơn Tuy nhiên không phải ngẫunhiên mà các nước lại dựng lên những hàng rào làm ảnh hưởng đến sựlưu thông hàng hoá Lý do để các nước làm việc này là nhằm bảo hộsản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hoá bên ngoài Điều

Trang 2

này có ý nghĩa lớn vì sản xuất trong nước mà bị suy giảm sẽ ảnhhưởng đến công ăn việc làm, ảnh hưởng đến ổn định xã hội; ảnhhưởng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến cán cânthanh toán, nguy cơ bệnh tật gia tăng do hàng hoá nhập khẩu…Tự dohoá thương mại ở những mức độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc mấtdần các hàng rào nói trên và như thế sẽ làm ảnh hưởng đến mục đíchđặt ra khi thiết lập hàng rào

Trong các rào cản được các nước sử dụng gồm thuế quan và biệnpháp phi thuế quan Trong đó thuế quan chiếm vị trí quan trọng trongđàm phán thương mại Bởi vì mục tiêu của đàm phán thương mại lànhằm gỡ bỏ rào cản đối với lưu thông hàng hoá giữa các nước mà thuếquan là rào cản quan trọng nhất

Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp cho Việt Nam

có thêm cơ hội giao lưu kinh tế với nhiều nền kinh tế, có thêm nhiềuđối tác kinh doanh, mở rộng thị trường, thu hút thêm nguồn vốn đầu

tư nước ngoài Từ đó có thể tận dụng được những nguồn lực từ bênngoài để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Tuy nhiên, nềnkinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, cơ sở vật chất còn nghèonàn, lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật còn yếu kém cùng với hệthống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Việt Nam, hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới làrất thấp.Vì vậy, trong quá trình hội nhập, nhà nước phải áp dụng cácchính sách bảo hộ đối với nền kinh tế để giúp các ngành kinh tế có thểđứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của xu hướng toàn cầu hóa.Vấn đề đặt ra ở đây là bảo hộ với những ngành kinh tế nào, bảo hộ ở

Trang 3

mức độ nào mới là hợp lý? Pháp luật thuế nhập khẩu phản ánh rõ nhấtmức độ hội nhập và sự bảo hộ của nhà nước đối nới nền kinh tế Vìvậy cần thiết phải xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu nhưthế nào để vừa có thể bảo hộ đúng mức, hợp lý dựa trên năng lực cạnhtranh của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa

vụ và các cam kết của mình với tư cách là thành viên của các tổ chứckinh tế quốc tế Hay nói cách khác pháp luật thuế nhập khẩu ở ViệtNam cần phải được xây dựng và hoàn thiện như thế nào để đảm bảocho việc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nayđạt hiệu quả cao nhất

Từ những trăn trở trên đây, em đã quyết định chọn đề tài: “Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình với mục đích được

tham gia làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thuếnhập khẩu ở nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa pháp luật thuế nhậpkhẩu Việt Nam với những cam kết quốc tế của Việt Nam; bước đầuđưa ra những đánh giá những sự tương thích và chưa tương thích của

nó với luật pháp quốc tế và với những cam kết của Việt Nam trongtiến trình hội nhập khu vực và thế giới, từ đó đề xuất một số nhữnggiải pháp hoàn thiện pháp luật thuế nhập nhằm đáp ứng yêu cầu hộinhập kinh tế quốc tế

Để thực hiện yêu cầu của đề tài đặt ra, kết cấu khoá luận đượctrình bày bao gồm ba chương (ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo) cụ thể như sau:

Trang 4

Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế nhập khẩu vàpháp luật về thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chương II: Thực trạng pháp luật thuế nhập khẩu trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Chương III: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luậtthuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế

Trang 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU

VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIÊN

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

1.1.Khái quát chung về thuế nhập khẩu

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm của thuế nhập khẩu

Sản xuất hàng hoá phát triển, xuất hiện các quan hệ trao đổi

hàng hoá được thực hiện giữa các tổ chức, cá nhân ở các quốc giakhác nhau Các quốc gia đều sử dụng một loại thuế thu vào hàng hoámang qua cửa khẩu, biên giới nước mình Thứ thuế này gọi là thuếquan Có nước thuế quan chỉ là thuế nhập khẩu không bao gồm thuếxuất khẩu

Tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế – xãhội của mỗi nước mà thuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khácnhau Ở những nước kinh tế phát triển hàng hoá có sức cạnh tranh lớn,thị trường ổn định, thuế quan với ý nghĩa là công cụ bảo hộ sản xuấttrong nước, điều chỉnh hoạt động ngoại thương ít được coi trọng, thậmchí nhiều nước muốn xoá bỏ Còn ở những nước đang phát triển trong

đó có nước ta, thuế quan là loại thuế rất quan trọng không chỉ trongviệc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọnghơn, nó còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để kiểm soát hoạtđộng nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước

và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thờikỳ Điều này xuất phát từ hai lý do :

- Nền sản xuất trong nuớc còn yếu, chưa đủ khả năng cạnh tranh;

Trang 6

- Nguồn tài chính eo hẹp, thu nhập dân cư thấp thì thuế quan lànguồn thu chính và dễ hành thu

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhâp khẩu tùythuộc vào góc độ tiếp cận

Xét về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm làkhoản đóng góp bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhànước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hànghóa, dịch vụ qua biên giới một nước.Với cách tiếp cận này, thuế nhậpkhẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tàichính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế vớingười thu thuế là Nhà nước.Mặt khác, thuế nhập khẩu còn có thể đượchiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điềutiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗiquốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trênphạm vi khu vực và toàn cầu

Xét trên phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu là quan hệ phápluật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân(người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụpháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu.Quan hệpháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế nhập khẩu doQuốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạoluật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước

và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức,cá nhân là người nộp thuế

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóaqua biên giới với nước ngoài được điều tiết và kiểm soát bởi hai công

Trang 7

cụ chủ yếu là “hàng rào thuế quan” và “hàng rào phi thuế quan”.Hàngrào thuế quan ở những nước này được hiểu thực chất là thuế nhậpkhẩu đánh vào hàng hóa nhập khẩu, chứ không bao gồm cả thuế xuấtkhẩu đánh vào hàng hóa xuất khẩu như Việt Nam hay Trung Quốc.

Do có quan niệm khác nhau như trên giữa các nước về nội hàm kháiniệm “thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sựkhác nhau Nhưng khái niệm thuế quan được Tổ chức thương mại thếgiới (WTO) định nghĩa đồng nhất với thuế nhập khẩu :“Thuế hải quanđánh vào hàng hóa nhập khẩu gọi là thuế quan.Thuế quan tạo ra lợithế về giá cả cho hàng hóa sản xuất trong nước so với hàng hóa tương

tự được nhập khẩu và đem lại nguồn thu cho các chính phủ1.”

Tuy nhiên, trên thực tế chưa có một định nghĩa thống nhất, hoànchỉnh mang tính pháp lý về thuế nhập khẩu Dựa trên Luật thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sungnăm 2005 thì thuế nhập khẩu có thể được định nghĩa là loại thuế đánhvào hàng hóa được nhập khẩu vào “những khu vực trong lãnh thổnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyềnkinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, nơi Luật hải quan được ápdụng”.Từ định nghĩa này, có thể thấy thuế nhập khẩu có đặc điểm sau:

Thứ nhất, thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng

hóa được phép vận chuyển qua biên giới Khái niệm “hàng hóa” là đốitượng chịu thuế nhập khẩu có thể hiểu theo nghĩa “là các động sản baogồm hàng hóa nhập khẩu, vật dụng trên phương tiện vận tải nhậpcảnh, hành lý, tiền, kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hóa phẩm, bưuphẩm và các loại tài sản khác…Chúng có mã số và tên gọi theo quy

1 Giáo trình Luật thuế Việt Nam- Đại học Luật Hà Nội

Trang 8

định của pháp luật, được nhập khẩu vào địa bàn hoạt động hải quanViệt Nam” (khoản 1, khoản 2, điều 4 Luật hải quan sửa đổi, bổ sungnăm 2005).

