1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định

73 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 277 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định

Trang 1

Lời mở đầu

Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường có tác độngmạnh mẽ tới đời sống con người và xã hội Sự ra đời và phát triểncủa NHTM cả về quy mô số lượng, chất lượng các dịch vụ Cho đếnnay ngành ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nềnkinh tế với sự hình thành của hệ thống ngân hàng hai cấp: NHTW

và NHTM Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường phát triển đã thúcđẩy quá trình Doanh nghiệp và phát triển của tư tưởng và tác phongkinh doanh mới trong các ngân hàng được thể hiện bằng sự có mặtcủa tất cả các chi nhánh ngân hàng ngoài nước và ngân hàng liêndoanh

Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt độngquan trọng nhất, chiếm tỷ trọng quan trọng nhất trong tổng tài sản,tạo thu nhập tiền lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiềurủi ro nhất Vì vậy đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng luôn lànhiệm vụ và mục tiêu hàng đầu của các NHTM Để đưa ra đượcmột quyết định tài trợ, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng, ướclượng khả năng rủi ro và sinh lợi dựa trên quy trình phân tích tíndụng Phân tích tài chính là một trong những nội dung đó…

Phân tích tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việcđánh giá sực mạnh tài chính, khả năng tự chủ tài chính trong kinhdoanh, nhu cầu tài trợ và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng.Nhưng hoạt động này trong các NHTM vẫn còn nhiều bất cập dẫnđến hiệu quả cho vay chưa cao Chính vì lẽ đó mà việc nghiên cứutìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác này gópphần quyết định tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Qua qúa

trình thực tập tại NHCT thành phố Nam Định:”Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi

Trang 2

nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định” Cho

chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình với mong muốn áp dụngnhững kiến thức đã học đưa ra một số giải pháp góp phần nâng caochất lượng phân tích tài chính Doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng

Trong phạm vi bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót,

em mong được sự đóng góp của thầy Em xin chân thành cảm ơnthầy

Trang 3

Chương 1

Lý luận chung về tín dụng ngân hàng và hoạt động phân tích tài

chính đối với doanh nghiệp vay vốn 1.1/Tổng quan về tín dụng ngân hàng

1.1.1/Khái niệm về ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọngnhất của nền kinh tế.Nó có lịch sử hình thành và phát triển gắn liềnvới lịch sử hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hoá.Quátrình phát triển của nền kinh tế là điều liện và đồi hỏi sự phát triểncủa ngân hàng.Và sự phát triển của ngân hàng đã trở thành động lựcthúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Nhu cầu phát triển của nềnkinh tế đã thúc đẩy hoạt động của ngân hàng không ngưng phát triển

từ mức thô sơ cho đến đa dạng và phức tạp như ngày nay.Tuỳ từngquốc gia,lãnh thổ,dân tộc khác nhau mà luật pháp và tập quán cũngkhác nhau.Từ đó dẫn đến một cách nhìn nhận và quan niệm về ngânhàng thương mại là khác nhau.Riêng ở Việt Nam,theo luật các tổchức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:’Ngânhàng thương mại là tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong lĩnhvực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhậntiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch

vụ thanh toán”.Nhưng dù theo cách hiểu nào thì ngân hàng thươngmại là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ với hai nội dunh chính là nhận tiền gửi và cho vay.Đây là điểmđặc trưng để phân biệt ngân hàng thương mại với các loại hình ngânhàng và tổ chức tín dụng khác

Trang 4

Hoạt động của ngân hàng bao gồm ba nhiệm vụ chính: Huyđộng vốn, cho vay kinh doanh, môi giới trung gian ( thanh toán,đạilý,tư vấn…)Ba loại nhiệm vụ này có mối quan hệ mật thiết, tácđộng hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy tín cho ngân hàng.Do

đố cho vay thế nào để có hiệu quả nhất đối với người đi vay và ngânhàng cho vay là một trong những vấn đề cơ bản nhất của ngân hànghiện nay.Đó luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi ngân hàng

1.1.2/Tín dụng ngân hàng.

Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh Credium có nghĩa làmột sự tin tưởng tín nhiẹm lẫn nhau,hay nói cách khác đó là lòngtin

Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụgn là quan hệ vaymượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi

Theo Mác,tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượnggiá trị dư thừa từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thờigian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng gíatrị ban đầu.Theo quan điểm này,phạm trù tín dụng có ba nội dungchủ yếu đó là:tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị,tínhthời hạn và tính hoàn trả

Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàngthương mại để tạo ra lợi nhuận.Kinh tế càng phát triển,lực lượngcho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh,loại hình vàcách thức cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng.Hiện nay ở nhữngnước đang phát triển,khi một ngân hàng được thành lập và đi vaohoạt động,mối quan tâm chính và thường xuyên cảu nó sẽ là cho aivay và sẽ đầu tư vao đâu,cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớnhơn cho vay dài hạn.Ngược lại,ở những nước đã phát triển,vấn đềđặt ra ở những nước này là lợi tức có cao không và an toàn không

Trang 5

Tóm lại, tín dụng ngân hàng có thể hiểu cơ bản là việc ngânhàng tin tưởng nhường quyền sử dụng vốn cho khách hàng trongmột khoảng thời gian nhất định và lết thúc thời gian đó,ngân hàng

sẽ thu về cả vốn và lãi

Đặc trưng của tín dụng ngân hàng

- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòngtin.ở đây,người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay cóhiệu quả sau một thời gian nhất định và do đố có khả năng trả đượcnợ

- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn

- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trịtren nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi

Vai trò của tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng thu hút tầp trung mọi nguồn vốn tiền tệtạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế,dân cư để đầu tư cho quátrình mở rộng sản xuất,tăng trưởng kinh tế,đáp ứng đâyd đủ nhu cầu

về vốn ,thúc đẩy lưu thông hàng hoá,tăng tốc độ chu g chuyển vốncho xã hội,góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng,tạo điều kiệnthuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.Thông qua tín dụngngân hàng co thể kiểm soát được khối lượng tiền cugn ứng tronglưu thông,thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ.Mặtkhác,tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cườngchế độ hạch toán kinh doanh Đồng thời tín dụng ngân hàng còn tạođiều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài,là cầu nối choviệc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan hệkinh tế với các nước trên thế giới

1.1.3/Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả hoặc khôngtrả đúng hạn, hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng

Trang 6

Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất,có quy

mô lớn nhất của ngân hàng thương mại-hạot động tín dụng.Khi thựchiện một hoạt động tài trợ cụ thể,ngan hàng cố gắng phân tích cácyếu tố của người vay sao cho dộ an toàn là cao nhất.Và nhìn chungnhân hàng chỉ cho vay khi thấy an toàn.Tuy nhiên rủi ro tín dụng làkhôgn thể tránh khỏi.là khách quan.Nhiều quan điểm cho răng rủi rotín dụng là bạn đwongf trong kinh doanh,có thể đè phòng hạn chếchứ không thể loại trừ

Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Những nguyên nhân bất khả kháng:

Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay,làm

họ mất khả năng thanh toán cho ngân hàng như:thiên tai,chiến tranhhoặc những thay đổi ở tầm vĩ mô vượt qua tầm kiểm soát của ngườivay

Những thay đổi này thường xuyên xảy ra,tác động liên tục tớingười vay tạo điều kiẹn thuận lợi hoặc kho khăn cho người vay

Nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay:

Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đềkinh doanh,yếu kém trong quản lý,chủ định lừa đảo cán bộ ngânhàng…là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.Rất nhiều người vaysẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao.Đẻ đạt đượcmục đích của mình,họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngânhàng như cung cấp thông tin sai,mua chuộc…Nhiều người vay đãkhông tính toán kỹ khoặc không có khả năng tính toán kỹ những bấttrắc có thể xảy ra,không có khả năng thích ứng và khắc phục khókhăn trong kinh doanh.Trong trường hợp còn lại,người vay kinhdoanh có lãi song vẫn không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.Họchây ì với hi vọng sẽ quỵt được nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâucàng tốt

Trang 7

Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:

Chất lượng cán bộ kém,không đủ trình độ đánh giá kháchhàng hoặc đánh giá không tốt,cố tình làm sai…là một trong nhưngnguyên nhân làm rủi ro tín dụng.Nhân viên ngân hàng phải tiếp cậnvới nhiều ngành nghề,nhiều vùng,thậm chí nhiều quốc gia.Để chovay tốt,họ cần phải am hiểu khách hàng,lĩnh vực mà khách hàngkinh doanh,môi trường mà khách hàng sống.Họ phải có khả năng

dự báo các vấn đề liên quan đến người vay…Như vậy họ cần phảiđựơc đào tạo và tự đào tạo kỹ lưỡng,liên tục và toàn diện.Khi nhânviên tín dụng cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ trìng độ đểhiểu lỹ lưỡng,rủi ro tín dụng luôn rình rập họ.Sống trong môi trường

“tiền bạc”,nhiều nhân viên ngân hàng đã không tránh khỏi cám dỗcủa đồng tiền.Họ tiếp tay cho khách hàng rút ruột ngân hàng.Nhưvậy chất lượng nhân viên ngân hàng bao gốm trình độ và đọ đứcnghề nghiệp không đảm bảo là nguyên nhân gây rủi ro tín dụng

Việc cho vay đối với các ngân hàng thương mại luôn phảiđược thực hiện theo một quy trình chặt chẽ với những bước phântích tỷ mỉ về các mặt tài chính,phi tài chính của khách hàng,do đóphân tích tài chính của khách hàng có vai trò rất quan trọng

1.2/ Phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại NHTM.

1.2.1/Vai trò của côn tác phân tích tài chính khi cho vay của NHTM.

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm.Phương pháp

và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp,nhằm đánh giá tình hìnhtài chính và tiềm lực của doanh nghiệp,đánh giá rủi ro,mức độ chấtlượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.Bất kỳ một doanhnghiệp nào khi được thành lập và đi vào hoạt động đều phải thành

Trang 8

lập sổ sách kế toán và các loại sổ khác.Những sổ sách này phản ánhtình hình hoạt động mọi mặt của doanh nghiệp.Vấn đề là người sửdụng sổ sách đó phải khai thác thế nào,ở góc độ nào,khía cạnh nào

để phục vụ cho hoạt động,công tác ,cương vị của mỗi người.Tức là

có phân tích tài chính doanh nghiệp mới thấy hết đước vai trò,yưnghĩa của nó

Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâmcủa nhiều người khác nhau như các nhà quản trị doanh nghiệp,cácchủ ngân hàng,các nhà đầu tư,các nhà cung cấp vật tư ,hànghoá,dịch vụ…Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tinkhác nhau.Do vay,họ có thể tập trung vào việc xem xét những khíacạnh khác nhau của tình hình tài chính doanh nghiệp.Cụ thể:

Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp:Cần thiết phải có thôngtin trung thực về tình hình tài chính doanh nghiệp để điều ahnhfhoạt động sản xuất kinh doanh,trong việc lập kế hoạch sản xuất,dựkiến dầu tư dài hạn,chiến lược sản phẩm và thị trường,lựa chọnphương án sản xuất,nên huy động vốn nào để kinh doanh đảm bảo

có lãi và thanh toán đựơc nợ

Đối với các chủ ngân hàng:mối quan tâm của họ hướng chủyếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.Vì vậy,một mặt họ chú ýđến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền

để so sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán củadoanh nghiệp.Mặt khác,các nhà ngân hàng còn chú ý khả năng sinhlời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo hoàn trả cáckhoản cho vay dài hạn,chú ý đến viẹc đảm bảo cơ cấu tài chính antòan trong doanh nghiệp đề phòng rủi ro…Bên cạnh đó, phân tíchtài chính doanh nghiệp còn giúp ngân hàng xây dựng kế hoạch chovay,tren cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chínhcảu mỗi doanh nghiệp, Ngân hàng có thể đánh giá nhu cầu vốn ngắn

Trang 9

hạn,trung và dài hạn…Từ đó có chiến lược huy động vốn phù hợp,tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất.Đồng thời,ngân hàng có thểbiết được xu hướng phát triển của từng giai đoạn,từng lĩnh vực kinhtế,lạp kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có khả năngphát triển mạnh trong tương lai.Xây dựng kế hoạch tín dụng phùhợp sẽ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả cho vay,đem lại lợi nhuậncao cũng như góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế cảuNhà nước.

