Biến tấu tự do: ngoài nguyên tắc nhắc lại có thay đổi còn dùng cả nguyên tắc phát Hình thức sonate có cấu trúc phức tạp và hoàn thiện nhất, là một hình thức có tính kịch sâu sắc, hình
Trang 11.2 Cấu trúc từng phần của hình thức ba đoạn phức
Phần thứ hai (B) của hình thức ba đoạn phức giữ chức năng là phần giữa của hình thức và
sự tương phản rõ rệt với phần trình bày Sự tương phản giữa hai phần này thường được thể hiện
bằng nhiều thủ pháp, như: xuất hiện chất liệu âm nhạc mới, chuyển sang giọng mới, thay đổi âm hình tiết tấu, thay đổi lối tiến hành giai điệu, thay đổi nhịp độ, nhịp điệu.v.v Sự tương phản giữa hai phần trình bày và phần giữa là nguyên tắc cấu trúc của hình thức này
Phần giữa thường có cấu trúc ở hình thức hai đoạn đơn, ba đoạn đơn, hoặc đoạn nhạc được gọi là Trio (tri-ô)
Đôi khi phần giữa là một đoạn chen phát triển không ổn định, dẫn tới không có cấu trúc rõ
ràng
1.2.3 Phần Tái hiện
Trang 2(xô-Hình thức ba đoạn phức có khả năng biểu hiện những hình tượng nội dung đa dạng, phức tạp
2 Hình thức rondo (rông-đô)
2.1.Định nghĩa
Rondo (rông-đô) là hình thức âm nhạc bao gồm nhiều thành phần, trong đó có một phần gọi là chủ đề được nhắc lại ít nhất ba lần Xen kẽ chủ đề là những phần khác nhau về nội dung, gọi là các đoạn chen (episode = ê-pi-dốt)
2.2 Nguồn gốc và sự hình thành, phát triển
2.2.1 Rondo không chỉ là hình thức âm nhạc mà còn là thể loại âm nhạc
Hình thức rondo bắt nguồn từ các bài ca, điệu múa dân gian Rondo với nghĩa đen là vòng tròn Trong các bài ca xưa thường có phiên khúc (couplet = cu-p’-lê) và điệp khúc (refrain = rơ-f’-ranh) Mỗi lần trình diễn, điệp khúc giữ nguyên, còn phiên khúc luôn thay đổi với lời ca mới
và cả âm nhạc cũng thay đổi dẫn tới sự xuất hiện của hình thức rondo
Rondo còn là thể loại âm nhạc bởi tính sinh động và có đặc điểm nhảy múa, liên tưởng tới những cảnh sinh hoạt trong các ngày hội phong tục Chủ đề âm nhạc (A) được coi là phần tham gia của đông đảo tập thể múa; các đoạn chen (B, C, D ) là những đoạn múa một người, hai người, ba người
2.2.2 Hình thức rondo xuất hiện trong nền âm nhạc chuyên nghiệp Tây Âu vào cuối thế kỉ XVIII trong tác phẩm của các nhạc sĩ chơi đàn cla-vơ-xanh cổ Pháp và từ đó tên gọi cho hình
thức này là rondo cổ Pháp
Trong quá trình phát triển của hình thức, rondo Pháp đã chuẩn bị cho sự xuất hiện của
rondo cổ điển phong phú hơn bằng các thủ pháp mới đặt biệt qua tác phẩm của J.S.Bắc và
G.F.Hen-đen
Rondo cổ điển ra đời đã mở ra một giai đoạn cho sự phát triển của hình thức này trong
sáng tác của các nhạc sĩ thuộc trường phái cổ điển Viên (Vienne) như Mô-da, Hay-đơn và
Trang 3Bê-Rông-đô cổ điển trở thành hình thức, trong đó chủ đề âm nhạc phát triển mạnh và sự tương phản về chủ đề giữ vai trò quan trọng trong qua trình sáng tạo Các đoạn chen ở rondo cổ điển mở rộng hiệu quả hình tượng chủ đề, phát triển độc lập so với chủ đề Tuy nhiên, chủ đề và các đoạn chen vẫn có mối quan hệ tương hỗ nhất định
Hình thức biến tấu xuất hiện trong nền âm nhạc chuyên nghiệp Tây Âu vào thế kỉ XVII và được sử dụng cho tới ngày nay
Hình thức biến tấu có các dạng chính là biến tấu nghiêm khắc và biến tấu tự do
3.2.1 Biến tấu nghiêm khắc: luôn giữ lại những đường nét chính của chủ đề, khuôn khổ,
dàn ý hòa âm, nhịp độ v.v trong các biến khúc
3.2.2 Biến tấu tự do: ngoài nguyên tắc nhắc lại có thay đổi còn dùng cả nguyên tắc phát
Hình thức sonate có cấu trúc phức tạp và hoàn thiện nhất, là một hình thức có tính kịch sâu
sắc, hình thành trên cơ sở đối chiếu tương phản của các hình tượng âm nhạc khác nhau biểu hiện những xung đột căng thẳng; phản ánh được nhiều nội dung đa dạng trong cuộc sống, từ những tình cảm nội tâm riêng tư đến những tư tưởng triết lí phức tạp Ở hình thức này, các quá trình căng thẳng nội tại được tổng hợp trong tính thống nhất cao
Hình thức sonate nảy sinh từ đầu thế kỷ XVIII, nhưng hoàn thiện ở nửa cuối thế kỷ này trong các sáng tác của Hay-đơn, Mô-da và nhất là Bê-tô-ven Cho tới nay, hình thức sonate vẫn
được sử dụng và luôn được đổi mới, phong phú về cấu trúc cũng như các phương pháp diễn tả của âm nhạc để phản ánh thực tế sôi động và những suy tư của con người trong cuộc sống
Trong thực tế thường có sự lầm lẫn giữa hai khái niệm: hình thức sonate và bản sonate
Trang 4trúc ở hình thức sonate
4.2 Cấu trúc của hình thức sonate (xô-nát)
Hình thức sonate đầy đủ gồm có ba phần: phần trình bày, phần phát triển và phần tái hiện Tùy vào từng phần có thể còn có thêm phần mở đầu và phần kết (Cô-đa)
4.2.1 Phần trình bày: có chức năng giới thiệu hai hay nhiều chủ đề âm nhạc khác nhau 4.2.2 Phần phát triển của hình thức sonate luôn không ổn định, thể hiện sự xung đột, căng
Trang 5Chương VII:
GIỚI THIỆU MỘT SỐ THỂ LOẠI THANH NHẠC
Mục đích, yêu cầu
Giúp cho học viên biết phân biệt một số thể loại âm nhạc khác nhau của thanh nhạc để
phân tích các ca khúc ở cuốn Bài hát Mẫu giáo
Thanh nhạc là những tác phẩm được biểu diễn bằng giọng người, loại hình xuất hiện sớm nhất của nghệ thuật âm nhạc; ra đời cùng với tiếng nói khi con người biết dùng ngôn ngữ làm phương tiện giao lưu tiếp xúc
Trải qua những chặng đường dài của lịch sử, nghệ thuật âm nhạc biến đổi ngày càng đa dạng, phức tạp và phong phú hơn Nhiều loại hình thanh nhạc mới nảy sinh song song với việc bảo tồn nền thanh nhạc cổ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Tác phẩm thanh nhạc là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc và ngôn từ Âm điệu tiếng nói và giai điệu âm nhạc có những nét gần gũi và chứa đựng màu sắc sinh động riêng của từng dân tộc, có tính hoàn thiện nhất định về tư duy, nhưng giữa chúng có sự khác biệt cơ bản, bởi giai điệu âm nhạc là sự hình thành mối quan hệ cao thấp chính xác của các âm
