Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị viễn thông tin học tại Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITCMột số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị viễn thông tin học tại Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITCMột số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị viễn thông tin học tại Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITC
Trang 1Lời Nói Đầu
Khi nền kinh tế thị trường phát triển, khi nhịp đập của thươngtrường ngày càng trở nên hối hả thì cũng là lúc sản phẩm “thông tin”lên ngôi Nhu cầu về thông tin ngày càng trở nên đa dạng và phongphú Thông tin cần thiết cho mọi người, từ những người dân bìnhthường cho đến các nhà kinh doanh trong nước và quốc tế, hay thậmchí là các chính trị gia Để tương thích với làn sóng đó, ngành Bưuchính viễn thông - Tin học trong hơn một thập kỷ qua đã có nhữngbước phát triển mạnh và đột phá được đánh giá ngang tầm với nhiềunước phát triển Mạng lưới và các dịch vụ bưu chính viễn thông - tinhọc phát triển nhanh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội của đất nước đảm bảo an ninh quốc gia, phòng chống bão lụt
và giảm nhẹ thiên tai và đáp ứng các nhu cầu thông tin của xã hội.Hợp tác quốc tế được mở rộng và tăng cường, góp phần phát triểnhiện đại hóa nâng cao vị thế của ngành Viễn thông - Tin học ViệtNam trên trường quốc tế Sự thành công của ngành phần lớn do hiệuquả hoạt động nhập khẩu các thiết bị chuyên ngành tạo dựng một cơ
sở hạ tầng tiên tiến
Là một công ty được thành lập để kinh doanh các vật tư thiết bịviễn thông - tin học, mục đích của Công ty cổ phần tư vấn chuyểngiao công nghệ ITC cũng không nằm ngoài việc thực hiện chiến lượchiện đại hóa ngành Viễn thông - Tin học, tạo công ăn việc làm chongười lao động
Trang 2Chính vì vậy, sau một thời gian ngắn thực tập ở công ty, với sựhướng dẫn của thầy giáo Trần Chí Thành cùng các anh chị phòng
Kinh doanh, em đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm thúc đẩy
hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị viễn thông - tin học tại Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITC".
Nội dung chính của đề tài gồm:
Chương I - Lý luận chung về hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Chương II - Thực trạng hoạt động nhập khẩu của Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITC
Chương III - Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhập khẩu tại Công ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ ITC
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và ý kiến đónggóp của các thầy cô trong Khoa, đặc biệt là Thầy giáo PGS.TS TrầnChí Thành, ban lãnh đạo và anh chị ở Công ty cổ phần tư vấn chuyểngiao công nghệ ITC đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Do hạn chế về thời gian cũng như về phạm vi nghiên cứu, đề tàikhông tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy em rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp của thầy cô và cán bộ hướng dẫn để đềtài của em sẽ được hoàn thiện hơn
Trang 4Chương 1
lý luận chung về hoạt động kinh doanh nhập khẩu
I Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1 Khái niệm kinh doanh nhập khẩu
Kinh doanh nhập khẩu là một mặt của hoạt động kinh tế đốingoại dễ đem lại những hiệu quả đột biến cao, nhất là trong việc tạo ra
sự phát triển nhanh, phát triển một cách đột biến của lực lượng sảnxuất, tạo ra những khả năng đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Nhập khẩu hàng hoá là việc chuyển dịch hànghoá tư nước ngoài vào trong nước, việc kinh doanh nhập khẩu này chophép chúng rút ngắn thời gian hiện đại hoá nền kinh tế đồng thời gópphần thúc đẩy sự phát triển sản xuất trong nước trên tất cả các lĩnhvực: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Kinh doanh xuất nhậpkhẩu nói chung, kinh doanh nhập khẩu nói riêng còn tạo ra khả năngdẫn tới việc hình thành các liên doanh, liên kết giữa các chủ thể kinh
tế trong và ngoài nước một cách tự giác nhằm tạo ra sức mạnh pháttriển cho các chủ thể kinh tế trong nước
Kinh doanh nhập khẩu không chỉ tạo ra khả năng hợp tác giữacác chủ thể kinh tế trong nước với các chủ thể kinh tế ngoài nước màcòn thúc đẩy quá trình hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giớitrên tất cả các lĩnh vực, nó có tác động khơi thông nhiều nguồn chấtxám ở cả troang và ngoài nước góp phần thiết thực vào quá trình xâydựng đất nước
Trang 5Mặt khác kinh doanh nhập khẩu còn tạo điều kiện năng cao khảnăng kinh doanh thương mại quốc tế cho các tổ chức, cá nhân trongnước Đồng thời góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nóichung, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu nói riêng của nhà nước ta.
Đối với các doanh nghiệp trong nước, hoạt động kinh doanhnhập khẩu giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong nền kinh
tế thị trường, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệptrong nước và nước ngoài, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước
2 Vai trò của kinh doanh nhập khẩu
- Vai trò của kinh doanh nhập khẩu đối với doanh nghiệp :
Kinh doanh nhập khẩu trước hết là một hình thức kinh doanhgiúp cho doanh nghiệp đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận của mình,mặt khác lại có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanhnghiệp Sở dĩ như vậy vì doanh nghiệp có thể phát huy được tối đa cáclợi thế so sánh cua mình, chẳng hạn so sánh lợi thế về vị trí, lợi thế vềnguồn lực (nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn côngnghệ, nguồn thông tin ) lợi thế về kinh nghiệm, uy tín hay lợi thế vềcác mối quan hệ rộng rãi trên thị trường
Kinh doanh xuất nhập khẩu giúp cho quá trình sản xuất, kinhdoanh ở doanh nghiệp diễn ra bình thường Quá trình sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp sẽ chỉ được diễn ra một cách thườngxuyên, liên tục và ổn định khi nó được cung cấp đầy đủ, kịp thờinhững yếu tố đầu vào của sản xuất, đồng thời có thị trường để tiêu thụcác sản phẩm và dịch vụ và đầu ra Kinh doanh xuất nhập khẩu tạođiều kiện để gắn liền sản xuất với lưu thông và phân phối hàng hoá
Trang 6Kinh doanh xuất nhập khẩu nâng cao vị thế của doanh nghiệp,tạo thế lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường trong nước mà
cả trên thị trường quốc tế thông qua việc mua, bán hàng hoá ở thịtrường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng quan hệ bạn hàng
Kinh doanh nhập khẩu còn có vai trò điều tiết, hướng dẫn sảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp
- Vai trò của kinh doanh nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
Kinh doanh xuất nhập khẩu phục vụ đắc lực cho công cuộc đổimới kinh tế thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn, nguồn laođộng, và nguồn tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công laođộng, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹthuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triểncủa lực lượng sản xuất và làm thức tỉnh các nhu cầu tiềm tàng củangười tiêu dùng