Đối với các nhà đầu tư:qua thông tin phân tích tình hình tàichính giúp các nhà đầu tư nắm được nhũng yếu tố như sự rủiro,thời gian hoàn vốn,mức sinh lời,khả năng thanh toán vốn…Vìvậy họ rất cần thông tin về điều kiện tài chính,tình hình hoạtđộng,về kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của daonhnghiệp

Đối với các nhà cung cấp vật tư hàng hoá dịch vu:Họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hànghay không.họ cần thiết phải nắm thông tin về khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai…

2.2./ Nội dung của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn.

2.2.1/Thu thập thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp

Thông tin là nguồn quan trọng có ảnh hưởnh lớn đến quá trìnhphân tích tài chính của khách hàng.Bởi muốn đưa ra một quyết địnhtài trợ thì ngân hàng phải biết rõ về năng lực tài chính của kháchhàng.Các nguồn thông tinmà ngân hàng thu thập dược bao gồm cácthông tin nội bộ thông tin bên ngoài, thông tin do khách hàng cungcấp và do cán bộ tín dụng tự điều tra, bao gồm:

Trang 10

Thông qua hồ sơ vay vốn của khách hàng : đó là điều kiện bắtbuộc với mọi khách hàng khi muốn vay vốn của ngân hàng Vớikhách hàng là những doanh nghiệp hồ sơ sẽ bao gồm các báo cáohành chính như bản cân đối kế toán(Mẫu số B01 _ DN),báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh(Mẫu số B02 _ DN),báo cáo lưu chuyểntiền tệ (Mẫu số (B03 –DN),thuyết minh báo cáo tài chính(Mẫu sốB09 _ DN) và bảng kế hoạch tài chính trong tương lai.Các báo cáonày cho thấy số liệu trong nhiều năm hoạt động,vì vậy giúp ngânhàng có cơ sở dự đoán về tình hình khách hàng trong tương laigần.Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ước tính nhu cầuvốn,trong đó có nhu cầu tài trợ,đánh giá kảh năng sinh lời và kảhnăng trả nợ của khách hàng,các thiệt hại có thể xảy ra nếu kháchhàng không trả hoặc không trả đầy đủ…

Với khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh,căn cứ trên các mẫubiểu sổ sách heo quy định ngân hàng hươngd ẫn khách hàng lập báocáo kết quả sản xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán của họ.Vớikhách hàng là cá nhân ,hồ sơ sẽ gồm những tài kiệu chứng minh tàisản cá nhân,lương và những thu nhập khác

Phỏng vấn trực tiếp:Đây là yếu tố rất quan trọng,bao gồm việcgặp gỡ trực tiếp giữa ngân hàng và người vay vốn:thăm quan nhàxưởng, văn phòng, nói chuyện với giám đốc…qua đó giúp cho cán

bộ tín dụng có một nhân xết dánh giá nào đó về tính thật thà và khảnăng của người vay

Tìm kiếm thông tin qua các trung gian:nhiều cơ quan quảnlý,các bạn hàng của khách hàng,các cơ quan kế toán,cơ quan thuế,hải quan,trung tâm tín dụng của NHNN – CIC và các phương tiệnđài báo,thông tin đại chúng….Qua các trugn gian,ngân hàng phântích được người vay qua các mối quan hệ của họ,cho thấy uy tín.tìngtrạng rủi ro,phát triển hay suy thoái

Trang 11

2.2.2/ Các phương pháp phân tích tài chính:

Phương pháp phân tich tài chính bao gồm một hệ thống cáccông cụ và biện pháp nhằm tiếp cận,nghiên cứu các sự kiện,hiệnthượng,các mối kiên hệ ben trong và bên ngoài,các luồng dịchchuyển vàbiến đổi tài chính,các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chitiết nhằn đánh giá tài chính doanh nghiệp.Hiện nay các ngân hàngthương mại thường sử dụng các phương pháp phân tích tài chínhsau:

Phương pháp so sánh:

Một chỉ tiêu tài chính đơn thuần chưa thể hiện đầy đủ mức độđạt đựoc của doanh nghiệp như thế nào,chỉ thông qua so sánh ta mớithấy sự tăng trưởng,phát triển hay suy thoái cảu chỉ tiêu đó.Để thựchiện phương pháp so sánh,cần phải thống nhất các điều kiện so sánh

về không gian,thời gian,nội dung,đơn vị tính và tuỳ theo mức độ sosánh để xác định gốc so sánh là kỳ báo cáo hay kỳ kế hoạch,số tuyệtđối,số tương đối hay số bình quân.Nội dung so sánh gồm:

-So sánh số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấyđược xu hướng thay đổi vè tài chính của khách hàng,qua dó đánhgiá sự tăng trưởng hay đi xuống trong hoạt động của khách hàng

-So sánh số liệu của khách hàng với số liệu trung bình củangành,và với số liệu của khách hàng khác để đánh giá tình hình tàichính của khách hàng là tốt hay xấu

-So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉtiêu trong tổng thể

-So sánh theo chiều ngang cảu nhiều kỳ để thấy được sự biếnđổi cả về số tuyệt đối và tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua cácniên dộ kế toán liên tiếp

Phương pháp phân tổ:

Trang 12

Một hiện tượng kinh tế do nhiều bộ phận cấu thành.Nừu chỉnghiên cứu hiện tượng kinh tế qua chỉ tiêu tổng hợp thì không thểhiểu sâu sắc hiện tượng kinh tế đó.Do vậy,cần phải có những chỉtiêu chi tiết để nghiên cứu từng bộ phận,từng mặt cụ thể của hoạtđộng sản xuất kinh doanh,hay nói cách khác phải sử dụng phươngpháp phân tổ.Phân tổ là phân chia sự kiện nghiên cứu,các kết quảkinh tế thành nhiều bộ phận,nhiều tổ theo những tiêu thức nhất địnhbao gồm:

-Phân chia theo thời gian(tháng,quý,năm):có tác dụng giúpnhà phân tích đánh giá chính xác kết quả kinh doanh,từ đo có thểđưa ra các biện pháp cụ thể trong từng khoảng thời gian cho phùhợp

-Chi tiêt theo địa điểm và phạm vi kinh doanh:việc phân tíchchi tiết này nhằm đánh giá kết quả kinh doanh cảu từng bộphận,phạm vi và địa điểm khác nhau,từ đó khai thác các mặtmạnh,khắc phục những mặt yếu của từng bộ phận và phạm vi hoạtđộng khác nhau