Thuế nhập khẩu không tác động vào đối tượng nhập khẩu là cácloại hình dịch vụ

Thứ hai, thuế nhập khẩu về bản chất là thuế gián thu, tuy nhiên

tính gián thu chỉ có ý tương đối Điều này thể hiện ở chỗ, khi một nhànhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hóa nhập khẩu

đó chứ không bán ra bên ngoài thì khi đó khoản thuế nhập khẩu đãnộp có tính chất là thuế trực thu vì chính người nhập khẩu vừa làngười nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Ngược lại, khi nhà nhậpkhẩu đã nộp thuế nhập khẩu và bán lại số hàng hóa đó cho người khácthì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho ngườimua hàng chịu và khi đó, khoản thuế nhập khẩu này lại có tính chất làthuế gián thu, vì người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một

Có điều này là vì theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005

và Luật hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 thì không có sự phân biệt

tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa có mục đích kinh doanh haykhông kinh doanh

Thứ ba, thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại

của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ bởi hoạt động ngoại thương làmột trong những hình thức hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại màthuế nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểmsoát hoạt động ngoại thương của Nhà nước Việc tác động bằng thuếnhập khẩu vào hàng hóa nhập khẩu không chỉ để tạo nguồn thu cho

Trang 9

ngân sách nhà nước mà còn thể hiện cả những chủ trương, chính sáchđối ngoại của nhà nước đó.

Thứ tư, thuế nhập khẩu được quản lý thu bởi cơ quan chuyên

trách là cơ quan Hải quan

Thứ năm, thuế nhập khẩu bị chi phối bởi nhiều yếu tố đặc biệt là

yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia

1.1.2 Vai trò của thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một công cụ quan trọng và cần thiết của mỗinhà nước để thực hiện các mục tiêu sau:

Thứ nhất, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Cũng giống như bất kỳ loại thuế nào, thuế nhập khẩu có chứcnăng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Ở nước ta, trong nhữngnăm đầu của thập kỷ 90, do Nhà nước có chính sách mở rộng hoạtđộng ngoại thương nên đã thúc đẩy các hoạt động xuất, nhập khẩuhàng hóa phát triển.Theo đó, số thu về thuế xuất, nhập khẩu cũng tăngnhanh, chiếm tỷ trọng đáng kể (từ 25% đến 30%) trong tổng số thu vềthuế và trở thành khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước.Những năm gần đây, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tự dohóa thương mại, Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo cáccam kết quốc tế nhưng thuế nhập khẩu vẫn là nguồn động viên mộtphần quan trọng cho ngân sách Nhà nước.Theo số liệu công khai ngânsách nhà nước của Bộ tài chính từ năm 2000 đến năm 2005 thu hảiquan luôn chiếm từ 20% đến 25% tổng thu ngân sách nhà nước.Cụ thể:

Trang 10

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Tỷ trọng thu hải quan

trong tổng thu ngân sách

đó nhà nước điều tiết hoạt động ngoại thương và hướng dẫn tiêu dùng

xã hội Chẳng hạn, Nhà nước muốn giảm bớt nhập khẩu các hàng hoá

mà nhà nước không khuyến khích vì ảnh hưởng tới đời sống, môitrường, đạo đức xã hội (ví dụ như rượu bia, thuốc lá, ô tô…) Nhà nước

sẽ đánh thuế nhập khẩu cao vào hàng hoá này dẫn đến giá bán củahàng hoá đó cao, người tiêu dùng không dễ dàng thoả mãn nhu cầutiêu dùng của mình nên hạn chế tiêu dùng, sức mua của hàng hoá đógiảm xuống như vậy buộc nhà nhập khẩu hàng hoá đó hạn chế nhậpkhẩu vì nhập nhiều sẽ không tiêu thụ được

Thứ ba, là công cụ hỗ trợ và bảo hộ nền sản xuất trong nước

Thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước gián tiếp tác động vào việcđiều tiết sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu đánh thuế ở mức khácnhau đối với từng loại hàng hoá nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năngcạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sựphân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất Điều đó thể hiện nhưsau: khi một ngành sản xuất được nhà nước chú trọng đầu tư phát triển

Trang 11

thì chính sách thuế nhập khẩu dành cho nguyên liệu, máy móc, trangthiết bị sản xuất phải nhập khẩu từ nước ngoài sẽ thấp trong khi thuếnhập khẩu đánh vào hàng hóa tiêu dùng lại cao hơn.

So với các loại thuế nội địa khác như thuế giá trị gia tăng, thuếtiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất…thì thuếnhập khẩu có vai trò khá đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trongnước, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước vớihàng hóa ngoại nhập Điều này xuất phát từ đặc trưng cơ bản của thuếnhập khẩu là đánh vào các hàng hóa nhập khẩu và sau đó được cấuthành trong giá cả của hàng hóa đó.Vai trò này của thuế nhập khẩuđược thê hiện như sau:

Đối với hàng hóa nhập khẩu, do bị đánh thuế nhập khẩu nên về

lý thuyết, giá cả của loại hàng hóa này trên thị trường nước nhập khẩu

sẽ tăng lên, trong khi đó các hàng hóa được sản xuất trong nước dokhông phải chịu thuế nhập khẩu nên giá thành sản phẩm của loại hànghóa này có xu hướng rẻ hơn và do đó có sức cạnh tranh cao hơn so vớihàng ngoại nhập Điều này cho thấy việc đánh thuế nhập khẩu thựcchất là một biện pháp để bảo hộ nền sản xuất trong nước, khi Chínhphủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía các hàng hóa được sảnxuất từ các doanh nghiệp trong nước Đối với nước ta có một số ngànhcông nghiệp non trẻ cần được đầu tư, về lâu dài nó có khả năng sinhlợi và phát triển cần được sự bảo hộ trong khoảng thời gian nhất định.Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho

nó phát triển đồng thời có chính sách thuế quan có tính bảo hộ hợp lýngành sản xuất trong nước đó theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc – cóđiều kiện và có thời hạn, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế

Trang 12

Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn là cơ sở cho việc đàm phán trong

thương mại quốc tế Đối với những nước kinh tế phát triển thuế nhậpkhẩu còn mục tiêu chính trị: áp dụng chính sách thuế quan ưu đãi vớimột số quốc gia thân thiện hoặc sử dụng nó như biện pháp trả đũatrong chính sách đối ngoại hoặc gây sức ép chính trị với quốc gia khác

;

1.2.Khái quát chung về pháp luật thuế nhập khẩu

1.2.1.Khái niệm pháp luật thuế nhập khẩu

Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ pháp lý dùng để chỉ tậphợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, tínhthuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lýcác vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu, phát sinh giữa Nhà nướcvới người nộp thuế

Xét về phương diện hình thức, pháp luật về thuế nhập khẩu baogồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết củaQuốc hội, nghị định và nghị quyết của Chính phủ, quyết định và chỉthị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định, thông tư và chỉ thị của cácbộ…Còn xét trên phương diện nội dung, pháp luật về thuế nhập khẩulại bao hàm các vấn đề chủ yếu như phạm vi áp dụng (được thể hiệnqua các quy định về chủ thể nộp thuế và đối tượng chịu thuế, đốitượng không chịu thuế nhập khẩu), căn cứ tính thuế nhập khẩu, chế độmiễn giảm thuế nhập khẩu và hoàn thuế nhập khẩu, xử lý vi phạm vàgiải quyết tranh chấp về thuế nhập khẩu…

Trang 13

Ngày nay, trong bối cảnh tự do hóa thương mại và hội nhậpkinh tế quốc tế đang trở thành xu hướng toàn cầu thì việc hình thành,thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến thuế nhập khẩu làđiều tất yếu Do đó, nội hàm của khái niệm thuế nhập khẩu không chỉquy định trong pháp luật quốc gia mà còn bao hàm cả quy định trongpháp luật quốc tế có liên quan trực tiếp đến thuế nhập khẩu như Hiệpđịnh CEPT(Common Effective Preferential Tarriff – Hiệp định ưu đãithuế quan có hiệu lực chung), Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa

Kỳ, Hiệp định WTO…Nguồn của pháp luật thuế nhập khẩu còn là cácđiều ước song phương hoặc đa phương khác mà quốc gia tham giahoặc ký kết Những Hiệp định này sau khi có hiệu lực sẽ được ápdụng trực tiếp ngay cho các quan hệ về thuế nhập khẩu giữa Nhà nước

và người nộp thuế hoặc được “nội luật hóa” tại các nước thành viênhiệp định để áp dụng một cách hiệu quả

Như vậy, nội hàm của khái niệm “pháp luật về thuế nhập khẩu”phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ các quy định trong phápluật quốc gia mà còn bao gồm cả các quy định trong pháp luật quốc tế

Trang 14

các quan hệ kinh tế Trong rất nhiều yếu tố chi phối đến pháp luật thuếnhập khẩu thì có một số yếu tố cơ bản sau :

Thứ nhất, chính sách phát triển kinh tế của nhà nước:

Chính sách kinh tế của một quốc gia là sự điều hành của nhànước đối với nền kinh tế của một quốc gia Chính sách kinh tế thựcchất thể hiện thái độ, quan điểm của nhà nước đối với các quan hệkinh tế và được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật Pháp luật thuếnhập khẩu nằm trong hệ thống các chính sách quản lý vĩ mô nền kinh

tế của quốc gia nên khi hệ thống này có sự thay đổi thì bản thân phápluật thuế nhập khẩu cũng có sự thay đổi để phù hợp với toàn bộ hệthống Điều này thể hiện rõ nhất khi có sự thay đổi trong chính sáchkinh tế đối ngoại

Pháp luật thuế nhập khẩu thể hiện chính sách thương mại quốc

tế của quốc gia Chính sách thương mại gồm hai dạng điển hình làchính sách tự do hóa thương mại và chính sách bảo hộ mậu dịch Hai

xu hướng này tuy về mặt lý thuyết chúng trái ngược nhau nhưng trênthực tế chúng lại tồn tại song song với nhau Chính sách tự do hóathương mại nhằm thúc đẩy khả năng cạnh tranh bình đẳng giữa hànghóa trong nước với hàng ngoại nhập thông qua việc cắt giảm thuế xuấtkhẩu hoặc các biện pháp khuyến khích khác để thúc đẩy xuất khẩu,xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế nhập khẩu để hàng hóa nước ngoài tràn vàonhằm mở rộng thị trường nội địa, đặc biệt là hàng hóa nước mình sảnxuất với chi phí cao Đây là quá trình giảm bớt sự can thiệp mang tínhchất bảo hộ của nhà nước vào hoạt động thương mại, theo đó vai tròcủa nhà nước chỉ nên giới hạn ở việc tạo ra môi trường phù hợp cho

Trang 15

các quan hệ thương mại.Chính sách bảo hộ mậu dịch lại bảo hộ nềnsản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoàibằng cách áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối với một số mặthàng nhập khẩu Pháp luật thuế nhập khẩu có chức năng đặc thù là bảo

hộ nền sản xuất trong nước, chống lại xu hướng cạnh tranh không cânsức giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài Nhưng trongđiều kiện hộ nhập kinh tế quốc tế, xu hướng tự do hóa thương mạingày càng trở thành xu hướng tất yếu trên thê giới thì pháp luật thuếnhập khẩu cũng phải theo xu hướng giảm dần mức thuế suất Như vậy,pháp luật thuế nhập khẩu luôn bị ảnh hưởng của chính sách thươngmại quốc tế trong quá trình hội nhập

Thứ hai, những yêu cầu và cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia,trong đó có Việt Nam Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (năm2001), Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế kháchquan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một

số nước phát triển vá các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chiphối,chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêucực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh” Như vậy, các quốc gia khôngthể đứng ngoài xu hướng toàn cầu hóa mà phải nắm bắt những cơ hộicủa nó để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế Hộinhập kinh tế quốc tế thể hiện qua việc một quốc gia tham gia vào các

tổ chức hay liên minh kinh tế quốc tế giữa hai nước, trong khu vựchay trên thế giới Sự tham gia đó được chứng nhận thông qua việc

Trang 16

quốc gia tiến hành ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đaphương và quốc gia đó phải tuân thủ những điều ước đó một cáchnghiêm túc ngay khi điều ước đó có hiệu lực.Để làm được điều này thìquốc gia thành viên phải xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợpvới quy chế của điều ước quốc tế đã ký kết Luật thuế nhập khẩu làmột trong hệ thống pháp luật quốc gia, nó là loại thuế phản ánh rõnhất tiến trình hội nhập của quốc gia đó nên khi xây dựng hệ thốngpháp luật thuế nhập khẩu thì mỗi quốc gia phải “nội luật hóa” các camkết quốc tế về thuế nhập khẩu bằng cách bổ sung, ban hành các quyđịnh mới về thuế nhập khẩu hoặc sửa đổi những quy định cũ về thuếnhập khẩu để phù hợp với các cam kết đó.

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từngày 7/11/2006 và chính thức trở thành thành viên của WTO từ này15/01/2007 Trước khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã tiến hànhcải cách hệ thống pháp luật (như Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩusửa đổi, bổ sung năm 2005 là một ví dụ) để tương thích với các quychế của WTO Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thực hiện các quy địnhpháp luật thời kỳ hậu WTO.Như vậy, những yêu cầu về hội nhập kinh

tế quốc tế và viêc thực hiện các cam kết thương mại quốc tế đã ảnhhưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật thuế nhậpkhẩu

Thứ ba, nhu cầu thu ngân sách của nhà nước

Ngân sách nhà nước được hình thành để Nhà nước thực hiệnviệc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội, đồng thời tạo ra các hàng

Trang 17

hóa, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân Thuế, trong đó có thuếnhập khẩu là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Thuế nhậpkhẩu tuy có chức năng chính là bảo hộ nền sản xuất trong nước trước

sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài nhưng đối với Việt nam - mộtnước đang phát triển thì thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọngcủa ngân sách nhà nước Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan

so với tổng thu ngân sách nhà nước từ trong nhưng năm qua đã thểhiện rõ điều đó (từ năm 2000 đến năm 2005 số thu hải quan luônchiếm hơn 20% trong tổng thu ngân sách nhà nước) Khi hội nhậpkinh tế quốc tế, Việt Nam ký kết và thực hiện các cam kết về thươngmại quốc tế, trong đó có những cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu Việccắt giảm này cũng gây ra những tác động đến nguồn thu ngân sáchnhà nước Khi thuế nhập khẩu bị cắt giảm, giá cả một số mặt hàngnhư máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài cũnggiảm theo Từ đó, những sản phẩm sản xuất trong nước cũng tăng lên

về sản lượng và giảm giá thành Việc hàng hóa trong nước tăng về sốlượng và giảm về giá thành sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùngtrong nước và làm tăng thu ngân sách nhà nước từ các loại thuế khácnhư thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…Mặt khác, khiViệt Nam thực hiện các cam kết thương mại quốc tế thì những nướcthành viên khác cũng phải cắt giảm thuế quan, điều này sẽ kích thíchcác doanh nghiệp trong nước tăng lượng hàng xuất khẩu và từ đó sẽtăng thu ngân sách từ các hoạt động xuất khẩu đó Như vậy, việc cắtgiảm thuế nhập khẩu sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanhtrong nước và tăng nguồn thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên việc

Trang 18

giảm thuế nhập khẩu cũng làm cho nguồn hàng nhập khẩu trở nên dồidào với giá thành thấp, từ đó đặt hàng hóa trong nước vào tình thếphải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa ngoại nhập Các doanh nghiệptrong nước sẽ phải tăng cường năng lực sản xuất kinh doanh, nâng caochất lượng đồng thời hạ giá thành sản phẩm nếu như không muốn bịloại ra khỏi cuộc chơi Việc cắt giảm thuế nhập khẩu cũng làm giảm đimột một nguồn thu khá quan trọng của ngân sách nhà nước và cũnggiảm đi một phần thu từ các loại thuế khác có liên quan đến nhập khẩunhư thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…Nhưvậy, viêc cắt giảm thuế nhập khẩu vừa làm giảm nguồn thu ngân sáchnhà nước từ hàng nhập khẩu nhưng đồng thời lại làm tăng nguồn thutương ứng cho ngân sách nhà nước từ các loại thuế khác Số thu ngânsách nhà nước sẽ không thay đổi nhiều nếu như Việt Nam thực hiệncác cam kết thương mại quốc tế.Tuy nhiên sẽ có sự thay đổi trong cơcấu thu ngân sách nhà nước Vì vậy, khi tiến hành xây dựng chínhsách pháp luật thuế nhập khẩu thì phải tính đến nhu cầu thu ngân sáchnhà nước để bảo đảm cho ngân sách quốc gia có được nguồn thu ổnđịnh lành mạnh.

