Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình
Trang 1Lời mở đầu.
Đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Mỗi nước, mỗi địa phương muốn tăng trưởng đều cần phải thu hút được vốn đầu tư cả trong và ngoài nước, điều này không chỉ đúng với các nước đang phát triển mà còn đúng với các nước công nghiệp phát triển Bởi tăng trưởng và t hu hút vốn đầu tư có mối quan hệ nhân quả với nhau Thứ nhất, năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích luỹ của nền kinh tế sẽ có khả năng ra tăng Khi đó quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy động sẽ được cải thiện Thứ hai, triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng sẽ là tín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Đầu tư có vai trò to lớn trong việc thay đổi kinh tế của đất nước, của địa phương theo chiều hướng tốt hơn giúp nâng cao đời sống của nhân dân ( nếu sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả )
Chính vì vai trò quan trọng của đầu tư trong tăng trưởng kinh tế nên mỗi tỉnh của nước ta đều có sở kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ quản lý hoạt động đầu tư của tỉnh; phân phối sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả; đề ra các phương án nhằm thu hút vốn đầu tư vào tỉnh
Do nhận thức đựơc phần nào vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế của đất nước, của địa phương nên trong thời gian thực tập tốt nghiệp ở Phòng tổng hợp thuộc Cục Thống kê tỉnh Thái Bình em đã tìm hiểu đặc điểm kinh tế của tỉnh và
quyết định chọn đề tài “ Phân tích thống kê biến động vốn đầu tư phát triển
tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 – 2005” cho chuyên đề thực tập của mình.
Chuyên đề gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề chung về vốn đầu tư phát triển
Trang 2Chương II: Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thống kê phân tích vốn đầu tư phát triển.
Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích sự biến động vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 – 2005.
Em xin chân thành cảm ơn thầy TS.Phạm Đại Đồng và các cô chú trong phòng tổng hợp Cục thống kê Thái Bình đã giúp em hoàn thành bài viết
Trang 3Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.1 Khái niệm và các loại đầu tư trong phạm vi quốc gia
1.1.1 Khái niệm đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng ,là sự hy sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các loại hoạt động nào đó nhằm thu lại cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại ,nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
1.1.2.Bản chất của đầu tư.
Đầu tư là sử dụng các nguồn lực ở hiện tại vào những hoạt động nhằm thu được những kết quả lớn hơn trong tương lai
Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất(nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…) là nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản suất xã hội
Trong những kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong
Trang 4mọi lúc, mọi nơi,không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được thụ hưởng.
1.1.3 Phân loại đầu tư trong phạm vi quốc gia
1.1.3.1 Đầu tư tài chính
Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người có
tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào hoạt động sản suất kinh doanh của công ty phát hành(mua cổ phiếu, trái phiếu công
ty ) Đầu tư tài chính không tạo ra tài mới cho nền kinh tế, mà nó chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư Điều đó khuyến khích những người có tiền bỏ tiền ra để đầu tư Họ có thể đầu tư vào nhiều nơi ,mỗi nơi một ít tiền để làm giảm độ rủi ro Đầu tư tài chính là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
1.1.3.2 Đầu tư thương mại
Đây là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển gia quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ Tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụgn thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung
1.1.3.3 Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động.
Trang 5Trong đó, người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác,… Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa
và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhan lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội Loại đầu tư này được gọi chung là đầu tư phát triển
1.2 Đầu tư phát triển.
1.2.1 Khái niệm đầu tư phát triển.
Là loại đầu tư bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại
để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có
1.2.2 Bản chất của đầu tư phát triển.
Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu
hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại
và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội
1.2.3 Vai trò của đầu tư phát triển.
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lý thuyết kinh tế, cả lý thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Vai trò của đầu tư được thể hiện trên các mặt sau:
1.2.3.1 Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.
Trang 6* Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế theo qui luật: khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm tăng giá cả của hàng hoá có liên quan đến một mức nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát Lạm phát xảy ra, làm cho sản suất đình trệ, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác, tăng đầu tư làm cầu các yếu tố liên quan tăng, sản suất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội.Tất cả tác động này đều tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Khi giảm đầu tư, cũng dẫn đến tác động hai mặt nhưng theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây
*Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu
-Về mặt cầu: Đầu tư là yêú tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn
bộ nền kinh tế Đối với tổng cầu, đầu tư có tác động ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, đầu tư tăng làm cho tổng cầu tăng (đường cầu D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q0-Q1, giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P0-P1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0- E1
-Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên (đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1 –Q2 và
do đó giá cả giảm từ P1 –P2 Sản lượmg tăng, giá cả giảm cho phép tiêu dùng tăng Khi tiêu dùng tăng sẽ kích thích sản xuất nhiều hơn Sản xuất phát triển
là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động ,nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Trang 7*Đầu tư và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường sự đầu tư nhằm tạo
ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với khu nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng như mong muốn là rất khó khăn Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
* Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 đến 20 % so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
ICOR = Vốn đầu tư : GDP do vốn tạo ra = Vốn đầu tư : ∆GDP
Từ đó suy ra mức tăng GDP = vốn đầu tư : ICOR
Trang 8Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn
đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến Thực vậy, ở nhiều nước đầu tư đóng vai trò như một “cái hích ban đầu”, tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế ( các nước NICs, các nước Đông Nam Á)
* Đầu tư với sự tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước.Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu, phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi
1.2.3.2 Đối với các cơ sở vô vị lợi.
