Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt
Trang 1Lời nói đầu
Năm 1986 nước ta thực hiện dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nềnkinh tế bao cấp chủ yếu chỉ tồn tại 2 thành phần đó là kinh tế quốcdoanh và kinh tế tập thể sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước đã cho phép tồn tại nhiều thành phần kinh tế Đây làmột bước ngoặt lịch sử, một sự lựa chọn đúng đắn góp phần làmthay đổi đất nước trong những năm qua Đặc biệt trong những nămgần đây với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế việc gọi vốn đầu tưnước ngoài vào Việt nam làm cho sự tồn tại, đứng vững và pháttriển của các doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào việc quản lýcủa chính chủ doanh nghiệp
Cơ chế thị trường là một cơ chế điều tiết nền kinh tế dựa trênviệc phát huy tối đa năng lực của từng cá nhân, từng tập thể sự thoảmãn và điều tiết thị trường phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường.Các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trong toàn bộ quá trìnhsản xuất kinh doanh của mình lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi,doanh nghiệp phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt, sự điều tiết củathị trường thông qua cơ chế giá cả Những quy luật đó của nền kinh
tế đã buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải tìm tòi các chiếnlược kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất.Vấn đề đặt ra là : Sản xuấtcái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?
Cũng chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải phát huy tối đanăng lực của mình tận dụng triệt để nguồn tài sản hiện có để tìmđược một vị trí cho mình trên thị trường Chính sự cạnh tranh gaygắt đó đã đặt các nhà chủ doanh nghiệp đứng trước một thách thức
to lớn và quan trọng đó là làm thế nào để có một nguồn tài chínhlành mạnh làm yếu tố ban đầu, làm xuất phát điểm cho bước tiếncủa doanh nghiệp mình trong việc tạo ra một vị trí tốt, một chỗ đứngtrong thị trường và đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trịdoanh nghiệp
Để đạt được mục đích đó thì doanh nghiệp phải nắm đượcmình có những lợi thế gì? mình đang đứng ở vị trí nào trong môi
Trang 2trường cạnh tranh, khả năng và tình hình tài chính của doanh nghiệpmình ra sao, hiệu quả kinh doanh như thế nào?
Vì vậy Doanh nghiệp không có cách nào tốt hơn là phải phântích tài chính doanh nghiệp để đánh giá hoạt động tài chính thôngqua các chỉ tiêu và căn cứ khoa học
Trong thời gian thực tập tại Công ty Giấy Lửa Việt xuất phát
từ tình thực tế của Công ty em nhận thức được tầm quan trọng củaviệc phân tích tài chính doanh nghiệp bởi trong thực tế doanhnghiệp nhiều năm qua làm ăn chưa có hiệu quả mà chủ doanhnghiệp chưa có biện pháp hữu hiệu nào cho việc chuẩn bị để Công
ty có một sức bật thoát ra khỏi những khó khăn hiện tại.Vậy nên em
xin nghiên cứu về đề tài: “Hoàn thiện phân tích tài chính doanh
nghiệp Công ty Giấy Lửa Việt”
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là để thông qua cácchỉ tiêu đánh giá thực trạng tình hình tài chính của công ty và tìm ranhững bất hợp lý trong sử dụng vốn để từ đó có biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời giantới
Chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp ở công
ty Giấy Lửa Việt
Chương III: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp của công ty Giấy Lửa Việt
Trang 3Chương I Một số vấn đề lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân
tích tài chính doanh nghiệp 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp và các mối quan hệ của
tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và các mối quan hệ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ giá trị giữa doanhnghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế.Trong nền kinh tế thịtrường, tài chính doanh nghiệp có những mối quan hệ sau:
* Với nhà nước:
-Doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luậttrong hoạt động nộp thuế cho ngân sách Nhà nước đồng thời doanhnghiệp được sự bảo trợ của Nhà nước cho những hoạt động hợppháp của mình như môi trường kinh doanh, kể cả việc Nhà nước tàitrợ vốn cho doanh nghiệp dưới các hình thức khác nhau
* Với thị trường tài chính:
Tài chính doanh nghiệp giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nhấtcác nguồn vốn từ thị trường này như huy động từ việc phát hành tráiphiếu công ty, cổ phiếu hoặc vay vốn để đáp ứng cho các nhu cầuvốn của doanh nghiệp đồng thời doanhv nghiệp cũng có thể tìmkiếm lợi nhuận từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng củadoanh nghiệp bằng việc cho vay hoặc đầu tư vào các chứng từ cógiá
* Với các thị trường khác:
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau trên thị trường hàng hoá Tại đây các doanh nghiệp tiến hànhđầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng tìm kiếm nguồnnhân lực, thông qua thị trường doanh nghiệp có thể xác định đượcnhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết để cung ứng từ đó doanhnghiệp lập kế hoạch đầu tư, kế hoạch sản xuất nhằm thoả mãn tốt
Trang 4nhất nhu cầu thị trường Nó là mối quan hệ chính giữa các doanhnghiệp với thị trường hàng hoá, sức lao động, tài chính , thông tin,dịch vụ trong việc cung ứng các yếu tố đầu vào của quá trình sảnxuất và những yếu tố đầu ra của quá trình lưu thông hàng hoá
Sự vận động của các nguồn tài chính doanh nghiệp được hoà nhậpvào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường Đó là sự vận độngchuyển hoá từ các nguồn tài chính thành các quỹ hoặc vốn kinhdoanh của doanh nghiệp và ngược lại Sự chuyển hoá qua lại đượcđiều chỉnh bằng hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thức giátrị để tạo lập hoặc sử dụng tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
* Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp:
Đó là mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữangười lao động, cổ đông và nhà quản lý, giữa quyền sở hữu vốn vàquyền sử dụng vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông quahàng loạt các chính sách của doanh nghiệp như chính sách phânphối thu nhập chính sách đầu đầu tư, chính sách cơ cấu vốn
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp làlàm tăng giá trị của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu này doanhnghiệp cần tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà bản chất làviệc điều hành các luồng tiền và ra của doanh nghiệp Hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể tiến hành nếu thiếu
đi vai trò của tài chính doanh nghiệp đó là:
Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò tìm kiếm và huy động các nguồntài chính đáp ứng cho yêu cầu hoạt động và phát triển của doanhnghiệp Vốn luôn luôn là vấn đề khó khăn nhất khó đáp ứng nhấtcủa mối doanh nghiệp.tài chính doanh gnhiệp cung cấp cho doanhnghiệp các giải pháp lữa chọn để đảm bảo khai thác nguồn vốn vớichi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh
Trang 5nghiệp.Trong quá trình sử dụng vốn tài chính doanh nghiệp có vaitrò giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nhất như việc đầu tư vàolĩnh vực nào cơ cấu như thế nào để đem lại lợi nhuận cao nhất Tàichính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc kích thích tiêudùng tăng năng suất lao động thông qua các công cụ như đầu tư, lãisuất, tiền lương tiền thưởng
Thông qua hoạt động tài chính doanh nghiệp có được các thông tincần thiết để điều hành hoạt động đồng thời kịp thời điều chỉnh quátrình kinh doanh để hạn chế các nhược điểm phát huy được thếmạnh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi với thị trường cungứng hàng hoá dịch vụ đầu vào với thị trường phân phối tiêu thụhàng hoà đầu ra và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp các quan hệ tài chính của doanh nghiệpphát sinh từ chính quá trình trao đổi đó Tài chính doanh nghiệp làcông cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhucầu đầu tư, phát triển của doanh nghiệp
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trongnhững nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trongkinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Đây cũng là quátrình xem xét, kiểm tra đối chiếu và so sánh về các số liệu tài chínhhiện hành với quá khứ, thu thập, xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp Phân tích hoạt động tàichính doanh nghiệp là hoạt động mà người thực hiện sử dụng cácphương pháp để thu thập các thông tin kế toán và các thông tin kháctrong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính của
Trang 6doanh nghiệp phục vụ cho các mục tiêu cụ thể theo yêu cầu củangười phân tích.