Giai điệu âm nhạc, nhất là những tác phẩm thanh nhạc có quan hệ mật thiết với ngôn từ,
và nếu lời ca từ thơ ca thì mối quan hệ ấy càng gần gũi Bởi hình tượng thơ hình thành trong một hệ thống thanh điệu của ngôn ngữ, có vần luật, có nhịp điệu khác với ngôn ngữ bình thường Vì vậy, mọi loại hình khác nhau của thanh nhạc, từ bài dân ca đến những tác phẩm lớn phức tạp, đều gắn chặt chẽ với ngữ điệu tiếng nói
1 Ca khúc
Ca khúc là danh từ dùng để gọi những tác phẩm thanh nhạc khác nhau: ca khúc dân ca và
ca khúc của các nhạc sĩ chuyên nghiệp với vai trò thể hiện chủ yếu là giai diệu Giai điệu của ca khúc là những giai điệu hoàn chỉnh, độc lập; thậm chí có thể dùng một nhạc cụ nào đó trình tấu vẫn chứa đựng một ý nghĩa hoàn thiện của một tư duy âm nhạc
Ca khúc được phân thành các loại khác nhau Ca khúc dân ca cũng vậy, mỗi loại phục vụ cho một nhu cầu riêng của con người; có bài phản ánh sinh hoạt lao động thường nhật; có bài
là tỏ tình; có bài là nghi lễ, chiến trận; có bài là hội hè, vui chơi; lại có bài gắn liền với các điệu múa.v.v Ca khúc chuyên nghiệp cũng có thể chia thành nhiều loại khác nhau với nhiều tiêu chí phân loại như dựa vào nội dung, tính chất thể hiện của phương pháp diễn tả âm nhạc như giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu đôi khi còn căn cứ vào cấu trúc của tác phẩm trong việc phân loại
1.1 Hành khúc: là những bài ca có nhịp độ vừa phải, phù hợp với bước đi Lối tiến hành
Trang 6Trí), Anh vẫn hành quân (Huy Du), Năm anh em trên một chiếc xe tăng (Doãn Nho), Bác đang cùng chúng cháu hành quân (Huy Thục), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng) v.v
38 Huỳnh Minh Siêng: Giải phóng miền Nam (trích)
Nhịp đi – Hùng mạnh
1.2 Chính ca: là những bài hát dùng trong các nghi lễ như: quốc ca, những bài ca chính
thức của một tổ chức nào đó như: của thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, sinh viên, học sinh v.v Những bài hát ấy thường có tính chất trang nghiêm, với nội dung ngợi ca truyền thống hoặc
có tính chất kêu gọi, hiệu triệu Đường nét giai điệu và tiết tấu gần gũi với ca khúc hành khúc nhưng thể hiện tính chất trang nghiêm nhiều hơn
39 Quốc tế ca (trích)
Nhịp đi
1.3 Ngợi ca: là những ca khúc có tính chất suy tưởng, triết lý như những bài ca ngợi đất
nước, ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi anh hùng Tình chất âm nhạc thường biểu hiện sự trang nghiêm,
đồng thời còn có tính trữ tình, ngâm ngợi, tự sự, kể chuyện Đó là các bài: Ca ngợi Hồ Chủ
Tịch (Lưu Hữu Phước), Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thanh), Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương (Nguyễn Đức Toàn) v.v
40 Chu Minh: Người là niềm tin tất thắng (trích)
Trang trọng, sôi nổi, thiết tha
1.4 Trữ tình: là những ca khúc có giai điệu mềm mại, uyển chuyển Nội dung của các
bài ca ấy là những đề tài viết về phong cảnh thiên nhiên, làng quê, thôn xóm, vẻ đẹp trong lao động, về tình yêu nói chung hoặc tình yêu đôi lứa Ở những bài hát này có lối tiến hành giai điệu ít những quãng nhảy xa, thường đi liền bậc hoặc lượn sóng; tiết tấu dàn trải, tự do để cùng với giai điệu tô đậm cho tính chất nhẹ nhàng, bay bổng trong cách biểu hiện Đó là các
bài như: Con kênh kênh xanh xanh (Ngô Huỳnh), Làng tôi (Văn Cao), Quê em (Nguyễn Đức
Trang 7Tuổi đời mênh mông (Trịnh Công Sơn), Tiếng hát anh tìm em (Hoàng Dương) v.v
41 Hoàng Dương: Tiếng hát anh tìm em (trích)
Chậm vừa, tình cảm
1.5 Hát ru: là những ca khúc nhịp độ chậm, vừa phải; giai điệu thường được tiến hành
liền bậc, không dùng những quãng nhảy xa liên tục, những biến âm đột ngột; tiết tấu nhịp
nhàng, có tính chu kỳ hoặc tự do Đó là các bài như: Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Từ trên
đỉnh núi (Nguyên Nhung), Lời ngọt ngào (Nguyễn Quỳnh Hợp), Khúc hát ru (Vĩnh Cát) v.v
42 Vĩnh Cát: Khúc hát ru (trích)
Nhịp hơi tự do – Tâm tình – Sâu lắng
1.6 Hò vè: là những bài ca được phỏng theo âm điệu, hoặc tiết tấu của những bài hò, vè
trong âm nhạc dân gian Có bài còn kế thừa lối cấu trúc của điệu hò dân gian có vế xướng, vế
xô để hình thành tác phẩm Có thể điểm ra một số bài như: Mùa lúa chín (Hoàng Việt), Hò đắp
đường thống nhất (Tạ Phước, Tô Vũ), Hò kéo gỗ (Lê Yên), Thanh Hóa anh hùng (Hoàng Đạm),
Vè thắng giặc (Hoàng Vân) v.v
43 Tạ Phước – Tô Vũ: Hò đắp đường thống nhất (trích)
Mạnh
Trang 81.7 Ca khúc kết hợp với trò chơi: là những bài ca có nội dung cụ thể, vừa hát vừa có
những động tác để biểu hiện nội dung Trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều nhạc
sỹ đã sáng tác những ca khúc ở loại hình này để phục vụ cho tập thể bộ đội, dân công trong những phút nghỉ ngơi, sau những giờ luyện tập, lao động phục vụ chiến trường; đồng thời còn đáp ứng cho những sinh hoạt vui chơi của thanh thiếu niên Những bài ca ấy thường có giai điệu
dễ hát, dễ thuộc như các bài Lửa rừng (Đỗ Nhuận), Lỳ và Sáo (Văn Chung)
1.8 Ca khúc hài hước, dí dỏm, trào phúng: là những bài ca có lời ca và âm nhạc kết hợp
rất chặt chẽ thông qua các phương pháp diễn tả của âm nhạc để biểu hiện được nội dung Giai điệu thường xuất hiện những quãng nhảy xa, đột ngột hoặc nói sai với ngữ điệu bình thường và
thường dùng đảo phách trong âm hình tiết tấu, tạo sự “hẫng, hụt” bất ngờ trong nhịp điệu v.v
Ta có thể kể một số bài như: Thằng Bờm (Nguyễn Xuân Khoát), Con mèo mà trèo cây cau (Lê Yên), Chiếc xe lu (Huy Du), Đế quốc Mỹ là thân con ruồi (Trọng Bằng) v.v
44 Lê Yên: Con mèo mà trèo cây cau (Lời: Ca dao cổ) (trích)
Dí dỏm