Sự tăng trưởng nền kinh tế của một quốc gia đòi hỏi phải có bốnđiều kiện là: vốn, nhân lực thị trường và kỹ thuật công nghệ Đối vớiquốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay còn đang thiếu vốn,
kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đồng thời đang dư thừa lao động.Như vậy khi thực hiện kinh doanh nhập khẩu, các doanh nghiệp ViệtNam có thể chuyên môn hoá vào sản xuất, kinh doanh trong các ngànhnghề sử dụng các yếu tố dệt may, chế biến thuỷ hải sản, da giày đểxuất khẩu hay thực hiện kinh doanh các dịch vụ gia công quốc tế, xuấtkhẩu lao động bên cạnh đó, chúng ta sẽ tiến hành nhập khẩu nhữngmặt hàng chứa đựng nhiều yếu tố kỹ thuật công nghệ mà điều kiện sảnxuất trong nước chưa đáp ứng được, bổ sung cho yếu tố công nghệ
Trang 7đang khan hiếm trong nước Nói một cách khác thì nhập khẩu cũng làmột hình thức để tiến hành chuyển giao công nghệ tiên tiến, dần dầnthu hẹp khoảng cách về công nghệ giữa Việt Nam và các nước kháctrên thế giới.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng là một yếu tố góp phần mởrộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo ra sự hiểu biết quan hệ lẫnnhau giữa các quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trêntrường quốc tế
- Vai trò của nhập khẩu đối với ngành Bưu điện:
Trong nền kinh tế quốc dân, ngành Bưu điện được coi là mộtngành sản xuất vật chất đặc biệt, có đặc thù khác so với ngành sảnxuất khác Đó là tính thống nhất cao trong toàn ngành trong quá trìnhtạo ra sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp không phải là vật chất
cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được trảidài trên một vùng không gian rộng lớn Để hình thành một sản phẩmphải có sự tham gia cùng một lúc hay của nhiều nhà máy, xí nghiệptrên cùng một địa phương cách nhau rất xa
Giá trị sản phẩm của ngành là những hao phí về lao động và laođộng vật hóa kết tinh trong quá trình làm thay đổi lượng lao động từkhông gian này đến không gian kia trong một khoảng thời gian chophép nào đó Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm củangành không tách rời nhau và có ít nhất từ 2 đơn vị tham gia trở lên.Điều đó có nghĩa là sản phẩm của ngành được tiêu thụ ngay trong quátrình tạo ra nó
Trong sản xuất doanh nghiệp không có sản phẩm tồn kho chờtiêu thụ, không có sản phẩm ế thừa, không có phế phẩm
Trang 8Xuất phát từ đặc điểm này mà con đường duy nhất của cácdoanh nghiệp để tăng khối lượng tổng sản phẩm là hiện đại hóa mạnglưới, áp dụng công nghệ hiện đại để hoà nhập với thế giới, mở rộng thịtrường, mở rộng mạng lưới, mở rộng các chùm kênh liên tỉnh, quốc tế
và đa dạng hóa các chủng loại dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của kháchhàng một cách nhanh nhất với chất lượng tốt nhất Do đó, việc nhậpkhẩu được các thiết bị chuyên ngành có chất lượng phù hợp, đồng bộmạng lưới là công việc quan trọng đóng vai trò quyết định trong việcthực hiện tốt các chức năng của ngành
3 Yêu cầu của nhập khẩu
Yêu cầu nhập khẩu phải vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của xãhội, vừa phải tạo ra lợi nhuận cho các doanh nghiệp
Xác định mặt hàng nhâp khẩu phù hợp với kế hoạch phát triểnkinh tế – xã hội, khoa học kỹ thuật của đất nước và nhu cầu tiêu dùngcủa nhân dân Trước hết phải ưu tiên phập khẩu kỹ thuật công nghệtiên tiến và hiện đại phù hiện với điều kiện nước ta
Dành ngoại tệ cho nhập khẩu vật tư để phục vụ sản xuất trongnước xét thấy có hiệu quả hơn nhập khẩu
Nghiên cứu thị trường để nhập khẩu được hàng hoá thích hợp,với giá cả có lợi phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống cho nhân
- Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao côngnghệ, kể cả thiết bị theo con đường đầu tư hay viện trợ đều phải nắmvững phương châm đón đầu, đi thẳng và tiếp thu công nghệ hiện đại.Nhập khẩu phải chọn lọc, tránh nhập những loại công nghệ lạc hậucác nước đang tìm cách thải ra
Trang 9- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng nhanh xuất khẩu
Nền sản xuất hiện đại của nhiều nước trên thế giới đầy ắp nhữngkho tồn trữ hàng hoá dư thừa và những nguyên nhiên vật liệu Tronghoàn cảnh đó, việc nhập khẩu dễ hơn là sản xuất trong nước Trongđiều kiện các ngành sản xuất trong nước còn non kém của Việt Nam,giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn Nhưng chỉnhập khẩu không chú ý tới sản xuất sẽ bóp chết sản xuất trong nước
Vì vậy cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước trong từng thời
kỳ để bảo hộ và mở mang sản xuất trong nước vừa đáp ứng nhu cầutiêu dùng nội địa vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thịtrường ngoài nước
4 Các công cụ quản lý hoạt động nhập khẩu
- Thuế nhập khẩu
+ Mục đích: thuế nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất trong nước,hướng dẫn tiêu dùng trong nước và góp phần tạo nguồn thu cho ngânsách
+ Biểu thuế quan: Được xác định trên cơ sở chính sách của mỗinước, mức thuế có thể tính chung cho tất cả các nước theo từng mặthàng, nhưng cũng có thể tính riêng cho từng nhóm nước Mức thuế chỉ
có thể có một nhưng cũng có thể có hai mức: thông thường và ưu đãi
Để khuyến khích nhập khẩu phục vụ sản xuất và xuất khẩu Luậtthuế xuất khẩu, nhập khẩu còn quy định những trường hợp miễn giảm
và hoàn lại thuế
Thuế nhập khẩu là một công cụ để bảo vệ ngành công nghiệpnon trẻ vì thuế nhập khẩu có xu hướng làm tăng giá trên thị trường nội
Trang 10địa, giảm khối lượng tiêu thụ, ngoài ra thuế nhập khẩu còn có mụcđích thu ngân sách.
- Hạn ngạch nhập khẩu: là quy định của nhà nước hạn chế nhập
khẩu hoặc xuất khẩu số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nào đó hoặcmột thị trường nào đó trong một thời gian nhất định
Mục tiêu áp dụng cho biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạnngạch của nhà nước nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, sử dụng cóhiệu quả quỹ ngoại tệ, bảo đảm cam kết của chính phủ ta với nướcngoài
- Giấy phép nhập khẩu : quy định hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu có điều kiện theo NĐ57/CP của Chính phủ
- Quản lý ngoại tệ: Đối với những nước thiếu ngoại tệ như nước
ta, áp dụng biện pháp kiểm soát ngoại tệ bằng cách điều tiết nhập khẩumột số loại sản phẩm thông qua việc phân phối lại ngoại tệ để nhậpkhẩu các mặt hàng đó qua Ngân hàng quốc gia nhiều nước quy định
“hạn ngạch ngoại tệ“ trên cơ sở hạn ngạch nhập khẩu được cấp Ngườinhập khẩu có thể ký kết hợp đồng mua hàng ở nước ngoài, nhưng phảixin được quyền sử dụng ngoại tệ của nước mình
ii Các hình thức nhập khẩu của ngành Bưu điện
Trên thực tế, việc mua sắm nhập khẩu thường được thực hiệntheo hình thức sau:
1 Nhập khẩu trực tiếp
Đây là phương thức chủ yếu của kinh doanh xuất nhập khẩu và
nó lưu chuyển khoảng 2/3 hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới,Phương thức này sẽ giúp cho nhà nhập khẩu trực tiếp liên hệ với bạn
Trang 11hàng và không bị mất một khoản chi phí nào khác cho các tổ chứctrung gian Tuy nhiên, phương thức này đòi hỏi nhà nhập khẩu phải cónhững kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vựckinh doanh xuất khẩu theo pháp luật của nước sở tại Đây là điều rấtkhó khăn và ít xẩy ra đối với các đơn vị không trực tiếp kinh doanhthương mại xuất nhập khẩu.