1.2.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có mục tiêu đi đến những dự đoán tài chính,những dự đoán kết quả tương lai của công ty trên cơ sở đó mà đưa
ra các quyết điịnh phù hợp Trong cơ chế thị trường các doanhnghiệp được tự do kinh doanh trong giới hạn pháp luật cho phép
Do đó rất nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động và đầu chú trọngđến tình hình tài chính: chủ sở hữu của các doanh nghiệp, các cổđông, nhà đầu tư, nhà tài trợ, nhà cung ứng, khách hàng, các cơquan nhà nước, các công nhân viên…Mỗi đối tượng quan tâm đếntình hình tài chính dưới các góc độ khác nhau:
- Với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Với
tư cách là nhà quản lýđiều hành trực tiếp doanh nghiệp nhà quản lý
là người hiểu rõ nhất tình hình tài chính cũng như những hoạt độngkhác của doanh nghiệp do đó họ có mục tiêu là tạo ra những chu kỳđều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua , việcthực hiện cân bằng tài chính , khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán, rủi ro tài chính trong doanh nghiệp.Mối quan tâm hàng đầucủa họ là tìm kiếm lợi nhuận, khả năng phát triển, tối đa hoá giá trịdoanh nghiệp Ngoài ra các nhà quản trị còn quan tâm đến nhiềumục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sảnphẩm và uy tín, mở rộng thị trường, đóng phúc lợi xã hội, bảo vệmôi trường Do đó họ quan tâm trước hết đến lĩnh vực đầu tư và tàitrợ, đó chính là lượng thông tin doanh nghiệp cần để đánh giá vàcân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoántình hình tài chính nhằm đưa ra quyết định, kế hoạch đúng đắn
Phân tích tài chính đối với các nhà quản lý là một công cụ để kiểmtra kiểm soát hoạt động quản lý trong doanh nghiệp.Phân tích tàichính làm nổi bật điều quan trọng của dự đoán tài chính mà dựđoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ không chỉ
Trang 7chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung của doanhnghiệp.
- Với các nhà đầu tư khác: Họ là những nhà giao vốn cho
doanh nghiệp nên mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khảnăng sinh lời và khả năng thanh toán hiện tại và tương lai của doanhnghiệp Đối với họ chủ yếu là quan tâm tiền lời trên một suất đầu tư
là bao nhiêu, phải mất bao lâu mới thu hồi vốn khi đó phân tích tàichính là để đánh giá khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinhdoanhmà lựa chọn hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư, nơi đầu tư
- Với người cho vay: Họ muốn biết được khả năng hoàn trả tiền
vay của người đi vay Thu nhập của họ là lãi tiền vay do đó phântích tài chính là xác định khả năng hoàn trả nợ cả gốc và lãi Đối vớicác khoản vay ngắn hạn phải quan tâm đến khả năng thanh toánnhanh của người đi vay hay nói cách khác là khả năng ứng phó củangười đi vay với các khoản nợ đến hạn Đối với khoản vay dài hạnphải đánh giá khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của người vaybởi việc hoàn trả vốn và lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời
- Với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ nhờ vào
tình hình tài chính họ sẽ quyết định được vấn đề bán chịu và cho trảchậm Cũng như chủ ngân hàng và những người cho vay tín dụng,nhóm người này cũng cần phải biết được khả năng thanh toán hiệntại và tương lai của khách hàng
- Với các đối tượng khác: Cơ quan tài chính, thuế, nhà phân tích,
khách hàng…cũng có nhu cầu về thông tin cơ bản giống nhóm trênbởi nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiệntại và tương lai của họ
Phân tích tài chính doanh nghiệp mà chủ yếu là phân tích báocáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua hệ thốngcác phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụngthông tin từ những góc độ khác nhau có thể đánh giá toàn diện, tổngquát, vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh
Trang 8nghiệp Từ đó có thể nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra cácquyết định tài chính, tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.2.3 Tài liệu dùng phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tíchphải sử dụng rất nhều tài liệu khác nhau, , người ta phải tập hợp đầy
đủ những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của công tynhư các thông tin chung về tình hình kinh tế, tiền tệ, thuế khoá, cácthông tin về ngành kinh tế của công ty về pháp lý trong đó chủyếu là các báo cáo tài chính Vì vậy căn cứ để phân tích là dựa vàocác báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toántheo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thốngtình hình tài sản, nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp,tình hình và hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền
tệ và tình hình quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu quy định thống nhất
1.2.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tổng hợp cho biết tìnhhình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định
Kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm hai phần được trình bày dướidạng một phía ( bảng cân đối báo cáo) hoặc hai phía( báng cân đối
kế toán) Mỗi phần được bố trí các cột mã số để ghi mã số của từngchỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán cột số đầu năm, số cuối kỳ để ghigiá trị từng tài sản, nguồn vốn tại các thời điểm đầu năm và cuối kỳbáo cáo các chỉ tiêu được xắp xếp theo từng mục theo một trình tựlogic khoa học , phù hợp với yêu cầu quản lý và phân tích tài chínhdoanh nghiệp
*Phần tài sản: Phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản của
doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, toàn bộ tài sản được chiathành 2 loại :
Trang 9Loại I: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: Thuộc loại này baogồm các chỉ tiêu phản ánh tài sản của doanh nghiệp là tiền cáckhoản đầu tư ngắn hạn các khoản phải thu hàng tồn kho tài sản lưuđộng khác.
Loại II: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Thuộc loại này gồm cócác chỉ tiêu phản ánh tài sản của doanh nghiệp là tài sản cố định, cáckhoản đầu tư tài chính dài hạn , chi phí xây dựng cơ bản dở dang,chi phí trả trước dài hạn
Số liệu các chỉ tiêu trong báo cáo phần tài sản thể hiện giá trị củacác loại vốn của doanh nghiệp hiện có đến thời điểm lập báocáo căn cứ vào các số liệu này cho phép đánh giá quy mô kết cấuđầu tư vốn, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Số liệu các chỉ tiêu trong phần tài sản thể hiện các loại tài sản cụ thể
mà doanh nghiệp đang có quyền quản lý, quyền sử dụng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Mặt khác doanh nghiệp phải có tráchnhiệm trong việc sử dụng lượng tài sản đó nhằm đưa lại hiệu quảkinh tế cao nhất
* Phần nguồn vốn : Phần bên phải của bảng cân đối kế toán là
nguồn vốn Phần này phản ánh cơ cấu nguồn vốn được huy độngvào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo.Nguồn vốn nợ vay bao gồm các khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp
và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trongcông ty cổ phần Có 3 nguồn chính tạo nên vốn chủ sở hữu là số tiềngóp của các nhà đầu tư, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch đánhgiá lại tài sản.Số liệu các chỉ tiêu trong phần nguồn vốn thể hiện giátrị và quy mô các nguồn vốn mà doanh nghiệp đã và đang huy động
sử dụng để đảm bảo cho lượng tài sản của doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh tính ddến thời điểm lạp báo cáo tài chính thông qua cácchỉ tiêu này cho phép đánh giá được thực trạng tài chính của doanhnghiệp, kết cấu của từng nguồn vốn được sử dụng trong hoạt động
Trang 10kinh doanh của doanh nghiệp Số liệu của các chỉ tiêu trong phầnnguồn vốn thể hiện quyền quản lý và sử dụng các loại nguồn vốncủa doanh nghiệp trong việc đầu tư hình thành kết cấu tài sản mặtkhác doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc quản lý và sửdụng các nguồn vốn.