Sự phân loại ca khúc như trên trình bày cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi lẽ một bài hát
có thể vừa có tính chất của loại này, vừa có tính chất của loại kia
Người ta còn sử dụng các tiêu chí phân loại khác nhau như ca khúc viết cho thiếu nhi và
Trang 9nội dung cần phù hợp với tâm sinh lý của các em Đồng thời, còn được phân loại theo cách sử dụng như ca khúc tập thể (viết cho đông đảo quần chúng) và ca khúc cho đơn ca Ca khúc đơn
ca đòi hỏi sự chuyên biệt cho từng loại giọng trình diễn khác nhau, phức tạp hơn về kỹ thuật sáng tác và luôn luôn phải có phần đệm của nhạc đàn
2 Trường ca
Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, giai đoạn từ 1946-1954 xuất hiện những bài ca có khuôn
khổ dài, cầu trúc khá đặc biệt như: Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Tiếng chuông nhà thờ (Nguyễn Xuân Khoát), Trận Đoan Hùng (Lê Yên-Lưu Quang Thuận), Sông Lô (Văn Cao), Ngày Về (Lương Ngọc Trác – Chính Hữu), Bình ca (Nguyễn Đình Phúc), Bộ đội về làng (Lê Yên – Hoàng Trung Thông), Những gác chuông giáo đường (Huy Du - Hữu Loan) v.v và ở
giai đoạn sau, trong những năm 60 của thế kỷ XX, Hoàng Vân đã sáng tác một số bài cũng ở
dạng đó như: Tôi là người thợ mỏ, Người chiến sĩ ấy v.v
Các bài ca ấy gồm nhiều phần tương phản nhưng giữa chúng vẫn có mối liên quan thống nhất chung trong tư duy âm nhạc
3 Romance (rô-măng-xơ)
Romance là tác phẩm viết cho giọng hát có phần đệm của nhạc đàn, thường có khuôn khổ vừa phải Hầu hết các nhà soạn nhạc trên thế giới từ cổ điển tới lãng mạn và hiện đại đều viết cho thể loại thanh nhạc này Các nhạc sĩ Việt Nam nhiều người đã viết cho thể loại romance Tên gọi romance gốc từ tiếng Tây Ban Nha Thoạt đầu có ý nghĩa là bài hát thế tục, đơn giản hát bằng tiếng roman, tức tiếng Tây Ban Nha, để phân biệt với loại bài hát bằng tiếng La-tinh Ngoài tính trữ tình ca ngợi tình yêu, romance còn có thể mô tả sự suy nghĩ trầm ngâm, những tình cảm đau thương, ôn lại những kỉ niệm xa xưa hoặc tình yêu với thiên nhiên
Romance thường có cấu trúc ở hình thức ba đoạn đơn, hai đoạn đơn Tuy nhiên cũng gặp những bài có cấu trúc phức tạp hơn
Vai trò phần đệm của nhạc đàn trong romance có vị trí quan trọng để góp phần diễn tả rõ hơn hình tượng của giai điệu, tạo màu sắc cho giai điệu
Tác phẩm Bài ca hi vọng của Văn Ký là một trong những romance tiêu biểu của Việt
Nam
4 Hợp ca
Hợp ca là một trong những loại hình của thanh nhạc, gồm từ hai giọng hát trở lên, có tên gọi là :
- Song ca - đuy-ô (duo): hợp ca 2 giọng hát
- Tam ca - t’ri-ô (trio): hợp ca 3 giọng hát
Trang 10Khác với kịch nói, trong nhạc kịch một số nhân vật cùng trong một thời điểm có những ý nghĩ, tình cảm khác nhau nhưng trình diễn cùng lúc Người nghe không những có khả năng cùng lúc tiếp thu nhiều giai điệu mà còn phân tích được mối quan hệ giữa các giai điệu ấy với nhau
Hợp ca luôn có phần đệm của nhạc đàn và các tác phẩm ấy được viết cho từng loại giọng nhất định
Hợp xướng nam với âm thanh đầy đặn tạo tính kịch mạnh mẽ, thường sử dụng trong
những trường hợp gây không khí trang nghiêm, kiên nghị, hùng tráng
Hợp xướng nữ hay dùng để miêu tả những cảm xúc tươi mát, nhẹ nhàng, ấm cúng
Hợp xướng hỗn hợp gồm các loại giọng hát của nam và nữ tạo ra màu sắc phong phú để
biểu hiện nhiều nội dung hình tượng âm nhạc đa dạng
Hợp xướng trẻ em thường thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ phù hợp với lứa tuổi góp
phần tạo ra các màu sắc, tình huống trong cuộc sống hồn nhiên của các em nói riêng và của đời sống xã hội nói chung
Hợp xướng không nhạc đệm là một loại hình chỉ dùng giọng hát để thể hiện các hình tượng
âm nhạc khác nhau Thính giả sẽ thưởng thức sự hài hòa của các loại giọng mà không bị âm thanh của các nhạc khí che lấp
Cấu trúc của các bản hợp xướng hay các chương trong một bản hợp xướng thường viết ở các hình thức một đoạn đơn, hai đoạn đơn, ba đoạn đơn, rondo, biến tấu
Nhiều nhạc sĩ Việt Nam đã sáng tác hợp xướng để biểu hiện tâm tư, tình cảm của con người
Những ca khúc hợp xướng thành công như: Sóng Cửa Tùng (Doãn Nho), Đông Nam Á Châu (Lưu Hữu Phước), Dưới ánh sao vàng (Vân Đông), Ca ngợi Tổ quốc (Hồ Bắc) Thề quyết bảo vệ Tổ quốc (Huy Du), Biết mấy tự hào Việt Nam Tổ quốc ta (Phạm Đình Sáu) v.v
Những bản hợp xướng nhiều chương như: Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy (Tô Hải), Việt Nam muôn năm (Nhạc: Hoàng Vân, thơ: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Bùi Minh Quốc), Tiến lên toàn thắng ắt về ta (Đỗ Dũng - Trần Nhật Lam) v.v
Bản hợp xướng Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy của Tô Hải là một trong những bản hợp
Trang 11kỷ XX tới nay
Bản hợp xướng có bốn chương, mỗi chương có một tiêu đề riêng:
Chương I : Núi rừng hùng vĩ của Tổ quốc
Chương II : Trên đường biên giới
Chương III : Quê hương nhắn nhủ
Chương IV : Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hòa bình
Chương I : Núi rừng hùng vĩ của Tổ quốc
Âm nhạc của chương một vang lên chậm rãi như gợi cảnh rừng chiều thanh vắng, hùng vĩ Các bè của hợp xướng như họa lại âm thanh của tiếng cồng ngân vang thăm thẳm
2 Trường ca là những bài có khuôn khổ dài, gồm nhiều phần tương phản nhưng vẫn có mối liên quan chặt chẽ tạo tính thống nhất chung
3 Romance (rô-măng-xơ) là những ca khúc trữ tình viết cho giọng hát có phần đệm của nhạc đàn
4 Hợp ca là những tác phẩm thanh nhạc gồm từ hai giọng trở lên như song ca, tam ca, tứ
ca v.v
5 Hợp xướng là tác phẩm thanh nhạc có nhiều bè, mỗi bè do các ca sĩ cùng một loại giọng trình bày Hợp xướng được phân thành nhiều loại: hợp xướng nam, hợp xướng nữ, hợp xướng hỗn hợp (gồm giọng nam và giọng nữ), hợp xướng trẻ em, hợp xướng không nhạc đệm