2 Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là phương thức nhập khẩu mà một doanhnghiệp có nhu cầu nhập khẩu nhưng không có đủ điều kiện để tiếnhành nhập khẩu trực tiếp hoặc tiến hành nhập khẩu trực tiếp thì khôngmang lại hiệu quả nên uỷ thác cho một doanh nghiệp khác có khảnăng nhập khẩu trực tiếp với hiệu quả cao, nhập khẩu hàng hoá theoyêu cầu của mình Phương thức nhập khẩu qua trung gian này có thểgiúp doanh nghiệp khai thác được thông tin, kiến thức, nguồn tàichính, nguồn nhân lực và các mối quan hệ của người trung gian Tuynhiên các nhà uỷ thác sẽ bị mất một phần lợi nhuận do phải chi ra mộtkhoản chi phí gọi là phí uỷ thác hay hoa hồng đại lý, mặt khác họcũng bị mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường mà lại là thị trườngnước ngoài, một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh.Trên thực tế, trong kinh xuất nhập khẩu hàng hoá là các vật tư, thiết bịmáy móc thông thường phải qua 3 bước thậm chí 4 bước trung gian,
do đó xuất nhập khẩu uỷ thác là phương thức kinh doanh tương đốiphổ biến trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển
3 Nhập khẩu thông qua đấu thầu quốc tế
Đây là phương thức nhập khẩu mà doanh nghiệp có nhu cầunhập khẩu tổ chức đấu thầu quốc tế để thu hút các nhà cung cấp tiềm
Trang 12năng đến tham dự và trả giá cũng như đưa ra các điều kiện giao dịchkhác cho việc cung cấp hàng hoá mà doanh nghiệp muốn mua Đây làmột phương pháp mua bán đặc biệt vì người bán là người trả giá cònngười nhập khẩu là người chọn giá, do đó nó tạo ra môt tính cạnhtranh rất cao giữa các nhà cung cấp và tạo ra một áp lực giảm giá đốivới họ, Theo phương thức này người nhập khẩu có thể chọn được chomình một đối tác có giá trị dự thầu thấp nhất với những điều kiện tíndụng phù hợp với việc mua sắm nhập khẩu hàng hoá của mình.
III Tổ chức thực hiện hoạt động nhập khẩu
Việc tổ chức hoạt động kinh doanh đối với bất kỳ doanh nghiệpnào cũng rất quan trọng vì nó trực tiếp quyết định đến sự thành bạitrong kinh doanh Đặc biệt khi tham gia vào kinh doanh trên thịtrường quốc tế, do những sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán, văn hoá,
về môi trường kinh doanh lại càng quan trọng và khó khăn hơn Trongkinh doanh nhập khẩu, việc tổ chức thực hiện hoạt động của doanhnghiệp nên tuân theo các bước sau đây:
Lập phương án kinh doanh ; điều tra ; nghiên cứu thị trường ; đàmphán và ký kết hợp đồng; thực hiện hợp đồng; giải quyết tranh chấp vàkhiếu nại (nếu có)
1 Lập phương án kinh doanh
Đây là bước khởi đầu của một doanh nghiệp khi bước vào kinhdoanh Doanh nghiệp cần phân tích khả năng và nguồn vốn của mình
để trả lời các câu hỏi: đâu là thị trường của doanh nghiệp? Dung lượngthị trường là bao nhiêu? Sự thích ứng của sản phẩm đó trên thị trường
đó như thế nào ? Phương thức tiến hành ra sao? Lập kế hoạch kinhdoanh bao gồm các công việc:
Trang 13a Lựa chọn thị trường nhập khẩu:
Việc lựa chọn các bạn hàng nước ngoài tuân theo các nguyên tắcđôi bên cùng có lợi Thông thường các doanh nghiệp thường lưu tâmtrước hết đến những mối quan hệ cũ của mình sau đó là các bạn hàng
mà các doanh nghiệp khác trong nước đã quen Các bạn hàng thườngđược phân theo các khu vực thị trường như: Châu Âu - Châu Mỹ -Châu á - Châu Phi - Châu Đại Dương Tuỳ thuộc vào sản phẩm màdoanh nghiệp lựa chọn để buôn bán quốc tế, mà có các quốc gia đốitác ưu tiên Chẳng hạn hàng dệt may của Việt Nam thì hiện đang cócác khu vực và nước ưu tiên khai thác (do đã ký được các hiệp địnhnhư EU, Canada, Na-uy, Thổ Nhỹ Kỳ và Mỹ )
b Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu :
Đối với các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nhập khẩu thìnhững mặt hàng được lưạ chọn phải thuộc phạm vi được xác định tạigiấy phép kinh doanh Đối với các tổ chức mua sắm nhập khẩu thì cácmặt hàng nhập khẩu được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu mua sắm củamình
c Lựa chọn các phương thức giao dịch:
Trong mục này sẽ nêu ra một số phương thức giao dịch chủ yếutrên thị trường quốc tế mà các doanh nghiệp cấn biết tới:
Giao dịch thông thường: Là sự giao dịch mà người mua và ngườibán thảo luận trực tiếp với nhau thông qua thư từ, điện tín để bàn vềcác điều khoản sẽ ghi trong hợp đồng Các bước tiến hành giao dịchthông thường gồm 4 bước : Hỏi giá, báo giá, chào hàng, chấp nhận,xác nhận
Trang 14Giao dịch qua trung gian: Là việc người mua hoặc người bánquy định những điều kiện trong giao dịch mua bán hàng hoá và nhờtới sự giúp đỡ của người thứ ba để đàm phán và đi đến ký kết hợpđồng.