1.2.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp cho biếttình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời kỳ nhất định Đó là kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quảhoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh, đồng thời phản ánhtình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phảinộp khác Thông qua các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh
để các đối tượng sử dụng thông tin kiểm tra, phân tích và đánh giátình hình thực hiện kế hoạch, dự đoán chi phí sản xuất, giá vốn,doanh thu tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động kháccũng như kết quả tương ứng của từng hoạt động
Thông qua các số liệu trong báo cáo kết quả kinh doanh có thể kiểmtra đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, đánh giá xuhướng phát triển của doanh nghiệp
Báo cáo gồm 2 phần:
-Phần I: Lãi,lỗ :Phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh gồm
các chỉ tiêu: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Các khoản giảm trừ
- Doanh thu thuần
- Gía vốn hàng bán
- Lợi nhuận gộp
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
- Kết quả hoạt động khác
- Tổng lợi nhuận từ các hoạt động của doanh nghiệp
Trang 11- Thuế thu nhập phải nộp
- Lợi nhuận sau thuế
Tất cả các chỉ tiêu đều trình bày số liệu kỳ trước, tổng số phátsinh trong kỳ báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ của báocáo
-Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước:
gồm các khoản mục: - Thuế các loại
-Bảo hiểm xã hội
- Các khoản phải nộp khác Các mục này trình bày theo các chỉ tiêu: số còn phải nộp kỳtrước chuyển sang, số phát sinh trong kỳ báo cáo, số đã nộp trong
kỳ báo cáo, số còn phải nộp đến cuối kỳ báo cáo
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập theo quý vànăm
1.2.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánhviệc hình thành và sử dụng lươngj tiền phát sinh trong kỳ báo cáocủa doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những báo cáo bắtbuộc của doanh nghiệp lập để cung cấp cho người sử dụng thông tincủa doanh nghiệp
Dựa vào báo cáo này có thể phân tích được khả năng kinh doanh đểtạo ra tiền của doanh nghiệp
Các khoản mục chủ yếu phát sinh ảnh hưởng tới khả năngthanh toán và nhu cầu tài chính bình thường cho kỳ tiếp theo
Kết cấu của báo cáo: Báo cáo lưu chuyển tiền tiền tệ có kếtcấu tương ứng thành 3 phần theo từng hoạt động Trong từng phầnđược chi tiết thành các chỉ tiêu liên quan đến việc hình thành và sửdụng các khoản tiền theo từng hoạt động
Trang 12- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: phản ánh toàn bộdòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp tới hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòngtiền chi ra trực tiếp liên quan đến hoạt động đầu tư của doanhnghiệp Các hoạt động đầu tư bao gồm:
+ Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho doanh nghiệp
+ Đầu tư cho các đơn vị khác
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộdòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp tới hoạt động tàichính của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo quý và năm
1.2.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp thôngtin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáotài chính đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báocáo tài chính chưa được trình bày, giải thích một cách rõ ràng và cụthể mẫu thuyết minh báo cáo tài chính có thể do Nhà nước quyđịnh, có thể một phần do doanh nghiệp lập để tiện cho công tácquản lý và phân tích tài chính doanh nghiệp
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các nội dung sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
- Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính
- Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Đánh giá tổng quát các chỉ tiêu
- Các kiến nghị
1.2.4 Những thông tin cần thiết cho phân tích tài chính
Trang 13Phân tích tài chính không thể chỉ sử dụng những thông tin và giớihạn ở việc nghiên cứu báo cáo tài chính của một doanh nghiệp màtập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính cuảCông ty đó là:
* Các thông tin chung: Là những thông tin về tình hình kinh tế
chính trị, môi trường pháp lý,kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế,
cơ cấu đầu tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ Sự suy thoái hoặc tăngtrưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanhcủa công ty Những thông tin về cuộc thăm dò thị trường, triểnvọng phát triển trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ thương mạiảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từngthời kỳ
* Các thông tin theo nghành kinh tế: Đó là những thông tin mang
tính chất của nghành kinh tế như đặc điểm của nghành kinh tế liênquan đến thực thể của sản phẩm tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơcấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp
độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triểnvọng phát triển
* Các thông tin của bản thân công ty: đó là những chiến lược sách
lược kinh doanh của công ty trong từng thời kỳ, những thông tin vềtình hình kết quả kinh doanh, tình hình tạo lập, phân phối và sửdụng vốn được thể hiện thông qua những giải trình của các nhàquản lý, các báo cáotài chính
* Các thông tin khác: Đo là những thông tin liên quan đến công ty
rất đa dạng phong phú có thể công khai cũng có thể chỉ dành chomột số người có lợi ích gắn liền với sự sông còn của công ty
1.2.5.Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp:
Tổ chức phân tích tài chính là việc thiết lập trình tự các bướccông việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính Phântích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặcđiểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính
Trang 14của từng công ty và phải phù hợp với mục tiêu quan tâm của từngđối tượng Phân tích tài chính doanh nghiệp thường được tiến hànhqua các giai đoạn sau:
1.2.5.1 Lập hế hoạch phân tích : Đây là giai đoạn đầu tiên là một
khâu quan trọng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tácdụng của phân tích tài chính Giai đoạn lập kế hoạch được tiên hànhchu đáo chuẩn xác sẽ giúp cho các giai đoạn sau tiến hành có kếtquả tốt vì vậy giai đoạn này được gọi là giai đoạn chuẩn bị Lập kếhoạch phân tích bao gồm việc xác định mục tiêu xây dựng chươngtrình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phântích, phạm vi phân tích thời gian tiến hành, những thông tin cần truthập, tìm hiểu
1.2.5.2 Giai đoạn tiến hành phân tích: Đây là giai đoạn triển khai
thực hiện các công việc đã ghi trong kế hoạch bao gồm các côngviệc cụ thể sau:
- Sưu tầm tài liệu, sử lý số liệu
- Tính toán các chỉ tiêu phân tích
- Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố
- Tổng hợp kết quả rút ra nhận xét kết luận về tình hình tài chínhcủadoanh nghiệp
1.2.5.3 Giai đoạn kết thúc: Đây là giai đoạn cuối cùng của việc
phân tích tài chính doanh nghiệp Trong giai đoạn này cần tiến hànhcác công việc :
- Viết báo cáo phân tích
- Hoàn chính hồ sơ phân tích
Mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính
và vậy thu thập và sử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề vàđiều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu câù vàđưa ra các quyết định tài chính
1.2.6 Phương pháp phân tích
Trang 15Để phân tích tài chính doanh nghiệp người ta có thể sử dụngmột hay tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thốngphương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.6.1 Phương pháp so sánh
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điềukiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính và theo mục đíchphân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc vềmặt thời gian hoặc không gian , kỳ phân tích được lựa chọn là kỳbáo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được chọn bằng sốtuyệt đối hoặc số tương đối hoặc số bình quân
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy
rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp
So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độphấn đấu của doanh nghiệp
So sánh giữa các số liệu trung bình của ngành, khu vực kinhdoanh nhằm hiểu rõ mặt mạnh, yếu của doanh nghiệp so với cácdoanh nghiệp cạnh tranh trong cùng ngành hoặc khẳng định vị trícủa doanh nghiệp trong ngành và trong khu vực kinh doanh
Ưu điểm: Phương pháp này dễ thực hiện, dễ hiểu,
Nhược điểm: Các số liệu để so sánh phải đạt điều kiện so sánh mới
Theo phương pháp này các tỷ lệ tài chính được phân thànhcác nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo cácmục tiêu hoạt động của doanh nghiệp:
