1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

218 410 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xã hội hiện đại với xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay ở Việt Nam, việc sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp là vô cùng quan trọng. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đối với mỗi dân tộc lại có sự khác biệt. Điều đó đã góp phần tạo nên những nét đặc trưng trong văn hóa ứng xử cũng như bản sắc văn hóa riêng cho mỗi dân tộc. Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ. Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày của chúng ta, bất cứ hành vi ngôn ngữ nào cũng được thực hiện với mục đích của người nói trong giao tiếp ngôn ngữ. Chẳng hạn, với một lời hứa, mục đích của người nói là biết cách tạo ra một sự bắt buộc để thực hiện hành vi đó như là một lời hứa. Với hành vi xin phép, khi thực hiện hành vi này người nói mong muốn được thực hiện với sự hồi đáp tích cực của người nghe hoặc người nghe sẽ thực hiện hành vi cho phép sau khi người nói thực hiện hành vi xin phép. Hành vi xin phép và hành vi hồi đáp là một trong những cặp hành vi lời nói phổ biến trong tiếng Việt cũng như ở trên thế giới. Theo Searle (1976), hành vi xin phép và hồi đáp nằm trong lớp hành vi lời nói khuyến lệnh (directive), mục đích của người nói khi tạo ra các phát ngôn xin phép là nhận được sự hồi đáp tích cực (hay cho phép) của người nghe đối với các phát ngôn xin phép đó. Chúng ta có thể gặp rất nhiều các phát ngôn xin phép và hồi đáp được sử dụng trong đời sống hàng ngày. Tùy vào mục đích, dụng ý và địa vị xã hội của người nói và người nghe mà các phát ngôn xin phép và hồi đáp được thể hiện theo hai phương thức trực tiếp và gián tiếp với nhiều dạng thức khác nhau như là cấu trúc mệnh lệnh, nghi vấn Can I…? Could I…? May I…? Would you mind…? Do you mind…? sử dụng các động từ ngữ vi như permit, allow, let trong tiếng Anh và xin phép, xin… được phép, xin....cho phép, cho, để, hoặc sử dụng trợ động từ tình thái có thể trong tiếng Việt. Hai loại hành vi này luôn đi cùng với nhau, cùng tồn tại và xuất hiện song hành trong các hội thoại hay phát ngôn lời nói. Tuy nhiên, theo Brown và Levison (1987) khi bàn về lý thuyết lịch sự (politeness theory), hai ông cho rằng loại hành vi lời nói này có thể đe dọa thể diện của người nói trong những trường hợp người nghe đưa ra các hồi đáp tiêu cực, vì việc chuyển di ngữ dụng trong hành vi xin phép và hồi đáp sẽ dẫn đến nhiều cuộc hội thoại không thành công trong giao tiếp ngôn ngữ giữa những người ở nhiều nền văn hóa khác nhau.Việc nghiên cứu bản chất của hành vi xin phép và hồi đáp, cấu trúc và phương tiện thể hiện, các tác nhân quyết định hiệu quả của hành vi xin phép và hồi đáp, nét đặc trưng văn hóa của người Mỹ và người Việt Nam biểu lộ qua hành vi xin phép và hồi đáp, những nét riêng của việc sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong giao tiếp của các nhóm xã hội… là một vấn đề cần thiết có thể cho thấy những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, về tính lịch sự, về cách ứng xử văn hóa và cách thức tư duy thể hiện trong hành động ngôn từ của cả hai dân tộc. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách hệ thống và toàn diện. 2. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận án của chúng tôi hướng đến mục đích gop phân minh chưng cho li thuyêt cua Ngư dung hoc vê hanh vi ngôn ngư , góp phần làm phong phú thêm li thuyêt vê môi quan hê giưa ngôn ngư va văn hoa ; làm rõ bản chất của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc nhìn Ngữ dụng học. Luận án đặt cho mình mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: 3.1. Khảo sát hành vi xin phép và hồi đáp trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. 3.2. Tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt trong cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của những phát ngôn dùng để thực hiện hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Trang 1

NGUYỄN THỊ MAI HOA

HÀNH VI XIN PHÉP VÀ HỒI ĐÁP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGƢ̃ HỌC

HUẾ - 2016

Trang 2

MỤC LỤC

1.2.1 Những yếu tố trong cấu trúc hội thoại 14

1.3.5 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp 27

1.4.4 Điều kiện sử dụng của hành vi xin phép 34 1.4.5 Mối quan hệ giữa hành vi yêu cầu và hành vi xin phép 36 1.5 Nguyên tắc về lịch sự và thể diện trong hội thoại 38

Trang 3

1.7 Ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 40

CHƯƠNG 2: HÀNH VI XIN PHÉP VÀ HỒI ĐÁP TRONG

TIẾNG ANH

43

2.1 Kết quả thống kê phân loại các cấu trúc xin phép và hồi đáp

trong tiếng Anh qua văn chương và phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT

2.2 Các phương thức biểu hiện trực tiếp hành vi xin phép và hồi

đáp trong tiếng Anh

47

2.2.1 Hành vi xin phép trực tiếp - Hồi đáp tích cực trực tiếp 47

2.2.2 Hành vi xin phép trực tiếp - Hồi đáp tíêu cực trực tiếp 47 2.3 Các phương thức biểu hiện gián tiếp hành vi xin phép và hồi

đáp trong tiếng Anh

49

2.3.1 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tích cực trực tiếp 50 2.3.2 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tíêu cực trực tiếp 50 2.3.3 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tích cực gián tiếp 53

2.3.4 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tiêu cực gián tiếp 55 2.4 Các nét ngữ dụng liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp

trong tiếng Anh

57

2.4.1 Hành vi xin phép và hồi đáp xét trong mối quan hệ bố, mẹ -

con (môi trường gia đình)

Trang 4

trưởng - nhân viên (môi trường công sở)

CHƯƠNG 3: HÀNH VI XIN PHÉP VÀ HỒI ĐÁP TRONG

TIẾNG VIỆT

69

3.1.1 Kết quả thống kê phân loại các cấu trúc xin phép và hồi đáp

trong tiếng Việt qua văn chương và phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT

69

3.1.1 Kết quả thống kê phân loại các cấu trúc xin phép qua văn

chương và DCT

69

3.1.2 Kết quả thống kê phân loại các hành vi hồi đáp trong tiếng

Việt qua văn chương và DCT

70

3.2 Các phương thức biểu hiện trực tiếp hành vi xin phép và hồi

đáp trong tiếng Việt

đáp trong tiếng Việt

86

3.3.1 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tích cực trực tiếp 86 3.3.2 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tíêu cực trực tiếp 87 3.3.3 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tích cực gián tiếp 88 3.3.4 Hành vi xin phép gián tiếp - Hồi đáp tích cực gián tiếp 88 3.4 Các nét ngữ dụng liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp

trong tiếng Việt

90

3.4.1 Hành vi xin phép và hồi đáp xét trong mối quan hệ bố, mẹ - 90

Trang 5

con (môi trường gia đình)

3.4.2 Hành vi xin phép và hồi đáp xét trong mối quan hệ bạn bè 91 3.4.3 Hành vi xin phép và hồi đáp xét trong mối quan hệ thầy - trò

(môi trường trường học)

92

3.4.4 Hành vi xin phép và hồi đáp xét trong mối quan hệ giữa thủ

trưởng - nhân viên (môi trường công sở)

93

CHƯƠNG 4: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VA KHÁC BIỆT CỦA

HÀNH VI XIN PHÉP VÀ HỒI ĐÁP TRONG TIẾNG ANH VÀ

TIẾNG VIỆT

97

4.1.1 So sánh mặt nội dung của hành vi xin phép và hồi đáp trong

tiếng Anh và tiếng Việt

97

4.1.2 So sánh mặt ngữ nghĩa của hành vi xin phép và hồi đáp trong

tiếng Anh và tiếng Việt

100

4.1.3 So sánh mặt ngữ dụng của hành vi xin phép và hồi đáp trong

tiếng Anh và tiếng Việt

102

4.2.1 So sánh mặt ngữ nghĩa của hành vi xin phép và hồi đáp

trong tiếng Anh và tiếng Việt

103

4.2.2 So sánh mặt ngữ dụng của hành vi xin phép và hồi đáp trong

tiếng Anh và tiếng Việt

106

4.2.2.1 So sánh tỉ lệ sử dụng các (trợ) động từ để thực hiện các

hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt theo các

nhóm xã hội từ DCT

106

4.2.2.2 So sánh tỉ lệ sử dụng các phương thức thực hiện các hành

vi xin phép và hồi đáp trực tiếp và gián tiếp trong tiếng Anh và

tiếng Việt với các quan hệ xã hội

111

Trang 6

4.3 Hành vi xin phép và hồi đáp với phép lịch sự trong tiếng Anh

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Các chữ viết tắt trong tiếng Anh