Thứ tư, thực trạng kinh tế -xã hội của quốc gia

Pháp luật bao giờ cũng là sự phản ánh dưới hình thức pháp lýcác quan hệ xã hội, một sự phản ánh lệ thuộc vào những biến đổi xãhội Để phát huy được vai trò, tác dụng của mình trong đời sống xãhội, pháp luật luôn phản ánh đúng, đầy đủ hiện thực khách quan,những tiến trình đang diễn ra trong cuộc sống xã hội Nếu không cónhững khảo sát, đánh giá từ thực tiễn cuộc sống thì không thể có cơ sở

Trang 19

khoa học và thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện pháp luật,không phát huy được vai trò của nó trong cuộc sống

Đối với pháp luật thuế nhập khẩu có mục tiêu quan trọng là công

cụ khuyến khích hộ trợ bảo vệ nền sản xuất trong nước việc ban hànhsửa đổi, bổ sung bộ phận pháp luật này cần thiết căn cứ thực trạngphát triển của nền sản xuất trong nước, sức cạnh tranh của hàng hoánước mình trên thị trường quốc tế Trong điều kiện hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế các quốc gia phải cam kết giảm thuế quan theo lộtrình nhất định Vì vậy mỗi quốc gia cần phải nghiên cứu đánh giánhững lợi thế so sánh trong từng ngành hàng cụ thể để xác định nhữngngành hàng sản xuất nào cần được bảo hộ, mức độ bảo hộ và thời hạnbảo hộ…Đối với hàng hoá có uy tín trên trường quốc tế có khả năngcạnh tranh cao thì không cần sự bảo hộ mà lấy đó làm cơ sở cho việcđàm phán về thuế quan với các quốc gia khác Qua đó có những cơ sởcho việc đàm phán thương mại và quy định mức thuế đối với từngnhóm hàng hoá nhập khẩu trong pháp luật thuế nhập khẩu của mình

Từ thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá để phát hiện rahành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế và tácđộng cụ thể của nó đối với nền kinh tế quốc gia mình để từ đó banhành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật thuế nhập khẩunhằm bảo vệ lợi ích quốc gia mình trong khuôn khổ cho phép

Ngoài những yếu tố trên, pháp luật thuế nhập khẩu còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác như ý chí chủ quan của nhà lập pháp,trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiệnpháp luật thuế nhập khẩu hay trình độ nhận thức của người dân…

Trang 20

1.3 Những nguyên tắc và quy định của WTO về thuế quan

và những vấn đề có liên quan đến thuế quan

WTO là một tổ chức lớn, gồm nhiều thành viên với hệ thống luật

lệ khá rộng và phức tạp Trong các quy định về thuế quan ngoài hiệpđịnh chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994) còn rất nhiềuhiệp định cụ thể hoá các điều trong GATT 1994 có liên quan đến thuếquan Nhìn chung, mục tiêu của các hiệp định trong WTO đều hướngtới mục tiêu tự do hoá thương mại cạnh tranh công bằng, bình đẳngtrong thương mại…

-Tự do hoá thương mại là việc dỡ bỏ những rào cản do các nướclập nên nhằm làm cho luồng hàng hoá di chuyển từ nước này sangnước khác được thuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Nhữnghàng rào nói trên là thuế quan, giấy phép nhập khẩu, quy định về tiêuchuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu kiểm dịch, phương pháp đánhthuế …Các hàng rào nói trên đều là những đối tượng của các hiệpđịnh mà WTO đang giám sát và thực thi Trên cơ sở lý thuyết lợi thế

so sánh, lợi ích lớn nhất của tự do hoá thương mại là thúc đẩy ngàycàng nhiều nước tham gia buôn bán trao đổi hàng hoá từ đó thúc đẩytăng trưởng kinh tế Với người tiêu dùng hàng hoá lưu thông dễ dànghơn đem lại lợi ích cho họ cơ hội lựa chọn hàng hoá tốt hơn với giá rẻhơn Tuy nhiên không phải ngẫu nhiên mà các nước lại dựng lênnhững hàng rào làm ảnh hưởng đến sự lưu thông hàng hoá Lý do đểcác nước làm việc này là nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước sựcạnh tranh của hàng hoá bên ngoài (Điều này có ý nghĩa lớn vì sảnxuất trong nước suy giảm sẽ ảnh hưởng đến công ăn việc làm, ảnh

Trang 21

hưởng đến ổn định xã hội), tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước(thông qua thu thuế quan); tiết giảm ngoại tệ (chi mua hàng hoá nhậpkhẩu); bảo vệ sức khoẻ cho con người và động thực vật khỏi nhữnghàng hoá kém chất lượng hay có nguy cơ bệnh tật…Tự do hoá thươngmại ở những mức độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc mất dần các hàngrào nói trên và như thế sẽ làm ảnh hưởng đến mục đích đặt ra khi thiếtlập hàng rào

1.3.1 Các nguyên tắc chung về thuế quan và thương mại

Trong hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) cóđặt ra bốn nguyên tắc nền tảng, cụ thể gồm:

Thứ nhất, Chỉ được phép bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế

quan, không cho phép hạn chế định lượng trừ những trường hợp đặcbiệt

Mặc dù GATT chủ trương về một nền thương mại tự do toàncầu, nhưng GATT cũng công nhận rằng do trình độ phát triển của cácnước còn khác nhau và mỗi nước cũng có những mục tiêu riêng cầntheo đuổi nên GATT cho phép các nước duy trì bảo hộ chống lại sựcạnh tranh của nước ngoài Sự bảo hộ này được phép duy trì với haiđiều kiện: ở mức độ hợp lý và thể hiện thông qua thuế quan

Bảo hộ ở đây có nghĩa là bảo vệ hỗ trợ cho sản xuất trong nướcthông qua thuế quan và hàng rào phi thuế quan (Hàng rào phi thuếquan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối vớithương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bìnhđẳng như hạn ngạch, cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quyềnkinh doanh nhập khẩu, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá,

Trang 22

kiểm dịch, phương pháp xác định trị giá tính thuế hải quan; quy định

về xuất xứ hàng hoá…) Bảo hộ hợp lý sẽ giúp cho nền sản xuất trongnước có điều kiện vươn lên thích nghi dần với môi trường cạnh tranhquốc tế Nhưng nếu bảo hộ tràn lan không có điều kiện, không có thờihạn thì sẽ đem lại hiệu quả xấu cho nền kinh tế vì nó làm suy yếu môitrường cạnh tranh, dẫn đến doanh nghiệp ỷ lại vào bảo hộ của nhànước mà không chịu sự vận động trên thị trường bằng chính năng lựccủa mình