Trang 16* Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
* Nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn
* Nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh
* Nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
Người phân tích có thể tuỳ theo giác độ phân tích để lựa chọn cácnhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
Ưu điểm của phương pháp phân tích tỷ lệ:
Cho biết mức độ đảm bảo về khả năng thanh toán tỷ lệ và khả năngsinh lời của doanh nghiệp mà theo phương pháp so sánh ta khôngthể nắm rõ được
Nhược điểm của phương pháp phân tích tỷ lệ:
Người phân tích và người đọc kết quả phải có trình độ hiểu biết nắm
rõ ý nghĩa các chuẩn mực
1.2.6.3.Phương pháp phân tích tài chính dopont
Theo phương pháp này cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ
lệ tài chính chủ yếu, cho phép xác định và đánh giá chính xác nguồngốc làm thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp Trên cơ sở đó ngườiquả lý đưa ra các quyết định, giải pháp tăng tiêu thụ và tiết kiệm chiphí bằng cách phân tích mối quan hệ tương tác giữa hệ soó sinh lờidoanh thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản Từ đó thấy được khi tỷ
lệ nợ cao sẽ có hai trường hợp là nếu doanh nghiệp có lợi nhuận thìlợi nhuận sẽ càng cao còn nếu doanh nghiệp thua lỗ thì số lỗ cànglớn
Nhược điểm của phương pháp phân tích tài chính Dopont:
Phương pháp này khó hiểu, khó làm vì vậy yêu cầu người phân tíchphải làm tốt phương pháp phân tích tỷ lệ
Ưu điểm của phương pháp phân tích tài chính Dopont:
Thấy được cái lợi và bất lợi của việc sử dụng nợ vay
Ngoài ra các phương pháp trên, trong phân tích còn sử dụngthêm nhiều phương pháp của thống kê: phương pháp phân tổ,phương pháp chỉ số, phương pháp xác suất…
Trang 17Các phương pháp phân tích rất quan trọng Nếu ta nắm vữngcác phương pháp phân tích kinh tế thì chúng ta mới có thể đánh giámột cách khách quan kết quả của quá trình hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, từ đó đề ra các giải pháp và có những quyết địnhđúng đắn, kịp thời trong quá trình điều hành hoạt động ở doanhnghiệp
1.2.7 Kỹ thuật phân tích tài chính
Để thực hiện các phương pháp phân tích trên sau khi thu thập thôngtin phân tích tài chính có thể sử dụng một số kỹ thuật phân tích cơbản như:
Phân tích dọc , phân tích ngang, phân tích qua hệ số, phân tích độnhạy, kỹ thuật chiết khấu dòng tiền
* Kỹ thuật phân tích dọc: Là kỹ thuật phân tích sử dụng để xem xét
tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể quy mô chung điều quantrọng khi sử dụng kỹ thuật phân tích này là xác định quy mô chungđược làm tổng thể để xác định tỷ trọng của từng phần
* Kỹ thuật phân tích ngang: Là sự so sánh trên cùng một chỉ tiêu màthực chất là áp dụng phương pháp so sánh cả về số tuyệt đối và sốtương đối với những thông tin thu thập được sau khi sử lý và thiết
kế dưới dạng bảng
* Kỹ thuật phân tích qua hệ số: Là xem xét mối quan hệ giữa cácchỉ tiêu dưới dạng phân số tuỳ theo cách thiết lập mối quan hệ màgọi các chỉ tiêu là hệ số, tỷ số hay tỷ trọng
*Kỹ thuật phân tích độ nhạy: Là nêu và giải quyết các giả định đặt
ra khi xem xét một chỉ tiêu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác
*Kỹ thuật chiết khấu dòng tiền:
Giúp cho người phân tích xác định giá trị của tiền tệ tại các thờiđiểm khác nhau Điều mà các nhà đầu tư luôn quan tâm khi đưa racác quyết định bởi nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải tính đếnrủi ro, lạm phát và các chi phí cơ hội khi sử dụng tiền cho nhữngmục đích khác nhau
Trang 181.2.8 Nội dung phân tích
1.2.8.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhậnđịnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp Công việc này sẽ cungcấp cho người sử dụng thông tin cách nhìn tổng quát nhất tình hìnhtài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không; Điều đó chophép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh và dự doán được khả năng phát triển hay chiềuhướng suy thoái của doanh nghiệp.Từ đó đưa ra các giải pháp hữuhiệu để quản lý doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp trước hếtcăn cứ vào các số liệu đã phản ánh trên bảng cân đối kế toán để sosánh tổng số tài sản và nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu năm để thấyquy mô vốn và đơn vị sử dụng trong kỳ cũng như khả năng huyđộng vốn từ các nguồn khác nhau của doanh nghiệp
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm của tổng tài sản vàtổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì chưa thể thấy rõ tình hình tàichính của doanh nghiệp Do vậy, cần phải phân tích mối quan hệgiữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán
Đánh giá khái quát gồm các nội dung chủ yếu:
- Xem xét tăng trưởng vốn kinh doanh
- Phân tích tình hình phân bổ vốn
- Phân tích cơ cấu nguồn vốn
1.2.8.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn kinh doanh và tình hình
sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp
Nguồn vốn kinh doanh là các nguồn hình thành nên vốnkinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Nguồn vốn cố định vànguồn vốn lưu động Các nguồn này được hình thành từ các chủ sởhữu, các nhà đầu tư, các cổ đông Ngoài ra còn có thể hình thành từphần lợi tức của doanh nghiệp bổ sung cho nguồn vốn
Trang 19Nguồn vốn cố định được sử dụng chủ yếu để đầu tư, trang trảicho các loại tài sản cố định, mua sắm tài sản cố định, đầu tư xâydựng cơ bản…
Nguồn vốn lưu động chủ yếu sử dụng để đảm bảo cho tài sảnlưu động: nguyên liệu, công cụ lao động, đồ dùng, hàng hoá…
Để phân tích nguồn vốn kinh doanh và tình hình sử dụng nguồnvốn kinh doanh ngoài việc sử dụng các số liệu của bảng cân đối kếtoán còn phải sử dụng các tài liệu chi tiêt khác: Bảng thuyết minhbáo cáo tài chính (Mẫu số B04-DN), báo cáo tài sản cố định, báocáo lưu chuyển tiền tệ Khi phân tích doanh nghiệp cần nắm đượcrằng nhu cầu về vốn kinh doanh (chủ yếu là vốn lưu động) được xácđịnh phù hợp với tính chất, quy mô kinh doanh và thường được thểhiện qua kế hoạch dự trữ tài sản lưu động
Khi nguồn vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ yêu cầu vốn kinhdoanh của doanh nghiệp, trước hết doanh nghiệp phải huy động từcác nguồn vay ngắn hạn, các khoản vay đến hạn chưa trả, vay dàihạn
Ngoài việc phân tích tình hình tăng giảm của từng nguồn vốn,người phân tích còn phải tiến hành nghiên cứu mức độ bảo đảm cácnguồn vốn lưu động với các loại tài sản dự trữ thực tế phục vụ choviệc đảm bảo các điều kiện của sản xuất kinh doanh
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanhnghiệp cho biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng giảm baonhiêu? tình hình sử dụng vốn như thế nào tức là quy mô của doanhnghiệp tăng hay giảm, những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng đến
sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp để từ đó
có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụngvốn
- Sử dụng vốn là tăng tài sản và giảm nguồn vốn
- Nguồn vốn là giảm tài sản và tăng nguồn vốn
- Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối nhau
Trang 201.2.8.3.Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Đối với các doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinhdoanh khi muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì cần có tài sảnbao gồm tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu
tư dài hạn Để hình thành 2 loại tài sản trên cần có nguồn tài trợtương ứng bao gồm có nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn ngắn hạn – TSCĐ
và ĐTDH
= TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết số tài sản lưu động được đầu tư bởinguồn dài hạn nếu vốn lưu động thường xuyên 0 tức là mức độđảm bảo vốn của công ty là tương đối vững chắc Nhưng muốn xemxét kiểm tra sự đúng đắn của mức độ lớn hơn này cần xem xét chỉtiêu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = Dự trữ + phải thu –Phải trả
Mức độ lớn hơn của vốn lưu động thường xuyên nhu cầuvốn lưu động thường xuyên là hợp lý, nếu lớn hơn nhiều quá cũng
là bất ổn
Nếu vốn lưu động thường xuyên 0 nghĩa là mức độ đảm bảovốn cho kinh doanh không tốt tức là trong trường hợp này công ty
đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định
1.2.8.4.Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán
Đây là nội dung phân tích rất quan trọng cho ta đánh giá thực trạng
về nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhấtđịnh
Để tiến hành phân tích người ta dùng phương pháp so sánh số cuối
kỳ với số đầu kỳ cả về số tuyệt ddối và số tương đối( tỷ trọng), ta
Trang 21còn phải so sánh đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản và nguồn vốnchiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng.