1 NP1: Noun Phrase 1: cụm danh từ thứ nhất

2 NP2: Noun Phrase 2: cụm danh từ thứ hai

3 VP: Verb Phrase: cụm động từ

4 S: người nói

5 H: người nghe

6 Sp1: ngườ i nói/nhân vâ ̣t hô ̣i thoa ̣i thứ nhất

7 Sp2: ngườ i nói/nhân vâ ̣t hô ̣i thoa ̣i thứ hai

8 DCT: Discourse Completation Task (Phiếu câu hỏi diễn ngôn)

9 FTA : Face Threatening Acts (Hành vi đe dọa thể diện)

Các chữ viết tắt trong tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

2.1a Bảng thống kê các cấu trúc xin phép trong tiếng Anh qua

2.3 Các phương thức biểu hiện hành vi xin phép và hồi đáp

trong tiếng Anh qua văn chương và DCT

61

2.4 Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng

Anh qua văn chương

3.3 Các phương thức biểu hiện hành vi xin phép và hồi đáp

trong tiếng Việt qua văn chương và DCT

89

Trang 9

3.4 Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng

Việt qua văn chương

94

4.1 Nội dung và phương tiện từ vựng dùng để xin phép và

hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

98

4.2 So sánh tỉ lệ sử dụng các (trợ) động từ để thực hiện các

hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

theo các nhóm xã hội từ DCT

111

4.2 So sánh tỉ lệ các phương thức biểu hiện hành vi xin phép

và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

115

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại với xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay ở Việt

Nam, việc sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp là vô cùng quan trọng Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đối với mỗi dân tộc lại có sự khác biệt Điều đó đã góp phần tạo nên những nét đặc trưng trong văn hóa ứng xử cũng như bản sắc văn hóa riêng cho mỗi dân tộc Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ Hành

vi ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày của chúng ta, bất cứ hành vi ngôn ngữ nào cũng được thực hiện với mục đích của người nói trong giao tiếp ngôn ngữ Chẳng hạn, với một lời hứa, mục đích của người nói là biết cách tạo ra một sự bắt buộc để thực hiện hành vi đó như là một lời hứa Với hành vi xin phép, khi thực hiện hành vi này người nói mong muốn được thực hiện với sự hồi đáp tích cực của người nghe hoặc người nghe sẽ thực hiện hành

vi cho phép sau khi người nói thực hiện hành vi xin phép

Hành vi xin phép và hành vi hồi đáp là một trong những cặp hành vi lời nói phổ biến trong tiếng Việt cũng như ở trên thế giới Theo Searle (1976), hành vi xin phép và hồi đáp nằm trong lớp hành vi lời nói khuyến lệnh (directive), mục đích của người nói khi tạo ra các phát ngôn xin phép là nhận được sự hồi đáp tích cực (hay cho phép) của người nghe đối với các phát ngôn xin phép đó Chúng ta có thể gặp rất nhiều các phát ngôn xin phép và hồi đáp được sử dụng trong đời sống hàng ngày Tùy vào mục đích, dụng ý và địa vị xã hội của người nói và người nghe mà các phát ngôn xin phép và hồi đáp được thể hiện theo hai phương thức trực tiếp và gián tiếp với nhiều dạng thức khác nhau như là cấu trúc

mệnh lệnh, nghi vấn Can I…? Could I…? May I…? Would you mind…? Do you mind…? sử dụng các động từ ngữ vi như permit, allow, let trong tiếng Anh và xin phép, xin… được phép, xin cho phép, cho, để, hoặc sử dụng trợ động từ tình thái có thể trong tiếng Việt

Trang 11

Hai loại hành vi này luôn đi cùng với nhau, cùng tồn tại và xuất hiện song hành trong các hội thoại hay phát ngôn lời nói Tuy nhiên, theo Brown và Levison (1987) khi bàn về lý thuyết lịch sự (politeness theory), hai ông cho rằng loại hành vi lời nói này có thể đe dọa thể diện của người nói trong những trường hợp người nghe đưa ra các hồi đáp tiêu cực, vì việc chuyển di ngữ dụng trong hành vi xin phép và hồi đáp sẽ dẫn đến nhiều cuộc hội thoại không thành công trong giao tiếp ngôn ngữ giữa những người ở nhiều nền văn hóa khác nhau.Việc nghiên cứu bản chất của hành vi xin phép và hồi đáp, cấu trúc và phương tiện thể hiện, các tác nhân quyết định hiệu quả của hành vi xin phép và hồi đáp, nét đặc trưng văn hóa của người Mỹ và người Việt Nam biểu lộ qua hành vi xin phép và hồi đáp, những nét riêng của việc sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong giao tiếp của các nhóm xã hội… là một vấn đề cần thiết có thể cho thấy những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, về tính lịch sự, về cách ứng xử văn hóa và cách thức tư duy thể hiện trong hành động ngôn từ của cả hai dân tộc Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách hệ thống và toàn diện

2 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án của chúng tôi hướng đến mục đích góp phần minh chứng cho lí

thuyết của Ngữ du ̣ng ho ̣c về hành vi ngôn ngữ, góp phần làm phong phú thêm lí thuyết về mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và văn hóa ; làm rõ bản chất của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc nhìn Ngữ dụng học Luận án đặt cho mình mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

3.1 Khảo sát hành vi xin phép và hồi đáp trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 3.2 Tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt trong cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của những phát ngôn dùng để thực hiện hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 12

3.3 Phân tích ảnh hưởng của phép lịch sự đối với hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ gốc và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích, chủ yếu được nghiên cứu theo các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp qui nạp: Phương pháp này được thực hiện thông quá việc thu thập tư liệu về các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ

đó đi đến khái quát hóa các chiến lược với những biểu hiện cụ thể của chúng 4.2 Phương pháp phân tích, miêu tả: Hành vi xin phép và hồi đáp là một cặp thoại nên thường hay xuất hiện trong các tình huống giao tiếp cụ thể với các nhân tố được sử dụng trong hoạt động hội thoại (nhân vật hội thoại, đích hội thoại, nội dung hội thoại ) Ngoài ra, còn cần phải quan tâm đến yếu tố hiện thực ngoài hội thoại (yếu tố xã hội, văn hoá ) khi phân tích chức năng hay lí giải sự hành chức của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt 4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu song song: Chúng tôi dựa trên các kết quả

đã phân tích và miêu tả để đối chiếu, so sánh nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt đối với hành vi xin phép và hồi đáp trong cả hai ngôn ngữ Anh

và Việt trên bình diện cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ dụng

Sử du ̣ng ba phương pháp nghiên cứu nói trên, luâ ̣n án đồng thời tiến hành mô ̣t số thủ pháp nghiên cứu sau:

- Thống kê phân loại: Tất cả các phát ngôn xin phép và hồi đáp sau khi thu thập đều được tác giả phân loại và xử lý bằng phương pháp thủ công, định dạng

và phân loại theo các nhóm, các phương thức biểu hiện khác nhau

- Phân tích và hệ thống hóa: được sử du ̣ng trong phân tích ngữ liê ̣u , số liê ̣u để khái quát những đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ du ̣ng của hành vi xin phép và hồi đáp

Tóm lại, phương pháp qui nạp, miêu tả, thống kê phân loại và so sánh đối chiếu là các phương pháp chủ đạo xuyên suốt đề tài luận án

Trang 13

5 Phạm vi nghiên cứu

Theo Eva Ogiermann (2009) hiện nay trên thế giới có 3 hướng nghiên cứu chính về hành vi lời nói sau:

1 Thông qua văn chương và báo chí

2 Thông qua khối liệu (corpus)

3 Thông qua phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT)

Luận án xác đ ịnh sử du ̣ng ngữ liê ̣u thu thâ ̣p đư ợc từ các nguồn sau là đối tượng nghiên cứu chính:

- Các tác phẩm văn học, truyện ngắn Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại

- Các tác phẩm, truyện ngắn tiếng Anh, song ngữ Anh - Việt

- Một số bô ̣ phim truyền hình Việt Nam, phim Mỹ

- Hội thoa ̣i trong giao tiếp hàng ngày dựa trên phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT Như vậy, luận án đã xác định sử dụng hướng nghiên cứu 1 theo Eva Ogiermann là hướng nghiên cứu chính Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng hướng nghiên cứu 3, sử dụng các tình huống hội thoại trên phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT, các kết quả thu được từ việc xử lý phiếu điều tra sẽ làm sáng tỏ thêm những kết luận trong quá trình phân tích và nghiên cứu ngữ liệu, làm cho luận án

có tính xác thực và có độ tin cậy cao

Tóm lại, theo hai hướng nghiên cứu 1 và 3, phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ

là 970 hành vi xin phép và hồi đáp bằng tiếng Anh và 1000 hành vi xin phép và hồi đáp bằng tiếng Việt

Phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT được thiết kế với 9 tình huống trong 3 môi trường xã hội và 4 quan hệ xã hội khác nhau để đảm bảo tính khách quan: môi trường công sở giữa thủ trưởng - nhân viên, quan hệ bạn bè/ đồng nghiệp, môi trường trường học giữa thầy - trò, giữa bạn bè và gia đình giữa bố, mẹ - con cái, mỗi tình huống sẽ có 2 hồi đáp tích cực và tiêu cực Mỗi tình huống phải thể hiện được tình trạng xã hội, khoảng cách xã hội giữa các nghiệm thể khi thực hiện hành vi xin phép và hồi đáp Phiếu câu hỏi sẽ được phát trực tiếp cho 40 nghiệm thể Việt là các sinh viên tiếng Anh của trường Đại học Quảng Bình, với các

Trang 14

nghiệm thể là sinh viên của trường Đại học Southern Mississippi ở Mỹ, chúng tôi phải nhờ trực tiếp một bạn sinh viên Việt Nam đang học tại trường này trực tiếp phát phiếu điều tra cho các bạn sinh viên Mỹ, sau đó chụp ảnh các bản thu được sau khi khảo sát và gửi email về Việt Nam