Buôn bán đối lưu: Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩukết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua,lượng hàng hoá trao đổi với nhau có giá trị tương đương
Đấu giá quốc tế: Đây là phương thức bán hàng đặc biệt được tổchức công khai ở một nơi nhất định, tại đó sau khi xem xét trước hànghoá, những người mua cạnh tranh với nhau trong việc trả giá và cuốicùng ai trả giá cao nhất sẽ được mua hàng hoá đó
Đấu thầu quốc tế: Đây là phương thức giao dịch, trong đó ngườimua công bố trước điều kiện mua hàng để các người bán đưa ra giámình muốn bán
Ngoài ra còn có một số loại các giao dịch khác như :
- Giao dịch tai sở giao dịch hàng hoá
- Giao dịch tại hội chợ và triển lãm
d Lựa chọn điều kiện cơ sở giao dịch:
Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, từng mặt hàng cụ thể mà cácbên lựa chọn diều kiện cơ sở giao dịch cho phù hợp Trên thực tế, cácdoanh nghiệp còn phải dựa trên các phương thức vận tải trong vàngoài nước để chọn điều kiện giao dịch cho phù hợp
e Lựa chọn phương thức thanh toán:
Có nhiều phương thức thanh toán mà các bên có thể lựa chọn sửdụng, tuy nhiên trên thực tế, thông thường các doanh nghiệp kinh
Trang 15doanh xuất nhập khẩu thường thanh toán bằng L/C để đảm bảo quyềnlợi cho cả hai bên
2 Tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường
Việc điều tra nghiên cứu thị trường là nhằm tìm kiếm các cơ hộithuận lợi có hiệu quả cho việc thâm nhập thị trường, mục đích củaviệc nghiên cứu thị trường là nhằm tìm ra thị trường cho hàng hoá,dịch vụ trong một thời gian nhất định với một nguồn tài lực hạn chế.Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu thì đây là hoạt động nghiên cứuthị trường nước ngoài
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại xuất nhậpkhẩu thì hoạt động nghiên cứu thị trường bao gồm cả nghiên cứu thịtrường trong nước và ngoài nước Sở dĩ như vậy là vì đối với doanhnghiệp này, bên cạnh việc tìm bạn hàng cung cấp hàng nhập khẩu thìviệc tìm các bạn hàng tiêu thụ những hàng hoá nhập khẩu ấy cũngkhông kém phần quan trọng Công tác nghiên cứu thị trường bao gồmcác vấn đề chủ yếu sau:
a Nội dung nghiên cứu thị trường thế giới:
Nghiên cứu thị trường thế giới là nhằm tìm kiếm cơ hội thuận lợi
có hiệu quả cho việc thâm nhập trong quan hệ thương mại của doanhnghiệp với nước ngoài, nghiên cứu thị trường để tìm thị trường chocác hàng hoá, dịch vụ trong một khoảng thời gian và nguồn tài lực hạnchế Công tác nghiên cứu thị trường gồm 3 vấn đề chủ yếu sau:
- Nghiên cứu chính sách ngoại thương của các quốc gia
- Xác định và dự báo biến động của quan hệ cung cầu hàng hoátrên thị trường thế giới
Trang 16- Tìm hiểu thông tin giá cả và phân tích cơ cấu các loại giá quốctế
• Nghiên cứu các chính sách ngoại thương của các quốc gia :
giúp doanh nghiệp nắm được những thông tin cần thiết khi kinh doanhvới các doanh nghiệp nước ngoài như mức độ ổn định của chính sáchngoại thương, sự can thiệp hay ưu đãi của các chính phủ nước ngoàikhi doanh nghiệp tham gia kinh doanh tại thị trường của quốc gia đó.Chính sách ngoại thương của các quốc gia bao gồm:
Sự can thiệp của Chính phủ đối với các doanh nghiệp kinh doanhthương mại quốc tế ra sao?
• Xác định và dự báo biến động của quan hệ cung cầu hàng
hoá trên thị trường thế giới:
Cung hàng hoá là khối lượng hàng hoá mà những người bán cóthể đáp ứng ở một mức giá cả nhất định
Cầu hàng hoá là khối lượng hàng hoá mong muốn mà người tiêudùng có khả năng tiêu thụ ở một mức giá nhất định
Các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu hàng hoá trên thị trường bao gồm:
- Nhóm nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi có tính chu kỳ :
Trang 17Trong nhóm này có thể kể ra những nhân tố quan trọng như sựvận động của tình hình kinh tế các nước trên thế giới, tính chất thời vụtrong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hoá.
Khi nghiên cứu các nhân tố nhóm này, các doanh nghiệp kinhdoanh thương mại quốc tế cần lưu ý tới sự vận động của các nước giữvai trò chủ yếu trên thị trường thế giới trong việc xuất nhập khẩu cácloại hàng hoá thuộc đối tượng nghiên cứu
Tuỳ thuộc vào tính chất của sản phẩm, cụ thể đó là sản phẩmcông nghiệp hay nông nghiệp mà chu kỳ sản xuất của chúng dài hayngắn và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên đến mức nào? Chẳng hạnnếu hàng xuất nhập khẩu mà doanh nghiệp đang tiến hành nghiên cứu
là các hàng hoá nông nghiệp thì tính thời vụ là nhân tố không thểkhông nghiên cứu
- Nhóm nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường:
Các nhân tố thuộc nhóm này có thể kể ra như: tiến bộ khoa học
và công nghệ, biện pháp, chế độ chính sách của các nhà nước, thị hiếu,tập quán của người tiêu dùng, các hàng hoá thay thế chẳng hạn thịhiếu và tập quán người tiêu dùng nhiều khi không phụ thuộc vào chấtlượng hàng hoá đó Bởi vậy, nếu nắm bắt được thị hiếu và tập quáncủa người tiêu dùng sẽ cho phép mở rộng khối lượng cầu một cáchnhanh chóng
- Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường:
Các nhân tố thuộc nhóm này có thể kể ra như: sự đầu cơ, sự thayđổi chính sách bất ngờ của nhà nước hoặc của các tập đoàn kinh
Trang 18doanh lớn, các yếu tố bất thường khác như các xung đột chính trị - xãhội, chiến tranh, hạn hán bão lụt
Điều quan trọng khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đối với
sự thay đổi dung lượng thị trường là phải xác định nhân tố nào có ýnghĩa quyết định xu hướng phát triển của thị trường ở giai đoạn hiệntại và tương lai
Thông tin giá cả và phân tích cơ cấu các loại giá quốc tế
Giá cả thị trường là biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường, docung cầu hàng hoá trên thị trường quyết định, do người mua, ngườibán thoả thuận và quyết định
Giá cả quốc tế là mức giá có tính chất đại biểu cho một loại hànghoá nhất định trên thị trường thế giới, ở một thời điểm nhất định
Một mức giá cả muốn được coi là giá cả quốc tế thì phải hội đủ
ba điều kiện sau:
Mức giá đó được ghi trong hợp đồng thương mại
Mức giá đó phải thể hiện trên thị trường tập trung phần lớn khốilượng giao dịch để đảm bảo tính khách quan và sát với quan hệ cungcầu nói chung
Mức giá đó phải được tính bằng đồng tiền tự do chuyển đổi, vìthông qua đó dễ dàng so sánh với đồng nội tệ và ít chịu ảnh hưởng củayếu tố lạm phát ở từng quốc gia
Trên thực tế, biểu hiện của giá cả quốc tế còn gắn với nhữngđiều kiện không gian và thời gian cụ thể, với những điều kiện vàphương thức giao hàng nhất định Trong trao đổi mậu dịch quốc tế tồntại một số loại giá sau:
Trang 19Giá tham khảo: Là loại giá được công bố rộng rãi trong các tàiliệu tham khảo, chuyên môn, báo chí hằng ngày, trong các bảng báogiá
Giá đấu giá: Là giá cả hàng hoá khi có một hoặc ít người bán,trong khi đó lại có nhiều người mua Đặc điểm của loại giá nàythường cao hơn giá quốc tế Giá này thường áp dụng đối với các loạihàng khó tiêu chuẩn hoá về phẩm chất, quy cách
Giá đấu thầu: Là giá cả hàng hoá khi có một hoặc ít người mua,trong khi đó lại có rất ít người bán Đặc điểm của loại giá này thườngthấp hơn mức giá cả quốc tế Giá này thường áp dụng khi xây dựngcông trình hoặc bán vật tư, thiết bị cho các công trình