Trang 12Câu hỏi
1 Nét đặc trưng của các tác phẩm thanh nhạc so với các tác phẩm khí nhạc là gì ?
2 Hãy trình bày quan niệm của mình trong việc phân loại ca khúc, đồng thời dùng các bài ca
mà anh (chị) đã biết để dùng làm thí dụ cho sự phân loại của mình
3 Hãy trình bày về các loại hợp xướng khác nhau
Trang 131 Vài thể loại nhỏ của khí nhạc (nhạc đàn)
Tác phẩm khí nhạc được thể hiện bằng các nhạc cụ, là âm nhạc thuần túy, hoàn toàn dựa trên các phương tiện diễn tả của âm nhạc như giai điệu, tiết tấu v.v để biểu hiện các hình tượng âm nhạc khác nhau
Lịch sử phát triển của âm nhạc cho ta thấy khí nhạc được hình thành và phát triển muộn hơn thanh nhạc Trong sinh hoạt cộng đồng, những nghệ sĩ dân gian thoạt đầu thích họa lại giai điệu các bài hát, bài hát múa trên cây đàn của mình và đó là dạng đầu tiên của khí nhạc
Trong các tác phẩm khí nhạc, giai điệu là linh hồn của tác phẩm và tiết tấu của các bài ca, điệu múa đã làm nổi bật cho hình tượng thể hiện Trong quá trình phát triển, các tác phẩm nhạc đàn ngày càng mở rộng phạm vi diễn tả làm cho chúng có ý nghĩa độc lập, phong phú Thế kỷ XIX là thời kì phát triển rực rỡ của nhiều thể loại nhạc đàn khác nhau, với xu hướng đi sâu khai thác thế giới tình cảm khác biệt của con người
1.1 Bài ca không lời
“Bài ca không lời” là những tác phẩm khí nhạc nhỏ, giai điệu có tính chất du dương,
thường viết cho đàn pi-a-nô, vi-ô-lông hoặc vi-ô-lông xen-lô
Nhạc sĩ người Đức F Men-đen-xơn là người sáng tạo ra thể loại này Ông đã viết tập Bài
ca không lời gồm 48 bản cho đàn pi-a-nô, trong đó mỗi bài có một hình tượng rõ ràng và còn
biểu hiện tính chất độc đáo của nghệ thuật đàn phím
Các nhạc sĩ Việt Nam từ thập niên 60 của thế kỷ XX tới nay, nhiều người đã sáng tác cho thể loại này như: Hoàng Dương, Chu Minh, Nguyễn Đình Tấn v.v
Trang 14hiện được nhiều tâm trạng: vui, buồn, hân hoan, trang trọng
Sau này, từ các điệu múa dân gian ấy, các nhạc sĩ chuyên nghiệp đã phát triển thành một thể loại múa không chỉ để múa mà biểu hiện các trạng thái tình cảm khác nhau của con người trong cuộc sống
Nhiều tác phẩm hoặc một chương trong tác phẩm nhiều chương như bản xô-nát, bản giao hưởng, các tiết mục trong nhạc kịch được hình thành từ một điệu múa
1.2.1 Menuet (mơ-nuy-ê)
Menuet là điệu múa vòng dân gian ở phía Nam nước Pháp, sau trở thành một điệu múa được ưa thích trong cung đình và phổ biến ở thành thị của các nước Châu Âu Menuet là điệu múa nhịp ba nhẹ nhàng, khoan thai; một điệu múa dạ hội hơi kiểu cách
1.2.3 Mazurka (ma-dua-ca)
Mazurka (ma-dua-ca) gắn liền với điệu múa dân gian Ba Lan vùng Madovie, là điệu mazur (ma-dua) Mazurka là điệu nhảy nhịp ba, tính chất sôi nổi, mạnh mẽ, trọng âm rơi vào phách thứ hai, thứ ba hoặc từng phách một Mazurka không những được yêu thích ở Ba Lan mà trở thành một điệu múa phổ cập rộng rãi khắp cả nước Châu Âu thế kỷ XIX Nhiều nhạc sĩ đã sáng tác mazurka, đặc biệt những tác phẩm mazurka của Chopin (Sô-panh) đã thể hiện được
muôn vẻ khác nhau của tình cảm con người
1.2.4 Polka (pôn-ka)
Polka (pôn-ka)là điệu múa cổ nhịp hai của Tiệp và từ những năm 40 của thế kỷ XIX đã trở thành một trong những điệu múa được yêu thích ở Châu Âu Nhiều nhạc sĩ đã sử dụng nhiều loại tiết tấu điển hình của điệu nhảy này để hình thành chủ đề trong tác phẩm của mình
Tác phẩm polka Ý do nhạc sĩ S.Rakhmaninov (Ra-khơ-ma-ni-nốp) ghi lại và sau đó được cải biên cho đàn pi-a-nô là một tác phẩm nổi tiếng
1.3 Nocturne (nốc-tuyếc)
Nocturne (tuyếc) được gọi là dạ khúc, nghĩa là khúc nhạc đêm Ở thế kỷ XVIII,
nốc-tuyếc là tên gọi của những bản hòa tấu nhỏ, gồm nhiều khúc nhạc ngắn liên tiếp do các nhạc khí dây và kèn gỗ trình diễn, có tính chất giải trí nhẹ nhàng, thường biểu diễn ở ngoài trời với mục đích chúc tụng Đến thế kỷ XIX, trong sáng tác của nhạc sĩ lãng mạn, nốc-tuyếc là tên gọi của loại tác phẩm một chương không lớn lắm, có đặc điểm ca xướng trữ tình, thể hiện những ước
mơ, gợi sự yên tĩnh, hình tượng cảnh đêm
Trang 15Nốc-tuyếc thường viết ở nhịp độ vừa phài hoặc chậm rãi Nhạc sĩ Sô-panh (Chopin) đã viết 19 bản nốc-tuyếc cho đàn pi-a-nô thường đượm vẻ u hoài, suy tư, trầm lặng
2 Vài thể loại lớn của nhạc khí
2.1 Bản sonate (xô-nát)
Bản sonate (xô-nát) là một liên khúc, gồm một số chương nhạc tương phản (ít nhất là hai chương) nhưng đồng thời lại thống nhất theo một nội dung chung Mỗi chương là một cấu trúc hoàn chỉnh được biểu hiện liên tục hoặc có thể tách từng chương để trình diễn Người ta gọi là
“bản sonate” hoặc “liên khúc sonate” Các chương trong liên khúc sonate được sắp xếp theo
một trình tự cố định, trong đó ít nhất có một chương cấu trúc ở hình thức sonate
Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII xuất hiện các bản sonate gồm một số chương có nhịp
độ khác nhau như sonate của A Cô-rê-li (A.Corelli), G.X.Bắc (J.S.Bach), G.Hen-den (J.Haendel) v.v nhưng thực chất chưa phải là khái niệm như trình bày ở trên, bởi vì trong các liên khúc ấy được gọi là sonate “tiền cổ điển”
Sonate cổ điển xuất hiện đầu tiên, trong sáng tác của P.E.Bach (P.E.Bắc - con của J.S.Bach), đó là một liên khúc ba chương, mỗi chương độc lập về cấu trúc Những bản sonate của ông rất đa dạng, có chiều sâu và những tìm tòi về ngôn ngữ âm nhạc đáng để các nhạc sĩ thế
Cuối thế kỷ XX, thể loại sonate cũng xuất hiện trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Việt Nam như sonate cho đàn vi-ô-lông và đàn pi-a-no của Nguyễn Xinh, sonate cho đàn pi-a-nô của Nguyễn Văn Nam v.v
2.2 Bản giao hưởng
Bản giao hưởng là những tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng, được biểu hiện trong một phòng hòa nhạc lớn, là một trong những thể loại âm nhạc thuộc đỉnh cao của loại hình nghệ thuật này
Khác với bản sonate ở chỗ, các bản sonate viết cho một, hai, ba hay một nhóm nhạc cụ
Trang 16khác nhau, nhưng cùng họ Toàn dàn nhạc được trình diễn dưới sự chỉ huy của một nhạc trưởng