Hoạt động không thể thu lợi nhuận cho bản thân mình đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất -kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên Tất cả những hoạt động
và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư
1.2.3.3 Đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở
Chẳng hạn để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ
sở đều cần phải xây dựng nhà xưởng, tổ chức hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết
bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện
Trang 9các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư
1.2.4 Những đặc điểm của đầu tư phát triển.
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác, đó là:
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng cần nhiều thời gian và có nhiều biến động xảy ra
- Hoạt động đầu tư phát triển cần một khối lượng vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư
- Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được dựng lên
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian
- Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị
1.2.5 Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển và vốn đầu tư cho loại đầu tư này.
- Xuất phát từ lĩnh vực phát huy tác dụng đầu tư phát triển bao gồm các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng - kỹ thuật của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục, đầu tư phát triển các hoạt động y tế và dịch vụ xã hội khác…
- Xuất phát từ đặc trưng kỹ thuật của hoạt động, đầu tư phát triển bao gồm các hoạt động chuẩn bị đầu tư, mua sắm các đầu vào của quá trình thực
Trang 10hiện đầu tư, thi công xây lắp công trình, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản
có liên quan đến sự phát huy tác dụng sau này của công cuộc đầu tư phát triển
Với nội dung của hoạt động đầu tư phát triển trên đây, có thể chia vốn đầu tư thành các khoản sau:
+ Trên giác độ quản lý vĩ mô vốn đầu tư được phân thành bốn khoản mục lớn như sau: Chi phí tạo ra tài sản cố định ( mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn cố định); những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn lưu động) và các chi phí thường xuyên gắn với một chu kỳ hoạt động của các tài sản cố định vừa được tạo ra; những chi phí chuẩn bị đầu tư; chi phí dự phòng
+ Trên giác độ quản lý vi mô tại các cơ sở Những khoản mục trên đây lại được tách thành các khoản chi tiết hơn: những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm chi phí ban đầu về đất đai, chi phí xây dựng sửa chữa nhà cửa cấu trúc hạ tầng, chi phí mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị dụng cụ, mua sắm phương tiện vận chuyển, chi phí khác; Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm: chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất, chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông; chi phí chuẩn bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứu cơ hội đầu tư, chi phí nghiên cứu tiền khả thi, chi phí nghiên cứu và thẩm định các dự án đầu tư; chi phí dự phòng
1.3 Tổng quan về vốn đầu tư phát triển.
1.3.1 Khái niệm và bản chất vốn đầu tư.
1.3.1.1 Khái niệm vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư là các nguồn tập trung vào phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội Nguồn vốn đầu tư bao gồm : vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
1.3.1.2 Bản chất nguồn vốn đầu tư.
Trang 11Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất
xã hội Điều này được cả nền kinh tế cổ điển, kinh tế chính trị học Máclênin và kinh tế học hiện đại chứng minh
Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc” – Adam Smith cho rằng : “ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp của gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên.”
Các-mác đã chứng minh rằng: trong một nền kinh tế, với hai khu vực: khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của khu vực đều bao gồm ( C+V+m) trong đó C là phần tiêu hao vật chất, (V+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, khi đó điều kiện để đảm bảo tái sản xuất không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (V+m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất C của khu vực II Tức là :
(V+m)I > CIIHay nói cách khác:
(C+V+m)I>CII+CI
Có nghĩa rằng: tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I phải lớn hơn phần tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (cả hai khu vực để phần dôi ra phải dành cho đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo :
(C+V+m)II<(V+m)I+(V+m)IITức là, toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn nền kinh
Trang 12tế mới có thể giành được thu nhập để tái sản xuất mở rộng từ đó quy mô vốn sản xuất kinh doanh cũng sẽ tăng.