Đối với những loại hàng hóa không có các trung tâm giao dịchtruyền thống thì người ta thường lấy giá ở những nước xuất khẩu hoặcnhập khẩu chủ yếu ví dụ như dầu mỏ có thể lấy giá ở Trung Đông
Đối với những mặt hàng chuyên môn hoá cao và phức tạp nhưmáy móc, thiết bị thì người ta thường lấy giá ở hãng dự vị trí chủ yếutrong sản xuất và cung cấp nó trên thị trường
Đối với những mặt hàng có trung tâm giao dịch truyền thống thìchọn giá ở đó làm giá quốc tế
b Phương pháp nghiên cứu thị trường
Có hai phương pháp chủ yếu nghiên cứu thị trường đó là nghiêncứu tại bàn và nghiên cứu tại thị trường Hai phương pháp này đượckết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu tại bàn:
Trang 20Đây là phương pháp phổ biến nhất vì nó ít tốn kém và phù hợpvới khả năng của mọi cán bộ nghiên cứu Các tài liệu dùng để nghiêncứu tại bàn bao gồm
Các tài liệu xuất bản ở trong nước: Báo tạp chí, thống kê của cácngành và thống kê của tổng cục thống kê, tài liệu đại diện của thươngmại, của Bộ Thương mại ở các nơi gửi về
Các tài liệu xuất bản ở nước ngoài: Báo tạp chí, trung tâmthương mại quốc tế (ITC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO),Thống kê của Liên hiệp quốc (UNSO) các thống kê của các cơ quannước ngoài …Các tài liệu không xuất bản của các tổ chức cơ quan
* Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường :
Phương pháp này tốn kém hơn phương pháp trên Thông tin thuđược thông qua tiếp xúc với những người kinh doanh trên thị trườngbằng một số biện pháp sau:
Quan sát: Là phương pháp cổ điển và rẻ tiền nhất, tránh đượcthiên kiến của người trả lời câu hỏi Việc quan sát có thể được thựchiện thông qua mắt thường hoặc các phương tiện khác như quay phim,chụp ảnh , nhược điểm của phương pháp này là chỉ mô tả bên ngoài,tốn kém công sức và thời gian
Phỏng vấn trực tiếp: Là phương pháp có độ tin cậy cao và đòihỏi nghệ thuật của người phỏng vấn
Phỏng vấn qua điện thoại: Tỷ lệ trả lời qua điện thoại cao hơnnhiều so với thăm dò qua thư Đây là phương pháp tốt nhất để tiếp xúcvới những người bận việc hoặc với những người không muốn dànhthời gian cho một cuộc phỏng vấn
Trang 21Phỏng vấn qua thư: ít tốn kém nhất song lại có độ tin cậy kémnhất trong các phương pháp nghiên cứu tại thị trường.
3 Tổ chức ký kết hợp đồng
Đây là bước tiếp theo trong các công đoạn thực hiện hoạt độngkinh doanh nhập khẩu Sau khi đã điều tra nghiên cứu kỹ thị trường vàlên được một phương án kinh doanh phù hợp, doanh nghiệp phải tiếnhành đàm phán và đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu Tuỳ theophương thức nhập khẩu mà doanh nghịêp lựa chọn, các giai đoạn củađàm phán và ký kết hợp đồng có thể khác nhau Tuy nhiên các doanhnghiệp phải hết sức chú trọng đến các điều khoản thoả thuận tronghợp đồng, vì đó chính là cơ sở để thực hiện các hoạt động nhập khẩu
và là cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp phát sinh liên quanđến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Do tính chất quốc
tế, việc đàm phán và ký kết hợp đồng có thể thông qua thư từ, telex,fax, điện thoại chứ không nhất thiết là các bên phải trực tiếp đàmphán và ký kết hợp đồng
Khi ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại quốc tế, doanhnghiệp phải tập trung vào các điều kiện cơ bản sau:
Điều kiện tên hàng Điều kiện phẩm chấtĐiều kiện số lượng Điều kiện bao bì Điều kiện cơ sở giao hàng Điều kiện thanh toán Điều kiện khiếu nại Điều kiện bảo hành
Trang 22Điều kiện bất khả kháng Điều kiện trọng tài
Điều kiện vận tải
4 Tổ chức thực hiện hợp đồng
a Xin giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá:
Nhà nước quy định có 4 nhóm hàng như sau:
Những danh mục hàng hóa Nhà nước cấm xuất hoặc nhập khẩu.Những danh mục hàng hoá xuất, nhập khẩu theo quy chế quản lýchuyên ngành
Những danh mục hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch
Những danh mục hàng hoá có liên quan đến các cân đối lớn củanền kinh tế quốc dân
Các danh mục hàng hoá ngoài các danh mục được nêu trên đượcphép xuất nhập khẩu tuỳ theo nhu cầu của các doanh nghiệp Khi tiếnhành hoạt động xuất nhập khẩu các loại hàng hoá này, các doanhnghiệp đã có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mạicấp và có ngành hàng phù hợp thì không phải xin giấp phép xuất nhậpkhẩu của bất kỳ một cơ quan nào mà chỉ cần đến Hải quan làm thủ tục
để xuất hoặc nhập khẩu
- Chuẩn bị hàng xuất khẩu (Chuẩn bị nhập khẩu):
Đối với việc chuẩn bị hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần tổ chứclàm các công việc sau:
Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu: Nếu là doanhnghiệp kinh doanh thương mại đơn thuần thì phải tổ chức đi thu muahay thuê gia công hàng, đi nhận uỷ thác xuất Nếu là doanh nghiệpsản xuất thì tổ chức dự trữ ở doanh nghiệp
Trang 23Tổ chức đóng gói bao bì hàng xuất khẩu và kẻ ký mã hiệu hàngxuất khẩu sao cho phù hợp với hợp đồng đã ký và phù hợp với luậtpháp của người nhập khẩu
- Kiểm tra chất lượng hàng xuất nhập khẩu:
Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch xuất khẩu là nghĩa vụ của cácnhà sản xuất và được tiến hành ở hai cấp: ở cơ sở và ở cửa khẩu nhằmđảm bảo quyền lợi cho khách hàng và cho nhà sản xuất
Việc kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu có liên quan đến các
cơ quan nhà nước (ga, cảng, các cơ quan giám định ) trong các bướcnhư: kiểm tra niêm phong kẹp chì khi dỡ hàng, kiểm nghiệm, kiểmdịch Đơn vị nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên trên vận đơncần lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự có tổn thất, thiếuhụt không đồng bộ theo hợp đồng
b Thuê tàu lưu cước:
Tuỳ thuộc vào điều kiện đã ký kết trong hợp đồng mà việc quyếtđịnh thuê loại phương tiện vận tải nào được thực hiện Hiện nay, cácđơn vị kinh doanh xuất khẩu ở Việt Nam thường uỷ thác thuê tàu lưucước cho một công ty vận tải
c Mua bảo hiểm:
Khi mua bảo hiểm cần lưu ý đến các điều kiện bảo hiểm và lựachọn công ty bảo hiểm
Trang 24• Xuất trình hàng hoá: Đối với hàng xuất lượng ít, người ta vậnchuyển hàng hoá tới kho của hải quan để kiểm tra hàng hoá làm thủtục hải quan và nộp thuế (nếu có) Đối với hàng nhập cũng đưa tới khohải quan sau khi đã bốc lên bờ để làm thủ tục và nộp thuế (nếu có)
• Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiểm tra giấy
tờ và hàng hoá, hải quan sẽ ra các quyết định: Cho hàng qua biên giới,hoặc cho hàng qua biên giới sau khi chủ hàng đã nộp thuế xuất nhậpkhẩu, hoặc không được phép xuất nhập khẩu
e Giao nhận hàng xuất khẩu:
Chủ hàng cần tiền hành các hoạt động sau đây:
Lập bản đăng ký hàng chuyên chở
Xuất trình bản đăng ký cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàngTrao đổi với cơ quan điều độ cảm để nắm vững ngày giờ làmhàng
Bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu
Lấy biên lai thuyền phó: Đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đườngbiển hoàn hảo và chuyển nhượng được; sau đó chuyển gấp về bộ phậnchứng từ thanh toán
* Đối với hàng nhập khẩu:
Đơn vị kinh doanh nhập khẩu cần phải:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải (ga, cảng) về việc giaonhận hàng
- Xác nhận hoặc tiếp nhận hàng và cơ cấu mặt hàng tiếp nhận
- Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập về kếhoạch hàng về
Trang 25- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản chi phí thuộc phạm vicủa mình.