1.2.8.5.Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu
* Phân tích nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phảnánh chất lượng công tác tài chính Khi nguồn bù đắp dự trữ thiếu,doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn Ngược lại khi nguồn vốn bù đắptài sản dự trữ bị thừa, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn Nếu phầnvốn đi chiếm dụng nhỏ hơn phần vốn bị chiếm dụng doanh nghiệp
có thêm một phần vốn để đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh.Ngược lại doanh nghiệp sẽ bị giảm bớt vốn
Qúa trình phân tích phải chỉ ra được các khoản đi chiếm dụng
và bị chiếm dụng hợp lý
- Những khoản đi chiếm dụng hợp lý là những khoản còn đangtrong hạn trả: Khoản phải trả cho người bán chưa hết hạn thanhtoán, phải nộp ngân sách chưa hết hạn nộp…
- Những khoản bị chiếm dụng hợp lý là những khoản chưa đếnhạn thanh toán: khoản bán chịu cho khách đang trong hạn thanhtoán, khoản phải thu của đơn vị trực thuộc và phải thu khác…
Trong quan hệ thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động giảiquyết vấn đề chiếm dụng và đi chiếm dụng trên cơ sở tôn trọng kỷluật tài chính, kỷ luật thanh toán
Phân tích khả năng thanh toán cho biết tình hình tài chính là tốthay xấu Nếu tình hình tài chính tốt, doanh nghiệp có ít công nợ,khả năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng Vì vậy sẽ tạo điềukiện cho doanh nghiệp chủ động về vốn đảm bảo quá trình sản xuấtkinh doanh thuận lợi Ngược lại, tình hình tài chính gặp khó khăn,doanh nghiệp nợ nần dây dưa kéo dài mất tính chủ động trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh và đôi khi dẫn tới tình trạng phá sản
Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng bảng cân đối để đánh giá cònphải sử dụng các tài liệu hạch toán hàng ngày và một số tài liệu thực
Trang 22tế liên quan để có kết luận chính xác Cần đi sâu phân tích nhu cầu
và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Các chỉ tiêu cần xắp xếptheo trình tự nhất định Trình tự đó thể hiện nhu cầu thanh toán ngaycũng như khả năng huy động ngay và thanh toán trong thời gian tới
* Phân tích nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
Bao gồm có các chỉ tiêu về hệ số nợ tổng tài sản, Hệ số nợ vốn
cổ phần, hệ số khả năng thanh toán lãi vay, hệ số cơ cấu tài sản, hệ
số cơ cấu nguồn vốn
Nhóm chỉ tiêu này cho biết về cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.8.6.Phân tích rủi ro kinh doanh và mạo hiểm tài chính
Rủi ro trong kinh doanh là rủi ro đi liền với sự không ổn định củahiệu quả kinh tế nó phụ thuộc vào việc phân bổ chi phí cố định vàchi phí biến đổi Quan hệ giữa chi phí cố định chi phí biến đổi và lợinhuận chính là cơ sở để phân tích điểm hoà vốn
*Phân tích điểm hoà vốn
Phân tích điểm hoà vốn là tìm ra điểm mà tại mức đó doanhthu vừa đủ để trang trải mọi chi phí, phân tích điểm hoà vốn giúpcho ta biết được những thông tin cần thiết về lượng sản phẩm cầntiêu thụ, doanh thu cần đạt được để doanh nghiệp không bị lỗ từ đó
có thể xác định quy mô đầu tư, quy mô sản xuất để có thể đem lạilợi nhuận như mong muốn
Mục đích của phân tích điểm hoà vốn là đẻ kế hoạch hoá lợi nhuận
và đánh giá một phần rủi ro trong kinh doanh Việc phân tích nàykhông chỉ dừng lại ở chỗ xác định điểm hoà vốn mà tiếp đó là xácđịnh sản lượng cần thiết phải sản xuất và tiêu thụ ở các mức giákhác nhau để đạt được lợi nhuận như mong muốn Phân tích điểmhoà vốn rất hữu ích cho việc nghiên cứu tương quan giữa sản lượnggiá cả và cơ cấu chi phí do đó giúp cho việc định giá kiểm soát chiphí và các quyết định tài chính khác Nó cho ta chỉ dẫn về mức độhoạt động tối thiểu cần thiết để Doanh nghiệp có lãi Là công cụgiúp việc ra quyết định khi lựa chọn đầu tư vào sản phẩm mới, đầu
Trang 23tư mở rộng hoặc hiện đại hoá quy trình công nghệ Bằng nhiều giảthiết phân tích điểm hoà vốn giúp ta biết được lợi nhuận có thể đạttrong tương lai, cho phép giải thích được chênh lệch giữa dự đoán
và thực hiện, chỉ rõ trong phạm vi nào việc giảm lợi nhuận là dogiảm tiêu thụ sản phẩm tăng chi phí cố định hoặc chi phí biến đổi
*Phân tích mạo hiểm tài chính
Mạo hiểm tài chính là sự không ổn định về khả năng tài chínhcủa Doanh nghiệp như vậy mạo hiểm tài chính diễn ra cùng với việcmắc nợ và gắn liền với cơ cấu tài chính của Doanh nghiệp nghĩa là
cơ cấu tài sản nợ trên bảng tổng kết tài sản Mạo hiểm tài chính tăngcùng với việc mắc nợ tăng Khi quyết định đầu tư thì Doanh nghiệpcần phải tính đến rủi ro, mức độ mạo hiểm của hoạt động kinh tế.Khi quyết định tài trợ cần xem xét mức độ mạo hiểm về tài chínhcủa nó Nếu xem rủi ro trong kinh doanh là sự biến đổi thất thườngcủa lợi nhuận do tài sản đưa vào kinh doanh mang lại thì khi phântích cần nghiên cứu kỹ mức độ thuận lợi và khó khăn của nghànhnghề kinh doanh, tình hình thị trường, hoàn cảnh kinh tế xã hội, tốc
độ tiến bộ khoa học kỹ thuật Nó phụ thuộc vào 3 yếu tố :
- Doanh thu
- Cơ cấu chi phí
- Mức độ ở gần điểm hoà vốn so với sản xuất có thể
để đánh giá mạo hiểm tài chính trước hết phải xem xét tác động củađòn bấy tài chính sau đó xem xét sự không ổn định về khả năng tàichính của Doanh nghiệp
1.2.8.7.Phân tích mức độ tạo tiền và tình hình lưu chuyển tiền tệ
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện qua khảnăng tìm kiếm lợi nhuận Trong nhiều trường hợp lợi nhuận, hiệuquả kinh doanh, khả năng sinh lời cao song công ty vẫn không đểtiền để đáp ứng nhu cầu chi trả, không đảm bảo khả năng thanhtoán Phân tích mức độ tạo tiền và tình hình lưu chuyển tiền tệ cùngvới phân tích hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng
Trang 24thanh toán giúp có cái nhìn đầy đủ hơn về tài chính của doanhnghiệp.
Tài liệu để phân tích chủ yếu là báo cáo lưu chuyển tiền tệ, phântích báo cáo lưu chuyển tiền tệ được tiến hành trên các nội dungsau:
* Phân tích khả năng tạo tiền: Việc phân tích khả năng tạo tiền
được thực hiện trên cơ sở xác định tỷ trọng dòng tiền thu của từnghoạt động trong tổng dòng thu trong kỳ của doanh nghiệp
Tổng tiền vào của từnghoạt động
Tỷ trọng dòng tiền thu vào của từng HĐ = -
Tổng tiền thu vào trong kỳ
Tỷ trọng này thể hiện mức đóng góp của từng hoạt động trong việctạo tiền của doanh nghiệp hay đó chính là khả năng tạo tiền củatừng hoạt động
Nếu tỷ trọng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cao thể hiệntiền được tạo ra chủ yếu từ hoạt động kinh doanh bằng việc bánhàng được nhiều, thu tiền từ khách hàng lớn, các khoản phải thugiảm
Nếu tỷ trọng tiền thu từ hoạt động đầu tư cao chứng tỏ doanh nghiệp
đã thu hồi được các khoản đầu tư chứng khoán, thu lãi từ hoạt độngđầu tư, nhượng bán tài sản cố định Nếu do thu lãi thì bình thườngcòn nếu do nhượng bán tài sản cố định thì phạm vi ảnh hưởng củadoanh nghiệp bị thu hẹp và năng lực sản xuất kinh doanh sẽ giảmsút
Nếu tiền thu từ hoạt động tài chính thông qua việc phát hành cổphiếu hoặc đi vay điều đó cho thâý trong kỳ doanh nghiệp đã sửdụng vốn từ bên ngoài nhiều
* Phân tích lưu chuyển tiền tệ trong mối quan hệ với các hoạt động.
