1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao theo đặc trưng thi pháp thể loại

71 615 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện ngắn bao gồm những nét đặc trưng cơ bản về: dung lượng, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, chi tiết… Mức độ dài ngắn dung lượng không phải là yếu tố đầu tiên phân biệt truyện ngắn với

Trang 1

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p này em nhâ ̣n đươ ̣c đươ ̣c rất nhiều sự giúp đỡ, đô ̣ng viên của các thầy cô, ba ̣n bè

Có được kết quả như ngày hôm nay trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên, Th.S Tri ̣nh Thi ̣ Hồng người trực tiếp hướng dẫn em về

đi ̣nh hướng kiến thức quý báu trong suốt quá quá trình thực hiê ̣n khóa luâ ̣n

Em cũng xin chân thành cảm ơn: Tổ bô ̣ môn Phương pháp, Khoa Ngữ văn Trường Đa ̣i ho ̣c Tây Bắc, chuyên viên thư viê ̣n đã giúp đỡ em tìm tài liê ̣u, Ban giám hiê ̣u, các thầy cô giáo, các em ho ̣c sinh Trường THPT Ứng Hòa B – Hà

Nô ̣i ta ̣o điều kiê ̣n giúp đỡ em hoàn thành khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p

Em rất mong nhâ ̣n đươ ̣c những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các ba ̣n để khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p của em được hoàn thiê ̣n hơn

Em xin chân tha ̀nh cảm ơn!

Sinh viên

Lê Thi ̣ Mai Nhung

Trang 2

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV Giáo viên

HS Ho ̣c sinh

SGK Sách giáo khoa THPT Trung ho ̣c phổ thông

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do cho ̣n đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mu ̣c đích và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu 3

4 Đối tươ ̣ng và và pha ̣m vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đó ng góp của khóa luâ ̣n 5

7 Cấu trúc khóa luâ ̣n 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Đặc trưng cơ bản của truyện ngắn và những quan niệm chung về dạy học theo thi pháp loại thể 6

1.1.1.1 Đặc trưng cơ bản của truyện ngắn 6

1.1.1.2 Những quan niệm chung về dạy học theo đặc trưng thi pháp 8

1.1.2 Những nét chung về cuộc đời và phong cách nghệ thuật của Nam Cao 9

1.1.2.1 Cuộc đời 9

1.1.2.2 Tư tưởng của Nam Cao 10

1.1.2.3 Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao 11

1.1.2.4 Thi pháp truyện ngắn Nam Cao 12

1.1.3 Giá trị truyện ngắn Chí Phèo 14

1.1.3.1 Giá trị nội dung 14

1.1.3.2 Giá trị nghệ thuật 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Hoạt động dạy học của giáo viên 23

1.2.1.2 Hoạt động học tập của học sinh 25

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP LOẠI THỂ 28

2.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi dạy học tác phẩm Chí Phèo 28

2.1.1 Dạy học truyện ngắn Chí Phèo phải nắm được đặc trưng loại thể 28

Trang 4

2.1.2 Dạy học truyện ngắn Chí Phèo trên cơ sở phát huy vai trò chủ thể của học

sinh 28

2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo đặc trưng thi pháp loại thể 29

2.2.1 Đọc hiểu tác phẩm 29

2.2.2 Hoạt động tái tạo hình tượng 32

2.2.3 Phương pháp phân tích, cắt nghĩa tác phẩm 34

2.2.4 Hướng dẫn học sinh bình giá tác phẩm Chí Phèo 42

2.2.5 Sân khấu hóa tác phẩm văn ho ̣c 43

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM 46

3.1 Những vấn đề chung về thể nghiê ̣m 46

3.1.1 Yêu cầu thể nghiê ̣m 46

3.1.2 Mu ̣c đích của thể nghiê ̣m 46

3.1.3 Thời gian 46

3.1.4 Đi ̣a điểm thể nghiê ̣m 46

3.1.5 Kết quả thể nghiê ̣m 46

3.2 Giáo án thể nghiệm 49

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Li ́ do cho ̣n đề tài

1.1 Thi pháp ho ̣c là bô ̣ môn cổ xưa nhất và đồng thời cũng là bô ̣ môn hiê ̣n đa ̣i của nghiên cứu văn ho ̣c Nó đã và đang làm thay đổi cách tiếp nhâ ̣n văn

ho ̣c, khắc phu ̣c những ha ̣n chế mà truyền thống nghiên cứu sơ lược chưa đánh giá đúng, mở ra những chân trời mới cho hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu

Thi pháp ho ̣c là bô ̣ môn khoa ho ̣c có nhiê ̣m vu ̣ đă ̣c thù Khi phê bình, phân tích tác phẩm văn ho ̣c nó hướng tới khám phá cấu trúc biểu hiê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t trên các cấp đô ̣ Khi nghiên cứu li ̣ch sử văn ho ̣c nó hướng tới khám phá sự tiến hóa của phương thức, phương tiê ̣n và hình thức nghê ̣ thuâ ̣t Khi nghiên cứu lí luâ ̣n văn ho ̣c, nó tâ ̣p trung phám phá các cấu trúc thể hiê ̣n bản chất nghê ̣ thuâ ̣t của văn ho ̣c

Thực chất khi nghiên cứu thi pháp ho ̣c là nghiên cứu văn ho ̣c trong tính thống nhất giữa nô ̣i dung và hình thức có quy luâ ̣t Cùng với những pha ̣m trù truyền thống đươ ̣c xác lâ ̣p như cốt truyê ̣n, không gian, thời gian, thời gian, kết cấu, lời văn, Viê ̣c nghiên cứu thi pháp khoa ho ̣c nói chung cũng không phải là không quen thuô ̣c nhưng trong giảng da ̣y văn ho ̣c trong nhà trường phổ thông nói riêng thì phương pháp này còn khá mới mẻ Chính vì vâ ̣y xuất phát từ thực tế da ̣y ho ̣c trung ho ̣c phổ thông, sử du ̣ng phương pháp này không ngoài mu ̣c đích nâng cao chất lượng giảng da ̣y tác phẩm văn ho ̣c