Việc sử dụng các tình huống lựa chọn ngẫu nhiên trong nghiên cứu của luận

án có thể không phản ánh hết đặc điểm xã hội, các quan hệ xã hội của các nhóm tiêu chuẩn trên thực tế Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, với mục tiêu xem xét việc sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt của các nhóm xã hội hiện nay, những thông tin, số liệu thu thập được

từ phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT cũng phần nào phản ánh được những đặc điểm giống nhau và khác nhau trong cách sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong giao tiếp của các nhóm xã hội hiện nay trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết, khái quát các vấn đề có liên quan

đến hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, hành vi xin phép, hành vi hồi đáp, lý thuyết hô ̣i thoa ̣i và l ý thuyết về mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Chương 2: Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh, miêu tả, phân tích

khái quát các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng, các phương thức biểu hiện trực tiếp và gián tiếp của hành vi xin phép và cách thức hồi đáp trong tiếng Anh trên bình diện ngữ dụng, những yếu tố chi phối các hành vi xin phép và hồi đáp như lịch sự, thể diện, mối quan hệ liên cá nhân, vị thế xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác

Trang 15

của các vai giao tiếp trong hội thoại

Chương 3: Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Việt, miêu tả và khái quát

các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng, các phương thức biểu hiện trực tiếp và gián tiếp của hành vi xin phép và cách thức hồi đáp trong tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng, những yếu tố chi phối các hành vi xin phép và hồi đáp như lịch

sự, thể diện, mối quan hệ liên cá nhân, vị thế xã hội, nghề nghiêp, tuổi tác của các vai giao tiếp trong hội thoại

Chương 4: Sự tương đồng và khác biệt của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này trình bày những điểm tương đồng và những

nét khác biệt của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt trên

bề mặt cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ dụng Thông qua ngữ liệu văn chương và phiếu câu hỏi diễn ngôn, rút ra những kết luận về một số khuôn mẫu của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này cũng phân tích nguyên lí lịch sự, cách ứng xử văn hóa, phong tục tập quán, sự phân tầng về vị thế, tuổi tác, nghề nghiệp trong xã hội được thể hiện trong hành vi xin phép và hồi đáp của người Mỹ và người Việt

Phần Kết luận rút ra những vấn đề mang tính khái quát về các kết quả đã nghiên cứu của luận án về các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, đề xuất những ứng dụng khả thi từ những kết quả mà luận án đem lại trong phạm vi lý thuyết và ứng dụng của ngôn ngữ học, đồng thời cũng đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo mang tính chuyên sâu về các loại hành vi ngôn ngữ trong sự so sánh, đối chiếu ở hai ngôn ngữ

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

7.1 Ý nghĩa khoa học

1 Luận án góp phần làm rõ những tương đồng và khác biệt của hành vi xin

phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt ở cả hai mặt hình thức tổ chức và

ngữ nghĩa-ngữ dụng

2 Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu theo một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, hiện đại khi so sánh những điểm tương đồng và khác biệt của đối

Trang 16

tượng này trong tiếng Anh và tiếng Việt xét về mặt ngữ dụng học Kế thừa các nghiên cứu của các tác giả đi trước như Soehartono & Sianne, Hisae Niki & Hiroko Tajika của Nhật Bản, Lê Thị Thu Lê, Đào Nguyên Phúc của Việt Nam, luận án là sự tiếp nối các nghiên cứu trước đây về hành vi xin phép theo hướng

mở rộng của các tác giả này, góp thêm một góc sáng cho bức tranh toàn cảnh về các đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu của luận án có những giá trị thực tiễn nhất định trong việc lý giải các cách sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hiệu quả

1 Việc so sánh đối chiếu một hành vi ngôn ngữ (hành vi xin phép) trong hai thứ tiếng Anh và Việt có nguồn gốc ngôn ngữ và loại hình ngôn ngữ khác nhau cung cấp những chứng cứ và góp phần đưa ra những giả định về tính phổ quát và tính đặc thù của ngôn ngữ trong giao tiếp

2 Việc nghiên cứu hành vi xin phép và hồi đáp gắn với các yếu tố văn hóa và

xã hội có thể được mở rộng để nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ khác qua đó góp phần nghiên cứu văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ

3 Những kết quả đạt được của luận án cho phép đưa ra những chỉ dẫn trong việc sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong giao tiếp một cách có hiệu quả, ngoài ra các kết quả đó sẽ là những tham khảo có ích được sử dụng trong giảng dạy ngoại ngữ; tiếng Anh cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người nước ngoài, đặc biệt là trong các giao tiếp ngôn ngữ xã hội

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Ngoài nước

Vào đầu những năm 1960, cùng với sự xuất hiện của lí thuyết hành động ngôn

từ (speech act theory) do J.L Austin và J.Searle khởi xướng, ngữ dụng học bắt đầu bước vào

thời kì phát triển mạnh mẽ, giải đáp và khám phá rất nhiều những địa hạt mới

mẻ của ngôn ngữ học Từ đây, ngôn ngữ học đã được mở rộng phạm vi quan tâm, bao quát đến từng lời nói cụ thể, từng giao tiếp cụ thể của con người Người đầu tiên đưa ra lý thuyết hành vi ngôn ngữ là Austin (1962) với công trình

nghiên cứu "How to do things with words" Trong thời gian đó, Austin cho rằng, các nhà lôgic và các nhà ngôn ngữ chỉ quan tâm đến những câu khảo nghiệm (còn gọi là khẳng định, trần thuyết, xác tín, miêu tả ) và xem chúng là đối tượng

cơ bản để nghiên cứu Austin đề nghị chia câu thành hai loại: câu tường thuật (constative) và câu ngôn hành Câu tường thuật là câu nêu nhận định, còn câu ngôn hành là phát ngôn mà khi nói ra chúng, người nói đồng thời làm một điều

gì đó hơn là nêu nhận định về một điều gì đó Chẳng hạn với các câu:

(1) Con xin phép thầy mẹ cho con ra ga ngay [119, 43]

(2) Con thề với bố là ông ấy không hề lấy một xu nào của công ty [39, 58]

chúng ta thấy người nói chẳng đưa ra một nhận định nào cả mà đơn giản là đang

thực hiện các hành vi “xin phép”và “thề” J.L Austin cho rằng những câu này

được người nói phát ngôn ra với mục đích thực hiện một hành vi nào đó như

mời, hứa, khuyên, ra lệnh, xin phép, xin lỗi

Như vậy, nhờ phân biệt được phát ngôn tường thuật, miêu tả và phát ngôn

ngôn hành, nhà triết học người Anh này đã phát hiện ra bản chất hành vi của

ngôn ngữ

Cũng như J.L Austin và các tác giả khác, J.R Searle (1969) đã tiến hành phân loại các động từ ngôn hành và chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại của J.L

Trang 18

Austin (1962) vì ông cho rằng J.L Austin không định ra các tiêu chí phân loại, do

đó kết quả phân loại có khi giẫm đạp lên nhau J.R Searle (1969) cho rằng “trước hết là phải phân loại các hành động ngôn từ chứ không phải phân loại các động

từ gọi tên chúng và nếu xác lập được một hệ tiêu chí thích hợp với các hành động ngôn từ thì có thể lý giải được tình trạng giẫm đạp lên nhau của các phạm trù theo cách phân chia của J.L Austin” [79,123] Searle đã đưa ra 12 tiêu chí,

trong đó 4 tiêu chí quan trọng nhất là:

1 Đích tại lời (illocutionary point);

2 Hướng khớp ghép lời – hiện thực (direction of fit);

3 Trạng thái tâm lí được biểu hiện;

4 Nội dung mệnh đề;

Căn cứ vào 4 tiêu chí này và một số các tiêu chí khác, Searle đã phân loại các hành vi ở lời thành 5 lớp lớn: Tái hiê ̣n (Representatives), Điều khiển (Directives), Kết ước (Commissives), Biểu lộ (Expressives), Xác tín (Assertives) Trong đó, hành vi xin phép được xếp vào nhóm điều khiển, một nhóm bao gồm các hành vi như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, xin phép, cho phép

Nói chung các nhà nghiên cứu ngoài nước đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của hành vi ngôn ngữ với tư cách là một trong những vấn đề chính và cốt lõi của Ngữ dụng học hiện đại

Đề cập đến số lượng các loại chức năng ngôn ngữ thường gặp, Soehartono &

Sianne [80, 35] cho rằng:“Có bốn loại chức năng ngôn ngữ chưa bao giờ gặp trong các phát ngôn xin phép trong trường hợp giáo viên có địa vị xã hội cao hơn” Các chức năng đó là:

1 Đề nghị một chuỗi các hoạt động

2 Yêu cầu ai làm gì

3 Khuyên ai làm gì

4 Hướng dẫn ai làm gì

Bằng cách phân tích các dữ liệu, Soehartono & Sianne (2003) đã tìm ra chức

năng chiếm ưu thế trong hành vi xin phép và kết luận: “Chức năng của hành vi

Trang 19

xin phép được theo sau bởi chức năng xin lỗi để thể hiện vị thế xã hội thấp hơn của người xin phép nhằm thuyết phục người có quyền lực cao hơn.”[80,133]