Giao hưởng cũng như sonate là tác phẩm gồm một số chương tương phản với nhau về hình tượng, phần nhiều là bốn chương (đôi khi ba, năm hoặc hai chương) Mỗi chương của giao hưởng có thể sánh với màn của một vở nhạc kịch hay một chương của một cuốn tiểu thuyết Nội dung của các bản giao hưởng rất đa dạng, biểu hiện màu vẻ khác nhau của tình cảm con người như: đấu tranh giữa sự sống và cái chết, giữa niềm khát khao hi vọng với định mệnh, giữa chiến tranh, những cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ Tất cả những gì cảm xúc được, mường tượng được, các nhà soạn nhạc đều có thể biểu hiện trong tác phẩm giao hưởng Các hình tượng trong giao hưởng lúc xung đột, căng thẳng, đối chọi, lúc quyện vào nhau, luân phiên trong sự chuyển động từ nhanh đến chậm, từ nhịp nhàng trong tiết tấu nhảy múa để rồi lại vút nhanh như điệu quần vũ của ngày hội tưng bừng náo nhiệt
Cũng như bản sonate, các chương trong bản giao hưởng đều có hình thức hoàn chỉnh nhưng chúng liên kết với nhau theo một ý đồ chung
Nhạc sĩ Beethoven (Bê-tô-ven) đã tạo nên một bước nhảy vọt vĩ đại cho nghệ thuật giao hưởng Tác phẩm giao hưởng của ông có quy mô đồ sộ và sâu sắc về nội dung Âm nhạc giao hưởng của ông thể hiện tầm cao tư tưởng thời đại, phản ánh trực tiếp những vấn đề xung đột lớn trong cuộc sống
Trong nền âm nhạc Việt Nam cuối thế kỷ XX đã xuất hiện những bản giao hưởng như
Giao hưởng số 1 “Quê hương” của Hoàng Việt
Ngoài ra, còn có một số thể loại của nhạc khí như sau:
- Tam tấu (trio = t’ri-ô): một tác phẩm âm nhạc viết cho ba nhạc cụ hòa tấu;
- Tứ tấu (quatuor = ca-chuy-ô): một tác phẩm âm nhạc viết cho bốn nhạc cụ hòa tấu;
- Ngũ tấu (quintette = canh-tét): một tác phẩm âm nhạc viết cho năm nhạc cụ hòa tấu;
Và Concerto (công-xéc-tô) một tác phẩm âm nhạc viết cho một nhạc cụ hòa tấu cùng với dàn nhạc
Tóm tắt
1 Tác phẩm khí nhạc được thể hiện bằng các nhạc cụ bao gồm nhiều thể loại khác nhau,
từ đơn giản đến phức tạp về quy mô và cấu trúc để có thể phản ánh những suy tư, tình cảm của con người Lịch sử phát triển của âm nhạc đã chứng minh cho sự phong phú của thể loại khí nhạc qua từng thời đại, từng trường phái âm nhạc khác nhau
2 Các thể loại vừa và nhỏ của khí nhạc thường viết cho một vài ba nhạc cụ độc tấu, hòa tấu; có khuôn khổ vừa phải, trình bày trong một phòng hòa nhạc nhỏ như: Bài ca không lời, Vũ khúc, Dạ khúc v.v
3 Các thể loại lớn của khí nhạc như bản sonate (xô-nát), bản giao hưởng là liên khúc sonate gồm một số chương nhạc tương phản (ít nhất là hai), nhưng thống nhất theo một ý đồ
Trang 17chung Các chương có một cấu trúc hoàn chỉnh, được sắp xếp theo một trình tự nhất định, trong
đó ít nhất có một chương viết ở hình thức sonate
Bản sonate viết cho một, hai, ba hay một nhóm nhạc cụ trình bày; còn bản giao hưởng được viết cho một dàn nhạc gồm nhiều nhạc cụ cùng loại và khác loại trình diễn
Các thể loại sonate, giao hưởng có nội dung đa dạng; có thể phản ánh những vấn đề triết lí phức tạp, những vấn đề có tầm tư tưởng lớn, có tính quần chúng đông đảo, sâu sắc
Câu hỏi
1 Hãy trình bày sự khác nhau giữa các thể loại của thanh nhạc và các thể loại của khí nhạc
2 Hãy trình bày đặc điểm âm nhạc, cấu trúc và sự hình thành, phát triển của một số thể loại nhỏ
của khí nhạc như: Bài ca không lời, Vũ khúc, Dạ khúc
3 Hãy trình bày hiểu biết của mình về bản sonate, bản giao hưởng qua nội dung, cấu trúc cũng như đôi nét về sự hình thành và phát triển
4 Theo anh chị, các thể loại nhỏ và các thể loại lớn của khí nhạc khác nhau như thế nào?
5 Thử so sánh sự gần gũi và khác biệt của bản sonate với bản giao hưởng
Trang 18PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT CA HÁT
Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA HÁT
1 Bộ máy phát âm (bộ máy phát thanh)
1.1 Các bộ phận của bộ máy phát âm
Con nguời từ khi sinh ra, vốn sẵn có bộ máy phát âm vô cùng tinh vi và hoàn chỉnh Nhờ
có bộ máy phát âm này con nguời mới có thể nói hoặc hát đuợc Bộ máy phát âm được hoạt động theo sự điều khiển của hệ thần kinh trung uơng Bộ máy phát âm bao gồm các bộ phận chính sau đây:
1.1.1 Phổi - hoành cách mô
Hình 1: Phổi – Hoành cách mô
CO2 ra ngoài
Phần trên những túi xốp là những ống nhỏ cũng có độ
co giãn được gọi là phế quản
Tất cả những ống phế quản lại đuợc nối vào một ống lớn hơn cũng có độ co giãn,
đuợc gọi là khí quản
Khi ta nói hoặc hát, luồng không khí từ phổi đẩy ra làm rung thanh đới, âm thanh đuợc phát ra từ đây
Phổi đuợc ngăn cách với bụng bởi một màng ngăn có độ co giãn đuợc gọi là hoành cách
mô Trong ca hát, phổi - hoành cách mô là những bộ phận gây áp lực khi phát âm
1.1.2 Thanh quản
Thanh quản là một ống nối tiếp phía trên khí quản
Trang 19Thanh quản là một ống nối tiếp phía trên khí quản Thanh quản như một hộp sụn, ở trước
cổ, trước thực quản, bên trong có nhiều bộ phận
Phần giữa thanh quản, chỗ thắt lại như cổ chai, gọi là thanh đới Thanh đới được cấu tạo
bởi những dây cơ gọi là dây thanh Dây thanh thực ra không phải là một sợi dây mà là một cơ (bắp thịt) vân cấu trúc rất tinh tế Nam giới có dây thanh dài từ 18 – 25 mm, rộng từ 3 – 5mm;
nữ giới có dây thanh dài từ 14 – 21mm, rộng từ 2 – 4mm; trẻ em có dây thanh dài từ 5 – 7mm, rộng từ 2 – 3mm mỗi khi phát ra một âm, dây thanh phải rung động nhiều lần, chẳng hạn để nói được âm “la”, dây thanh phải rung động 440 lần/giây
Thanh đới là bộ phận rất quan trọng của thanh quản vì đó là nơi tạo ra âm thanh ban đầu Khi ta không nói hoặc không hát, phần giữa của thanh đới tạo thành khe nhỏ để không khí qua lại gọi là khe thanh đới (khe thanh quản) Khe này thay đổi lúc đóng, lúc mở do thanh đới rung lên duới tác động của luồng hơi thở từ phổi đẩy ra
Phần trên thanh đới có hai khoảng trống song song với nhau gọi là buồng thanh quản Phần trên cùng của thanh quản có một bộ phận nhỏ như cái nắp, gọi là nắp thanh thiệt
(nắp thanh môn) Khi ta nói hoặc hát, nắp này mở ra và khi ta nuốt thức ăn vào thực quản (là ống nằm phía sau của thanh quản), nắp này sẽ đóng lại ngăn không cho thức ăn rơi vào ống thanh quản
Thanh quản còn được gọi là bộ phận phát ra âm thanh
Hình 2: Các bộ phận của thanh quản
1 - Nắp thanh thiệt 2 - Đường vào thanh quản (ngưỡng cửa)
3 - Cơ sụn thanh đới 4 - Đường vào khí quản
5 - Khí quản 6 - Khe thanh quản
7 - Thanh đới thật 8 - Buồng thanh quản
9 - Khe vào thanh quản 10 - Thanh đới giả
Trang 20Hình 3: Thanh đới
1 – Khe thanh quản 2 – Cơ thanh đới
3 – Mép thanh đới 4 – Sụn phễu