- Theo dõi đôn đốc và giải quyết các vấn đề xảy ra trong phạm vicủa mình trong quá trình nhận hàng
f Tổ chức thanh toán:
Thanh toán theo hình thức đã ghi trong hợp đồng và lưu ý rằngtrong quá trình thực hiện hợp đồng khi hàng hoá có tổn thất hoặcthanh toán có nhầm lẫn thì hai bên có thể khiếu nại hoặc đi kiện
5 Tổ chức giải quyết tranh chấp khiếu nại ( nếu có )
Trong một số trường hợp khi xảy ra các tổn thất, thiếu hụt, nhầmlẫn sẽ phát sinh các tranh chấp khiếu nại
Cơ sở để giải quyết khiếu nại là hợp đồng đã ký và các bằngchứng về việc tổn thất như biên lai giám định, vận đơn vận tải, cáchoá đơn Trên cơ sở các quy định đã thoả thuận trong hợp đồng vàtổn thất thực tế, hai bên quyết định biện pháp, hình thức, thời gian đểgiải quyểt các tranh chấp khiếu nại này Dù là bên khiếu nại hay bên
bị khiếu nại, doanh nghiệp nên lưu ý tới thời gian giải quyết và giaotrách nhiệm giải quyết vụ việc cho cán bộ đã phụ trách hợp đồng này.Trường hợp bất đắc dĩ thì đưa vụ việc ra toà án
Tóm lại, việc giải quyết các tranh chấp và khiếu nại thành công
là một biện pháp rất quan trọng, không những để thoả mãn các bêntrong hợp đồng mà còn đảm bảo việc tiếp tục buôn bán duy trì cáchợp đồng trong thời gian sau đó;
Mọi doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế phải luôn khaithác thị trường và các bạn hàng hiện tại, đồng thời không ngừng mởrộng tìm kiếm các thị trường mới Thực hiện tốt các khâu, các bước
Trang 26trên là cơ sở để tiếp tục các hoạt động buôn bán một cách thận lợi và
có hiệu quả hơn
IV Sự cần thiết của việc nhập khẩu thiết bị viễn thông tin học chuyển giao công nghệ trong quá trình CNH-HĐH đất nước
-Xu hướng hội nhập đang diễn ra một cách nhanh chóng và đangcuốn hút các nền kinh tế Các nền kinh tế ngày càng gắn bó khăng khít
và trở nên phụ thuộc vào nhau hơn Điều này khiến cho các quốc gialuôn cố gắng phát huy nội lực và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài(đặc biệt là thu hút FDI) Ngoài việc tạo ra các chính sách pháp lý và
cơ chế thích hợp, các điều kiện khác như con người, cơ sở hạ tầngđóng vai trò vô cùng quan trọng tạo điều kiện để các nền kinh tế tựchủ và phát triển trong kinh tế thế giới
Chính vì vậy, các yếu tố vĩ mô ngày càng có ảnh hưởng và tácđộng mạnh đến các hoạt động trong thành phần của một nền kinh tế
Xu hướng hội nhập đã khiến cho các nền kinh tế trở nên gắn bó vớinhau hơn mà trong đó của các dịch vụ truyền thông có ảnh hưởng sâurộng Các nền kinh tế dường như bị cuốn hút theo những xu hướngcủa thời đại (nếu như không muốn bị loại ra khỏi "cuộc chơi")
Một yếu tố mới - Công nghệ thông tin (CNTT) - đã và đangkhẳng định vai trò trong nền kinh tế tri thức nơi mà giá trị hàng hóađược quyết định không phải bằng nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm màbằng chất xám (tri thức) chứa đựng trong nó
Xu thế hợp nhất của điện tử, viễn thông và tin học cùng với sựphát triển mạnh mẽ của công nghệ IP sẽ làm cho cuộc cách mạngCNTT mang sắc thái toàn cầu
Trang 27Xu hướng hội tụ điện tử - viễn thông - tin học đã và đang diễn ranhanh chóng mà Internet trở thành điểm hội tụ công nghệ Điều nàykhiến cho sự ảnh hưởng của hệ thống truyền thông này ngày càng trởnên mạnh mẽ đối với hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Chỉ tiêu sốngười sử dụng Internet và mật độ sử dụng Internet trong một quốc gia
đã không những là một chỉ tiêu để đánh giá các giá trị phúc lợi haytrình độ dân trí của quốc gia đó mà còn được coi như một lợi thế sosánh giữa các nền kinh tế trong kinh tế thế giới
Các quốc gia ngày càng chú trọng hơn vào việc phát triển hạtầng cơ sở truyền thông và phát triển nguồn nhân lực phục vụ côngnghệ cao Việc ứng dụng các thành tựu trong lĩnh vực CNTT để pháttriển kinh tế tại các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng và CNTT
sẽ có thể được coi là trung tâm của nền kinh tế thế giới Một chínhsách đúng đắn của Chính phủ sẽ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình hiệnđại hóa ngành CNTT lên rất nhanh và ngược lại
Một trong những yếu tố quan trọng nhất được các quốc gia quantâm khi hoạch định các chính sách về mở cửa đó là khả năng cạnhtranh Khái niệm cạnh tranh đã được mở rộng, cạnh tranh giữa các nềnkinh tế trong nền kinh tế toàn cầu và cạnh tranh giữa các hãng đã thoát
ra khỏi phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Vì vậy, các hình thức cạnhtranh và diễn biến của sự cạnh tranh trong lĩnh vực cạnh tranh các dịch
vụ cũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Dường như các hãng
đã và đang ngày càng tập trung vào việc nghiên cứu các đối thủ cạnhtranh và tăng cường các hoạt động nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh.Cạnh tranh trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng để xác định sựtồn tại, phát triển hay tàn lụi của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào
Trang 28* Đối với việc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam:
Bộ Chính trị đã nhận định: "Công nghệ thông tin (CNTT) là một
trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội của thế giới ứng dụng và phát triển CNTT ở nước
ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các nền kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa."