-Chi tiết theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu phân tích,việcnày giúp ta dánh giá chính xác các bộ phận cấu thành của chi tiêuphân tích

Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến kết quả kinh tế(phương pháp loại trừ):

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cónhững nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh cảu doanhnghiệp:việc nhận thức được các nhân tố vá xác định được mức độảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu kinh tế là vấn đề kinh tế có ýnghĩa hết sức quan trọng trong công tác phân tích.Để xác định đượcmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình thực hiện các chỉtiêu kinh tế có thể sử dụng phương pháp sau:phương pháp thay thế

Trang 13

liên hoàn,phương pháp số chênh lệch,phương pháp hiệu số phầntrăm,phương pháp cân đối,phương pháp chỉ số…

Phương pháp thay thế liên hoàn:được sử dụng để xác địnhmức dộ ảnh hưởng cảu từng nhân tố đến kết quả kinh tế khi cácnhân tố ảnh hưởng này có quan hệ tích hoặc thương số với chỉ tiêukinh tế

Phương pháp số chênh lệch:xét về mặt toán học,phương pháp

số chênh lệch là hình thức rút gọn của phương pháp thay số liênhoàn bằng cách đặt thừa số chung

Phương pháp cân đối:cân dối là sự cân bằng giữa các yếu tốvới quá trình kinh doanh.Phương pháp này được sử dụng nhiềutrong công tác lập kế hoạch và trong phân tích kinh tế để nghiên cứucác mối liên hệ cân đối trong quá trình kinh doanh.Trên cơ sở đóxác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tác động

Ngoài các phương pháp trên,trong phân tích hoạt động kinhdoanh ở các doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp số tỷlệ.Phương pháp này dựa trên các chuẩn mực của các tỷ lệ tàichính.Sự biến đổi của các tỷ lệ phản ánh sự biến đổi cảu các đạilưọng tài chính.Vì vậy thông qua phân tích tỷ lệ để xác định và sosánh các định mức hoặc các ngưỡng làm cơ sở đánh giá tình hình,sosánh các tỷ lệ của khách hàng đã tính toán với các tỷ số thamchiếu,phương pháp này thường được phối hợp với phương pháp sósánh

2.2.3/ Nội dung công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại NHTM.

2.2.3.1/Các thông tin được sử dụng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn.

Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tàichính của đơn vị tại những thời điểm khác nhau,kết quả hoạt động

Trang 14

kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhấtđịnh.Đồng thời được giải trình,giúp cho các đối tượng sử thôngtintài chính nhận biết được thực trạng tài chính,tình hình sản xuất kinhdoanh của đơn vị để ra các quyết định phù hợp.

- Bảng cân đối kế toán:

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp,mô tảthực trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nàođó.Kết cấu của một bảng được chia làm hai phần:phần tài sản phảnánh toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền

sở hữu và sử dụng cảu doanh nghiệp.Bên nguồn vốn phản ánhnguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểmlập báo cáo

Bảng cân đối tài sản là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúpcác nhà phân tích đánh giá được tổng quát tình hình tài chính,khảnăng thanh toán,cơ cấu vốn và trình độ sử dụng vốn của doanhnghiệp

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp chobiết tình hình tìa chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp tại những thời kỳ nhất định.Nó cung cấp các thông tin tổnghợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về sử dụngvốn,lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.Đồng thời nó cũng giúp nhà phân tích so sánh đượcdoanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng,dịch vụ với tổngchi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanhnghiệp.Ngoài ra,báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biếttình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước của Doanh nghiệpđó

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Trang 15

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là váo cáo tài chính tổng hợp phảnánh việc hình thành và sử dụng tiền páht sinh trong kỳ báo cáo củadoanh nghiệp.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin giúp người

sử dụng dánh giá khả năng tạo tiền và khả năng thanh toán củadoanh nghiệp;phân tích mối quan hệ giữa lợi tức ròng và lưu chuyểntiền tệ ròng,dự đoán trong tương lai lượng tiền mang lại từ các hoạtđộng của doanh nghiệp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm ba phần:

Lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư

Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính

Có hai phương pháp lưu chuyển tiền tệ: Phương pháp trực tiếp

và phương pháp gián tiếp, mỗi phương pháp có những ưu điểmriêng

- Thuyết minh báo cáo tài chính:

Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp cácthông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thốngbáo cáo tài chính,đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trongbáo cáo tài chính chưa được trình bày,giải thích rõ ràng, cụ thể nhưcác thông tin về đặn điểm hoạt động cảu doanh nghiệp,chế độ kếtoán áp dụng,tình hình và lý do biến động một số tài sản và nguồnvốn quan trọng…

2.2.3.2./Nội dung công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn

Khi doanh nghiệp vay vốn,điều mà ngân hàng quan tâm nhất

là khả năng thanh toán và trả được nợ của DN vay vốn.Do đó khiphân tích tài chính,ngân hàng qua tâm nhiều hơn tới việc đánh giárủi ro thanh toán của doanh nghiệp.Tức là phân tích các chỉ tiêu về

Trang 16

khả năng thanh toán,cơ cấu nợ,báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng nhưtrạng thái tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá rủi ro trongtương lai.Do đó,ngân hàng đặc biệt quan tâm tới việc phân tích kháiquát một số chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng là trong báocáo kết quả kinh doanh.

2.2.3.2.1/Phân tích các chỉ tiêu tài chính

Mục tiêu của phân tích này là xác định,phân tích mối liên hệ

và đặc điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh,đồng thời

so sanh chúng qua một số niên độ kế toán liên tiếp và với số liệutrung bình của ngành(nếu có) với DN khác.Từ đó mà đáng giá đượcmột phần xu hướng phát triển giai đoạn tiếp theo của doanh nghiệp

có thể giúp ngân hàng tránh được những rủi ro không có khả năngthanh toán của doanh nghiệp do xu hướng hoạt động kinh doanhkhông tốt của doanh nghiệp

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh ngiệp

Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh được phần nào mức dộ tínnhiệmhay sự sẵn sàng chi trả cảu doanh nghiệp trong việc thực hiệncác nghĩa vụ nợ và kảh năng tài chính của nó.Một doanh nghiệp cólịch sử thanh toán lành mạnh.sòng phẳng sẽ an toàn hơn một doanhnghiệp luôn có nợ khó đòi hay quá hạn.Nếu có nợ khó đòi hay quáhạn thi nghuyên nhân khách quan hay chủ quan,bất kảh kháng haykhông