Trang 25Phân tích dòng tiền thu vào và chi ra theo từng hoạt động giúpcác đối tượng quan tâm có cái nhìn sâu sắc về những dòng tiền tệcủa doanh nghiệp Nhìn ra những nguyên nhân tác động ảnh hưởngđến tình hình tăng giảm vốn bằng tiền và các khoản tương đươngtiền trong kỳ
Hoạt động kinh doanh là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp trongmột thời gian dài cần thiết phải tạo ra dòng tiền dương thì doanhnghiệp mới có khả năng tồn tại Điều đó thể hiện tiền thu bán hànglớn hơn chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ hay doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả Dòng tiền thuần từ hoạt động kinhdoanh dương sẽ duy trì hoạt động của doanh nghiệp được liên tục từ
đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ Dòng tiền từhoạt động đàu tư và hoạt động tài chính trong một kỳ nào đó khôngnhất thiết phải dương mà có thể âm lại thể hiện doanh nghiệp đangphát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay
Trang 261.2.8.8.Phân tích kết quả kinh doanh.
Phân tích kết quả kinh doanh mà trước hết là đánh giá chungbáo cáo kết quả kinh doanh sau đó đi sâu xem xét chỉ tiêu lợi nhuậngộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Theo cách phân tích này là xác định, phân tích mối liên hệ vàđặc điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, dùngphương pháp so sánh để so sánh chúng qua một số niên độ kế toánliên tiếp nhau, hoặc so sánh với số liệu của nghành để đánh giá xuhướng thay đổi của từng chỉ tiêu, so sánh kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp với các doanh nghiệp khác
* Đánh giá chung kết quả kinh doanh được tiến hành thông quaphân tích xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên báo cáo kếtquả kinh doanh kỳ này với kỳ trước cả về số tuyệt đối và số tươngđối Đồng thời phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng cáckhoản chi phí của doanh nghiệp
*Tính toán phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng cáckhoản chi phí của doanh nghiệp bao gồm :
Chi phí QLKD
Tỷ suất chi phí QLKD trên DTT = - x 100%
Doanh thu thuần
Tỷ suất này càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp tiết kiệm chi phí bánhàng, quản lý một cách có hiệu quả
Trang 27Chi phí tài chính
Tỷ suất chi phí TC trên DTT = - x 100%
Doanh thu thuần
Lợi nhuận từ HĐKD
Tỷ suất lợi nhuận từ HĐKĐ trên DTT = - x100%
Doanh thu thuần
Tỷ suất này phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nó chobiết 100 đồng doanh thu thuần sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từhoạt động kinh doanh
1.2.8.9 Phân tích và kiểm soát tăng trưởng
Tăng trưởng là quá trình mở rộng quy mô kinh doanh, gia tăng nănglực kinh doanh của một doanh nghiệp Quy mô của Doanh nghiệp
có thể tính bằng các tiêu chuẩn về tài sản dự trữ, tổng cộng tài sảnquản lý và sử dụng, vốn chủ sử hữu, giá trị gia tăng hay doanh thutiêu thụ Đối với mỗi Công ty do tiềm lực tài chính khác nhau nhucầu vốn cho sản xuất kinh doanh khác nhau nên cần theo đuổi mụctiêu tăng trưởng khác nhau Tuy mục tiêu theo đuổi khác nhaunhưng doanh nghiệp đều mong muốn đạt được mục tiêu tăng trưởngcao và bền vững Đánh giá chính xác khả năng tăng trưởng giúp choviệc tính toán khả năng phát triển của công ty trong tương lai Đánhgiá tăng trưởng cần đo lường mức tăng trưởng :
Trang 28- Tăng trưởng tổng tài sản = - x100%
Tổng TS đầu kỳ Doanh thu kỳ này – Doanh thu kỳ trước
Việc đánh giá tăng trưởng theo doanh thu có thể làm nổi bật vị tríthương mại và mức độ cạnh tranh của công ty Nó cho phép tiếnhành phân tích theo sản phẩm, theo bộ phận, theo hoạt động
Đánh giá tăng trưởng GTGT làm nổi bật sự đóng góp của công tyvào việc tạo ra của cải vật chất
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1.Nhân tố chủ quan của công ty
Yếu tố đầu tiên mà ta phải nhắc đến là sự quan tâm của banlãnh đạo công ty tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp và bộphận tài chính hay nói cách khác là nhu cầu nắm bắt thông tin củachủ doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc của
bộ phận này
Trình độ, nhận thức của cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác tàichính doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượngcông tác phân tích tài chính doanh nghiệp ở đơn vị Trong doanhnghiệp vấn đề nhân sự cần xem xét lại khi thiếu cán bộ quản lý cónăng lực, hiểu biết về tình hình tài chính của doanh nghiệp chưa
Trang 29cao, phần đông chưa có trình độ đại học Hầu như công tác tài chínhcòn rập khuôn, máy móc theo mẫu có sẵn, không hiểu bản chất củachỉ tiêu kinh tế, không linh hoạt trong xử lý số liệu Do vậy để côngtác phân tích tài chính đạt hiệu quả thực tế còn là vấn đề khó khăn.
Điều kiện kỹ thuật phương tiện máy móc thiết bị ảnh hưởngrất lớn đến công tác phân tích tài chính doanh nghiệp từ việc kỹnăng tính toán, tốc độ và chất lượng tính chính xác của kết quả phântích tài chính
Nguồn số liệu là một trong những vấn đề quan trọng ảnhhưởng đến phân tích tài chính, nếu số liệu không trung thực, khôngphản ánh đúng thực trạng tài chính doanh nghiệp thì kết quả phântích tài chính là không đúng không có tính chính xác Phân tích tàichính của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên các báo cáo tài chínhnhưng khó có thể đảm bảo rằng các số liệu là hoàn toàn phản ánhđầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế thực tế phát sinh tại doanhnghiệp Các báo cáo tài chính thường phản ánh con số không thực
về tình hình hoạt động kinh doanh của mình để giảm bớt số thuếphải nộp nhà nước theo quy định, nhằm hợp lý hoá những khoản chikhông hợp lý và tránh được sự rò rỉ thông tin cho các đối thủ cạnhtranh Điều này đã phần nào giải thích được nguyên nhân dẫn đếntình trạng chung của các doanh nghiệp là: công tác phân tích tàichính đạt hiệu quả thấp và kém mang tính thực tiễn
Đối với các doanh nghiệp nhà nước thường quan tâm tới chỉ tiêu
kế hoạch, các doanh nghiệp thường đề ra kế hoạch thấp hơn nănglực thực tế của mình để doanh nghiệp không bị sức ép quá lớn khihoạt động sản xuất kinh doanh trong năm tài chính Vì vậy công tácphân tích, dự báo, lập kế hoạch thường được sử dụng sai mục đích.Đây là mục tiêu không có ý nghĩa về mặt hiệu quả, là hậu quả để lạicủa thời kỳ tập trung bao cấp trước đây
1.3.2.Nhân tố khách quan
Trang 30*Môi trường kinh doanh
Trong cơ chế cũ, các doanh nghiệp nhà nước đều được cấpvốn dễ dàng, được giao các chỉ tiêu cần hoàn thành trong kỳ Doanhnghiệp chỉ cần tiến hành sản xuất kinh doanh một cách máy móc,không chú trọng đến hiệu quả của công việc mà chỉ lo đáp ứng đượcchỉ tiêu đã được giao, chạy theo thành tích Hoạt động mang nhiềutính thụ động, phụ thuộc Đó chính là nguyên nhân tạo ra sự kémhiệu quả trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đó
và sự trì trệ, kém năng động trong tổ chức sản xuất kinh doanh đóvẫn còn ảnh hưởng không ít tới cung cách làm ăn của nhiều doanhnghiệp hiện nay
Từ khi đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang một hình tháimới, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết củanhà nước, các doanh nghiệp phải tự mình tổ chức sản xuất kinhdoanh theo phương thức hạch toán mới: lời ăn, lỗ chịu Nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành vấn đề cấp bách sống còncủa các doanh nghiệp đi đôi với nó là nâng cao hiệu quả hoạt độngtài chính Doanh nghiệp cũng từ đó thấy được tầm quan trọng củaviệc phân tích hoạt động tài chính, tuy nhiên, hiện nay các doanhnghiệp khi phân tích hoạt động tài chính có nhiều thuận lợi nhưngcũng gặp không ít khó khăn
Trong nền kinh tế thị trường để đứng vững trong môi trườngcạnh tranh gay gắt bắt buộc doanh nghiệp phải chú trọng tới tínhhiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị mình.Công tác phân tích tài chính đã khẳng định được vai trò của mình vàmang tính thực tiễn cao hơn Các doanh nghiệp được phép chủ động
tổ chức phân tích theo hướng dẫn chung của nhà nước và sử dụngcác nguồn vốn theo cách thức phù hợp nhằm đạt kết quả cao nhất.Một khó khăn nữa trong phân tích tài chính doanh nghiệp là thiếuthông tin Trong điều kiện hiện nay thông tin chính thức và thôngtin đã được kiểm chứng còn thiếu nhiều, trong khi lượng thông tin
Trang 31thiếu chính xác, truyền miệng lại tràn lan Điều này gây khó khănlớn cho doanh nghiệp trong công tác phân tích, dự báo và hoạchđịnh kế hoạch.