Một trong những yêu cầu chiến lược mà Bộ Chính trị đặt ra là:
"Đẩy nhanh việc xây dựng mạng thông tin quốc gia bao gồm hệ thốngviễn thông và Internet Việt Nam
- Đẩy mạnh đầu tư mạng thông tin quốc gia bao gồm hệ thốngviễn thông và Internet Việt Nam Phát triển nhanh mạng thông tinquốc gia đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của toàn xã hội, đặcbiệt sớm hình thành siêu xa lộ thông tin trong nước và liên kết với cácnước trong khu vực và quốc tế
- Từ năm 2001, đảm bảo cung cấp đầy đủ và thuận lợi các dịch
vụ viễn thông và Internet cho người sử dụng với tốc độ và chất lượngcao, giá cước thấp hơn hoặc tương đương với các nước trong khu vực;
áp dụng giá cước ưu đãi đặc biệt đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước
và các lĩnh vực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu
Trang 29Như vậy, vai trò của Internet đối với sự phát triển kinh tế xã hội
là vô cùng to lớn Các quốc gia khác đều đã khẳng định rằng, kẻ nàonắm bắt được Internet sẽ thống trị thế giới truyền thông trong tươnglai, và điều đó bao hàm mọi nguy cơ đối với văn hóa, tự do và tinhthần của con người Đó chính là xu hướng chuyển dịch của các nhân
tư duy, công nghệ với vai trò là một Tổng công ty 91 Việt Nam - đơn vịchủ yếu đang cung cấp các dịch vụ bưu chính - viễn thông - Internet vàtruyền số liệu tại Việt Nam, VNPT đã hội tụ được đủ các điều kiện vềnhân lực, công nghệ trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin gópphần giữ vững an ninh quốc phòng nâng cao dân trí, văn minh xã hội, cảithiện đời sống của nhân dân
Sự phân tích tình hình xu hướng phát triển kinh tế thế giới, vai tròcủa Internet trong thiên niên kỷ mới và đặc biệt khi so sánh với hiện trạngkinh tế - xã hội tại Việt Nam, đã nói lên sự cần thiết phải tập trung đầu tưcho một hệ thống "Hạ tầng cơ sở thông tin - Internet" phục vụ cho sựnghiệp CNH - HĐH đất nước
Đồng thời với vai trò phục vụ, sản xuất kinh doanh và tăng năng lựccạnh tranh (chuẩn bị cho việc mở cửa và hội nhập bưu chính - viễn thông)
Trang 30là một mục tiêu vô cùng quan trọng của VNPT Phương châm đi tắt đónđầu các công nghệ mới đã ngày càng được khẳng định trong chiến lượcphát triển của VNPT.
Như vậy, việc nhập khẩu các thiết bị viễn thông - tin học hiện đại sẽgóp phần phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Chương II
Thực trạng hoạt động nhập khẩu của công ty cổ phần tư vấn
chuyển giao công nghệ ITC
I Giới thiệu tổng quan về công ty ITC
1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty ITC
a Tư cách pháp nhân:
Công ty TNHH tư vấn chuyển giao công nghệ viễn thông tin họcchính thức được thành lập từ đầu năm 1995, giấy phép thành lập số
1912 GP/UB do UBND TPHN cấp ngày 27/6/1995, giấy phép đăng
ký kinh doanh số 049488 do Uỷ ban kế hoạch thành phố Hà Nội cấpngày 3/7/1995 Với mục đích mở rộng phạm vi kinh doanh, tăng vốnđầu tư từ năm 2001, hiện nay đã đổi tên thành Công ty cổ phần tư vấnchuyển giao công nghệ ITC, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
Trang 31Tên giao dịch quốc tế hiện nay: ITC Innovated Technology forcommunication joint stock company (viết tắt là ITC., JTC).
Ngành nghề kinh doanh hiện nay:
+ Sản xuất phần mềm tin học
+ Sản xuất, lắp ráp, sửa chữa các sản phẩm điện, điện tử + Dịch vụ tư vấn và chuyển giao công nghệ viễn thông tinhọc
+ Buôn bán hàng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng
+ Đại lý mua, bán ký gửi hàng hoá
+ Tư vấn, láp ráp máy phát điện và tổ hợp máy phát điện cácloại
+ Xây lắp điện, đường dây và trạm biến thế đến 35KV
+ Buôn bán kim khí điện máy, đồ điện, sản phẩm tin học,thiết bị văn phòng, linh kiện điện tử
Chi nhánh công ty ITC tại thành phố Hồ Chí Minh:
Phòng 312, Số 7 Nam Quốc Cang, Quận 1, Tp HCM Tel: (08) 9.253304
Fax: (08) 9.244284
Email: itchcm@itc.com.vn
Trang 32b Các lĩnh vực hoạt động:
Tên giao dịch quốc tế: ITC INNOVATED TECHNOLOGYFOR COMMUNICATION JOIN STOCK COMPANY (viết tắt làITC., JTC)
Lĩnh vực hoạt động chính của công ty nằm trong chức năng kinhdoanh đầu tiên và được thể hiện qua tên gọi của công ty - đó là công
ty cổ phần tư vấn chuyển giao công nghệ itc
Để đáp ứng các giảp pháp tổng thể, công ty ITC., JSC cung cấpnhững giải pháp truyền dẫn bảo vệ nguồn cho các hệ thống thông tin,
hệ thống điều khiển công nghiệp, hệ thống an ninh Bằng quan hệ vớicác đối tác có hệ thống mạnh về các hệ thống truyền dẫn như: RAD,AHEADCOM, PANDATEN, các hệ thống nguồn như tập đoàn nổitiếng Ivensys (POWERWARE, BEST POWE, SWICHTEC,HAWKER, Emerson (Libert), Eicon Network (LAN, WAN, ICDN,VPN solusion) ITC., JSC mang tới cho khách hàng của mình giảipháp công nghệ hoàn hảo
Xu hướng công nghệ thị trường ngày nay là sụ hội tụ càng rõ nét
cả hai lĩnh vực truyền thông và tin học Các hệ thống kết nối mạng lõi
và phần mạng phía khách hàng
Các mạng máy tính từ mô hình LAN chuyển dần sang WAN,INTRANNET tới việc khai thác tối đa khả năng truyền dẫn của viễnthông như leased, Line, X25, ISDN, Frane Relay, ATM và gần đâynhất là Leased IP VPN
Có thể khẳng định công ty ITC., JSC là một trong số ít công tytin học của Việt Nam có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về mạng viễnthông của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung, với những
Trang 33cán bộ đã từng chuyên trách lĩnh vực mạng data hoặc tham gia tư vấn,thẩm định cho các dự án mạng máy tính của Bộ tài chính, Tổng cụcđịa chính, Bộ công nghiệp nặng
ITC., JSC với định hướng hoạt động cung cấp giải pháp tổng thể
về mạng –hiện là đối tác trực tiếp của nhiều hãng lớn chuyên về mạngnhư CISCO, Systems, LUCENT Technologies, EICON Network,EHEADCOM, PANDATEL, DATACRAFT, RAD Do đó, công ty
đã và đang cung cấp cho khách hàng các giải pháp và thiết bị kết nốimạng LAN, WAN với những sản phẩm như SWITCHINH HUB,ROUTER, ACCEESS SERVER, MUX, ISDN.,DSL Các thiết bịtrong lĩnh vực này bao gồm các bộ phận ghép kênh đa dịch vụ, cácthiết bị chuyển mạch IP, các router loại lớn, các thiết bị truyền quang,ghép kênh quang (DWDM, CWDM), các thiết bị tập trung truy cậpDSL (DSLAM) cho độ tin cậy cao với giá thành hợp lý
c Năng lực cung cấp dịch vụ:
Khả năng tư vấn chuyển giao công nghệ:
Do có mối quan hệ với các đối tác hàng đầu trong lĩnh vực viễnthông và công nghệ thông tin nên ITC., JSC có đầy đủ khả năng tưvấn giải pháp, xây dựng, triển khai các dự án cho khách hàng củamình
Khả năng xây dựng giải pháp và phát triển mạng WAN, INTRENET:
Đối với các doanh nghiệp có phân bố phân tán như VNPT liênkết các Bưu điện các tỉnh, thành phố, hoặc như hệ thống ngân hàngvới các chi nhánh trên toàn quốc, ITC., JSC có thể xây dựng hệ thốngmạng WAN dựa trên kết nối Leased Line cũng như X25, FR, ISDN
Trang 34với việc sử dụng các thiết bị Conventer, NTU, ROUTER, NT (ISDNTerminator) Việc triển khai, cài đặt tạo khả năng kết nối linh động,tin cậy là điều không phải ai cũng có khả năng thực hiện được Hơnnữa, công nghệ mới về mạng riêng ảo (VPN), hệ thống Voice over IP,TDMoIP, Video Conferencing đòi hỏi có những chuyên gia hệ thốngđược đào tạo có kinh nghiệm, trên cơ sở hiểu biết các thiết bị và nắmvững cơ sở hạ tầng của ngành viễn thông Việt Nam mới có thể đemgiải pháp tối ưu tới khách hàng của mình Công ty ITC đã là địa chỉtin cậy khi khách hàng cần những giải pháp tổng thể cho hệ thốngmạng phức tạp.