Như vậy, để đảm bảo nguồn lực gia tăng cho sản xuất, gia tăng qui mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực.Hay con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và tiết kiệm cả trong sản xuất
và tiêu dùng
Các nhà kinh tế học hiện đại tiếp tục chứng minh quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư như trong tác phẩm “Lí thuyết tương quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ”,John Maynard Keynes đã chứng minh được rằng :Đầu tư chính bằng phần thu nhập không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng:
Tức là:
Thu nhập= Tiêu dùng +Đầu tưTiết kiệm= Thu nhập – Tiêu dùngNhư vậy :
Đầu tư =Tiết kiệmTheo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người tiêu dùng Thu nhập chính là phần chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác Mặt khác, đầu tư
Trang 13hiện hành chính bằng sự tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ Vì vậy, xét
về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong điều kiện nền kinh
tế đóng Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm phần tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ Điểm cần chú ý là tiết kiệm và đầu
tư xem xét trên góc độ toàn bộ nề kinh tế không nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp nào Bởi thị trường vốn sẽ điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang người cần sử dụng vốn
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải lúc nào cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn phần đầu tư tại nước đó, trong trường hợp này, vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai
1.3.2 Các nguồn huy động vốn đầu tư.
1.3.2.1 Nguồn vốn trong nước.
*Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn của ngân sách nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới
và mở cửa,tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội Hiện nay nguồn vốn này có
Trang 14mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục vụ công tác quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô.Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Cho đến nay, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đầu tư vào ngành công nghiệp trên 60% tổng vốn đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn
Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy
mô vốn đầu tư của toàn xã hội
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự
Trang 15án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể, phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch đô thị và nông thôn.
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn này bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của doanh nghiệp dân doanh, của các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh
tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để
Vốn của dân cư phụ thuộc vào chi tiêu và thu nhập của hộ gia đình Quy
mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
+ Tập quán tiêu dùng của dân cư
+ Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập
và các khoản đóng góp đối với xã hội
+ Trình độ phát triển của đất nước
+ Với khoảng vài vạn doanh nghiệp ngoài nhà nước đang và sẽ đi vào hoạt động, phần tích luỹ của các doanh nghiệp này sẽ đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội
Thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế cởi mở nhằm huy động mọi nguồn lực cho đầu tư được thực hiện, trong những năm gần đây các loại hình doanh nghiệp dân doanh có những bước phát triển mạnh mẽ Hàng chục ngàn doanh nghiệp được thành lập với số vốn hàng chục ngàn tỷ đồng
* Thị trường vốn trong nước
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường
Trang 16Thông qua thị trường vốn, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương cũng có thể huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình của mình bằng việc phát hành các loại chứng khoán nợ như trái phiếu, công trái…Xét về mặt kinh tế, hình thức huy động vốn này của nhà nước là rất tích cực Nó góp phần vào việc kiềm chế lạm phát do chính phủ không phát hành thêm tiền giấy vào lưu thông nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình.
Mặt khác, đứng trên giác độ hiệu quả, thị trường vốn thực sự trở thành một cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn Thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng không chỉ được coi là một kênh huy động vốn của nền kinh tế
mà nó còn góp phần tích cực trong việc khắc phục tình trạng khan hiếm vốn và
sự lãng phí trong quá trính sử dụng vốn của toàn xã hội
1.3.2.2 Nguồn vốn nước ngoài.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển quốc tế Tính theo tính chất lưu chuyển vốn có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
+ Tài trợ chính thức
+ Nguồn tín dụng từ các ngân sách thương mại
+ Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI
+ Nguồn huy động qua thị trường quốc tế
* Nguồn vốn ODA : Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế
và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển ODA mang tính chất ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF nào khác Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%
Trang 17Trong thời gian qua việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có rất nhiều thuận lợi
Tuy có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe Vì vậy để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợc thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế Điều đấy còn hàm ý rằng ngoài những yếu tố thuộc
về nội dung tài trợ còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được các mục tiêu có tính nguyên tắc
* Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển đối với tất cả các nước không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển
Nguồn vốn này có đặc điểm cơ bản khác với nguồn vốn nước ngoài khác
là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Nhà đầu tư không nhận lãi suất trên vốn đầu tư mà sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước tiếp nhận đầu tư
Đối với nước ta, sau hơn mười năm thực hiện chính sách mở cửa, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp phần bổ sung vốn quan trọng cho
Trang 18đầu tư phát triển, tăng cường tiềm tực để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước như: dầu khí, điện…
Đóng góp cho ngân sách nhà nước của khu vực đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể Đặc biệt, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, bưu chính viễn thông…Bước đầu hình thành được các khu công nghiệp, khu chế suất, khu công nghiệp cao góp phần thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đô thị hoá các khu vực phát triển, hình thành các khu dân cư mới, tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương
* Thị trường vốn quốc tế với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo lên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu Thực tế cho thấy, mặc dù trong vòng 30 năm qua tất cả các nguồn vốn đều có sự gia tăng về khối lượng, nhưng luồng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán có mức tăng nhanh hơn các nguồn vốn khác
Đối với Việt Nam để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nhà nước rất coi trọng việc huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm công an việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Trong điều kiện Việt nam hiện nay, hình thức huy động vốn này có những ưu điểm và nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Tạo điều kiện cho nước ta tiếp cận với thị trường vốn quốc tế, trực tiếp tham gia thị trường vốn quốc tế sẽ là cơ hội tốt để thúc đẩy thị trướng chứng khoán Việt Nam phát triển trong tương lai
Trang 19+ Có thể huy động vốn với số lượng lớn trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế mà không bị giàng buộc bởi các điều kiện về tín dụng.