Việc bảo hộ thông qua thuế quan để bảo đảm tính minh bạch và

dễ đoán trước Thuế quan thể hiện bằng đại lượng rõ ràng là nhữngcon số, do đó người ta dễ dàng nhận thấy mức độ bảo hộ dành chomột mặt hàng, ngành hàng Thuế quan cao tức mức bảo hộ cao vì nhưvậy hàng hoá tương tự của nước ngoài khó xâm nhập thị trường.Thông qua đàm phán và lịch trình giảm thuế quan của một nước,người ta cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc dự đoán tốc độ cắt giảm thuếquan, đồng nghĩa với những thay đổi trong mức độ bảo hộ và mức độ

mở cửa thị trường Chính vì thế thuế quan chiếm vị trí quan trongtrong đàm phán thương mại Sở dĩ như vậy vì mục tiêu của đàm phánthương mại là nhằm gỡ bỏ rào cản đối với lưu thông hàng hoá giữacác nước mà thuế quan là rào cản quan trọng nhất

Chỉ bảo hộ bằng thuế quan hay nói cách khác phải thuế quan hoátức là sự lượng hoá tác dụng bảo hộ của các biện pháp phi thuế quan.WTO cho phép các nước thành viên WTO được nâng mức thuế suấtthuế quan lên để bù lại việc bỏ bảo hộ bằng các biện pháp phi thuếquan

Trang 23

Hạn chế định lượng: thể hiện dưới các hình thức cụ thể như hạnngạch, cấm, giấy phép, chỉ tiêu… là những biện pháp phi thuế quanđiển hình gây cản trở luồng di chuyển tự do của hàng hoá giữa cácnước Đây thường là những biện pháp võ đoán ít dựa trên những căn

cứ khoa học mà chủ yếu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước WTO coinhững biện pháp này làm hạn chế rõ rệt tác dụng của tự do thươngmại, đồng thời lại không thể tính toán, dự đoán được trước nên yêucầu xoá bỏ chúng Thay vào đó nhu cầu bảo hộ nếu có sẽ phải thể hiệnthành thuế quan

Các biện pháp tương tự thuế quan: Là từ chỉ các loại phí, lệ phíhoặc phụ thu áp dụng đối với hàng nhập khẩu cao quá mức cần thiết

do đó làm tăng chi phí nhập khẩu Các biện pháp này đòi hỏi ngườinhập khẩu nộp một khoản tiền nhất định nhưng đây lại không phải làtiền trả cho thuế nhập khẩu Vì thế chúng được gọi là tương tự thuếquan Các biện pháp này cũng có tác dụng bảo hộ nhất định nên đôikhi cũng được coi là một hàng rào phi thuế quan và bị yêu cầu loại bỏ

Thứ hai, Thuế quan phải giảm dần và bị ràng buộc không tăng trở lại

Ngay sau khi kết thúc đàm phán, các nước phải giảm thuế quannhưng không phải giảm ngay mức đã thoả thuận trong vòng đàm phán

mà việc giảm thuế quan thường diễn ra từ từ qua một số năm để cácngành sản xuất trong nước có thể thích nghi dần với việc giảm bảo hộqua thuế quan Các mặt hàng công nghiệp thường giảm thuế quantrong thời hạn 5 năm với mức giảm bằng nhau cho mỗi năm Các mặthàng nông sản thường được giảm thuế quan trong 6 năm

Trang 24

Sau mỗi vòng đàm phán, thuế suất mà các nước thoả thuận vớinhau được ghi vào một bản gọi là danh mục thuế quan Mỗi nước cómột bản danh mục riêng Thuế suất ghi trong bản danh mục này đượcgọi là thuế suất ràng buộc tức là sau này nước đó sẽ không được phéptăng thuế suất cao hơn mức thuế suất đã ghi trong danh mục Như vậynếu đã đưa ra danh mục thuế quan là mặt hàng đó đã bị ràng buộc,những mặt hàng không đưa vào danh mục thuế quan thì được tự dotăng mức thuế suất

Thuế suất trần là một sự nới rộng của thuế suất ràng buộc.Thông thường sau khi đàm phán, các nước phải áp dụng thuế suất đãđạt được tại đàm phán và không tăng lên quá mức này Nhưng đối vớimột mặt hàng nào đó, nước đàm phán có thể đưa ra một mức thuế caohơn mức thuế đang áp dụng gọi là mức thuế suất trần Sau này, nước

đó có thể tăng thuế quan lên đến mức thấp hơn hoặc bằng thuế thuếsuất trần mà không bị coi là vi phạm GATT Trong trường hợp này,thuế quan bị ràng buộc không phải ở mức thuế đang áp dụng mà làmức thuế suất trần Như vậy thuế suất trần có tác dụng như là một sợidây bảo hiểm cho quá trình giảm thuế quan

Về nguyên tắc sau khi đã ràng buộc thuế quan thì sẽ không đượctăng thuế suất quá mức ràng buộc Tuy nhiên có ngoại lệ, nếu mộtnước thực sự muốn tăng mức độ bảo hộ với một mặt hàng nào đó đãtrót cam kết ràng buộc ở mức thuế suất thấp, nước đó cần phải đàmphán với các nước cung cấp chủ yếu mặt hàng đó để được phép tăngthuế suất cao hơn thuế suất ràng buộc (hoặc cao hơn thuế suất trần nếumặt hàng đó có chỉ định thuế suất trần) Thông thường, nước đó phải

Trang 25

đánh đổi bằng cách chịu nhượng bộ ở một mặt hàng khác Còn trongtrường hợp khẩn cấp, khi lượng hàng nhập khẩu tăng đột biến đe doạđến sản xuất trong nước thì nước có thể tăng thuế quan quá mức ràngbuộc, nhưng chỉ sau một quá trình điều tra khách quan và đủ căn cứ

Danh mục thuế quan: đó là tập hợp tất cả các cam kết thuế quan

và những ưu đãi khác của một nước thành viên WTO sau các vòngđàm phán thương mại Theo điều II của GATT danh mục thuế quan lànhững cam kết ràng buộc có tính pháp lý

Danh mục thuế quan bao gồm mã số, mô tả hàng hoá, thuế suấtràng buộc, ngày đạt được thoả thuận ưu đãi và quyền đàm phán banđầu

Các danh mục thuế quan của vòng đàm phán Uruguay chia làmhai phần: nông nghiệp và phi nông nghiệp Cả hai phần đều có thuếsuất cơ sở và thuế suất ràng buộc, quyền đàm phán ban đầu, các loạithuế và phí khác Ngoài ra trong phần nông nghiệp còn nêu thời gianthực hiện và biện pháp tự vệ đặc biệt

Thứ ba, nguyên tắc không phân biệt đối xử bao gồm cả đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia

Tối huệ quốc có nghĩa là việc dành cho một nước những ưu đãi

thương mại không kém hơn những ưu đãi dành cho một nước thứ ba.

(Điều I, GATT)

Đãi ngộ quốc gia là việc dành cho hàng hoá nước ngoài sau khi

trả thuế hải quan , những ưu đãi không kém thuận lợi hơn hàng hoásản xuất trong nước cùng loại Quy chế này thể hiện sự đói xử công

Trang 26

bằng hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa , tạo điều kiện cạnhtranh lành mạnh giữa các nguồn hàng hoá này

Nguyên tắc không phân biệt đối xử lúc đầu chỉ áp dụng cho hànghoá và thương nhân, về sau này mở rộng ra áp dụng cho cả dịch vụ,vốn đầu tư, nhà đầu tư…

Các nước trong ASEAN dành cho nhau thuế suất thấp hơn vớithuế suất đánh vào hàng hoá của các nước ngoài ASEAN thì có phải làmột sự vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc không? Đây không phải làmột sự vi phạm mà là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc tối huệquốc (Điều XXIV của GATT) WTO công nhận các nước thuộc mộtthoả thuận khu vực có thể dành cho nhau những ưu đãi lớn hơn so với

ưu đãi dành cho các nước thành viên WTO nằm ngoài sự thoả thuậnkhu vực đó Như vậy các nước ASEAN có thể dành cho nhau khôngchỉ thuế suất ưu đãi thấp hơn mà còn có thể là tiêu chuẩn kỹ thuật ítngặt nghèo hơn