Hisae Niki của trường Đại học Meikai, Chiba và Hiroko Tajika của trường Đại

học Tsudo, Tokyo Nhật Bản (1994) trong “Asking for permission vs making requests: strategies chosen by Japanese speakers of English” đã phân tích hành

vi xin phép và hành vi yêu cầu dựa trên hai động từ cụ thể “borrow” và “lend”

theo các tiêu chí như khoảng cách xã hội, địa vị xã hội giữa người nói và người nghe Kết quả thu được từ việc khảo sát phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT) với cấu

trúc Can I borow…? và Could I borrow…? khi thực hiện các hành vi xin phép và Can you lend ? và Could you lend ? khi thực hiện hành vi yêu cầu cho thấy

người bản ngữ thích sử dụng các cấu trúc xin phép trong khi người Nhật có xu

hướng sử dụng hành vi yêu cầu trong mọi tình huống “Nghiên cứu này chỉ mới chỉ dừng lại ở quan hệ giao tiếp là các thành viên trong gia đình, do đó, hạn chế của đề tài này là chưa khảo sát được các hành vi xin phép trong nhiều mối quan

hệ xã hội ở những môi trường giao tiếp khác nhau để có những kết luận mang tính chính xác, khách quan và thực tế hơn về cách sử dụng hành vi xin phép và yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Nhật” (Tajika & Niki, 1991; Niki, 1993)

Tóm lại, một số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới đã quan tâm đến việc nghiên cứu đề tài hành vi xin phép theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, đề tài về hành vi xin phép và hồi đáp chưa được nhà nghiên cứu nào

đề cập và nghiên cứu chúng như là một cặp hành vi ngôn ngữ và có sự so sánh đối chiếu với ngôn ngữ khác

1.1.2 Trong nước

Ở Việt Nam, hành vi ngôn ngữ đã và đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là các nhà Việt ngữ Trong số đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu của những nhà khoa học có tên tuổi như Cao Xuân

Hạo (1991) với công trình “Tiếng Việt Sơ thảo ngữ pháp chức năng” đã đánh

dấu một bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu (1993)

trong “Đại cương ngôn ngữ học” (viết chung với Bùi Minh Toán), Ngữ dụng học

Trang 20

Tập 2, đã đưa ra khái niệm hành vi ngôn ngữ, phân biệt biểu thức ngữ vi và động

từ ngữ vi, và nêu một số dấu hiệu ngữ dụng đánh dấu lực tại lời của các hành vi

ngôn ngữ Nguyễn Đức Dân (1998) với công trình “Ngữ dụng học” đã nêu

những cơ sở lí thuyết căn bản về ngữ dụng học trong đó có hành vi ngôn ngữ

Nguyễn Thiện Giáp (2001) trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” đã trình bày những

vấn đề Ngữ dụng học ứng dụng vào nghiên cứu tiếng Việt Nguyễn Văn Hiệp

(2008) trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” khi trình bày về nghĩa

mục đích phát ngôn (một trong bốn cơ sở ngữ nghĩa của việc phân tích và miêu

tả cú pháp câu tiếng Việt: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề, nghĩa mục đích phát ngôn) đã nêu khái quát lí thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin, phân loại hành vi ngôn ngữ , và đặc biệt tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa đánh dấu mục đích phát ngôn và đánh dấu kiểu câu, vai trò của các tiểu từ tình thái tiếng Việt trong việc hình thành hiệu lực ở lời của phát ngôn

Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học thế giới để nghiên cứu đặc điểm, bản chất và cách vận hành của các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt

Nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ như một sự kiện lời nói trong tương tác hội thoại cũng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và có rất nhiều các công trình

nghiên cứu Trong số đó phải kể đến “Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu” (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Vân Anh 2001); Lữ Thị Trà Giang (2008) với đề tài luận văn Thạc sĩ “Ngữ nghĩa - ngữ dụng của vị từ ngôn hành tiếng Việt” đã bàn về các loại động từ ngôn hành và cách sử dụng của

chúng trong tiếng Việt Luận án tiến sĩ năm 2013 của Nguyễn Thị Thu Nga

nghiên cứu về “Hành vi ngôn ngữ Thề trong tiếng Việt” Nhìn chung, các nghiên

cứu của các tác giả này là những nghiên cứu để tiến tới xây dựng khái niệm về một hành vi ngôn ngữ cụ thể, các cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của biểu thức ngữ vi tường minh của hành vi ngôn ngữ đó, xác định cấu trúc đặc thù của từng

sự kiện lời nói với các tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp, bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến sự thể hiện hành vi ngôn ngữ được

Trang 21

nghiên cứu Nghiên cứu so sánh đối chiếu phương tiện thể hiện hành vi ngôn ngữ

giữa tiếng Việt với một ngôn ngữ khác có rất nhiều công trình tiêu biểu như: “Một

số khác biệt giao tiếp lời nói Việt - Mĩ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen” (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Văn Quang 1998); “Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh, liên hệ tiếng Việt” (Luận

án Tiến sĩ Ngữ văn của Trần Chi Mai 2004); Nguyễn Văn Lập (2005), “Nghi thức lời nói tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết hành vi ngôn ngữ” (so sánh với tiếng Anh), (Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh); Siriwong Hongsawan (2010) "Nghiên cứu đối chiếu hành vi bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Viê ̣t ", Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học (đã được công bố thành

sách), Trườ ng Đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và Nhân văn , Hà Nội Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu miêu tả và phân tích sự khác biệt về phương tiện và cách thức biểu thị hành vi ngôn ngữ giữa tiếng Việt và một ngôn ngữ khác , bước đầu lí giải sự khác biệt đó từ góc độ văn hóa Luận án Tiến sĩ của Đào Nguyên

Phúc (2007) “Lịch sự trong đoạn thoại xin phép của tiếng Việt” đã đi sâu tìm

hiểu đặc trưng của ngôn ngữ hội thoại tiếng Việt nhất là đặc trưng ngôn ngữ của

“Sự kiện lời nói xin phép” qua cách miêu tả và phân loại các dạng thức khác

nhau của việc sử dụng sự kiện lời nói xin phép và các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sự kiện lời nói xin phép trong tiếng Việt Mục đích của công trình nghiên cứu là tìm hiểu bản chất của sự kiện lời nói xin phép trong tiếng Việt trên bình diện dụng học, làm sáng tỏ được đặc điểm cấu trúc của đoạn thoại xin phép nói chung và đặc điểm của các thành tố trong cấu trúc của đoạn thoại xin phép nói riêng, đồng thời tìm hiểu các chiến lược lịch sự trong giao tiếp khi sử dụng hành

vi ngôn ngữ xin phép Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt, mà không có được sự so sánh với một ngôn ngữ nào khác và nghiên cứu của tác giả cũng không đề cập đến hành vi hồi đáp, là một phần không thể thiếu được khi nghiên cứu về hành vi xin phép để công trình nghiên cứu trở nên có chiều sâu và có giá trị hơn Lê Thị Thu Lê (2010) trong luận văn

thạc sĩ “Asking and giving permission in Vietnamese and English, a contrastive

Trang 22

analysis” đã đề cập đến một số động từ tình thái trong tiếng Anh dùng để thực hiện hành vi xin phép như can, could, may Tuy nhiên, tác giả chỉ mới liệt kê

được các cấu trúc ngữ nghĩa thường hay dùng khi thực hiện các hành vi xin phép

trong tiếng Anh như Can I…?, Could I…?, May I…? và các cấu trúc tương đương trong tiếng Việt như có thể…được không? Tác giả chưa đi sâu tìm hiểu

các cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ dụng của hành vi xin phép trong tiếng Việt, việc nghiên cứu về hành vi xin phép trong tiếng Việt của tác giả chỉ mới dừng lại ở

cách sử dụng động từ ngữ vi “xin phép”, song mới chỉ là những phác thảo mang

tính sơ lược, chung chung, chưa đưa ra được những cấu trúc xin phép trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng, chưa có sự tổng hợp, phân tích mang tính định tính, định lượng Bên cạnh đó, hành vi hồi đáp không được tác giả đề cập đến trong công trình nghiên cứu, do đó hành vi hồi đáp chưa được tác giả phân tích, đối chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng

Các tác giả khác nghiên cứu chuyên sâu về hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp

có ảnh hưởng đến lịch sự và các yếu tố văn hóa có thể kể đến là: Lê Thị Kim

Đính (2006) với luận văn thạc sĩ “Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt”

đã nêu ra được các yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá mức độ lịch sự trong lời nói như vai giao tiếp, các phương châm lịch sự, thể diện với lịch sự, các chiến lược lịch sự và mối tương quan giữa lịch sự và văn hóa Nguyễn Thị Thành

(1995) với luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn "Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn: Chào, Cám ơn, Xin lỗi"; Nguyễn Thị Lương (2006)

đã có những nghiên cứu lý thú liên quan đến nền văn hóa của người Việt qua đề

tài “Lời chào gián tiếp của người Việt với phép lịch sự”; Vũ Thị Thanh Hương

(1999) đã nghiên cứu phép lịch sự hiện đại của người Việt qua phương pháp

phỏng vấn và điều tra ngôn ngữ với đề tài "Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt"

Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ với sự đóng góp của nhiều nhà ngôn ngữ học giống như một bức tranh toàn cảnh đã khá phong phú, đa dạng song vẫn cần những nghiên cứu mang tính ứng du ̣ng Bởi số lượng hành vi ngôn ngữ của con

Trang 23

người nói chung là cực kì phong phú, và trong mỗi ngôn ngữ cụ thể, sự biểu hiện lại càng đa dạng, tinh tế mang đặc trưng văn hóa, xã hội của mỗi cộng đồng ngôn ngữ