5 – Cơ sụn 6 – Phần dưới cuống họng
Trang 211.1.3 Cuống họng
Cuống họng là bộ phận nằm tiếp giáp phía trên thanh quản Khi há miệng rộng, hạ cuống lưỡi xuống nhìn sâu vào bên trong, ta thấy đuợc cuống họng từ nắp thanh thiệt đến vòm họng Cuống họng cũng có thể mở rộng ra được chút ít so với mức bình thuờng
Cuống họng nằm tiếp giáp với miệng nên dễ bị ảnh huởng bởi sự thay đổi của thời tiết, độ nóng lạnh của thức ăn, và thức uống khi đi qua nó Cuống họng đuợc bao bọc bởi một tổ chức niêm mạc, dễ bị kích thích nên cần đuợc giữ gìn để tránh bị viêm nhiễm, gây ảnh hưởng không tốt đến giọng hát
Cuống họng còn được gọi là bộ phận truyền âm
1.1.4 Miệng
Miệng là bộ phận hoạt động liên tục trong suốt thời gian hát Hình dáng của miệng khi hát phụ thuộc vào lời ca Hoạt động của miệng bao gồm những cử động của hàm ếch mềm, lưỡi, môi, hàm duới cùng với sự hỗ trợ của răng Miệng giữ vai trò quan trọng khi phát âm
Những âm thanh đuợc phát ra từ thanh đới, đi qua cuống họng, đi ra ngoài thông qua những cử động của miệng tạo thành âm thanh có âm sắc đẹp theo những yêu cầu cần thiết Cũng từ đây âm thanh chứa đựng một nội dung cụ thể thông qua ngôn ngữ đuợc tạo nên từ sự kết hợp nguyên âm và phụ âm do những hoạt động của miệng tạo ra
Miệng, trong khi hoạt động để tạo ra âm thanh và lời hát với nội dung và tình cảm cần thiết, lại còn có tác dụng hỗ trợ cho các hoạt động của thanh đới và hơi thở
Miệng còn đuợc gọi là bộ phận nhả chữ
Tóm lại, ca hát là nghệ thuật kết hợp giữa âm nhạc và ngôn ngữ Vì vậy hoạt động của miệng để tạo ra những âm thanh mang nội dung thông qua ngôn ngữ là rất quan trọng
2 Hơi thở trong ca hát
Trong quá trình phát triển của nghệ thuật ca hát, trên thế giới người ta đã áp dụng một số kiểu thở (lấy hơi) khác nhau Đó là thở ngực (lấy hơi ngực), thở bụng (lấy hơi bụng), thở ngực kết hợp với bụng (lấy hơi bằng ngực kết hợp với bụng) và thở ngực duới và bụng
Trang 222.1 Các kiểu lấy hơi trong ca hát
2.1.1 Thở ngực
Thở ngực còn gọi là lấy hơi ngực Khi lấy hơi vào, không khí chứa đầy phần trên của phổi, làm lồng ngực phía trên căng ra và nâng lên Hoành cách mô hầu như ổn định Khi hát, âm thanh phát ra nhẹ nhàng với âm lượng nhỏ, chỉ đáp ứng yêu cầu khi thể hiện các bài hát ngắn,
âm vực hẹp, không có cao trào
Với bốn cách thở trên đều có thể giúp nguời hát có được những âm thanh đẹp tùy theo từng yêu cầu của nghệ thuật ca hát
Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới trong đó có cả Việt Nam, phần lớn, khi hát, người ta thường áp dụng kiểu thở ngực duới kết hợp với bụng Vì đó là kiểu thở có nhiều ưu thế, giúp cho nguời hát có thể đáp ứng đuợc mọi yêu cầu của nghệ thuật ca hát và phong cách trình bày
Hình 5: Các kiểu thơ thanh nhạc
Trang 232.2 Phương pháp điều khiển hơi thở trong ca hát (hoạt động hơi thở trong ca hát)
Hơi thở lúc bình thường cũng như trong khi hát, đều gồm hai hoạt động trái chiều nhau, đó
là lấy hơi (hít hơi) và đẩy hơi
Bình thường lấy hơi và đẩy hơi rất nhẹ nhàng, tự nhiên Nhưng khi hát, do yêu cầu về độ dài của câu hát, độ cao khác nhau, độ to nhỏ, mạnh nhẹ khác nhau và cả độ nhanh chậm… nên việc lấy hơi và đẩy hơi cũng có sự khác biệt rất rõ
2.2.1 Động tác lấy hơi
Chủ yếu lấy hơi nhanh bằng mũi, có thể lấy một chút ít hơi qua miệng
Một số điều cần tránh khi lấy hơi:
- Không so vai, rụt cổ dễ tạo nên tư thế không đẹp mắt
- Không lấy hơi hoàn toàn bằng miệng vì dễ làm khô cổ khi hát, hơi nông dễ gây cảm giác mệt mỏi
- Không gây ra tiếng động
- Không lấy hơi quá nhiều, phải tuỳ độ dài ngắn của câu hát mà lấy hơi cho phù hợp 2.2.2 Động tác đẩy hơi:
Đẩy hơi ra chậm, đều đặn, liên tục, không ngắt quãng
Sau khi lấy hơi, ghìm hơi lại sau khoảng một đến hai giây Tiếp đến ta sẽ phát ra một âm thanh rồi dần dần đưa hơi thở theo âm thanh ra đều đặn, cố gắng kéo dài trạng thái căng thẳng cần thiết ở khoảng trung tâm lồng ngực cho tới cuối câu hát, đó là động tác ghìm hơi (nén hơi)
Có nghĩa là khi hát cần tiết kiệm hơi
Điều cần tránh là khi đẩy hơi, không nên “tống” hơi ồ ạt hoặc đột ngột từng đợt
Để đáp ứng yêu cầu việc thể hiện tác phẩm, xử lý hơi thở hợp lý sẽ giúp người hát có âm thanh đẹp, đảm bảo sự trọn ý của lời ca và biểu hiện tình cảm Người hát cần có sự chuẩn bị như:
Mỗi bài hát trước khi hát cần có sự nghiên cứu nội dung lời ca để phân câu, lấy hơi hợp lý Tránh phân câu, lấy hơi tuỳ tiện Nếu câu hát quá dài, có thể ngắt câu lấy hơi ở cuối tiết nhạc nhưng vẫn phải phù hợp với lời ca Nếu bài hát có cao trào, cần phải có sự đầu tư “tích cực” hơn về hơi thở và xử lý khéo léo
Ví dụ: trích trong bài Khúc hát của người mẹ trẻ của Phạm Tuyên
’
Trang 24Với câu hát trên nếu hát một hơi sẽ khó thể hiện Để câu hát “con ơi hãy nghĩ” được đảm
bảo yêu cầu về cao độ, độ vang cũng như sắc thái tình cảm, trước đó ta phải lấy hơi sâu, khi hát đẩy hơi ra phải khống chế tốt hơi thở bằng cách đẩy hơi chậm, đều đặn liên tục tới cuối câu hát
2.3 Bài tập thực hành: số 1
a Tập lấy hơi sâu và đẩy hơi
Lấy hơi: lấy hơi sâu, nhanh, nhẹ nhàng bằng mũi Nhớ là không nhô vai và gây tiếng động
Đẩy hơi: sau khi lấy hơi, ta ghìm hơi một, hai giây rồi đặt đầu lưỡi giữa hai hàm răng sít lại và xì dần hơi ra ngoài qua kẽ hở của hai hàm răng, cố gắng kéo dài thời gian xì hơi Trong khi đó phải giữ sự căng thẳng cần thiết của phần bụng trên giáp với ngực cho tới khi hết hơi, không để xẹp bụng xuống đột ngột
b Tập cảm giác tập trung hơi thở vào “vị trí” bằng cách: Sau khi lấy hơi, ta ngậm miệng, bịt mũi, nén hơi thở lên phía trên sống mũi, nén vài lần rồi buông tay thở ra ngoài
Trang 25Hình 6: Các xoang cạnh mũi
Âm thanh phát ra từ thanh đới, bắt đầu có độ vang rất nhỏ Nhờ có sự cộng hưởng của các xoang nằm chủ yếu ở phần đầu của con người, mới tạo ra âm thanh mà ta vẫn thường nghe được
Những khoảng trống (xoang) tạo nên cảm giác về độ vang của âm thanh gọi là các xoang cộng minh
Khi hát, muốn có âm thanh vang, sáng, đẹp, người hát phải biết sử dụng các xoang cộng minh Đó là cách hát cộng minh
Các xoang cộng minh chủ yếu gồm có:
3.1.1 Cộng minh đầu (vị trí cộng minh trên)