+ Đối với hình thức huy động này, người đi vày có thể tăng thêm tính hấp dẫn bằng cách đưa ra một số yếu tố kích thích như: cho phép chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu…
+ Khả năng thanh toán cao do có thể mua bán, trao đổi trên thị trường thứ cấp, chính vì vậy hình thức này tương đối hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
- Hạn chế:
+ Việt Nam vẫn còn quá ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này
+ Hệ số tín nhiệm của Việt Nam còn rất thấp
Bởi vậy để phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế, Việt Nam phải nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng, lựa chọn cẩn thận loại hình trái phiếu phát hành, thời gian đáo hạn, thị trường phát hành và nhà bao tiêu phù hợp với điều kiện của Việt Nam
* Nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA Tuy nhiên bù lại, nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc chính trị, xã hội Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo
Đối với Việt Nam, việc tiếp cận đối với nguồn vốn này còn khá hạn chế
1.3.3 Ý nghĩa của việc phân tích biến động vốn đầu tư phát triển.
Trang 20Phân tích biến động vốn đầu tư phát triển một mặt cho phép đánh giá xu thế của hoạt động đầu tư trong từng thời kỳ và qua đó đánh giá tác động liên đới của sự biến động đó đến tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế,mặt khác cung cấp một số cơ sở quan trọng cho việc lập kế hoạch đầu tư thời kỳ tiếp theo.
Ngoài ra, thông qua việc phân tích biến động của vốn đầu tư phát triển theo thời gian, giúp chúng ta nhận thức được đặ điểm biến đổi của vốn đầu tư qua thời gian và tính qui luật của hiện tượng qua thời gian, từ đó dự đoán được vốn đầu tư phát triển cho năm sau, qua đó đề ra những chính sách và giải pháp phù hợp
1.4 Sơ lược tình hình chung về vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam 1.4.1 Thực trạng huy động vốn đầu tư ở Việt Nam.
Theo số liệu thu thập được thì vốn đầu tư của Việt Nam qua một số năm như sau:
Vốn trong nước
Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (triệu
USD)
1.4.2 Mục tiêu của nước về nguồn vốn đầu tư
Theo mục tiêu của Quốc hội đưa ra, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế thì:
-Phải tăng đầu tư hơn nữa vào ngành nông- lâm nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong các ngành này cần đầu tư nhiều cho chế biến nông sản để làm tăng giá trị của các sản phẩm thuộc các ngành này
Trang 21-Ngành dịch vụ: đầu tư mạnh cho dịch vụ động lực, như khoa học công nghệ, tài chính tiền tệ, du lịch…Mở rộng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào các ngành này để tăng tỷ trọng GDP.
-Trong ngành công nghiệp- xây dựng:vốn đầu tư phải lớn và mạnh ;đầu
tư cho công nghiệp cơ bản, công nghiệp phụ trợ để giảm tính gia công của sản xuất công nghiệp, để ít bị lệ thuộc vào thị trường và giá cả thị trường thế giới
Có vốn là rất quan trọng nhưng nếu không được đầu tư một cách có hiệu quả sẽ tăng gánh nặng nợ nần của vốn huy động đem ra đầu tư
Chương II
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN
TÍCH VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 2.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê vốn đầu tư phát triển.
2.1.1 Quy mô vốn đầu tư.
Quy mô vốn đầu tư là chỉ tiêu tổng hợp tính bằng tiền theo giá trị dự toán, phản ánh chi phí để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật thông qua việc xây dựng nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt các thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị máy móc và chi phí khác cần thiết để các cơ sở vật chất kỹ thuật có thể hoạt động được Như vậy, quy mô vốn đầu tư ở đây là chỉ tiêu tuyệt đối thời kỳ, tính theo đơn vị giá trị
Chỉ tiêu quy mô vốn đầu tư được tính cho toàn bộ nền kinh tế, từng ngành, từng đơn vị có tiến hành hoạt động đầu tư
2.1.2 Cơ cấu vốn đầu tư.
Trang 22Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá đầu tư, các nhà kinh tế phân loại đầu tư theo các tiêu thức khác nhau Mỗi tiêu thức phân loại đáp ứng những yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau, những tiêu thức phân loại đầu tư thường được sử dụng là:
2.1.2.1 Cơ cấu vốn đầu tư theo nội dung của vốn.
Theo nội dung, vốn đầu tư bao gồm các yếu tố chi phí sau:
• Chi phí xây lắp gồm:
+ Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng
+ Chi phí phá và tháo rỡ các vật kiến trúc cũ
+ Chi phí xây dựng các hạng mục công trình
+ Chi phí lắp đặt thiết bị
+ Chi phí di chuyển lớn thiết bị thi công và lực lượng xây dựng
• Chi phí thiết bị
+ Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ
+ Chi phí vận chuyển từ cảng và nơi mua đến công trình, chi phí lưu khó khăn, lưu bãi, chi phí bảo quản bảo dưỡng tại kho bãi, tại hiện trường
+ Thuế và chi phí bảo hiểm thiết bị công trình
• Chi phí khác
+ Do đặc điểm riêng biệt của khoản chi phí này nên nội dung của từng khoản chi phí được phân chia theo giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng
Cụ thể là:
- Chi phí khác ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi , báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án nói chung và các dự án chỉ thực hiện lập báo cáo đầu tư nói riêng
Trang 23Chi phí tuyên truyền, quảng cáo cho dự án.
Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án
Chị phí và lệ phí thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư
- Chi phí khác ở giai đoạn thực hiện đầu tư
Chi phí khởi công công trình
Chi phí đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất đai, hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí phục
vụ cho công tác tái định cư và phục hồi
Tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất
Chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế công trình, chi phí mô hình thí nghiệm, chi phí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việc phân tích, đánh giá kết quả cho việc đấu thầu xây lắp, mua sắm vật tư, thiết bị, chi phí giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị và các chi phí tư vấn khác…
Chi phí ban quản lý dự án
Chi phí bảo vệ an toàn, bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng công trình
Chi phí kiểm định vật liệu đưa vào công trình
- Chi phí khác ở giai đoạn đã kết thúc xây dựng đưa công trình vào sử dụng
Chi phí thực hiện việc quy đổi vốn, thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình
Chi phí tháo rỡ công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm…
Chi phí thu dọn vệ sinh công trình, tổ chức nghiệm thu, khánh thành và bàn giao công trình
Trang 24Chi phí đào tạo công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý sản xuất
Chi phí thuê chuyên gia vận hành và sản xuất trong thời gian chạy thửChi phí thường xuyên đối với các cơ sở hành chính sự nghiệp
Chi phí nguyên liệu, năng lượng và nhân lực cho quá trình chạy thử không tải và có tải, cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ
2.1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn.
Theo nội dung của vốn thì vốn đầu tư được phân thành:
• Vốn huy động trong nước( vốn tích luỹ của ngân sách, của doanh nghiệp, tiết kiệm của dân cư )
• Vốn huy đông từ nước ngoài ( vốn đầu tư dán tiếp, vốn đầu tư trực tiếp )
Phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai trò của mỗi nguồn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế
2.1.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội
Theo tiêu thức này, có thể phân chia vốn đầu tư phát triển thành vốn đầu
tư cho lĩnh vực sản xuất và vốn đầu tư cho lĩnh vực lưu thông dịch vụ
• Đầu tư lĩnh vực lưu thông dịch vụ là loại hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu
tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất địng không cao, lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao
• Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao vì đặc tính kỹ thuật của hoạt
Trang 25động đầu tư phức tạp, phải chịu nhiều yếu tố bất định mà trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu
ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật, thiên tai,
sự ổn định chính trị…) Loại đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của đầu tư trong tương lai xa; xem xét các biện pháp sử lý khi các yếu tố bất địh xảy ra để đảm bảo thu hồi vốn và có lãi khi hoạt động đầu tư kết thúc, khi các kết quả đầu tư đã hoạt động hết đời của mình
Trong thực tế, người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực lưu thông dịch vụ Tuy nhiên trên giác độ xã hội, loại hoạt động đầu tư này không tạo ra của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng do hoạt động đầu tư đem lại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các điaj phương, các tầng lớp dân cư
2.1.2.4 Cơ cấu vốn đầu tư theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư
Theo tiêu thức này, vốn đầu tư được phân chia thành:
*Vốn đầu tư cơ bản: nhằm tải sản xuất các tài sản cố định
*Vốn đầu tư vận hành: nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm các tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có,duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật không thuộc các doanh nghiệp
Đầu tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành, đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu tư cơ bản phát huy tác dụng Không có đầu tư vận hành thì các kế quả của đầu tư cơ bản không hoạt động được và ngược lại không có đầu tư cơ bản thì đầu tư vận hành chẳng để làm gì Đầu tư cơ bản thuộc đầu tư
Trang 26dài hạn, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư để tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là phức tạp, đòi hỏi số vốn lớn, thu hồi lâu.