Như vậy, các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước cũng đã nghiên cứu về hành vi xin phép theo những hướng nghiên cứu khác nhau và ở mỗi nghiên cứu đều tồn tại những vấn đề chưa được giải quyết Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu đạt được của Soehartono & Sianne, Hisae Niki, Hiroko Tajika, Đào Nguyên Phúc và Lê Thị Thu Lê, thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, phân tích các phương thức biểu hiện trực tiếp và gián tiếp hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, so sánh những điểm tương đồng và dị biệt mang tính chuyên sâu về hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt để có được cái nhìn toàn cảnh về loại hành vi ngôn ngữ này xét trên bình diện dụng học và văn hóa

1.2 Lý thuyết hội thoại

Nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt Do đó, việc nghiên cứu các hành vi xin phép và hồi đáp phải đặt trong các cấu trúc hội thoại; tức là phải có các nhân vật tham gia trong một cuộc thoại, người nói (Sp1) thực hiện hành vi xin phép và người nghe (Sp2) hồi đáp lại hành vi xin phép của Sp1 Hội thoại là hoạt động cơ bản thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Lý thuyết hội thoại bao gồm nhiều vấn đề, ở đây luận án chỉ trình bày một số vấn đề về lý thuyết hội thoại có liên quan đến việc triển khai đề tài

1.2.1 Như ̃ng yếu tố trong cấu trúc hội thoại

1 Cuộc thoại

Cuộc thoa ̣i là mô ̣t lần trao đổi , nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh xã

hô ̣i nào đó Trong cuô ̣c thoa ̣i, các nhân vật tham gia đều luân phiên trao đổi lượt lời với nhau Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Để xác định cuộc thoại, phải có một số nhân tố như: nhân vật, sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra hội thoại, sự thống nhất

Trang 24

về chủ đề Tiêu chí để xác định ranh giới cuộc thoại thông thường trên bề mặt hình thức, có phần mở thoại, thân thoại, kết thoại

2 Đoạn thoại

Đoạn thoại là một đoạn của cặp thoại do một hoặc một số cặp thoại liên kết với nhau về đề tài và về đích có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt được đích)

Như vậy, “Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao - đáp liên kết chặt chẽ về ý nghĩa và mục đích sử dụng” [28, 229]

Trong tham thoại, nhiều khi việc phân định ranh giới giữa đoạn thoại và cuộc thoại không rõ ràng, khó phân biệt, đôi khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán Một cuộc thoại có cấu trúc tổng quát là: đoạn mở thoại, tham thoại, kết thoại Đoạn thân thoại liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp là cặp trao - đáp có chứa phát ngôn xin phép và hồi đáp

3 Cặp thoại

Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo

nên và có liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp trong lí thuyết hội thoại

Nguyễn Đức Dân (2000) cho rằng “Các cặp thoại không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại, việc gì dẫn tới việc gì, ai nói và

sẽ nói khi nào… Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Khi nói một điều, người ta dự đoán, chờ đợi một điều khác

sẽ xảy ra Sau khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, người ta chờ đợi một hành vi ngôn ngữ đáp ứng Sau một nội dung mệnh đề người ta chờ đợi một nội dung mệnh đề Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau Như chúng ta sẽ thấy quan hệ này phản ánh sự tác động của hiệu lực tại lời của hành vi ngôn ngữ

ở lượt lời thứ nhất lên lượt lời thứ hai.” [7, 96]

Trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta có rất nhiều cặp tương thích như chào/ chào, cầu khiến/ nhận lời hoặc từ chối, hỏi/ trả lời, xin phép/ cho phép hoặc không cho phép

Trang 25

4 Tham thoại

Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2010), “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại” [4, 316]

Như vậy, lượt lời và tham thoại là hai khái niệm khác biệt Việc nhận diện lượt lời nhiều khi mang tính trực giác còn sự nhận diện tham thoại thì phải căn

cứ vào yếu tố nội dung Lượt lời và tham tho ại là hai khái niệm đươc các nhà nghiên cứu quan niệm khác nhau Nguyễn Đức Dân (1998) không phân biệt lượt

lời và tham thoại Ông cho rằng “Đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt lời” và

“Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai” [7, 320]

Nguyễn Thiện Giáp (2001) trong "Dụng học Việt ngữ" [13, 66] cho rằng

“tham thoại” là khái niệm chỉ người nói và người nghe - những người tham gia

vào cuộc hội thoại

nghe và trao đổi thông tin theo lượt lời (turn to talk)

Nguyễn Thiện Giáp (2001) trong "Dụng học Việt ngữ" khẳng định "Lượt lời một hình thức hoạt động xã hội bị chi phối bởi một hệ thống những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời và nhường lời mà mọi thành viên trong xã hội đều biết.” [13, 66]

Đỗ Hữu Châu (2010) trong "Đại cương Ngôn ngữ học tập II" quan niệm về lượt lời như sau: "Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể

từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk).” [4, 311]

Như vậy, lượt lời thể hiện sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc

Trang 26

thoại người nói sẽ luân phiên nhau Vai nói thường xuyên thay đổi và lượt lời thứ nhất có định hướng cho lượt lời thứ hai Hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại Lượt lời chứa các hành vi, trong đó có hành vi xin phép và hồi đáp

1.2.3 Sự kiện lời nói (Speech event)

Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự kiện lời nói Trong luận án này, chúng tôi quan niệm rằng một sự kiện lời nói là một hoạt động, trong đó có những người tham gia (người giao tiếp) dùng những hành động ở lời tác động lẫn nhau nhằm đạt được mục đích nào đó Một sự kiện lời nói được tạo ra bởi một cặp thoại trung tâm, trong cặp thoại đó đích của hành động ở lời dẫn nhập quyết định đích của hành động lời nói chứa nó Tên gọi của hành động ở lời dẫn nhập của cặp thoại trung tâm cũng là tên gọi của sự kiện lời nói đó

Như vậy, sự kiện lời nói là một cấu trúc bộ phận của cuộc thoại, đặc trưng bởi hành vi chủ hướng của tham thoại, chủ hướng trong cặp thoại và chủ hướng của

sự kiện lời nói đó

Từ cơ sở lập luận đó, có thể thấy rằng sự kiện lời nói xin phép được tạo ra bởi một cặp thoại trung tâm, có đích ở lời là xin phép

Có thể minh họa các yếu tố trong cấu trúc hội thoại qua một cuộc thoại sau đây:

(3) Sam: (1) Anna? Have you got a minute? Can I have a word?

(Sam:Anna? Cậu rãnh không? Mình có thể nói chuyện với cậu không?)

Anna: (2) Yes, what is it?

(Anna: Có chuyện gì vậy?)

Sam: (3) You know my father is having a problem with his leg and he can't walk Well, he needs to go into hospital next week, and I was wondering if I could have

a day off

Sam: Cậu biết không bố mình đang có vấn đề với đôi chân của ông ấy và ông ấy không thể đi được Vâng, ông ấy cần đi bệnh viện vào tuần tới, và mình tự hỏi liệu mình có thể nghỉ làm một ngày không.)

Trang 27

Anna: (4) Well, it's not convenient time at the moment We're very busy

(Anna: Vâng, thật là không phù hợp vảo thời điểm này Chúng ta đang rất bận.) Sam: (5) I know we are busy, but he won't be able to get to the hospital if I don't take him

(Sam: Mình biết chúng ta rất bận, nhưng ông ấy không thể tự đến bệnh viện nếu mình không dẫn ông ấy đi.)

Anna: (6) Well, if that's case then you must take him, of course

(Anna: Vâng, dĩ nhiên là trong trường hợp này cậu có thể đưa ông ấy đi.)

Sam: (7) That's very kind Thank you very much I'm very grateful [99, 27]

(Sam: Cậu thật là tốt bụng Cám ơn cậu rất nhiều Mình rất biết ơn cậu.)

Cuộc thoại trên gồm có 7 lượt lời và 6 cặp thoại Cặp thoại thứ nhất gồm tham thoại dẫn nhập (1) có hành vi chủ hướng là hỏi, tham thoại hồi đáp (2) có hành vi chủ hướng là trả lời Tham thoại hồi đáp (2) lại trở thành tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại thứ hai có hành vi chủ hướng là hỏi, tham thoại hồi đáp (3) có

hành vi chủ hướng là trả lời “You know my father is having a problem with his leg and he can't walk” và xin phép “I was wondering if I could have a day off”

Tham thoại hồi đáp (3) đồng thời cũng là tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại thứ ba mà tham thoại hồi đáp (4) có hành vi chủ hướng là giải thích Tham thoại hồi đáp (4) cũng là tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại bốn mà tham thoại hồi

đáp (5) có hành vi chủ hướng là giải thích, đưa ra lý do “he won't be able to get

to the hospital if I don't take him” Tham thoại hồi đáp (5) cũng đồng thời là

tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại năm mà tham thoại hồi đáp (6) có hành vi chủ hướng là đồng ý Tham thoại hồi đáp (6) cũng là tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại (6) có tham thoại hồi đáp (7) có hành vi chủ hướng là cám ơn Các lượt lời (2), (4), (6), (7) là các hồi đáp tích cực, lượt lời (4) là hồi đáp tiêu cực

1.3 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ

1.3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

Với công trình nghiên cứu “How to do thing with words” ra đời vào năm

1962, J Austin đã người đầu tiên đưa ra lý thuyết hành vi ngôn ngữ Ông cho

Trang 28

rằng để thực hiện một hành vi ngôn ngữ thì việc nói ra điều gì đó phải đi với

việc làm một điều gì đó, tức phải tác động một điều gì đó vào thực tế

Các nhà Ngôn ngữ học trên thế giới cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về

hành vi ngôn ngữ Theo quan điểm của Vanderveken (1990) trong “Meaning and Speech Acts”, hành vi ngôn ngữ là “By uttering sentences in the contexts of use

of natural languages, speakers attempt to perform illocutionary acts such as statements, questions, declarations, requests, promises, apologies, orders, offers and refusals.” [16, 7] tạm dịch là " bằng cách phát ngôn các câu trong các ngôn ngữ tự nhiên, người nói cố gắng để thực hiện các hành vi ở lời như câu tường thuật, câu hỏi, câu tuyên bố, câu yêu cầu, câu mệnh lệnh, hứa, xin lỗi, cho tặng

và từ chối."