Hầu hết các xoang nằm ở vùng xung quanh mắt Các xoang nằm ở trên mắt gọi là xoang trán, xoang hàm nằm dưới ổ mắt Ở phía dưới hai ổ mắt được ngăn cách bởi một vách xương có hai chùm xoang gọi là xoang sàng Xoang nằm phía sau mũi gọi là xoang bướm Tất cả các xoang này ăn thông với hốc mũi bằng những đường ống rất bé và quanh co Các xoang này được lót bởi một màng niêm mạc mỏng và chi chít hệ thống dây thần kinh Chính hệ thống dây thần kinh rung động, gây nên những cảm giác đặc biệt, gọi là cộng minh đầu Khi hát những âm thanh cao, muốn có âm thanh vang, đẹp, trong sáng ta phải hát bằng cộng minh đầu
Cần lưu ý: những xoang cộng minh này không phát ra được âm thanh vang tốt, mà chỉ họa lại những âm thanh từ thanh quản phát ra mà thôi
3.1.2.Cộng minh ngực (vị trí cộng minh dưới)
Khi hát những nốt trung và thấp (trầm) của giọng ta có cảm giác rung ở lồng ngực gọi là cộng minh ngực Thực ra không phải toàn bộ lồng ngực cộng minh, mà chỉ có khí quản và cuống phổi mà thôi Khí quản và cuống phổi tương đối dài và rỗng
Cộng minh đầu và cộng minh ngực đều là hai vị trí có cảm giác quan trọng
Để có giọng hát đẹp và phong phú về màu sắc, người hát phải biết kết hợp hài hòa giữa cộng minh đầu và cộng minh ngực Không nên chỉ sử dụng một loại cộng minh nào vì như vậy
âm thanh sẽ nghèo nàn, không đẹp
Ví dụ: Khi hát, nếu chỉ sử dụng vị trí cộng minh đầu sẽ tạo cảm giác căng thẳng Hoặc ngược lại chỉ sử dụng vị trí cộng minh ngực sẽ tạo cảm giác nặng nề
Trang 26Khi hát, hình dáng của miệng thay đổi liên tục theo sự phát âm nhả chữ, nghĩa là phụ thuộc vào những nguyên âm và phụ âm Khi nói các nguyên âm phát ra nhanh, gọn, không nhất thiết phải mở rộng miệng Nhưng khi hát các nguyên âm phải ngân dài theo trường độ nốt nhạc nên miệng phải mở rộng và tích cực hơn
Với từng loại giọng hát, độ mở rộng hay hẹp của miệng cũng có ảnh hưởng tới âm lượng
và âm sắc của giọng
Khi hát miệng phải luôn mở rộng tự nhiên, mềm mại không méo mó, linh hoạt, giúp người hát phát âm nhả chữ dễ dàng cũng như dễ biểu hiện cảm xúc bằng nét mặt
3.2.2 Hoạt động của môi khi hát
Sau khi âm thanh được phát ra từ thanh đới, do tác động của luồng hơi thở lên dây thanh đới, âm thanh đi qua khe thanh quản, đi qua cuống họng ra ngoài qua miệng Các nguyên âm và phụ âm được phát ra bởi những cử động của các bộ phận của miệng, tạo thành lời hát Hoạt động của môi nằm trong hoạt động chung của miệng
Khi hát, hình dáng của môi phụ thuộc vào các nguyên âm và phụ âm
Ví dụ: Đối với nguyên âm A và Ô, môi tạo hình dáng mở tròn
Đối với nguyên âm U, môi hơi chúm lại và đưa ra phía trước
Đối với nguyên âm Ê, môi trên hơi nhếch lên
Với những giọng cao, nhẹ nhàng, khi hát thường có hình dáng môi hơi nhếch lên trên và
để lộ chút ít hàm răng cửa trên
Với những giọng hát trầm, khi hát thường đưa môi ra phía trước và che kín răng
* Hoạt động của môi dù mở với hình dáng nào, hay giọng hát nào, môi phải luôn luôn mềm mại, linh hoạt để tạo điều kiện hát được rõ lời, nhất là khi hát những bài có tốc độ nhanh
Bài tập thực hành số 2
Muốn cho môi hoạt động được mềm mại, linh hoạt ta có thể tập:
a, Với những cử động môi không phát âm
b, Tập nói nhanh nhắc đi nhắc lại nhiều lần các từ:
Mi mi mi, ma ma ma, mô mô mô, mu mu mu
Pi pi pi, pa pa pa, pô pô pô, pu pu pu
Ka pê tê, pê tê ka, tê ka pê
Su pi ru li na
c, Tập nói nhanh với một số câu nói vui:
Tháng năm nắng lắm, ốc bám cầu ao
Hoặc Nồi đồng nấu ốc, nồi đất nấu ếch
Để bài tập thực hành đạt kết quả, khi mới tập đọc ta đọc ở tốc độ chậm, sau đó tăng dần
Trang 27tốc độ
3.2.3 Hoạt động của lưỡi khi hát
Hình 7: Lưỡi, phần trên thanh quản
1- Thanh đới giả 2- Lưỡi
3- Nắp thanh thiệt 4- Thanh đới thật 5- Khe thanh quản 6- Cuống lưỡi
Lưỡi là bộ phận hoạt động liên tục khi hát Hoạt động của lưỡi phát ra những nguyên âm
và phụ âm tạo thành lời hát
Thực tế cho thấy, khi hát lưỡi của mỗi người có những tư thế khác nhau Có người đặt lưỡi với tư thế như chiếc thìa úp sấp, đầu lưỡi nằm dưới chân răng hàm dưới Có người khi hát lưỡi lại cong lên ở phần giữa hoặc đầu lưỡi Với những người có giọng hát cao và nhẹ nhàng, khi hát thường đặt đầu lưỡi ở chân răng hàm dưới Còn ở các giọng trầm, khi hát lưỡi thường cong lên
Tư thế của lưỡi cong lên hay hạ thấp phụ thuộc vào những yếu tố quyết định tính chất âm thanh như độ mở rộng hay hẹp của vòm họng, của miệng cùng với việc xử lý hơi thở khi đẩy hơi ra
Khi hát, muốn biết tư thế nào của lưỡi là phù hợp, thì chất lượng tiếng hát là yếu tố quyết định chủ yếu
Muốn có âm thanh đẹp, phát âm nhả chữ rõ ràng, khi hát ta phải chú ý tới hoạt động của lưỡi
Với bất cứ giọng hát nào, khi hát nên đặt lưỡi có tư thế tự nhiên, mềm mại Không đưa lưỡi ra phía trước, cũng không tụt lưỡi vào phía trong Đó là tư thế tốt nhất của lưỡi khi hát Lưỡi cứng khi hát sẽ mắc lỗi phát âm lệch chuẩn
Bài tập thực hành số 3
Trang 28- Lung la lung linh, lóng la lóng lánh
3.2.4 Hoạt động của hàm dưới khi hát
Để đáp ứng yêu cầu về độ cao của âm thanh, dễ dàng phát âm nhả chữ, khi hát miệng phải
mở rộng hơn nhiều Hoạt động của hàm dưới cũng có ảnh hưởng tới chất lượng âm thanh Vì
vậy, khi hát, hàm dưới luôn buông lỏng, hạ xuống tự nhiên, mềm mại, không đưa cằm ra phía trước
Cứng hàm dưới, cuống lưỡi bị cong lên, cổ bị chà xát mạnh, làm đau cổ, phát âm nhả chữ
bị hạn chế, âm thanh bị nghẹt gây ra giọng cổ, nhất là khi hát những âm thanh cao, người mới học hát thường hay gồng người, đưa hàm về phía trước, gân cổ để hát Đó là lỗi cần tránh khi hát
Muốn hoạt động hàm dưới được tự nhiên, hàng ngày tập cử động hàm dưới như hạ xuống, nâng lên một cách mềm mại Tập đọc các nguyên âm A, Ê, I, Ô, U Đó cũng là cách khắc phục lối hát giọng cổ
3.2.5 Hoạt động của hàm ếch mềm
Vòm trên của miệng là hàm ếch Phần ngoài cố định, không cử động được gọi là hàm ếch cứng Phần trong mềm, có thể cử động được, gọi là hàm ếch mềm Hàm ếch mềm nối liền với lưỡi gà, khi cử động có thể đóng, mở đường ra miệng và lên hốc mũi
Khi hát, hàm ếch mềm phải nâng lên một cách mềm mại để mở rộng lối cho âm thanh cùng lúc lên hốc mũi và ra miệng Đặc biệt khi hát lên âm thanh cao, hàm ếch mềm phải nâng lên, kết hợp với tăng cường hơi thở là hai yếu tố góp phần quyết định đến chất lượng của âm thanh