Đầu tư vận hành chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn đầu tư, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp Đầu tư vận hành giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể thu hồi nhanh số vốn đầu tư sau khi đưa các kết quả đầu tư nói chung vào hoạt động
2.1.2.5 Cơ cấu vốn đầu tư theo cơ cấu tái sản xuất
Theo tiêu thức này, vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư theo chiều rộng và vốn đầu tư theo chiều sâu
*Vốn đầu tư theo chiều rộng là vốn có đặc điểm để khê động lâu, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao Vốn đầu tư theo chiều sâu thường có khối lượng ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng Đầu tư theo chiều roọng chính là đầu tư xây dựng mới, đó là việc đầu tư xây dựng nhà cửa, cấu trúc hạ tầng theo thiết kế được phê chuẩn lần đầu tiên Các nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng này là các tài sản cố định trước đây chưa có trong bảng cân đối tài tài sản cố định của ngành
*Đầu tư theo chiều sâu bao gồm các hình thức mở rộng, xây dựng lại và hiện đại hoá, đầu tư duy trì năng lực đã có
-Mở rộng là việc mua sắm thêm hoặc xây dựng thêm những đối tượng tài sản cố định mới nằm trong thành phần của tài sản cố định có sẵn nhằm ăng cường khối lượng sản xuất và sự hoạt động của cơ sở
-Xây dựng lại là việc đầu tư để bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây truyền sản xuất ở các cơ sở cho phù hợp với điều kiện sản xuất mới Hiện đại hoá là thực hiện tổng thể các biện pháp kỹ thuật nhằm áp dụng các biện
Trang 27pháp kỹ thuậ mới, cơ khí hoá và tự động hoá các bộ phận sản xuất đang hoạt động, thay thế các hoạt động cũ đang bị hao mòn hoặc lạc hậu bằng các thiết bị mới có năng suất và hiệu quả cao hơn.
-Duy trì năng lực đã có của các đang hoạt động là việc thực hiện các biện pháp nhằm bù đắp những tài sản cố định đã bị loại bỏ do hao mòn toàn bộ hoặc
hư hại hoàn toàn
Ngoài ra, trong trường hợp các tài sản cố định đã từng hoạt động nhưng
bị phá huỷ do thiên tai, chiến tranh … phải ngừng hoạt động thì việc đầu tư phải
để phục hồi sự hoạt động của các tài sản cố định này thuộc phạm trù tái sản xuất giản đơn nhưng có chứa đựng yếu tố tái sản xuất mở rộng trong điều kiện tiến
bộ khoa học không ngừng
2.1.2.6 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế
Theo tiêu thức này, vốn đầu tư phát triển bao gồm vốn đầu tư cho ngành:-Ngành nông nghiệp và lâm nghiệp
-Ngành thuỷ sản
-Ngành công nghiệp khai thác mở
-Ngành công nghiệp chế biến
-Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Trang 28-Các hoạt động có liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn.-Ngành quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc.
-Ngành giáo dục và đào tạo
-Ngành y tế và cứu trợ xã hội
-Hoạt động văn hoá và thể dục thể thao
-Hoạt động Đảng, Đoàn thể xã hội
Hiện tại ở Cục Thống kê Thái Bình trong các báo cáo vốn đầu tư phát triển ,vốn đầu tư phát triển được phân tổ theo tiêu thức: theo nguồn vốn, theo khoản mục đầu tư, theo ngành kinh tế
2.2 Một số phương pháp thống kê để phân tích biến động vốn đầu tư phát triển.
2.2.1 Yêu cầu cơ bản khi phân tích và dự báo thống kê.
2.2.1.1 Khái niệm phân tích và dự báo thống kê.
Phân tích và dự báo thống kê được hiểu là việc nêu nên một cách tổng hợp bản chất và tính qui luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số
Trang 29lớn trong điều kiện lịch sử cụ thể qua các biểu hiện về số lượng và tính toác các mức độ trong tương lai nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý.
2.2.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích và dự báo thống kê.
Có thể nói, phân tích và dự báo thống kê là biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Phân tích và dự báo thống kê giúp ta thấy rõ được bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng trong quá khứ, hiện tại, giúp tiên đoán được các mức độ của hiện tượng trong tương lai Đồng thời,
nó còn giúp chỉ rõ mối liên hệ nội tại giữa các bộ phận của tổng thể,mối liên hệ, tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu và các hiện tượng có liên quan Trên cơ sở đó, giúp ta nhận thức đúng đắn về hiện tượng, tìm các biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng tốt nhất, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện tại
2.2.1.3 Yêu cầu cơ bản khi phân tích và dự báo thống kê.
Để phân tích và dự báo thống kê thực hiện được nhiệm vụ của mình, mang lại những kết quả nghiên cứu chính xác, cần phải dựa trên:
+ Cơ sở phân tích lý luận kinh tế xã hội
+Căn cứ vào toàn bộ sự kiện thực tế và phải luôn đặt chúng trong mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau Không được bỏ qua hay xem nhẹ bất kỳ một sự kiện nào, dù là nhỏ nhất
+ Đối với những hiện tượng có tính chất và hình thức khác nhau, phải áp dụng phương pháp phân tích và dự báo khác nhau, phù hợp với bản thân chúng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể
2.2.2 Một số hình thức trình bày số liệu của vốn đầu tư.
2.2.2.1 Bảng thống kê.
* Định nghĩa bảng thống kê:
Trang 30Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách
có hệ thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu, đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê bao giờ cũng có các con số của các bộ phận và chung có liên hệ mật thiết với nhau
* Về hình thức: bảng thống kê bao gồm các hàng ngang, cột dọc, các tiêu
đề, tiêu mục và các tài liệu con số
Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung, ý nghĩa của bảng và của từng chi tiết trong bảngvà được đặt phía trên đầu bảng thống kê
Các con số được ghi vào các ô của bảng thống kê, mỗi con số phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu
* Về nội dung: bảng thống kê gồm hai phần: phần chủ để và phần giải thích
Phần chủ đề nói tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng thống kêPhần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức là giải thích phần chủ đề của bảng
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Trang 31+Bảng giản đơn: Là loại bảng thống kê, trong đó phần chủ đề không phân
Bảng 2.3: Tổng vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình giai đoạn
2001-2005 theo tiêu thức nguồn vốn.