Theo "Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học" của Nguyễn Như Ý (1998), thuật ngữ hành vi ngôn ngữ được hiểu là “Một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện trong những điều kiện nhất định được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói, người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó Hành vi ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định” [50,

176]

Tóm lại, hành vi ngôn ngữ là các phát ngôn được thực hiện để phục vụ cho các chức năng giao tiếp Chúng ta thực hiện một hành vi ngôn ngữ khi chúng ta muốn đưa ra một lời xin lỗi, một lời chào, một lời mời, một lời xin phép, hay một lời phàn nàn…Hành vi ngôn ngữ có thể chỉ được thể hiện bằng một từ như

“Sorry!” để chỉ hành vi xin lỗi, có thể là một phát ngôn như “We‟re having some people over Saturday evening and wanted to know if you‟d like to join us.” thể hiện hành vi mời, hay “Could I use your cell phone?” để thể hiện hành vi xin

phép

Hành vi ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong xã hội, nó có thể có khả năng làm thay đổi trạng thái, tâm lý, hành động và suy nghĩ của người nghe, thậm chí của

Trang 29

cả người nói.

Theo Austin, nói năng là hành động của con người, khi chúng ta nói năng tức

là chúng ta hành động; chúng ta thực hiện một hành vi đặc biệt mà phương tiện

là ngôn ngữ Theo ông, có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn là: Hành vi tạo lời (Locutionary act), hành vi mượn lời (Perlocutionary act), hành vi

ở lời (Illocutionary act)

1 Hành vi tạo lời (locutionary act): “Là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo thành một phát ngôn

về hình thức và nội dung.”[4, 87] Để thực hiện hành vi tạo lời, người phát ngôn

phải nắm chắc hình thức và ý nghĩa của các yếu tố từ vựng và các quy tắc cú pháp

2 Hành vi mượn lời (perlocutionary act) “là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói ” [4,

88] Hiệu quả này rất đa dạng, phụ thuộc vào các đặc điểm cá nhân của người tham gia giao tiếp như: quê quán, nguồn gốc, nghề nghiệp, tâm lý, xã hội

(4) Xin phép bác cho cháu qua sông với ạ, cháu lo lắng cho bệnh tình của nhà cháu quá

Chị đợi một lát nữa, tôi sắp xếp lại hành lý đã [41, 112]

Hành vi hồi đáp “Chị đợi một lát nữa, tôi sắp xếp lại hành lý đã ” thuộc về

hành vi mượn lời Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của các phát ngôn Trong ví dụ này, hành vi hồi đáp của người nghe đã thể hiện chức năng hành động của giao tiếp, ở đây là một sự hồi đáp tích cực gián tiếp, cho phép người nói được thực hiện hành vi xin phép

là “qua sông ”

3 Hành vi ở lời (illocutionary act) “ là hành vi được thực hiện ngay trong lời nói và bằng việc sử dụng ngôn ngữ, phát ngôn Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.” [4, 89] Chúng thường có những động từ

Trang 30

ngữ vi tương ứng để gọi tên (hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, ra lệnh, khẳng định, )

(5) Bẩm quan lớn, xin phép quan lớn cho con được hầu canh đánh tổ tôm

Quan lớn cười cười, ừ, thì đánh một lát cho đỡ buồn, chứ bây giờ thì ai mà ngủ được.[117, 310]

Trong hội thoại trên, khi tiếp nhận hành vi xin phép “ xin phép quan lớn cho con được hầu canh đánh tổ tôm” của anh lính (người nói) thì quan lớn (người nghe) đã có hồi đáp tích cực “ừ, ” Sự hồi đáp tích cực cùng với một lời giải thích “đánh một lát cho đỡ buồn, chứ bây giờ thì ai mà ngủ được” và nụ cười thân thiện của quan lớn càng làm cho khoảng cách xã hội giữa người nói và

người nghe được thu hẹp lại, đồng thời tôn vinh thể diện của SP1 cũng như là

giữ được thể diện cho SP2 trong tình huống này “đánh tổ tôm”

Trong ba loại hành vi này thì hành vi ở lời là đối tượng của Ngữ du ̣ng ho ̣c Và khái niệm hành vi ngôn ngữ hiểu theo nghĩa he ̣p chính là hành vi ở lời Các hành

vi xin phép và hồi đáp mà luận án nghiên cứu chính là các hành vi ở lời Đây chính là loại hành vi ngôn ngữ liên quan đến việc triển khai đề tài nghiên cứu

1.3.2 Phân loại hành vi ơ ̉ lời

1.3.2.1 Sự phân loại của Austin

Theo J.L Austin, có 5 phạm trù hành vi ở lời:

1 Phán xử (Verditives): là hành động đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc những lí lẻ vững chắc như xét xử, tính toán, miêu tả, phân loại

2 Hành xử (exercitives): là hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hoặc chống lại một chuỗi hành động nào đó như ra lệnh, chỉ huy, cầu khiến, bổ nhiệm, đặt tên

3 Cam kết (commissives)): là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nào đó như hứa, giao ước, đảm bảo, thề nguyền

4 Trình bày ( expositives): là những hành vi dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, từ

Trang 31

1.3.2.2 Sự phân loại của J Searle

Khác với cách phân loại của Austin dựa trên những tiêu chí không rõ ràng và chồng chéo nhau nên đã có những hành vi về bản chất cùng loại nhưng được xếp vào các lớp khác nhau Hay có những yếu tố không tương hợp lại được xếp trong một lớp, Searle đã phân loại các hành vi ở lời theo nhiều tiêu chí chứ không chỉ dựa vào các động từ gọi tên chúng Theo hướng đó, Searle chỉ ra 11 tiêu chí phân loại hành động ngôn ngữ nhưng tác giả chỉ dùng 4 trong 11 tiêu chí để phân lập

5 loại hành vi ở lời Năm loại hành vi ở lời được Searle phân loại là:

1.Biểu hiê ̣n (representatives) (còn gọi là trình bày, khảo nghiệm, thông tin miêu tả, xác tín) Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo…

2 Điều khiển (directives) (còn gọi là chi phối) Các hành vi thuộc lớp này là:

ra lệnh, sai, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, cho phép, chỉ, khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định, hỏi, tra…

3 Kết ước (commissives) (còn gọi là Cam kết) Các hành vi thuộc lớp này là: hứa, cam đoan, cam kết, hẹn, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận, thề…

4 Biểu cảm (expressives) Các hành vi thuộc lớp này là: cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ, cảm ơn, xin lỗi, ân hận, lấy làm tiếc, khen chê…

5 Tuyên bố (declarations) Các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố, tuyên án, buộc tội, kết tội, từ chức, khai trừ…

Trang 32

Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay những tư tưởng và đóng góp to lớn của của hai nhà ngôn ngữ học Austin và Searle đã tạo tiền đề vững chắc, là kim chỉ nam cho các nghiên cứu về lý thuyết hành vi ngôn ngữ Trong luâ ̣n án, chúng tôi

sẽ chủ yếu sử dụng tiêu chí và kết quả phân loại của Searle để nhận diện và phân

loại hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Viê ̣t

1.3.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Hành vi ở lời cũng như bất kỳ các hành vi nào khác muốn thực hiện được cần

có sự thỏa mãn những điều kiện nhất định

Hơn nữa, hành vi ở lời còn là một hành vi xã hội, nên những điều kiện để thực hiện còn chặt chẽ và đa dạng hơn Mỗi hành vi ở lời như chào, xin lỗi, từ chối, sai khiến, cầu xin, hứa, dặn dò… đều có những điều kiện riêng Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó

Austin xem các điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện “may

mắn” (fecility condition) nếu chúng được bảo đảm thì hành vi mới thành công, đạt hiệu quả Trái lại, nếu những điều kiện đó không được bảo đảm thì hành vi

mà chủ thể thực hiện sẽ thất bại Searle sau này go ̣i chúng là các điều kiê ̣n thỏa mãn Mỗi hành vi ở lời có mô ̣t hê ̣ những điều kiê ̣n thỏa mãn Mỗi điều kiê ̣n là mô ̣t

điều kiê ̣n cần, còn toàn bộ cả hệ là điều kiện đủ đối với một hành vi ở lời

Tuy điều kiện sử dụng của mỗi hành vi ở lời khác nhau nhưng vẫn có thể tìm

ra những cái chung trong những điều kiện riêng Searle cho rằng có bốn loại điều kiện sử dụng hành vi ở lời sau đây

1 Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng

lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói, người nghe

2 Điều kiện tâm lí: Chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát

ngôn Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành vi ở lời mà mình thực hiện

3 Điều kiện căn bản: Là điều kiện phát ra phát ngôn để xác định rõ kiểu trách

nhiệm mà người nói và người nghe bị ràng buộc khi hành vi ngôn ngữ được thực

Trang 33

hiện

4 Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện chỉ ra bản chất của hành vi

Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe, trong hành vi xin phép và hồi đáp, nội dung mệnh đề là hành vi xin phép của người nói và sự hồi đáp của người nghe

Như vậy, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điều khiển gọi là các quy tắc để cho việc thực hiện các hành vi ngôn ngữ có hiệu quả Việc xác định các điều kiện sử dụng các hành vi ở lời của đề tài nghiên cứu sẽ tuân theo những điều kiện sử dụng hành vi ở lời của Seale

Phân tích một vài ví dụ về hành vi xin phép để thấy rõ các điều kiện thực hiện

một hành vi ngôn ngữ theo các điều kiện của Seale

(6) Lạy cụ, cụ cho phép con vào thăm chồng con [114, 105]

- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành động A tương lai “vào thăm chồng‟ của

(7) SP1: Would you mind if I smoke here?