để hình thành những số liệu thống kê của từng ngành, từng lĩnh vựcgiúp cho việc so sánh, làm căn cứ cho doanh nghiệp trong hoạt độngphân tích
Nước ta những năm gần đây công tác phân tích tài chính đã đạtđược một phần tuy còn thấp và gặp không ít khó khăn nên mặc dù
đã tiến bộ nhưng các doanh nghiệp cần quan tâm, chú trọng hơn đểkhắc phục những vướng mắc của phân tích tài chính nhằm đạt đượcmục tiêu đã định
Trang 32
Công ty giấy Lửa Việt là Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Sở Công nghiệp Tỉnh Phú Thọ, trụ sở chính tại Thị trấn Hạ Hoà huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ
-Tháng 2/1947 dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Lương Bằng(lúc đó là Trưởng ban Tài chính Trung ương Đảng) đã thành lậpxưởng giấy Ngòi Lửa để sản xuất giấy phục vụ kháng chiến
Sản phẩm của xưởng giấy bấy giờ là sản xuất theo phươngpháp thủ công, cung cấp giấy phục vụ cho việc in ấn tài liệu củaĐảng và in tiền tài chính của nước Việt Nam
1.2 Quá trình phát triển của Công ty
Tháng 5/1951 xưởng giấy Ngòi Lửa được xáp nhập với xưởng
cơ khí Tự Do, xưởng cơ khí Việt Bắc và đổi tên thành xưởng giấyLửa Việt Từ đó xưởng giấy Lửa Việt thường xuyên được nhà nướcđầu tư để mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng, cung cấp giấy in,giấy viết cho nhu cầu kháng chiến và phục vụ cho văn hoá, giáo dục
và được đổi tên thành Nhà máy giấy Lửa Việt
Năm 1968 nhà máy bị máy bay Mỹ đánh phá, cơ sở vật chất
kỹ thuật hầu như bị tàn phá hoàn toàn, cán bộ công nhân nhà máylại phải tiếp tục sửa chữa cải tiến để duy trì sản xuất
Vào những năm 1969 - 1971 nhà máy tiếp tục được đầu tư mởrộng sản xuất thiết bị máy móc chủ yếu do Trung Quốc viện trợ.Năm 1972 nhà máy tiếp tục bị máy bay mỹ đánh phá lần 2 song cán
bộ công nhân viên nhà máy vẫn kiên trì bám trụ duy trì sản xuất đểcung cấp giấy phục vụ cho sản xuất, trong thời gian này sản phẩmcủa nhà máy bao gồm giấy bao gói, giấy chống ẩm cung cấp cho thịtrường Liên Xô giấy viết, giấy in ro neo, giấy in tài liệu phục vụ nhu
Trang 33cầu trong nước Từ năm 1990 đến nay Nhà máy luôn đầu tư mởrộng sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao chất lượng sảnphẩm, thay đổi cơ cấu mặt hàng đến nay công xuất nhà máy đạt
Tên giao dịch: LUPACO
Tên gọi đầy đủ: Công ty Giấy Lửa Việt
Điện thoại: 0210 883117 Fax: 0210883120
Trụ sở chính: Thị trấn Hạ Hoà - Huyện Hạ Hoà - tỉnh PhúThọ
Hơn 55 năm xây dựng trưởng thành Công ty Giấy Lửa Việt đãđóng góp nhiều thành tích cho địa phương và ngành Công nghiệp và
là một trong những doanh nghiệp công nghiệp đầu tiên của ngànhgiấy Việt Nam
2- Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Do đặc điểm và tổ chức sản xuất vừa hoạt động kinh doanh,
bộ máy quản lý Công ty tổ chức theo cơ cấu trực tuyến - chức năng
2.1 Bộ máy quản trị
* Chức năng, nhiệm vụ của ban Giám đốc:
+ Giám đốc: Giám đốc Công ty chịu trách nhiệm quản lý toàn
bộ Công ty Đồng thời phụ trách trực tiếp phòng tổ chức hành chính
- phòng kinh doanh - phòng kế hoạch tiêu thụ
+ Phó giám đốc: Giúp việc cho giám đốc trong lĩnh vực quản
lý, điều hành sản xuất đồng thời phụ trách trực tiếp phòng kỹ thuật,điều độ, KCS và phân xưởng sản xuất giấy, phân xưởng cơ điện
Trang 34+ Kế toán trưởng: Giúp việc cho Giám đốc quản lý tài chính
và trực tiếp điều hành phòng kế toán
Toàn công ty có 5 phòng và 2 phân xưởng Các phòng củaCông ty hoạt động theo cơ chế chức năng giúp việc, các phân xưởnghoạt động theo phương pháp hạch toán báo sổ
Tuỳ theo chức năng trưởng các phòng và phân xưởng thammưu cho giám đốc những công việc liên quan đến hoạt động củaphòng, phân xưởng đó
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty giấy Lửa Việt
2.2 Chức năng, nhiệm vụ các phòng, phân xưởng
+ Phòng tổ chức- hành chính - bảo vệ
Thực hiện các chức năng chủ yếu như đào tạo, sử dụng độingũ cán bộ công nhân viện theo luật lao động, tiền lương, chế độchính sách, tuyển dụng công nhân,quản lý công tác hành chính đờisống, nhà ăn, nhà trẻ mẫu giáo, công tác y tế, bảo vệ có trách nhiệmbảo vệ an ninh,trật tự và tài sản trong phạm vi toàn công ty
Phòng TCHC BV
Phòng
t i ài chính
Phòng KT KCS
PX
gi y ấy PC cơ
i điệ ệ n
Trang 35tổ chức công tác tiếp nhận nguyên vật liệu vận chuyển hàng hoá về
và vận chuyển hàng hoá đi tiêu thụ quản lý kho tàng bến bãi phùhợp với yêu cầu của Công ty
+ Phòng kế hoạch tiêu thụ
Thực hiện các chức năng chủ yếu như lập kế hoạch sản xuất,
kế hoạch tiêu thụ, ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm khai thác thịtrường, giới thiệu sản phẩm, tham mưu cho giám đốc về tình hìnhthị trường, đối thủ cạnh tranh và chịu trách nhiệm thanh toán, thutiền bán hàng của từng cá nhân tiêu thụ sản phẩm
+ Phòng tài chính – kế toán
Thực hiện các chức năng chủ yếu như quản lý chủ yếu nhưquản lý các công tác tài chính của công ty cùng với các phòng kếhoạch, vật tư xây dựng kế hoạch tổng thể, xây dựng giá đầu vào,đầu ra Tổ chức công tác kế hoạch, thống kê theo chế độ hiện hành,phân tích và cung cấp các thông tin giúp giám đốc ra quyết định.Khai thác nguồn vốn và thực hiện quản lý vốn có hiệu quả Lập hoáđơn bán hàng và theo dõi chứng từ, chủ động thực hiện nghĩa vụ vớinhà nước
+ Phòng kỹ thuật
Thực hiện chức năng quản lý kỹ thuật, trang thiết bị của Công
ty, quản lý điện nước, kỹ thuật, công nghệ sản xuất giấy, quản lý bộphận điều độ, quản lý bộ phận KCS tổ chức nghiên cứu kỹ thuật,thiết bị công nghệ và công tác đầu tư xây dựng cơ bản, đào tạo côngnhân và công tác môi trường
+ Phân xưởng sản xuất giấy
Là phân xưởng sản xuất ra các loại giấy của Công ty bao gồmgiấy Đuplex, giấy Krapt, giấy vệ sinh
Phân xưởng chia thành 18 tổ sản xuất từ khâu cắt nguyên liệuđến khâu cuối là hoàn thành, đóng gói, nhập kho
Phân xưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các kế hoạch sảnxuất của công ty và đảm bảo các điều kiện phục vụ sản xuất liên tụcđảm bảo năng suất chất lượng, hiệu quả
+ Phân xưởng cơ điện
Trang 36Thực hiện nhiệm vụ phục vụ cho sản xuất như sửa chữa cácthiết bị cơ, điện, nhiệt của toàn công ty Quy mô của phân xưởngnhỏ chỉ có 3 tổ.