Trang 32* Ý nghĩa và tác dụng của bảng thống kê.
Bảng thống kê có nhiều tác dụng quan trọng trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế nói chung và trong phân tích thống kê nói riêng Các tài liệu trong bảng thống kê đã được sắp xếp lại một cách khoa học, nên có thể giúp ta tiến hành mọi việc so sánh đối chiếu, phân tích theo các phương pháp khác nhau, nhằm nêu lên sâu sắc bản chất của hiện tượng nghiên cứu Khi sử dụng và trình bày các bảng thống kê một cách thích đáng, việc chứng minh vấn đề sẽ trở lên rất sinh động, có sức thuyết phục hơn cả những bài văn dài
2.2.2.2 Đồ thị thống kê.
* Ý nghĩa và tác dụng của thị thống kê
Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả
có tính chất qui ước các tài liệu thống kê Đồ thị thống kê sử dụng các con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày và phân tích các đặc điểm số lượng của hiện tượng Mặt khác, các đồ thị thống kê không trình bày chi tiết, tỷ mỉ các đặc trưng số lượng của hiện tượng mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất và xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng Các đồ thị thống kê được sử dụng rộng rãi trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế, nhằm mục đích hình tượng hoá:
+ Sự phát triển của hiện tượng qua thời gian
+ Kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng
+ Trình độ phổ biến của hiện tượng
+ Sự so sánh giữa các mức độ của hiện tượng
+ Mối liên hệ giữa các hiện tượng
+ Tình hình thực hiện kế hoạch
* Các loại đồ thị thống kê
Trang 33Trong thống kê thường dùng các loại đồ thị sau:
- Căn cứ vào hình thức biểu hiện có thể chia thành các đồ thị sau: + Biểu đồ hình cột
Với tốc độ phát triển tổng vốn đầu tư phát triển tỉnh Thái Bình giai đoạn
2001 – 2005 như sau ( lấy năm 2001 là 100% )
Bảng 2.4 Tốc độ phát triển tổng vốn đầu tư
Đơn vị: %
Tốc độ
Theo tài liệu trên có thể vẽ biểu đồ hình cột sau đây:
Đồ thị 2.1 Đồ thị tốc độ phát triển tổng vốn đầu tư
Trang 34+ Đồ thị kết cấu để biểu hiện kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng thường dùng các loại biểu đồ hình cột và hình tròn ( có chia nhỏ thành các hình quạt ).
Đồ thị 2.2 Đồ thị kết cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn của tỉnh Thái
Trang 35Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự thời gian ví dụ: Có tài liệu về tổng vốn đầu tư tỉnh
Thái Bình giai đoạn 2001 – 2005 như sau:
Bảng 2.5 Tổng vốn đầu tư tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 – 2005
1619946
1699842
2078231
2907424
Dãy số thời gian trên phản ánh tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh Thái Bình từ năm 2001 – 2005
Một dãy số thờigian bao gồm hai yếu tố: Thời gian và các số liệu của hiện tượng nghiên cứu
Độ dài giữa hai thời gian liền nhau gọi là khoảng cách thời gian Dãy số thời gian ở trên có khoảng cách thời gian là một năm
Các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu có thể biểu hiện bằng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân và được gọi là các mức độ của dãy số
Dựa vào các mức độ của dãy số phản ánh quy mô của hiện tượng qua thời gian, có thể phân dãy số thời gian thành dãy số thời kỳ và dãy số thời điểm
Dãy số thời kỳ là dãy số mà các mức độ là những số tuyệt đối thời kỳ, phản ánh quy mô của hiện tượng trong từng khoảng thời gian nhất định Ví dụ ở
trên là một dãy số thời kỳ, mỗi mức độ của dãy số phản ánh tổng vốn đầu tư
phát triển của tỉnh Thái Bình trong từng năm
Trang 36Dãy số thời điểm là dãy số mà các mức độ là những số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô của hiện tượng tại những thời điểm nhất định.