Khi hát, nếu hàm ếch mềm không nâng lên được, phần trong của miệng giáp với cuống họng không mở ra được, âm thanh đi ra ngoài bằng đường mũi là chủ yếu, khi đó âm thanh bị nghẹt, có âm sắc sẽ xỉn, gọi là giọng mũi Đó cũng là một lỗi cần khắc phục khi hát
Muốn sửa lỗi hát giọng mũi, khi hát phải nâng cao hàm ếch mềm bằng việc tập hát nhiều với các nguyên âm A và Ô Cố gắng để âm thanh bật ra phía trước mặt Hoặc tạo thành một phản xạ có điều kiện như mở rộng miệng, rồi đưa ngón tay trỏ sâu vào phía trong miệng, lập tức hàm ếch mềm sẽ được nâng lên Động tác này được tập nhiều lần
Muốn biết là mình có tật hát giọng mũi hay không, khi hát ta thử bịt mũi Nếu thấy nghẹt mũi, âm thanh đã đi lên mũi, là chưa đạt yêu cầu
4 Phân loại giọng hát
Giọng hát của con người rất phong phú Nói về giới, có giọng nam và giọng nữ Nói về lứa tuổi, có giọng người lớn và giọng trẻ em Để hiểu rõ hơn về tính chất giọng nói của con người, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu
4.1 Giọng hát người lớn
Nhìn chung giọng hát của ngưoời lớn có ba loại giọng với tính chất khác nhau:
Trang 29- Giọng trung: Tính chất ấm áp đầy đặn
- Giọng trầm: Tính chất sâu lắng
4.1.1 Giọng hát nữ
a Giọng nữ cao (Soprano = sô-p’ra-nô)
Là giọng hát cao nhất trong các loại giọng
Âm vực của giọng nữ cao:
Giọng nữ cao có ba loại giọng:
- Giọng nữ cao màu sắc (Soprano colore) là loại giọng có khả năng hát cao hơn giọng
nữ bình thường 5, 6 âm Là loại giọng rất linh hoạt, âm thanh sáng chói, có âm sắc giống với tiếng sáo
- Giọng nữ cao kịch tính (Soprano dramaticque = sô-p’ra-nô-d’ra-ma-tích): Là giọng có
độ vang khoẻ trên toàn bộ âm vực Giọng nữ cao kịch tính có khả năng hát xuyên qua dàn nhạc Khi hát xuống khu trầm, âm sắc hơi giống giọng nữ trung
- Giọng nữ cao trữ tình (Soprano lyrique): Cũng là loại giọng khoẻ, chắc chắn, có âm sắc mềm mại hơn giọng nữ cao kịch tính
b Giọng nữ trung (Mezzo-Soprano = Mét-dô-sô-p’ra-nô)
Là loại giọng trung gian giữa giọng nữ cao và giọng nữ trầm
Âm vực của giọng nữ trung:
Giọng nữ trung có âm sắc ấm áp, êm dịu, khi hát những nốt ở âm khu trung, âm thanh khoẻ, đầy đặn
c Giọng nữ trầm (Contralto = công-t’ran-tô, hoặc Alto = al-tô)
Là loại giọng khoẻ, rất dày, âm sắc nghe rất trầm, ấm nhưng hơi tối Nhiều khi nghe như giọng nam cao
Âm vực của giọng nữ trầm:
Trang 30Giọng hát nam được chia thành ba giọng khác nhau:
a Giọng nam cao (Tenor = tê-no):
Giọng nam cao nói chung có âm vực:
Trong giọng nam cao lại được chia ra thành hai loại giọng sau:
- Giọng nam cao kịch tính (Tenor-dramatique = tê-no-d’ra-ma-tích)
Là loại giọng có âm thanh khoẻ, vang lớn Giọng nghe có nhiều chất “thép” giàu kịch tính hơn nam cao trữ tình
- Giọng nam cao trữ tình (Tenor-lyrique = tê-no-li-rich)
Là loại giọng có âm sắc trong sáng, nhẹ nhàng, linh hoạt, thể hiện tốt những bài hát tình cảm
b Giọng nam trung (Baryton = ba-ri-tông)
Là loại giọng chiếm tỉ lệ cao trong các loại giọng nam Giọng nam trung có đặc điểm cơ bản là gần với giọng nói Âm vực của giọng nam trung:
Giọng nam trung được chia làm hai loại giọng, đó là:
- Giọng nam trung kịch tính (Baryton dramatique = ba-ri-tông-d’ra-ma-tích):
Là giọng có độ vang khoẻ với âm sắc hơi tối
- Giọng nam trung trữ tình (Baryton lyrique = ba-ri-tông-li-rich):
Là giọng có độ vang tròn, với âm sắc mềm mại ấm áp, gần với giọng nam cao
c Giọng nam trầm (Basse = bát-xơ)
Là loại giọng phát huy tốt ở phần thấp của âm vực Giọng hát trầm có âm sắc trầm, ấm,
Trang 31Âm vực của giọng nam trầm:
Giọng nam trầm được chia ra làm hai loại giọng
- Giọng nam trầm nhẹ (Basse-leger hay còn gọi là Basse baryton = bát-xơ-ba-ri-tông):
Là giọng hát gần với giọng hát nam trung, có âm sắc ấm áp
- Giọng nam trầm nặng (Basse-plafonde):
Là loại giọng thể hiện tính oai nghiêm, trầm hùng rất rõ nét
4.2 Giọng hát trẻ em
Giọng hát trẻ em có sự khác biệt rất rõ so với giọng hát của người lớn, nếu ở người lớn có
sự phân chia rõ ràng về giới tính trong giọng hát như giọng hát nam và giọng hát nữ, thì giọng hát trẻ em, nhất là ở lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo, chỉ có một loại giọng, không có sự phân biệt giữa giọng trẻ em nam và giọng trẻ em nữ
Bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo đặc biệt rất nhạy cảm nhưng yếu ớt Âm thanh của trẻ sẽ tăng dần và phát triển tốt nếu được chăm sóc và tập luyện đúng phương pháp Trái lại âm thanh của trẻ sẽ kém phát triển hoặc dễ bị tổn thương nếu không được tập luyện và bảo vệ đúng phương pháp Như ta đã biết, âm thanh của con người được hình thành do tác động của luồng hơi thở từ phổi đẩy ra làm rung dây thanh đới Âm thanh đi qua cuống họng và được phóng to ra Cuối cùng âm thanh đi qua miệng ra ngoài tạo thành tiếng nói hoặc tiếng hát Thanh đới là bộ phận quan trọng của thanh quản So với người lớn, thanh quản của trẻ chỉ bằng một nửa Các dây thanh của trẻ chỉ dài bằng 1/3 dây thanh của người lớn (dài từ 5 - 7mm, rộng từ 2 - 3mm) Hoạt động của lưỡi kém linh hoạt và lấp khá đầy xoang miệng Sự điều khiển hệ cơ thanh quản và hô hấp của trẻ còn hạn chế Vì vậy, tiếng nói của trẻ có đặc điểm là khá cao so với người lớn về âm sắc giọng, gây được những ấn tượng xúc động mạnh mẽ
Âm vực thuận lợi của giọng trẻ:
Âm vực rộng hơn:
Hiếm
Trang 325 Tư thế cơ thể trong ca hát
Tư thế của cơ thể khi ca hát là vấn đề cần phải được chú ý ngay từ bước đầu học hát Trong khi ca hát, tư thế cơ thể phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy hơi, phát âm nhả chữ, biểu hiện tình cảm hài hoà và đẹp mắt
Dạy học âm nhạc ở trường mầm non chính là dạy hát Giáo viên có tiếng hát hay với tư thế đẹp khi hát dễ gây được thiện cảm và hứng thú, giúp trẻ cảm thụ bài hát và học hát có hiệu quả
Các bài hát nói chung và các bài hát dùng trong trường mầm non nói riêng mang nhiều nội dung và phong cách thể hiện khác nhau, nên tư thế của người hát cũng được thay đổi sao cho phù hợp với từng thể loại và nội dung bài hát cụ thể Tư thế khi hát có thể là đứng hát hoặc ngồi hát và có thể đi lại khi hát Tuy nhiên trong thực tế, tư thế đứng hát vẫn là tư thế được sử dụng nhiều hơn cả Tư thế đứng hát là tư thế vững vàng, tự nhiên, khoẻ mạnh, tạo nên một dáng vẻ đẹp