Hàng hoá xuất nhập khẩu tiểu ngạch không phải chịu các quyđịnh của GATT Điều này có nghĩa là hai nước có chung biên giới cóthể áp dụng những ưu đãi đặc biệt như bỏ thuế quan, giảm bớt thủ tụchải quan cho các hàng hoá buôn bán theo phương thức này mà không

sợ vi phạm nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc Tuy nhiên hàng hoá xuấtnhập khẩu tiểu ngạch vẫn có thể bị điều chỉnh bởi các hiệp định kháccủa WTO như các điều kiện về kiểm dịch động, thực vật, chống bánphá giá và tự vệ

1.3.2 Các quy định về xác định trị giá hải quan

Trang 27

Xác định trị giá để tính thuế hải quan là một vấn đề dễ gây mâuthuẫn giữa Nhà nước và doanh nghiệp Cơ quan hải quan thay mặt nhànước luôn muốn thu được nhiều tiền thuế cho ngân sách Trong khi đócác doanh nghiệp luôn muốn phải trả tiền thuế ở mức thấp nhất đểkhỏi tăng chi phí cho sản phẩm nhập khẩu Chính mâu thuẫn này đãtrở thành một chướng ngại cho lưu thông hàng hoá quốc tế

Mâu thuẫn thường phát sinh khi xác định tên gọi của hàng hoánhập khẩu mà chuyên môn gọi là áp mã Trong trường hợp có nhữnghàng hoá gần tương tự nhau nhưng mức thuế suất khác nhau, thì Hảiquan thường muốn chọn dòng thuế có mức thuế suất cao, trong khi đódoanh nghiệp luôn muốn chọn dòng thuế có thuế suất thấp

Việc xác định hàng hoá có tên gọi tương ứng với dòng thuế nàođôi khi là công việc vô cùng phức tạp, phải căn cứ vào thành phần,cấu tạo, hàm lượng, chất lượng công dụng của hàng hoá Trường hợpkhó khăn phải nhờ đến cơ quan giám định mới có thể xác định tên gọicủa hàng hoá

Có hai phương pháp đánh thuế đối với hàng nhập khẩu là:

- Đánh thuế theo tỷ lệ % giá trị hàng hoá hay còn gọi là thuếtheo giá trị

- Đánh thuế theo đơn vị đo lường (khối lượng, thể tích, dungtích) gọi là thuế tuyệt đối Ví dụ 8.500 USD/ 1 xe ô tô cũ nhập khẩu(không kể đến giá trị của hàng hoá)

Ngoài ra còn phương pháp thứ ba chính là sự kết hợp của haiphương pháp trên (thuế gộp) như thuế suất 30% + 8.500 USD/ Xe ô tô

cũ nhập khẩu loại từ 16- dưới 24 chỗ ngồi

Trang 28

Ngày nay hầu hết các nước đều sử dụng phương pháp đánh thuế

% hay cho phương pháp đánh thuế theo giá trị vì lý do:

Một là, đảm bảo được sự công bằng, trị giá hàng nhập khẩu càngnhiều thì thuế phải trả càng lớn;

Hai là, dễ tính toán - Tổng số hàng hoá nhập khẩu có thể đobằng nhiều đơn vị khác nhau nhưng đều có thể quy về một đơn vịchung là giá trị, do đó dễ dàng so sánh thuế suất, số tiền thuế thuđược;

Ba là, dễ thương lượng cắt giảm trong đàm phán thương mại Hiệp định trị giá hải quan WTO (gọi tắt là ACV) không yêu cầucác nước thành viên áp dụng phương pháp đánh thuế theo giá trị màchỉ đề ra phương pháp để xác định trị giá hàng hoá bị đánh thuế

ACV quy định về phương pháp xác định trị giá hàng hoá bị đánhthuế vì số thuế quan phải trả bằng thuế suất nhân với giá trị của hànghoá Như vậy số thuế quan phải trả phụ thuộc vào sự biến thiên củahai yếu tố trên Trong khi thuế suất đã công bố rõ ràng và ít thay đổithì giá trị hàng hoá lại có thể khác nhau do biến động giá trên thịtrường và đặc biệt là căn cứ vào đâu để xác định Nếu giá trị hàng hoátính cao hơn giá trị thực tế thì số thuế quan phải nộp tăng lên, tức làhàng hoá khó xâm nhập vào thị trường nội địa hơn Như vậy ý nghĩacủa việc đàm phán cắt giảm thuế quan sẽ không còn nữa Vì vậy cầnphải có quy định về phương pháp xác định giá trị hàng hoá để tínhthuế quan Đó chính là mục đích của hiệp định ACV (Hiệp định thựchiện điều VII của GATT 1994)

Trang 29

Hiệp định ACV yêu cầu cơ quan hải quan xác định trị giá hànghoá bị đánh thuế trên cơ sở giá ghi trên hợp đồng, hoá đơn (gọi là trịgiá giao dịch) Trị giá giao dịch không phải chỉ gồm giá ghi trên hợpđồng mà còn có thể bao gồm một số chi phí khác: tiền hoa hồng, môigiới, tiền đóng gói, lệ phí giấy phép, cước phí vận chuyển và bảohiểm ACV không cho phép tính các loại chi phí sau vào giá trị giaodịch: cước vận tải nội địa sau khi nhập khẩu, chi phí lắp ráp, duy tubảo hành sau khi nhập khẩu các loại thuế trả sau khi nhập khẩu

Nếu thương nhân cố tình khai giá hàng hoá thấp xuống để giảm

số thuế phải nộp ( gian lận thương mại) Đây là khó khăn lớn khi ápdụng ACV ACV cho phép hải quan từ chối chấp nhập giá hàng hoá

do thương nhân khai khi có lý do để nghi ngờ tính trung thực, đúngđắn của các chi tiết hoặc chứng từ do thương nhân xuất trình trongmột số trường hợp sau đây:

- Khi việc mua bán không thực sự diễn ra;

- Khi giá hàng hoá bị hạ thấp do mối quan hệ giữa người mua

Trang 30

cho biết lý do bằng văn bản để thương nhân có thể khiếu nại lên cấpcao hơn hoặc đến trọng tài, thanh tra

Trường hợp Hải quan bác bỏ trị giá giao dịch do thương nhânkhai và thương nhân không muốn giải thích chứng minh thì ACV cóđưa ra 5 phương pháp mang tính trung lập, khách quan để xác định giátrị giao dịch Các phương pháp này xếp theo thứ tự ưu tiên và chỉ khinào không thể áp dụng phương pháp ưu tiên cao hơn thì mới sử dụngđến phương pháp tiếp theo Bảng giá tối thiểu không áp dụng nữa

Năm phương pháp xác định trị giá giao dịch xếp theo thứ tự ưutiên là:

- Xác định theo trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt

- Xác định theo trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự;

- Khấu trừ: Trị giá giao dịch xác định bằng cách lấy giá bán củahàng hoá giống hệt hoặc tương tự trên thị trường nước nhập khẩu trừ

đi các yếu tố như thuế, chi phí vận chuyển bảo hiểm, lãi

- Cộng dồn: trị giá giao dịch xác định bằng cách cộng dồn chiphí sản xuất hàng hoá với một khoản chi phí và lãi ở mức phổ biến đốivới loại hàng hoá đó

- Suy luận: là sự áp dụng của bốn phương pháp trên một cáchlinh hoạt tức là chỉ ước lượng ở mức tương đối

1.3.3 Các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Trợ cấp là việc chính phủ dành cho doanh nghiệp những lợi ích

mà trong điều kiện bình thường doanh nghiệp không thể có Những lợiích đó có thể phát sinh từ việc Chính phủ trực tiếp cung cấp tiền (chokhông, cho vay với điều kiện ưu đãi cấp thêm vốn ); chính phủ bảo

Trang 31

lãnh trả các khoản vay; Chính phủ hoãn các khoản thuế phải thu ;Chính phủ cung cấp hoặc mua hàng hoá , dịch vụ với giá cả thuận lợicho doanh nghiệp…