Các dãy số thời kỳ và dãy số thời điểm được gọi là dãy số tuyệt đối Trên
cơ sở các dãy số tuyệt đối có thể xây dựng các dãy số tương đối hoặc dãy số bình quân, trong đó các mức độ của dãy số là các số tương đối hoặc các số bình quân
Việc phân tích dãy số thời gian cho phép nhận thức các đặc điểm của hiện tượng biến động qua thời gian, tính quy luật của sự biến động, từ đó tiến hành
dự đoán về mức độ của hiện tượng trong thời gian tới
2.3.1.2 Một số chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian của quy mô vốn đầu tư.
* Mức độ bình quân qua thời gian
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ tuyệt đối của dãy
số thời gian Tuỳ theo dãy số thời kỳ hay dãy số thời điểm mà cách tính khác nhau
-Đối với dãy số thời kỳ mức độ bình quân qua thời gian được tính theo công thức sau đây:
n
y n
y y
y y
n i
n
=
= + + +
- Đối với dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau thì mức
độ bình quân được tính theo công thức:
2
1 4
3 3 2 2 1
−
+ + +
+ +
+ +
n
y y y
y y y y
Trang 37y y
y
Trong đó:
y i : Mức độ thứ I của dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau.
Đối với dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian không bằng nhau thì mức độ bình quân qua thời gian được tính theo công thức:
n
i i i
t
t y y
1 1
Trong đó:
y i -Mức độ thứ I trong dãy số.
t i - Độ dài thời gian có mức độ y i
* Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối
Chỉ tiêu này phản ánh về biến động về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian Tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể tính các chỉ tiêu về lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối sau đây:
Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối liên hoàn ( hay từng kỳ ): phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian liền nhau và được tính theo công thức sau đây:
δ : Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối liên hoàn ( hay từng kỳ ) ở thời
gian i so với thời gian đứng liền trước nó là i-1
yi: Mức độ tuyệt đối ở thời gian i
yi-1: Mức độ tuyệt đối của thời gian i-1
Nếu yi > yi-1 thì δi > 0: Phản ánh quy mô hiện tượng tăng Ngược lại, nếu
yi < yi-1 thì δi < 0: Phản ánh quy mô hiện tượng giảm.
Trang 38-Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối định gốc phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối trong khoảng thời gian dài và được tính theo công thức sau:
i
∆ = y i - y1 (i= 2, 3,… n)
Trong đó:
i
∆ : Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối định gốc ở thời gian i so với thời
gian đầu của dãy số
yi: Mức độ tuyệt đối ở thời gian i
y1: Mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu
-Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối bình quân: phản ánh mức độ đại diện của các lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối liên hoàn và được tính theo công thức sau đây:
y
δ =
1
) (
) (
) (
1
1 2
3 1 2 2
−
− + +
− +
y y y n
i i
n i
-Tốc độ phát triển liên hoàn: phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng ở thời gian sau so với thời gian liền trước đó và được tính theo công thức sau đây:
(%)
Trang 39Ti: Tốc độ phát triển định gốc thời gian i so với thời gian đầu của dãy số
và có thể biểu hiện bằng lần hoặc %
-Tốc độ phát triển bình quân:
Phản ánh mức độ đại diện của các tốc độ phát triển liên hoàn
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
1 1 2
1 3
n n
n
y
y t
t t t t
* Tốc độ tăng ( hoặc giảm )
Chỉ tiêu này phản ánh qua thời gian, hiện tượng đã tăng ( hoặc giảm ) bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu % Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các tốc
độ tăng ( hoặc giảm ) sau đây:
i
y
y y
(i = 2, 3, , n) hay a i = t i -100 (%)
-Tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn: phản ánh tốc độ tăng ( hoặc giảm )
ở thời gian i so với i-1 và được tính theo công thức sau đây:
Trang 40y
y y
(i = 2, 3, , n) hay a i = t i -100 (%)
Tức là tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn bằng tốc độ phát triển liên hoàn (tính bằng lần) trừ đi 1 ( nếu tốc độ phát triển liên hoàn biểu hiện bằng % thì trừ 100
-Tôc độ tăng ( hoặc giảm ) định gốc: phản ánh tốc độ tăng ( hoặc giảm )
ở thời gian i so với thời gian đầu trong dãy số và được tính theo công thức sau:
1
1
1 1
Tức là: Tốc độ tăng ( hoặc giảm ) định gốc bằng tốc độ phát triển định gốc ( biểu hiện bằng lần ) trừ đi 1 ( nếu tốc độ phát triển định gốc biểu hiện bằng % thì trừ đi 100 )
-Tốc độ tăng ( hoặc giảm ) bình quân: Phản ánh tốc độ tăng ( hoặc giảm ) đại diện cho các tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn và được tính theo công thức sau đây:
1
−
=t a
Nếu t tính bằng % thì a =t − 100
* Giá trị tuyệt đối 1% c ủa tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1% tăng ( hoặc giảm ) của tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn thì tương ứng với một quy mô cụ thể là bao nhiêu tính được bằng cách chia lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối liên hoàn cho tốc độ tăng ( hoặc giảm ) liên hoàn tức là:
1
1 1
i i i
y
y y
y y
a (i = 2, 3, …, n)