Trang 17

Hệ số thanh toán nhanh

Vốn bằng tiền + các khoản phải thu

Hệ số thanh toán nhanh =

Nợ phải trả

Hệ số thanh toán nhanh đo lường khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng việc chuyển đổi cácTSLĐ,không kể hàng tồn kho,thể hiện khả năng về tiền mặt và cácloại tài sản có thể chuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán cho các

Trang 18

khoản nợ đến hạn.Tỷ lệ này cho biết một đồng nợ ngắn hạn ngânhàng được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng TSLĐ ròng,cho nên tỷ lệnày càng cao càng tốt.Nhưng nếu quá cao cũng không tốt,thể hiệnlượng tiền quá nhiều,gây hiện tượng sử dụng vốn không hiệu quả Vốn bằng tiền

Hệ số thanh toán tức thời =

Nợ phải trả

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay tức thì củadoanh nghiệp bằng nguồn vốn bằng tiền,không bị hi phối bởi thờigian chuyển đổi của hàng hoá tồn kho và các khoản phải thu.Về mặt

lý thuyết,hệ số này lớn hơn 0,5 là dấu hiệu tốt.Nếu quá lớn tức làvốn bằng tiền của doanh nghiệp để lại quá lớn,chi phí cho việc lưutrữ,ghi chép, kiểm đếm, phân loại khá lớn, mặt khác lại không sinhlợi cho nên cũng không phải là càng lớn càng tốt.Cũng như vậy với

hệ số thanh toán ngắn hạn và hệ số thanh toánnhanh,không hẳn làcàng cao càng tốt,chỉ vừa hợp lý sao cho tương ứng với các khoản

nợ ngắn hạn để không gây ra hiện tương dư thừa nguồn lực,hiệu quảTSLĐ kém hay TSLĐ quay vòng kém là không sinhh lợi

- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính:

Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn tự có(VTC) và vốn đivay.Nguồn vốn cấu thành hai loại vốn này xác định sự ổn định tàichính của doanh nghiệp.Thường thì trong hoạt động kinh doanh,cácdoanh nghiệp đều muốn sử dụng VTC nhỏ nhất bởi vì:khi sử dụngvốn vay,doanh nghiệp sẽ được hưởng một khoản tiết kiệm nhờthuế.Mặt káhc nếu doanh nghiệp chỉ góp một phần vốn vaytronghoạt động kinh doanh thì rủi ro sẽ do người vay gánh chịu làchủ yếu.Trong khi đó doanh nghiệp nắm phần lợi rõ rệt,doanhnghiệp chỉ cần bỏ ra một số vốn nhỏ nhưng lại được quyền sử dụngmột lượngt ài sản lớn để kinh doanh mà không phải chia sẻ quyền

Trang 19

kiểm soát.Đặc biẹt khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đangphát triển,lãi thu được trên tiền vay lớn hơn lãi suất tièn vay,lợinhuận dành cho chủ da oanh nghiệp tăng gấp bội.Ngược lại đối vớingười cho vay thì rủi ro rất lớn.,nếu hoạt động kinh doanh thua lỗthì họ sẽ là người gánh chịu tổn thất nặng nề nhất.Vì vậy khi chovay ngân hàng cũng cần quan tâm đến cơ cấu vốn cua doanh nghiệpxem vốn chủ sỏ hữu chiếm bao nhiêu,khả năng thanh toán lãi vayđến mức nào.

Trang 20

cảu con nợ.Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ góp mộtphần nhỏ trên tổng số vốn,thì rủi ro kinh doanh chủ yếu chuyểnsang cho chủ nợ gánh chịu,nhưng bằng cách tăng vốn thông qua vaynợ,các chủ nợ vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành doanhnghiệp.Tuy nhiên vấn đề giữa vốn vay và vốn góp với cơ cấu nhưthế nào còn rất nhiều phức tạp,nó còn ảnh hưởng đến quyền lợi vànghĩa vụ của mỗi bên tuỳ từng thời kì và dối với từng doanh nghiệp.

Khả năng thanh toán lãi vay

Trang 21

Lợi nhuận trước thuế + lãi vayKhả năng thanh toán lãi vay = -

Lãivay

Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng tamuốn biết doanh nghiệp sẵn sàng trả lãi đến mức nào.Cụ thể hơnchúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đếnmức nào, có thể đem lại lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vayhay không

Đây là chỉ tiêu được ngân hàng quan tâm như là một chỉ tiêukhả năng thanh toán lãi vay bằng kết ủa hoạt động kinh doanh.Nừulãi vay mà không trả được thì gốc càng khó trả hơn

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động:

Vòng quay của các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình

Trang 22

Vòng quay các Doanh thu thuần về bán hàng và cungcấp dịch vụ

khoản phải thu = -

và kỳ thu tiền bình quân Các khoản phải thu bình quân Các khoản phải thu bình quân x Số ngàytrong kỳ

So với kỳ trước,hệ số vòng quay các khoản phải thu giảm hoặcthời gian bán chịu cho khách hàng dài hơn, chứng tỏ tốc độ thu hồicác khoản nợ của doanh nghiệp chậm hơn, làm tăng vốn ứ đọngtrong khâu thanh toán, giảm hiệu quả sử dụng vốn

Vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay hàngtồn kho:

Trang 23

Số vòng quay HTK là một tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp

sử dụng HTK cảu mình có hiệu quả như thế nào.Hệ số này cao haythấp còn phụ thuộc đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp.Nói chung, vòng quay HTK cao thì việc kinh doanh thườngđược đánh giá là tốt.So với kỳ trước,vòng quay HTK giảm thì thờigian của một vòng quay hàng tồn kho sẽ tăng chứng tỏHTK luânchuyển chậm, vốn ứ đọng nhiều hơn, kéo theo giá thành cao, mẫu

mã không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

_Nhóm tỷ số về khả năng sinh lợi:

Nhóm chỉ số này phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuấtkinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp

Trang 24

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu(ROS):

Lợi nhuận sau thuế

ROS = - x 100

Doanh thu

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng LNST trong doanh thu củadoanh nghiệp.Tỷ số này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lợi củahoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt

Doanh lợi VCSH(ROE):

Lợi nhuận trước thuế

ROE = - x 100

VCSH bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của VCSH và đượccác nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tưvào doanh nghiệp