3 Cơ cấu và tình hình lao động của Công ty Giấy Lửa Việt
Để tiến hành sản xuất, kinh doanh, ngoài các yếu tố đầu vàonhư TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu…thì lao động là một yếu tố đầuvào không thể thiếu được và đóng một vai trò quan trọng trong quátrình sản xuất, kinh doanh Việc sử dụng đầy đủ hợp lý và tiết kiệmlao động, kết hợp với cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhẹ sẽ thúc đẩyđược quá trình sản xuất, kinh doanh phát triển, tiết kiệm được chiphí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
Qua biểu 1 ta thấy số lao động của toàn Công ty biến độngtrong vòng 2 năm qua là không biến động, năm 2003 là 351 người
và năm 2005 là 359 người năm 2004 là 360 người Tốc độ tăng laođộng bình quân nhìn chung là không đổi
Bảng 1: Cơ cấu và tình hình lao động của Công ty qua 3 năm
(Nguồn số liệu do phòng Tổ chức cung cấp)
* Trình độ tay nghề:
Trang 37Được xếp theo ngành nghề trong doanh nghiệp theo thangbảng lương nhà nước quy định tại Nghị định số: 26/CP ngày 23tháng 5 năm 1993 của Chính phủ về việc “quy định tạm thời chế độtiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước” Với đặc thù là Công
ty giấy Lửa Việt là một trong những con chim đầu đàn của ngànhcông nghiệp sản xuất giấy trước đây do vậy công ty có một đội ngũcán bộ quản lý và công nhân lao động có kinh nghiệm, trình độ lànhnghề, bình quân tay nghề bậc thợ cao so với mặt bằng bậc thợ chungcủa trong ngành giấy Bình quân bậc thợ toàn Công ty có hệ sốlương bình quân là 2,6 tương đương với cấp bậc tay nghề thợ là bậc
4 4,5 trong đó có một số công nhân học 2 năm chuyên ngành giấysau khi tốt nghiệp được công nhận tay nghề thợ bậc 2
* Về phương hướng đào tạo, sắp xếp lao động
Doanh nghiệp từng bước tiến hành tự đào tạo và kết hợp gửi điđào tạo lại ở trường công nghiệp giấy Bãi Bằng, đồng thời kết hợpthao diễn kỹ thuật, phân loại lao động theo thời kỳ: Tháng, quý,năm
Doanh nghiệp tiếp tục có hướng đầu tư mở rộng sản xuất, giảiquyết đầy đủ công ăn việc làm cho người lao động Là một doanhnghiệp có truyền thống hơn 50 năm sản xuất kinh doanh nghề giấy
do vậy trong doanh nghiệp không có lao động không có việc làm,phần lớn lao động có đủ việc làm, thu nhập tuy chưa cao song ổnđịnh
4 Các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của Công ty Giấy Lửa Việt.
4.1 Về quy trình công nghệ
Là một doanh nghiệp thuộc ngành Công nghiệp chế biến,nguyên liệu cho sản xuất chủ yếu hiện nay là nứa, tre, vầu, giấy lềcarton các loại Sản phẩm chính của Công ty là giấy Krapt và giấy
vệ sinh với tính chất sản xuất liên tục theo chế độ làm việc 3 ca, quytrình công nghệ khép kín từ đầu đến cuối dây chuyền để đưa vàonấu bột cùng với một số hoá chất như NaOH và một số chất khác để
Trang 38nấu sau thời gian 4 6h bột chín được đưa xuống các bể nghiền, bểrửa Sau đó cung cấp bột loãng tới các máy xeo Giấy được hìnhthành trên lưới qua ép, sấy cuộn thành cuộn theo yêu cầu của kháchhàng.
Trang 39Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất giấy thể hiện qua sơ đồ sau
4.2 Trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật
Dây chuyền sản xuất, thiết bị máy móc của Công ty được bốtrí khép kín để sản xuất theo dây chuyền liên tục từ khâu chuẩn bịnguyên liệu, chế biến đến khâu sản phẩm cuối cùng Các thiết bịchủ yếu của công ty bao gồm thiết bị chuẩn bị nguyên liệu và sảnxuất giấy, thiết bị năng lượng và sửa chữa
+ Thiết bị nguyên liệu và sản xuất bột giấy
- Máy cắt nguyên liệu tổng công suất 10 tấn/h
- Nồi nấu bột hình cầu: 6 nồi dung tích 60m3
- Máy nghiền kiểu Hà lan: 16 máy dung tích 72m3
- Máy nghiền điã kép 380: 3 máy công suất 4 tấn bột/h
- Máy nghiền đĩa kép 450: 3 máy công suất 8 tấn bột/h
Nguyên li u ệu (tre, n a, v u, gi y l , carton) ứa, vầu, giấy lề, carton) ầu, giấy lề, carton) ấy lề, carton) ề, carton)
Th nh ph m ài ẩm
nh p kho ập kho
Trang 40- Máy đánh tơi thuỷ lực: 2 máy thể tích 1,5m3/máy.
- Máy đánh tơi ly tâm có đĩa nghiền: 02 máy
- Sàng bột các loại: 3 máy
- Máy rửa bột kiểu lô lọc: 5 máy Tổng thể tích 100m3
Ngoài ra còn có các thiết bị khác như hệ thống chuẩn bị phụgia, hệ thống băng tải hệ thống điều chế dịch tẩy và tẩy trắng bộtgiấy với công suất 1000tấn/ năm
+ Thiết bị sản xuất
Máy xeo giấy: 5 máy công suất 5.500 tấn/ năm
Máy cuộn lại: 02 máy
Ngoài ra còn có máy chế biến thành phẩm như máy in hoa,máy xén giấy, máy gấp khăn
+ Các thiết bị năng lượng, động lực, sửa chữa gồm.
- Trạm bơm nước công xuất 1000m3h
- Trạm biến áp (3 máy) tổng công suất 1440KVA
- Hệ thống lò hơi đốt than : 3 lò tổng công suất 11 tấn hơi/h
- Xưởng sửa chữa cơ khí có đủ các máy sửa chữa như máyhàn, tiện, khoan, mài đảm bảo đủ năng lực sửa chữa thường xuyênphục vụ cho sản xuất, ổn định liên tục
5 Tình hình thị trường và hoạt động tiêu thụ
5.1 Thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty.
- Các loại giấy vệ sinh được bán chủ yếu ở các tỉnh phía bắc
và một số khu vực đông dân cư hình thức chủ yếu là thông qua cáctổng đại lý và đại lý tiêu thụ ở các tỉnh
- Sản phẩm giấy Duplex, giấy krapt Chủ yếu tiêu thụ ở cáctỉnh từ miền trung trở ra các tỉnh phía bắc Loại sản phẩm này Công
ty tổ chức cung ứng trực tiếp đến các cơ sở sản xuất bao bì carton
5.2 Tình hình Cung - cầu và đối thủ cạnh tranh.
- Về nhu cầu giấy cả nước, năm 2005 mức tiêu dùng giấy cảnước là: 660.000 tấn giấy, bình quân 8,3kg/người Trong đó, thịphần của công ty giấy Lửa Việt là 5007/660.000tấn chiếm khoảng0,75%