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp địnhSCM) không bắt buộc các nước phải bỏ tất cả các khoản trợ cấp màchỉ cấm hoặc hạn chế những loại trợ cấp gây tác động tiêu cực đếnthương mại của nước khác

Tuy nhiên WTO cũng có sự phân loại trợ cấp thành 3 loại là :

- Trợ cấp bị cấm sử dụng (trợ cấp đỏ) gồm các hình thức trợ cấpxuất khẩu, trợ cấp để sử dụng hàng trong nước thay thế cho hàng nhậpkhẩu.Ngoài việc Chính phủ trực tiếp cấp tiền cho doanh nghiệp đểgiúp xuất khẩu, những hoạt động sau cũng thuộc phạm vi trợ cấp xuấtkhẩu:

+ Cung cấp nguyên liệu đã được hưởng trợ cấp để sản xuất hàngxuất khẩu;

+ Miễn thuế trực thu ví dụ như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

có được do xuất khẩu;

+ Hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất ra hàngxuất khẩu quá mức đã sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu;

+ Hoàn thuế quá mức đánh được khấu trừ đối với hàng xuấtkhẩu;

+ Cho vay tín dụng xuất khẩu với lãi suất thấp hơn chi phí;

- Trợ cấp được phép sử dụng nhưng có thể bị kiện (trợ cấpvàng): là những loại trợ cấp mang tính đặc trưng, không phổ biến Đốitượng nhận những trợ cấp này chỉ giới hạn trong một hoặc một số

Trang 32

doanh nghiệp hoặc một một số ngành sản xuất hoặc một khu vực địa

lý nhất định Việc sử dụng loại trợ cấp này chỉ được dừng ở mức độkhông gây tác động tiêu cực đến quyền lợi của các nước khác, nếukhông thì nước sử dụng trợ cấp này có thể bị các nước liên quan ápdụng các biện pháp như thuế đối kháng hoặc kiện ra cơ quan giảiquyết tranh chấp của WTO

Tác động tiêu cực được coi là xuất hiện khi :

+ Hàng nhập khẩu được trợ cấp gây tổn hại cho sản xuất trongnước của nước nhập khẩu: sản lượng hàng hoá sản xuất trong nước bịgiảm đáng kể, số người thất nghiệp trong ngành này tăng;

+ Làm mất giá trị các ưu đãi thuế quan đã đạt được Trong đàmphán thương mại, nước xuất khẩu và nước nhập khẩu đã đạt được sựcân bằng nhất định về thuế quan, nay do hàng được trợ cấp tràn vàonên sự cân bằng không còn nữa

+ Có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của cácnước khác: khi tổng trị giá trợ cấp vượt quá 5% giá hàng; bù lỗ, xoánợ…

- Trợ cấp được phép tự do sử dụng (trợ cấp xanh): là trợ cấpmang tính phổ cập, không phân biệt giữa các ngành hay doanh nghiệp

và dựa trên những tiêu chí khách quan, hoặc dạng trợ cấp không tínhphổ cập nhưng được tự do sử dụng như trợ cấp cho công tác nghiêncứu của doanh nghiệp hoặc để hỗ trợ đáp ứng các tiêu chuẩn môitrường hoặc để phát triển sản xuất ở các vùng lạc hậu hoặc trợ cấp chocác doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 33

Nước nhập khẩu không được tự do áp dụng thuế đối kháng khi

có dấu hiệu hàng nhập khẩu được trợ cấp Mà khi có dấu hiệu trợ cấp,nước nhập khẩu phải tiến hành điều tra theo một quy trình nêu tronghiệp định SCM và khi cơ quan điều tra đưa ra kết luận khoa học,khách quan về sự tồn tại của trợ cấp thì nước nhập khẩu mới được ápdụng thuế đối kháng

Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu do chính phủ nước nàythành lập hoặc chỉ định Khi áp dụng thuế đối kháng không có mức

cố định mà thuế suất này tuỳ thuộc vào mức độ tổn hại đối với sảnxuất trong nước của nước nhập khẩu Kết quả điều tra cho thấy nếugiá trị trợ cấp nhỏ hơn 1% của giá trị hàng hoá được trợ cấp hoặclượng hàng hoá được trợ cấp không đáng kể thì chấm dứt điều trahoặc bác đơn khiếu lại (điều khoản tối thiểu)

1.3.4.Các quy định về phá giá và thuế chống bán phá giá

Phá giá là hành động của bản thân doanh nghiệp Việc bán sản

phẩm, hàng hoá dưới mức giá thành chỉ có thể thực hiện dựa trên tiềmlực tài chính của chính doanh nghiệp đó Nếu không thì họ sẽ bị phásản Cũng giống như trợ cấp, bán phá giá là việc doanh nghiệp bán sảnphẩm với giá thấp đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Nhưngtrong trợ cấp doanh nghiệp chỉ có thể bán hàng với giá thấp khi có trợcấp từ chính phủ

Trong trường hợp cần đánh thuế chống bán phá giá thì cũng cầnđiều điều tra tương tự như khi áp dụng thuế đối kháng Để có thể ápdụng thuế chống bán phá giá thì trước hết phải có đơn khiếu nại vềtình trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá, trên cơ sở đó chính phủ

Trang 34

nước nhập khẩu mới được tiến hành điều tra kết quả điều tra phải chothấy rõ:

- Số lượng nhập khẩu mặt hàng bị coi là bán phá giá hoặc trợ cấptăng lên đáng kể xét về trị tuyệt đối hoặc tương đối

- Giá của mặt hàng nhập khẩu thấp hơn mặt hàng tương tự sảnxuất trong nước, kéo giá xuống hoặc làm cho giá mặt hàng tương tựkhông thể tăng lên

- Và do đó gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến ngành sảnxuất tương ứng của nước nhập khẩu

Chủ thể đứng ra khiếu nại về tình trạng hàng nhập khẩu phá giáhoặc có trợ cấp là Bộ quản lý ngành hàng, hoặc đại diện một nhómcác nhà sản xuất có sản lượng đáng kể của mặt hàng đó Khi doanhnghiệp đứng ra khiếu nại thì phải tập hợp được hơn 50% số đơn vị sảnxuất trong ngành ủng hộ và sản lượng của các đơn vị này phải chiếm ítnhất 25% sản lượng toàn ngành

Trước khi nhận được đủ đơn khiếu nại để có thể quyết định tiếnhành điều tra thì Chính phủ nước nhập khẩu không được công bố vềviệc sẽ tiến hành điều tra để tránh xáo trộn trên thị trường Nhưngnước nhập khẩu cần phải thông báo cho nước xuất khẩu biết về việcnhận được đơn khiếu nại Sau khi quyết định tiến hành điều tra, chínhphủ nước nhập khẩu phải công bố về việc điều tra và cho nước xuấtkhẩu được biết chi tiết về các đơn khiếu nại

1.3.5 Quy định về các biện pháp tự vệ

Trong thương mại, tự vệ có nghĩa là một nước có thể hạn chếnhập khẩu trong những trường hợp khẩn cấp, khi lượng hàng nhập

Trang 35

khẩu tăng đột biến do việc giảm thuế quan và đe doạ hoặc gây tổn hạinghiêm trọng cho sản xuất trong nước Vấn đề tự vệ được nêu tại điềuXIX của GATT 1994 và chi tiết hoá trong hiệp định tự vệ

Khi nhận thấy lượng hàng nhập khẩu tăng lên thì biện pháp tự vệkhông áp dụng ngay mà chỉ có thể áp dụng sau khi đã tiến hành cácbước sau:

-Có khiếu nại về việc tăng nhập khẩu gây ra tổn hại nghiêmtrọng cho sản xuất trong nước

- Trên cơ sở khiếu nại, một cơ quan do chính phủ chỉ định sẽ tiếnhành điều tra

- Kết quả điều tra phải cho thấy mối liên hệ nhân quả giữa tăngnhập khẩu với sự tổn hại nghiêm trọng gây ra cho ngành sản xuấttương ứng