(SP1: Tôi hút thuốc ở đây có phiền bạn không?)

SP2: Never mind [105, 85]

(SP2: Không sao.)

- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành động A tương lai “smoke here” của SP1

- Điều kiện chuẩn bị: SP1 cho rằng SP2 có khả năng cho SP1 thực hiện A

- Điều kiện tâm lí: SP1 mong muốn SP2 cho phép SP1 thực hiện hành động A là

“smoke here”

Trang 34

- Điều kiện căn bản: SP1 phát ra phát ngôn “Would you mind if I smoke here?”để dẫn SP2 đến việc cho phép SP1 thực hiện hành động A

1.3.4 Phương thức thực hiện hành vi ở lời

1.3.4.1 Phát ngôn ngữ vi:

Theo Đỗ Hữu Châu (2010) “Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực” [4, 91]

Phát ngôn ngữ vi (viết tắt : PNNV) là sự hiện thực hóa một biểu thức ngữ vi

trong một ngữ cảnh cụ thể Trong thực tế chúng ta có thể gặp hai loại phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi tối giản là phát ngôn ngữ vi chỉ có biểu thức ngữ vi,

chẳng hạn như:

(8) Xin phép cụ con bảo nhỏ nhà con cái này [114,108]

Phát ngôn này được gọi là phát ngôn ngữ vi tối giản vì trong trường hợp này

chỉ có biểu thức ngữ vi “cho con bảo nhỏ nhà con cái này” Hay có những phát

ngôn ngữ vi mở rộng, ngoài biểu thức ngữ vi còn chứa những thành phần phụ khác

(9) Còn tôi thì tôi xin phép ngài phải đi, mai ta lại gặp nhau nữa [126, 246] Phát ngôn ngữ vi này gồm biểu thức ngữ vi cốt lõi “tôi xin phép ngài phải đi” của hành vi xin phép và cụm từ “ mai ta lại gặp nhau nữa” là thành phần mở

rộng do hành vi xin phép tạo nên Đồng thời thành phần mở rộng còn có tác dụng đưa ra một lời giải thích, một lý do, một lời hứa của người nói để tạo ra một niềm tin của người nghe vào người nói để khẳng định thêm hành vi xin phép của người nói là chính đáng

1.3.4.2 Biểu thức ngữ vi:

Trong Giáo trình "Đại cương ngôn ngữ học" tập II, Đỗ Hữu Châu (2010) đã định nghĩa biểu thức ngữ vi như sau: "Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời.”[4, 92] và “Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu đó được gọi là biểu thức ngữ vi.” [4, 91]

Trang 35

Một biểu thức ngữ vi được đánh dấu bởi các dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ các dấu

hiệu này mà có các biểu thức ngữ vi khác nhau Searle gọi các dấu hiệu chỉ dẫn này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force devices, viết tắt

là IFIDs) Nhờ các dấu hiệu này mà người nghe có thể nhận ra hành vi ở lời nào đang được người nói thực hiện để hồi đáp lại bằng một hành vi thích hợp Chẳng hạn, biểu thức ngữ vi của hành vi ở lời xin phép thường có các phương tiện chỉ

dẫn hiệu lực ở lời với các cụm từ như May I…?, Could I…?, Can I…?, Would you mind…?, permit, allow, let trong tiếng Anh và các động từ ngữ vi xin phép, xin… được phép, xin cho phép, cho hoặc sử dụng trợ động từ tình thái có thể

trong tiếng Việt

1.3.4.3 Động từ ngữ vi:

Trong tất cả các động từ nói năng có những động từ đặc biệt, đó là những

động từ có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở lời Những động từ này được gọi tên là động từ ngữ vi (performative

verbs - động từ ngôn hành.) “Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị” [4, 97] như xin phép, cho phép, thề, cảm ơn, khuyên, trả lời… Chẳng hạn như trong phát ngôn:

“Tôi hứa là từ nay không gặp cô ấy nữa.” người nói đã thực hiện hành vi hứa bằng cách phát âm động từ ngữ vi hứa và ngay lập tức hành vi hứa của người nói

đã phát huy ngay hiệu lực ở lời của mình, hay trong phát ngôn “Would you mind

if I sit here?”, thì người nói đã thực hiện hành vi xin phép bằng cách phát âm các

từ Would you mind, hiệu lực ở lời của hành vi xin phép đã được động từ xin phép biểu thị

Nói như vậy có nghĩa là không phải bao giờ một động từ ngữ vi cũng được sử dụng trong chức năng ngữ vi Austin cho rằng động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngôn nó thỏa mãn hai điều kiện sau:

1 Chủ thể nói phải ở ngôi thứ nhất (người nói SP1) là I, We trong tiếng Anh và

Trang 36

tôi, chúng tôi trong tiếng Việt Xét hai phát ngôn sau:

(10) ) Báo cáo thủ trưởng, xin thủ trưởng cho anh em nghỉ một lát [20, 36] (11) Người lính xin phép thủ trưởng cho anh em nghỉ một lát

Trong phát ngôn (10), động từ “ xin…cho” được dùng trong hiệu lực ngữ vi

để biểu thị một hành vi xin phép, vì chủ ngữ của phát ngôn này ở ngôi thứ nhất,

còn trong phát ngôn (11), do chủ ngữ là “Người lính” (ngôi thứ ba) nên động từ

“xin phép” được dùng theo lối miêu tả thông thường (kể lại một hành vi xin phép của người khác)

2 ĐTNV được dùng ở thì hiện tại (hiện tại khi phát ngôn ra hành vi ngôn ngữ), chẳng hạn trong tiếng Việt những từ, sẽ, đang, mới, đã, rồi, chưa, chuẩn bị, vẫn đi kèm động từ thì phát ngôn đó không được xem là phát ngôn ngữ vi vì động

từ đó không được dùng với hiệu lực ngữ vi

Hai điều kiện trên đây là hai điều kiện cần và đủ để cho một động từ ngữ vi được dùng đúng với chức năng ngữ vi Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì động từ xuất hiện trong phát ngôn sẽ không thể được gọi là động từ có chức năng ngữ vi

1.3.5 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp (direct speech acts) và hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirec speech acts)

Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình thức diễn đạt có thể chia thành hai loại là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn

ngữ gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ trực tiếp “là hành vi được thực hiện đúng với đích ở lời và

điều kiện sử dụng”; hay “là hành vi có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra” [47, 110] Nói cách khác, Yule(1996)

cho rằng khi nào có một quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành vi ngôn ngữ trực tiếp

Như vậy, chúng tôi có thể đi đến một định nghĩa chung về hành vi ngôn ngữ trực tiếp; hành vi ngôn ngữ trực tiếp là sự nói thẳng công khai, không chứa đựng ẩn ý về một điều gì đó

Trang 37

(12) Ông cho phép tôi gọi ông là anh nhé [125, 318]

Phát ngôn này có hành vi ở lời là xin phép và hiệu lực ở lời của hành vi này là

người nói muốn người nghe cho phép mình được thực hiện hành vi “gọi ông là anh” sau khi phát ngôn được đưa ra Hành vi ngôn ngữ này được xem là hành vi

ngôn ngữ trực tiếp

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là “hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề

mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác”

trong khi hành vi ngôn ngữ trực tiếp được thực hiện đúng với đích ở lời và điều

kiện sử dụng, hay “là hành vi không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra.” [4, 146]

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là do Searle (1969) đặt ra Theo ông thì “Một hành vi tại lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tại lời khác được gọi là hành vi ngôn ngữ gián tiếp” [4, 151] Yule (1996) cho rằng “chừng nào còn có mối liên hệ gián tiếp giữa cấu trúc và một chức năng thì ta có một hành động nói gián tiếp” [47, 14] Vì vậy, khi người nói sử dụng một hành vi ngôn ngữ gián

tiếp thì người nghe phải dựa vào những hiểu biết về ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người để suy ra hiệu lực ở lời của hành vi ngôn ngữ ấy

Tóm lại, hành vi ngôn ngữ gián tiếp là hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm cho người nghe suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác

(13) A: Bác cho phép cháu vào trong sân nhặt quả bóng ạ [41, 190]

B: Trời đang nắng sao lại đá bóng vậy Nhanh rồi về nhà kẻo ốm ra bây giờ

Trong ví dụ này, Sp1 muốn xin phép Sp2 được vào sân nhặt bóng, tức là Sp1

đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ xin phép trực tiếp đối với Sp2, tuy nhiên sự hồi đáp của Sp2 trong tình huống này lại được thể hiện bằng một hành vi ngôn ngữ gián tiếp, trong đó Sp2 không thể hiện sự đồng ý hay không mà chỉ đưa ra

lời khuyên, hiệu lực ở lời là “nhanh rồi về kẻo ốm ra bây giờ.” Trong tình huống

và cách hồi đáp như vậy, Sp1 đương nhiên sẽ hiểu ra đích ngôn trung mà Sp2

Trang 38

muốn diễn đạt trong tình huống này là Sp2 đồng ý cho phép Sp1 thực hiện hành

động của mình là "vào sân nhặt quả bóng"

(14) A: Hey, can I borrow your bike to go home?