Doanh lợi tài sản (ROA):

Lợi nhuận sau thuế

ROA = - x 100

Tổng tài sản bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một trăm đồng tài sản đưa vào sảnxuất kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.Trong điềukiện bình thường,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợicủa tài sản càng tốt

Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận:

Lợi nhuận sau thuế

Thu nhập cổ phần = -

Số lượng cổ phiếu thường

Lợi nhuận đem chia

Cổ tức = -

Trang 25

Số lượng cổ phiếu thường

Cổ tức Lãi đem chia

Thu nhập cổ phần = - =

Thu nhập cổ phiếu Lãi sau thuế

Riêng nhóm chỉ tiêu này dành riêng cho công ty cổ phần.Nó chobiết tình hìn phân phối lợi nhuận (kết quả cuối cùng của hoạt độngkinh doanh) có phù hợp hay không đối với doanh nghiệp trong tìnhtrạng hiện nay,nếu không phù hợp sẽ gây ra ảnh hưởng gì không tốtdối với hoạt động kinh doanh cảu doanh nghiệp.Về phía các cổđông,đây là những chỉ tiêu rất đáng chú ý và nó ảnh hưởng đếnquyền lợi riêng của họ

2.2.3.2.2/Phân tích rủi ro kinh doanh

Phân tích rủi ro kinh doanh đặc biệt quan trọng khi ngân hàngcho doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn.Trong trường hợpnày,ngân hàng dã cùng doanh nghiệp gánh chịu rủi ro trong mộtthời gian dài nên việc làm này là rất cần thiết

- Phân tích điểm hoà vốn:

Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó mức doanh thu vừa đủ trangtrải mọi phí tổn.Phân tích điểm hoà vốn sẽ cung cấp những thông tincần thiết về sản phẩm tiêu thụ,doanh thu cần đạt được khi biết sảnlượng và doanh thu hoà vốn, chỉ ra ngưỡng doanh nghiệp không bị

lỗ nhằm đạt được lợi nhuận mong muốn

Trang 26

Thời gian hoà vốn = - x 12 tháng

-Đòn bẩy hoạt động kinh doanh:

Phương thức điểm hoà vốn cũng chưa thấy hết được tầm quantrọng của sự thay đổi daonh số bán dói với lợi nhuận của doanhnghiệp.Vì vậy,đòn bẩy hoạt động kinh doanh sẽ cho ta biết mức độchi phí cố định mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanhcủa nó,mà chi phí thì ảnh hưởnh tới lợi nhuận.Mức độ đònbẩy(DOL) là chỉ sự thay đổi theo tỷ lệ phần trăm cảu thu nhập trướclãi và thuế (EBIT) do sự thay đổi 1% doanh số bán.Nếu chi phí cốđịnh trong tổng chi phí càng cao thì cũng có nghĩa là mức độ đònbẩy hoạt động của doanh nghiệp càng cao và khi các nhân tố kháckhông đổi thì một thay đổi nhỏ trong số lượng bán hàng sẽ dẫn đếnmột sự thay đổi trong thu nhập trước thuế và trả lãi vay

Tỷ lệ phần trăm thay đổi của EBIT Q(P-V)DOL = - = -

Tỷ lệ phần trăm thay đổi của doanh số bán Q(P-V)-F

Trang 27

cảm với sự thay đổi của doanh số bán.Bất cứ một lý do nào về chínhtrị,kinh tế hay thị hiếu…có thể làm lợi nhuận trước thuế và lãi giảmmạnh.Do đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng,cho nênngân hàng vẫn thận trọng khi cho doanh nghịêp vay vốn.

2.2.3.2.3/Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Bằng việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ,ngân hàng cothể dự báo,ước tính lượng tièn lưu chuyển trong tương lai,đánh giáchất lượng thu nhậo của doanh nghiệp,dánh giá khả năng doanhnghiệp duy trì một mức độ sản xuất kinh doanh nhất định,đánh giá

độ linh động tài chính và thanh khoản của doanh nghiệp.Nếu trong

kỳ báo cáo,chủ doanh nghiệp tăng các khoản phải trả và nợ vayngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn kinh doanh thì sẽ là gánh nặnglưu chuyển tiền tẹ trong kỳ tới.Ngược lại,nếu hàng tồn kho kém chátlượng,luân chuỷên chậm thì tình trạng thanh khoản của doanhnghịep trong kỳ tới sẽ gặp khó khăn,khả năng thanh toán nợ đến hạnkhó,do dó ngân hàng có thể không cho vay hoặc không cho vaythêm

Sức mạnh tài chính cuả một doanh nghiệp được đánh giá bằngkhả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh chứ không phải từ hoạtđộng đầu tư hay hoạt động tài chính,bởi vì;

- Lưu chuyển tiên tệ thuần từ hoạt động đầu tư > 0 thể hiệnđầu tư của doanh nghiệp bị thu hẹp

- Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động tài chính > 0 thể hiệnlượng cung ứng từ bên ngoài ra tăng

Trên cơ sở các thông tin lưu chuyển tiền tệ từ doanh nghiệp,các ngân hàng có thể phát hiện được hiện tượng kinh doanh vượtquá khả năng vốn khi tiền đi vào từ hoạt động kinh doanh không đủ

bù đắp sự gia tăng tồn kho và các khoản phải thu, kết quả là lưungân từ hoạt động kinh doanh < 0.Tức là tình hình tài chính đang

Trang 28

xấu,doanh nghiệp phải lệ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài,tìnhhình thanh khoản của doanh nghiệp rất khó khăn.

Ngược lại,lưu chuyển tiền tệ ròng > 0 và đang tăng,ngân hàngthấy rằng oanh nghiệp không thể huy đọng đủ vốn trong nội bộ đểtrả nợ gốc và lãi vay.Tình hình vẫn khó khăn hơn khi doanh nghiệpvẫn có nhu cầu mở rộng sản xuất.Một doanh nghiệp đang trong thời

kỳ hưng thịnh,phát triển ,sự gia tăng đầu tư vào tài sản ẽ sử dụngphàn lớn số tiền mà lẽ ra được dùng để trả nợ vay.Những doanhnghiệp ấy cần được nhận tài trợ từ bên ngoài,trường hợp này ngânhàng nên đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghịêp

2.3/Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn.