Nếu ngành sản xuất trong nước bị tổn hại không gắn với việctăng nhập khẩu ví dụ như do sức mua giảm hoặc nếu việc tăng nhậpkhẩu không phải vì lý do giảm thuế quan mà do hàng nhập khẩu ápdụng công nghệ sản xuất mới nên giá thành giảm đi thì không được ápdụng các biện pháp tự vệ Bởi vì những trường hợp trên không gắnvới việc thực hiện những nghĩa vụ của GATT nên không được ápdụng những điều khoản của hiệp định tự vệ

Có hai loại biện pháp tự vệ có thể được áp dụng: đó là tăng thuếquan và các biện pháp hạn chế định lượng Việc tăng thuế quan có thểtăng quá mức thuế suất đã ràng buộc

Sự khác nhau giữa biện pháp tự vệ tạm thời và chính thức

Trang 36

Chỉ được áp dụng sau khi đãhoàn tất tiến hành điều tra

Khả năng

áp dụng

chỉ được áp dụng dướihình thức tăng thuế quan

có thể áp dụng dưới hình thứctăng thuế quan, hạn chế địnhlượng hoặc cả hai

Nếu biện pháp tự vệ chính thức được áp dụng và trước đó có ápdụng biện pháp tự vệ tạm thời thì thời hạn của biện pháp tự vệ chínhthức được tính từ ngày áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời

Khi hết thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ chính thức thì có thểđượ gia hạn nhưng phải kèm theo một số điều kiện:

- Phải có yêu cầu của ngành sản xuất trong nước

- Ngành sản xuất trong nước phải chứng minh đã thực hiện việcđiều chỉnh để tăng cường năng lực cạnh tranh nhưng vẫn bị tổn hại donhập khẩu gia tăng

Trang 37

- Không áp dụng mức độ tự vệ cao hơn mức độ của biên pháp tự

Hiệp định tự vệ chỉ cho phép sử dụng biện pháp tự vệ ở mức độvừa đủ khắc phục thiệt hại, chuyển đổi cơ cấu nhằm nâng cao sứccạnh tranh cho sản xuất trong nước Do vậy nếu sử dụng biện pháphạn chế định lượng thì biện pháp này không được làm giảm mức nhậpkhẩu xuống dưới mức trung bình của 3 năm gần nhất trước khi ápdụng biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ không áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từmột nước đang phát triển nếu tỷ trọng nhập khẩu mặt hàng đó chiếmkhông quá 3%; và tổng lượng nhập khẩu mặt hàng đó có xuất xứ từ tất

cả các nước đang phát triển không quá 9%

1.3.6 Các quy định về quy chế xuất xứ

Trang 38

Nếu thương mại quốc tế diễn ra trong một hoàn cảnh lý tưởngkhông có phân biệt đối xử không có hạn chế định lượng, không có trợcấp, phá giá…thì vấn đề xác định xuất xứ hàng hoá sẽ không phải đặt

ra Sở dĩ phải xác định xuất xứ tức là xác định nước được coi là nơisản xuất ra hàng hoá là vì:

- Để xem hàng hoá đó có được hưởng ưu đãi thương mại haykhông ? một số nhóm nước hoặc tổ chức khu vực ký với nhau các thoảthuận về ưu đãi thuế quan chẳng hạn Để tránh các nước ngoài nhómlợi dụng ưu đãi này thì cần phải xác định để chắn chắn là hàng hoáxuất xứ từ nước được hưởng ưu đãi

- Để hạn chế định lượng nhập khẩu từ một số nước nhất định ví

dụ các nước được áp dụng hạn ngạch với hàng dệt may và để biếtđược một nước đã xuất khẩu vào thị trường nước khác hết lượng hạnngạch đã cho chưa thì phải xác định xuất xứ

- Để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Để cóthể áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp thì cần phảixác định được đâu là hàng hoá xuất xứ từ nước có hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh;

- Để phục vụ cho mục đích thống kê

Quy tắc xuất xứ là tập hợp các quy tắc được một nước áp dụng

để xác định xuất xứ của hàng xuất- nhập khẩu

Nếu toàn bộ quá trình sản xuất ra một loại hàng hoá từ khai thácnguyên liệu, gia công, chế biến thành phẩm đều diễn ra tại một nướcthì nước xuất xứ chính là nước sản xuất ra hàng hoá (Xuất xứ thuầntuý)

Trang 39

Nền kinh tế hiện đại với đặc trưng là phân công lao động rõ rệt

và dịch chuyển đầu tư từ nước này sang nước khác đã làm cho hànghoá ngày càng mang tính quốc tế hoá Một mặt hàng có thể trải nhiềucông đoạn chế biến hoặc bao gồm cấu kiện sản xuất tại nhiều nướckhác nhau, nhưng việc xác định xuất xứ chỉ cho phép ta chọn mộtnước để coi là nơi xuất xứ Do vậy nước được chọn không hoàn toàn

là nước sản xuất ra mặt hàng đó, nên chỉ được coi là nơi sản xuất ramặt hàng đó

Có hai phương pháp chính để xác định xuất xứ hàng hoá:

Một là, theo tỷ lệ % Nếu giá trị gia công, chế biến tại một trong

các nước tham gia sản xuất nên mặt hàng đạt một tỷ lệ nhất định thìhàng hoá được coi là xuất xứ từ nước đó ASEAN lấy 40% làm tỷ lệxác định xuất xứ để được hưởng ưu đãi của hiệp định CEPT

Hai là, theo chuyển dịch dòng thuế Nếu sau khi gia công chế

biến tại một nước mà tính chất hàng hoá thay đổi đến mức có thể phânloại thành một dòng thuế khác so với trước khi gia công, chế biến thìhàng hoá đó có thể coi là xuất xứ tại nước đó

Với hiệp định về quy chế xuất xứ hàng hoá ( hiệp định ROO),WTO chính thức đưa ra vấn đề xuất xứ hàng hoá vào phạm vi điềuchỉnh của mình Hiệp định ROO yêu cầu các nước hài hoà hoá cácquy tắc xác định hàng hoá dựa trên những quy tắc mẫu do một uỷ ban

ký thuật đưa ra Do việc soạn thảo các quy tắc mẫu đòi hỏi phải cóthời gian nên hiệp định ROO cũng đề những nguyên tắc các nước phảituân thủ trong thời gian quá độ và sau khi kết thúc thời kỳ quá độ

Trang 40

Những yêu cầu của thời kỳ quá độ: Trong thời gian trước khi cácquy tắc mẫu được soạn thảo xong, các nước phải đảm bảo:

- Các quy tắc để xác định xuất xứ phải rõ ràng rành mạch;

- Quy chế xuất xứ không được dùng làm công cụ để theo đuổicác mục đích thương mại, không được làm ảnh hưởng tới thương mạiquốc tế

- Tuân thủ nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc giakhi xác định xuất xứ;

Các yêu cầu đặt ra cho quy chế xuất xứ sau khi hài hoà:

Sau khi hài hoà , quy chế xuất xứ của mỗi nước phải đảm bảo:

- Được áp dụng trong tất cả các trường hợp cần thiết phải xácđịnh xuất xứ trên cơ sở không phân biệt đối xử;

- Tuân thủ nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc giakhi xác định xuất xứ;

- Mang tính khách quan , dễ hiểu và dễ dự đoán;

- Được thực hiện một cách nhất quán thống nhất

- Dựa trên các tiêu chuẩn thuận;

- Chỉ công nhận xuất xứ thuần tuý hoặc xuất xứ tại nước cuốicùng có sự thay đổi cơ bản tính chất hàng hoá

Phương pháp xác định xuất xứ theo tỷ lệ % vẫn có thể được ápdụng như một phương pháp bổ sung khi không xác định được khi nàohàng hoá có sự thay đổi cơ bản về tính chất

Hiệp định ROO không áp dụng để xác định xuất xứ hàng hàngđược hưởng ưu đãi thương mại mà nó chỉ áp dụng để xác định xuất xứcủa hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử; hàng hoá

Ngày đăng: 20/09/2016, 14:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w