Khả năng triển khai các dự án LAN:
Với đội ngũ kỹ sư nhiều kinh nghiệm, ITC., JSC đã xây dựng vàtriển khai các hệ thống LAN dựa trên nền WINDOWSNT, SCOUNIX cho khách hàng như VNPT, Trung ương Đoàn TNCS, Bưuchính các tỉnh Nói chung, hệ thống UNIX thường được ứng dụng cho
hệ đòi hỏi tính bảo mật cao, mức độ phức mạng lớn
Việc thiết lập hệ thống UNIX thường gặp nhiều khó khăn, bởithông thường các nhà tư vấn và tích hợp hệ thống gợi ý cho kháchhàng của mình sử dụng Windows NT
Khả năng triển khai các dự án hệ thống nguồn UPS bảo vệ:
Do hoạt động lâu năm trong lĩnh vực mạng và hệ thống thôngtin, điều khiển nên ITC., JSC có nhiều khả năng trong tư vấn chokhách hàng lựa chọn giải pháp nguồn bảo vệ (mức công suất, chủngloại UPS, phương pháp bố trí điều khiển ), giải pháp kết nối tổng thểvới các hệ thống điện nguồn khác như ổn áp, chuyển đổi nguồn điện,máy phát điện dự phòng cho toàn bộ hệ thống cũng như đảm bảo an
Trang 35toàn nhất cho các hệ thống nguồn điện bằng việc lắp đặt các thiết bịchống sét với nhiều kiểu chống sét khác nhau từ chống sét lan truyềntín hiệu, chống sét trên đường nguồn, thoát sét chống nhiễu , ITC.,JSC cũng đã triển khai rất nhiều dự án cung cấp giải pháp nguồn bảo
vệ từ công suất nhỏ đến công suất lớn
Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và bảo hành:
Là bộ phận tập hợp các kỹ sư tin học, điện tử và hệ thống cónhiều kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị
kỹ thuật để làm việc Bộ phận này chịu trách nhiệm bảo hành, bảo trìcác thiết bị truyền dẫn, UPS, các hệ thống và mạng máy tính do công
ty triển khai Hỗ trợ kỹ thuật và thực hiện cơ các dịch vụ kỹ thuật phục
vụ các khách hàng Các dịch vụ bao gồm nhiều kiểu loại: dịch vụ tạichỗ, dịch vụ qua điện thoại thời gian đáp ứng trong vòng 4 giờ, đápứng dịch vụ trong 3 giờ làm việc hoặc dịch vụ 7 x 24
Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và bảo hành của ITC., JSC đã và đangthực hiện:
Bảo hành toàn quốc các sản phẩm truyền dẫn HDSL của RADBảo hành toàn quốc các sản phẩm UPS của INVENSYS
Bảo hành toàn quốc các sản phẩm UPS của LIBERT vàCOMPAQ
Hỗ trợ kỹ thuật cài đặt và bảo hành bảo trì các sản phẩm tryuềndẫn NTU, HTU, HDSL, Conventer, MUX, các thiết bị truyền số liệucủa RAD, PANDATEL, AHEADCOM, EICON
Hỗ trợ kỹ thuật, cài đặt chuyển giao công nghệ các Switch vàRouter của CISCO, cá bộ phận truy nhập đa dịch vụ và chuyển mạchcủa LUCENT Technology
Trang 36Hỗ trợ kỹ thuật, cài đặt bảo hành máy tính, các thiết bị ngoại vicủa hãng COMPAQ, IBM, IP, DELL…
2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
a Cơ cấu tổ chức:
Trang 37`6 Nhân sự công ty ITC
6.1 Mô hình tổ chức các phòng ban của công ty
Giám đốc điều đ ều c i u
h nh ành
B ph n XNK ộ phận XNK ận XNK Phát tri n th tr ển thị trường ị trường ường ng
P K ế Toán
P Đốc điều i ngo i ại
P Kinh doanh
G k Đ ỹ thu tận XNK
G kinh Đdoanh
B ph n b o ộ phận XNK ận XNK ảo
h nh ành B ph n tri n khai ộ phận XNK ận XNK ển thị trường
Trang 38Trêng §¹i häc KTQD Hµ Néi LuËn v¨n tèt nghiÖp
Trang 39Trêng §¹i häc KTQD Hµ Néi LuËn v¨n tèt nghiÖp
Trang 40Trêng §¹i häc KTQD Hµ Néi LuËn v¨n tèt nghiÖp
b Nhiệm vụ của các phòng ban:
- Giám đốc điều hành: chịu trách nhiệm quản lý điều phối cáchoạt động chung của các, phòng ban trong công ty về các vấn đề quantrọng trong các lĩnh vực kinh doanh, kỹ thuật đối ngoại , phân côngcông việc và giám sát công việc đó Thiết lập quan hệ với các công tytrong và ngoài nước, định hướng phát triển cho công ty mình Trên cơ
sở đó vạch ra những chiến chiến lược kinh doanh nhằm đem lại lợinhuận cac nhất cho công ty mình
- Giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm giám đốc và điều hànhhoạt động kinh doanh của công ty Lập các dự án, nghiên cứu thịtrường trong và ngoài nước về các sản phẩm mà công ty kinh doanh,
đó là các sản phẩm viễn thông, điện, điện tử
Giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm trước giám đốc điều hành
về kết quả kinh doanh của các phòng, ban mà mình quản lý
Phòng kinh doanh và phòng đối ngoại là hai phòng chịu sự quản
lý của giám đốc kinh doanh Hai phòng này quản lý các bộ phận như:
bộ phận dự án, bộ phận phát triển thị trường, bộ phận xuất nhập khẩu
- Giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm quản lý hoạt động củaphòng hỗ trợ kỹ thuật và phòng tích hợp thống kê Hai phòng này thựchiện các nhiện vụ bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị về viễn thông, máytính, là bộ phận hỗ trợ sau bán hàng cho khách hàng, kiểm tra chấtlượng mẫu mã, các đặc tính kỹ thuật của các thiết bị đó khi nhập hàngcũng như khi bán hàng Do các sản phẩm của ITC là các thiết bị vềmáy tính, viễn thông nên yêu cầu kỹ thuật của nó rất cao đòi hỏiphòng kỹ thuật phải có các chuyên gia giỏi, giàu kinh nghiệm tronglĩnh vực này