(A:Bạn có thể cho mình mượn xe về nhà được không?)

B: Yeah, but be back to me before 1 p.m

(B: Vâng, nhưng bạn phải trả lại cho mình trước 1 giờ chiều.) [DCT]

Ở ví dụ (14), học sinh A muốn thực hiện hành vi mượn nhưng hành vi mượn

này lại có cấu trúc của một hành vi xin phép với cụm từ "Can I" ở đầu phát

ngôn, có nội dung mệnh đề là mượn xe đạp của học sinh B để về nhà, sử dụng

phương thức gián tiếp "Can I borrow your bike to go home?", học sinh B đã hồi đáp bằng một hành vi ngôn ngữ trực tiếp biểu lộ sự đồng ý "Yeah" Tuy nhiên, học sinh B khi đồng ý với hành vi mượn xe đạp của học sinh A cũng đã đưa ra một điều kiện để ràng buộc học sinh A "but be back to me before 1 p.m" Trong

tình huống và cách hồi đáp như vậy, học sinh A đương nhiên sẽ hiểu ra đích ngôn trung mà học sinh B muốn diễn đạt trong tình huống này là sự đồng ý, sự

cho phép học sinh A thực hiện hành vi“mượn xe đạp để về nhà”

Cho nên, có thể nói rằng việc sử dụng hành vi ngôn ngữ theo cách nói gián tiếp có thể giúp con người đạt được nhiều hiệu quả và mục đích giao tiếp khác nhau trong các hội thoại hay các tương tác xã hội

1.4 Hành vi xin phép và hồi đáp

Nhóm Điều khiển, theo Searle, gồm các loại lời nói như: hỏi (ask), ra lệnh

(order), đòi hỏi (demand), thỉnh cầu (request), cầu xin (beg), van xin (plead), nài

nỉ (entreat), cầu nguyện (pray), mời (invite), cho phép (permit) và khuyên (advise)

Trong các loại hành vi trên không có loại hành vi xin phép cụ thể Và trong tiếng Anh cũng không có động từ gọi tên cụ thể đối với loại hành vi này mà phải

sử dụng ngữ đoạn asking for permission Từ đó, xin phép (asking for permission)

là loại hành vi thuộc các hành vi thỉnh cầu, cầu xin (beg)…

Do đó, trước khi tìm hiểu khái niệm hành vi xin phép, chúng ta cần tìm hiểu

Trang 39

khái niệm hành vi yêu cầu

1.4.1 Khái niệm hành vi yêu cầu (request)

Hành vi yêu cầu là một hành vi thuộc nhóm điều khiển, mục đích của hành vi này là người nói yêu cầu người nghe làm một việc gì đó, thường là để đạt được mục đích của người nói

Hành vi yêu cầu thường có nguy cơ đe dọa thể diện của người nói trong trường hợp người nghe không đồng ý, hoặc từ chối lời yêu cầu, đề nghị của người nói (âm tính tiêu cực)

Theo J.Searle, hành vi yêu cầu nằm trong nhóm điều khiển (directives), hành

vi này được thực hiện nếu thỏa mãn những điều kiện sau:

- Giữa người nói và người nghe có mối quan hệ xã hội nhất định

- Được thực hiện trong một không gian và thời gian nhất định

- Vị thế giao tiếp của người nói thường không được tính đến trong hành vi yêu cầu

- Khi đưa ra hành vi yêu cầu, người nghe phải có trách nhiệm thực hiện hành động được nói đến trong hành vi yêu cầu

(15) Tôi yêu cầu giám đốc phải giải thích vấn đề này rõ ràng trước anh em [9, 68]

Hành vi yêu cầu trong ví dụ này đã thỏa mãn những điều kiện vừa nêu trên, quan hệ giữa người nói và người nghe là quan hệ giám đốc - nhân viên Tiền giả định của vấn đề này là giám đốc đã làm một việc gì đó không thỏa đáng làm cho mọi người phải thắc mắc Vì thế, theo người nói, giám đốc (người nghe) phải có trách nhiệm giải thích trước toàn thể anh em của công ty

1.4.2 Khái niệm hành vi xin phép

Theo từ điển Oxford Advanced Learner‟s Dictionary (2000), động từ “xin phép” được định nghĩa như sau; hành động xin phép của ai đó để được làm một việc gì, đặc biệt với những người có quyền lực xã hội

Soehartono & Sianne (2003) đã tìm ra chức năng chiếm ưu thế trong hành vi xin phép và kết luận: “Chức năng của hành vi xin phép được theo sau bởi chức

Trang 40

năng xin lỗi để thể hiện vị thế xã hội thấp hơn của người xin phép nhằm thuyết phục người có quyền lực cao hơn.”[73,133]

Theo Austin (1962) và Searle (1977), hành vi xin phép thuộc loại hành vi thỉnh cầu trong nhóm Điều khiển (Directives) Austin cho rằng nằm trong nhóm Điều khiển là những hành vi mà người nói mong muốn được thực hiện một hành động trong tương lai Theo định nghĩa và lý thuyết của Austin, hành vi xin phép

là một hoạt động trong đó người phát ngôn các hành vi xin phép (SP1) và người tiếp nhận các hành vi xin phép, hồi đáp là người nghe (SP2) có sự tác động lẫn nhau nhờ yếu tố ngôn ngữ theo những cách thức nhất định để đưa hành vi xin phép đạt đến hiệu quả cao nhất

Như vậy, điểm thống nhất giữa Austin và Searle trong quan niệm về nhóm hành vi Điều khiển (trong đó có hành vi xin phép) là người nói muốn người nghe cho phép họ thực hiện một hành vi trong tương lai

Hành vi xin phép có cấu trúc được mô tả như sau:

- Vị từ trung tâm xin/xin phép có ba nhân tố: nhân tố thứ nhất là người nói (S),

nhân tố thứ hai là người nghe (H), nhân tố thứ ba là người nghe cho phép người

nói thực hiện hành động X Từ đó, nhân tố thứ ba của xin/ xin phép /để lại có cấu trúc nghĩa của một ngữ đoạn với vị từ trung tâm là cho phép/cho /để với ba nhân

tố: nhân tố thứ nhất là người nghe (H), nhân tố thứ hai là người nói (S) và nhân

tố thứ ba là S thực hiện X

- Đến lượt mình nhân tố thứ ba của vị từ cho phép /cho/ để có cấu trúc xoay

quanh vị từ biểu đạt hành động mà người nói muốn xin phép làm

Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể đưa ra một định nghĩa về hành vi

xin phép như sau: Hành vi xin phép là một hành vi ngôn ngữ mà trong những ngữ cảnh nhất định, người nói đưa ra một phát ngôn nhằm thương lượng, ngỏ ý

để người nghe đồng ý, cho phép người nói được thực hiện một hành động nào đó trong tương lai

1.4.3 Khái niệm hồi đáp

Chúng ta đã biết diễn ngôn là sản phẩm của các hành vi ngôn ngữ Tất cả các

Ngày đăng: 20/09/2016, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1a Bảng thống kê các cấu trúc xin phép trong tiếng Anh qua văn - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 2.1a Bảng thống kê các cấu trúc xin phép trong tiếng Anh qua văn (Trang 52)
Bảng 2.1b Bảng thống kê các cấu trúc hồi đáp trong tiếng Anh qua văn - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 2.1b Bảng thống kê các cấu trúc hồi đáp trong tiếng Anh qua văn (Trang 54)
Bảng 2.3  Các phương thức biểu hiện hành vi xin phép và hồi đáp trong - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 2.3 Các phương thức biểu hiện hành vi xin phép và hồi đáp trong (Trang 70)
Bảng 2.4 Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng Anh qua - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 2.4 Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng Anh qua (Trang 74)
Bảng 3.1a Bảng thống kê các cấu trúc xin phép trong tiếng Việt qua văn - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 3.1a Bảng thống kê các cấu trúc xin phép trong tiếng Việt qua văn (Trang 78)
Bảng 3.1b Bảng thống kê các cấu trúc hồi đáp trong tiếng Việt qua văn - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 3.1b Bảng thống kê các cấu trúc hồi đáp trong tiếng Việt qua văn (Trang 80)
Bảng  3.3    Các  phương  thức  biểu  hiện  hành  vi  xin  phép  và  hồi  đáp  trong  tiếng Việt qua văn chương và DCT - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
ng 3.3 Các phương thức biểu hiện hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Việt qua văn chương và DCT (Trang 98)
Bảng 3.4. Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng Việt - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 3.4. Quan hệ xã hội với các phương thức biểu hiện trong tiếng Việt (Trang 103)
Bảng 4.1. Nội dung và phương tiện từ vựng dùng để xin phép và hồi đáp - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 4.1. Nội dung và phương tiện từ vựng dùng để xin phép và hồi đáp (Trang 107)
Bảng 4.2 So sánh tỉ lệ sử dụng các (trợ) động từ để thực hiện các hành vi xin  phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt theo các nhóm xã hội từ DCT - Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 4.2 So sánh tỉ lệ sử dụng các (trợ) động từ để thực hiện các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt theo các nhóm xã hội từ DCT (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w