Chất lượng phân tích tài chính một doanh nghịêp được hiểu làtính chính xác của những đánh giá về tình hình tài chính của mộtdoanh nghiệp về rủi ro,mức độ và chất lượng hoạt động của doanhnghiệp và sự sát xao của các dự báo tài chính của doanh nghiệp.Cónhiều nhân tố ảnh hương đến hoạt động phân tích tài chính doanhnghiệp,mỗi nhân tố có mức độ tác động mạnh yếu khác nhau theonhững chiều hướng khác nhau nhưung tổng hợp lại thì có tác độngrất lớn tới chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp

2.3.1/Nhân tố chủ quan.

- Nhân tố con người ( Cán bộ tín dụng ngân hàng):

Đó là trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nhận thức, đạo đứcnghề nghiệp, kinh nghiệm của cán bộ phân tích trong suốt quá trìnhđánh giá tài chính doanh nghiệp.Mỗi cán bộ đều có kinh nghiệmthực tế,trình độ nghiệp vụ,nhận thức và hiểu biết khác nhau,do đóngoài việc đánh giá phân tích tài chính doanh nghiệp theo các bướcquy định chung của luật thì có độ nhạy bén,sắc sảo khácnhau.Những thế hệ đi trước có kinh nghiệm thực tế rất nhiều nhưng

Trang 29

trì trệ,bảo thủ,trình độ nghiệp vụ nếu không được bổ sung, cập nhậtthường xuyên thì sẽ không theo kịp tốc độ phát triển, cách thức hiệntại.Thế hệ trẻ mặc dù kiến thức, trình độ được cập nhật mới nhưngnóng vội, thiếu kinh nghiệm thực tế.Chưa kể tới đạo đức nghềnghiệp, tính cách của mỗi cá nhân, tất cả những vấn đề trên đều ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp.

- Chính sách tín dụng của ngân hàng:

Thông qua các văn bản về quy trình nghiệp vụ mà ngân hàng

đề ra trong phân tích tín dụng, chính sách tín dụng của ngân hàngtrong từng thời kỳ:mở rộng hay thu hẹp tín dụng.Trong thời kỳ ngânhàng thu hẹp tín dụng,nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp cóthể kỹ hơn,phức tạp hơn,khó khăn hơn.Và ngược lại, thời kỳ Ngânhàng mở rộng tín dụng thì quy trình,điều kiện tín dụng nói chung vàđánh giá phân tích tài chính có thể thông thoáng hơn,tất nhiênkhông sai phạm một khâu nào trong quá trình phân tích đánh giá đó

2.3.2/Nhân tố khách quan.

- Bản thân doanh nghiệp vay vốn:

Các doanh nghiệp vay vốn là những loại hình doanh nghiệpkhác nhau, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh khác nhau, quy mô hoạtđộng khác nhau…đều ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phân tíchcủa ngân hàng

+ Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh:

Với những ngành nghề káhc nhau thì đặc trưng của từngngành đó là khác nhau,cho nên đối với các chỉ tiêu tài chính thì mỗingành cũng có những chuẩn mực khác nhau.Do đó,không thể ápdụng chuẩn mức của ngành này cho ngành khác để phân tích.Chẳnghạn,đối với doanh nghiệp sản xuất,thì các chỉ tiêu về khả năng hoạtđộng của TSCĐ sẽ được đề cao.Trong khi đó,các doanh nghiệp hoạtđộng trong kĩnh vực dịch vụ thương mại thì các chỉ tiêu về hiệu quả

Trang 30

sử dụng VLĐ sẽ được quan tâm hơn hoạt động trong kĩnh vực dịch

vụ thương mại thì các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VLĐ sẽ đượcquan tâm hơn

+ Loại hình doanh nghiệp:

Với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì mức độ phức tạpcủa các báo cáo tài chính là khác nhau,do đó sẽ gây khó dễ cho cán

bộ tín dụng.Mặt khác,trong bản thân mỗi loại hình doanhnghịêp,,các doanh nghiêo khác nhau cũng có quy mô lớn nhỏ khácnhau,do đó các báo cáo tài chính cũng có mức độ phức tạp khácnhau.Với những doanh nghịêp số liệu ít phức tạp, cán bộ tín dụngcàng cần thiết phải sử dụng hết số liệu,tìm mối liên quan và lời giạrithích giữa các chỉ tiêu.,với doanh nghiệp có báo cáo tài chính nhiềuthôgn s ố phức tạp thì điều quan trọng hơn là bóc tách được nhữngchỉ tiêu quan trọng,tìm được mối liên hệ giữa chúng và từ đó nêubật được tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp

+ Thời hạn của khoản vay mà doanh nghiệp vay vốn đưa ra:Tuỳ ttừng thời hạn của khoản vay mà ngân hàng sẽ chú trọngđến các khía cạnh khác nhau cảu tình hình tài chính doanhnghiệp.Chẳng hạn,với các khoản cho vay ngắn hạn,các chỉ tiêu vềkhả năng thanh toán,cơ cấu vốn cũng như các nguồn có thể đáp ứngcho việc trả nợ trong ngắn hạn sẽ dược ngân hàng quan tâm hơn,vì

nó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của daonh nghiệp.Trong khiđó,với các khoản cho vay trung và dài hạn,thì ngân hàng lại đề caocác chỉ tiêu về kảh năng sinh lợi và hiệu quả hoạt động cảu doanhnghiệp ,vì trong dài hạn chính lợi nhuận và sự vững mạnh vè tàichính mời là yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ củadoanh nghiệp

+ Hình thức bảo đảm khoản vay:

Trang 31

Những khoản vay được đảm bảo bằng những hình thức chắcchắn thì một phần công việc thẩm định,đánh giá sẽ nhẹ hơn ở một

số nội dungnhất định.Còn nếu vay không có đảm bảo thì phải tuânthủ một số quy định rất chặt chẽ.Giả sử những khoản vay không cóthế chấp bằng tài sản của doanh nghiệp thì cần phải phân tích kỹ giảtrị,khả năng chuyển đổi của tài sản thế chấp nói riêng cũng như củatừng tài sản doang nghiẹp sở hữu

- Độ chính xác của các báo cáo tài chính:

Đây là một nhân tố đóng vai trò quyết định độ chính xác củanội dung phân tích tài chính vì toàn bộ việc phân tích tài chính đượcthực hiện căn cứ vào các số liệu trong các báo cáo này.Các báo cáotài chính không trung thực sẽ làm cho việc phân tích tài chính khôngchính xác với thực tế hiện có dẫn đến những quyết định sai lầm.Dođó,việc kiểm tra lại độ chính xác lôgíc, phù hợp trong báo cáo tàichính là hết sức cần thiết, công sức của người cán bộ không lãngphí

- Ngoài ra các nhân tố khác như công nghệ tin học, môi trườngkinh tế chính trị xã hôi và luật pháp cũng gây ra những ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.Viẹcứng dụng công nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính toán được chínhxác hơn,không phức tạp ,gây lẫn lộn không đáng có, tiết kiệm thờigian và công sức.Thông qua hẹ thống máy tính,ngân hàng có thể lưutrữ, cập nhật những thông tin mới nhất và cần thiết một cách nhanhchóng

Các văn bản pháp luật,quy định cũng buộc côngtác phântích,đánh giá phải tuân thủ các bước,các chuẩn mực cảu toàn ngành

và của từng ngành,của Ngân hàng,chính những yếu tố này lại tạo racác thông tin phản hồi của các doanh nghiệp

Trang 32

và sự hỗ trợ về mọi mặt của Ban lãnh đạo ngân hàng Công Thươngtỉnh, ngân hàng Công Thương Việt Nam, đến nay ngân hàng CôngThương thành phố Nam Định đã phát triển cả về quy mô và chấtlượng hoạt động.

Với đà phát triển của đất nước nói chung và của ngành ngânhàng nói riêng, đến ngày 15/07/2006 chi nhánh ngân hàng CôngThương thành phố Nam Định được nâng cấp thành chi nhánh cấp Itrực thuộc ngân hàng Công Thương Việt Nam, đánh dấu một bướcphát triển vượt bậc của chi nhánh, để có được điều này, phải kể đến

sự nỗ lực của toàn bộ tập thể cán bộ nhân viên của chi nhánh, cùngvới bộ máy lãnh đạo chi nhánh, sự ủng hộ của ngân hàng tỉnh vàngân hàng Công Thương Việt Nam

Đó là nét khái quát chung nhất về chi nhánh ngân hàng CôngThương thành phố Nam Định Sau đây là mô hình tổ chức cụ thể

Trang 33

của chi nhánh và tình hình hoạt động của chi nhánh trong thời gianvừa qua:

Chi nhánh có khoảng 70 CBNV làm việc với các chức năngnhiệm vụ khác nhau

Trang 34

Về cơ cấu tổ chức của ngân hàng bao gồm 9 phòng ban như

sau:

Trang 35

Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHCT TP Nam Định:

Phòng khách hàng doanh nghiệp

Phòng khách hàng cá nhân Phòng kế toán

Phòng hành chính- nhân sự Ban Giám đốc Phòng tài trợ thương mại

Phòng vi tínhPhòng giao dịch

Phòng tiền tệ kho quỹ

Điểm và quỹ tiết kiệm

Mỗi phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ cụ thể theo quyđịnh của NHCTVN kết hợp với hoạt động của chi nhánh Với môhình tổ chức phù hợp, đội ngũ CBCNV có trình độ ý thức nghềnghiệp cao cùng với sự chỉ đạo đúng hướng có hiệu quả, chi nhánhđóng góp kết quả đưa tỷ lệ đạt các chỉ tiêu tăng trưởng cơ bản nămsau cao hơn năm trước:

Có thể khái quát sự phát triển của ngân hàng qua bảng sau:

Phòng khách hàng doanh nghiệp

Trang 36

Bảng 1: Tỷ lệ chỉ tiêu tăng trưởng cơ bản từ năm 2005:

Đơn vị tính: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm

2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

TH

(+/-)

%

TH

(+/-)

%

TH

(+/-)

%

TH

(+/-)

%

TH

(+/)

105

142

117

186

131

232

120

333

146

2.Tổng

dư nợ

cho vay

52

124

86

165

105

122

118

112

170

137

3.Tỷ lệ

nợ quá

hạn(%)

0,7

%

0,2

%

0,02

%

0,007%

0

*/ Cụ thể về công tác tiếp thị:

Chi nhánh đã tăng cường mở rộng hoạt động tiếp thị, tuyêntruyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng của cácphường xung quanh nơi chi nhánh đóng trụ sở Tập trung chỉ đạobằng các biện pháp tích cực để thu hút các nguồn vốn lớn, rẻ ở cácđơn vị tổ chức kinh tế trong và ngoài địa bàn, góp phần tăng trưởngnguồn vốn để NHCT Việt Nam điều hoà các chi nhánh cho các chinhánh khác đầu tư thực hiện chỉ tiêu kế hoạc tập chung toàn ngành.Bên cạnh việc tập trung thu hút các nguồn vốn lớn ở các doanhnghiệp, Chi nhánh đã chú trọng cả việc thu hút vốn nhàn rỗi từ tầnglớp dân cư bằng cách đa dạng hoá các sản phẩm tiết kiệm, tổ chứckhuyến mại tặng quà cho khách hàng có sổ gửi tiết kiệm lớn

Ngày đăng: 20/09/2016, 13:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh – Học viện ngân hàng 2004 Khác
2. Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng – Học viện ngân hàng 2002 Khác
3. TS Lưu Thị Hương, Giáo trình tài chính Doanh nghiệp – NXB Giáo dục 2002 Khác
4. TS Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại – NXB Giáo dục 2005 Khác
5. TS Trần Ngọc Thơ, Tài chính Doanh nghiệp hiện đại – NXB thống kê 2003 Khác
6. Các văn bản pháp luật liên quan Khác
7. Các tài liệu khác tại chi nhánh NHCT thành phố Nam Định Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Tỷ lệ chỉ tiêu tăng trưởng cơ bản từ năm 2001- 2001-2005: - Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định
Bảng 1 Tỷ lệ chỉ tiêu tăng trưởng cơ bản từ năm 2001- 2001-2005: (Trang 36)
Bảng 4: Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi của công ty Chỉ số        Tỷ lệ Điểm   ban - Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định
Bảng 4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi của công ty Chỉ số Tỷ lệ Điểm ban (Trang 44)
Bảng 5:Quy mô hoạt động của công ty - Nâng cao chất lượng phân tích tài chính đối với Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Nam Định
Bảng 5 Quy mô hoạt động của công ty (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w