1.2 Nam Cao là mô ̣t tài năng lớn, mô ̣t nhà nhân đa ̣o chủ nghĩa và là mô ̣t cây bút hiê ̣n thực xuất sắc của văn ho ̣c Viê ̣t Nam giai đoa ̣n 1930 - 1945 Sáng tác của Nam Cao đã vượt qua những thử thách khắc nghiê ̣t của thời gian, càng thử thách la ̣i càng ngời sáng Thời gian càng lùi xa những tác phẩm của ông càng bô ̣c lô ̣ ý nghĩa hiê ̣n thực sau sắc, tư tưởng nhân đa ̣o cao cả và vẻ đe ̣p nghê ̣ thuâ ̣t điêu luyê ̣n đô ̣c đáo

Trong số các nhà văn hiê ̣n thực ông là cây bút có ý thức sâu sắc nhất về

quan điểm nghê ̣ thuâ ̣t của mình Đối với ông “nghê ̣ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghê ̣ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghê ̣ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Giăng sáng) Quan điểm

Trang 6

này đã trở thành mô ̣t phương châm cầm bút suốt đời của Nam Cao

Chính vì vâ ̣y Nam Cao được cho là nhà văn của những người dân nghèo khổ và bất ha ̣nh Trái tim nhân đa ̣o và cái nhìn sắc sảo của ông thấu hiểu hoàn cảnh thiếu nhân tính làm con người tha hóa Nam Cao đã thành công khi xây

dựng “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình” Nghiên cứu thi pháp ho ̣c trong sáng tác truyê ̣n ngắn của Nam Cao - tiêu biểu là tác phẩm Chí Phèo để

thấy đươ ̣c tài năng sáng ta ̣o nghê ̣ thuâ ̣t và vi ̣ trí của ông trong li ̣ch sử văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i Viê ̣t Nam

1.3 Tác phẩm Chi ́ Phèo của Nam Cao được giảng dạy trong chương trình

Trung học phổ thông SGK lớp 11 tập 1, là một trong những tác phẩm được người học yêu thích, một nội dung trọng tâm thường được đề cập trong các đề thi kiểm tra môn đọc - hiểu tác phẩm văn học

Lựa cho ̣n đề tài: “Dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo đặc trưng thi pháp thể loại” chúng tôi muốn hiểu sâu hơn về giá tri ̣ tư tưởng, nghê ̣

thuâ ̣t của nhà văn và đề ra cách thức cu ̣ thể hướng dẫn ho ̣c sinh tiếp nhâ ̣n tác phẩm này

2 Li ̣ch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về thi pháp ho ̣c có rất nhiều chuyên luâ ̣n như: Thi pháp học hiê ̣n đại của Đỗ Đức Hữu, Thi pháp văn xuôi của Tzetan Todorov hay cuốn Giáo trình dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử Không chỉ có tiền đề trong

lĩnh vực khoa ho ̣c cơ bản, khoa ho ̣c phương pháp cũng nghiên cứu lĩnh vực này trong viê ̣c giảng da ̣y văn chương Rất nhiều các công trình nghiên cứu tác phẩm

văn chương theo đă ̣c trưng thi pháp ho ̣c như: Phương pháp dạy học văn chương theo loại thể của Nguyễn Viết Chữ, Hiểu văn, dạy văn của Nguyễn Thanh Hùng hay cuốn Phân ti ́ch tác phẩm trong nhà trường của Phan Tro ̣ng Luâ ̣n

Trong cuô ̣c đời cầm bút của mình Nam Cao để la ̣i mô ̣t kho tàng đồ sô ̣ với nhiều tác phẩm có giá tri ̣ Tác phẩm của ông thấm đẫm tinh thần nhân đa ̣o, mô ̣t quan điểm hiê ̣n thực nha ̣y bén, khẳng đi ̣nh tài năng bâ ̣c thầy của ông Chính vì

vâ ̣y đã xuất hiê ̣n nhiều công trình nghiên cứu về ông và truyê ̣n ngắn của ông

Trang 7

Năm 1961, chuyên luâ ̣n Nam Cao nhà văn hiê ̣n thực xuất sắc nhất của Hà

Minh Đức ra đời Đây là công trình đă ̣t nền móng cho vấn đề nghiên cứu Nam

Cao Năm 1975, Hà Minh Đức tiếp tu ̣c giới thiê ̣u Tuyển tập Nam Cao gồm hai

tâ ̣p Trong những cuốn sách này tác giả đã đề câ ̣p đến vấn đề đề tài, nô ̣i dung, tư tưởng, nghê ̣ thuâ ̣t xây dựng tính cách nhân vâ ̣t trong truyê ̣n ngắn của Nam Cao

Trước đây khi nghiên cứu Nam Cao mới triển khai ở phương diê ̣n đề tài, chủ đề Đa số các nhà nghiên cứu chỉ thống nhất khẳng đi ̣nh Nam Cao là cây bút hiê ̣n thực xuất sắc, nhà nhân đa ̣o chủ nghĩa lớn của văn ho ̣c Viê ̣t Nam hiê ̣n đa ̣i giai đoa ̣n 1930 – 1945 Tuy nhiên, trong những thâ ̣p niên gần đây những sáng tác của Nam Cao đã được chú ý nhìn nhâ ̣n dưới góc đô ̣ thi pháp ho ̣c: lời văn, đối thoa ̣i, không gian, thời gian, thời gian nghê ̣ thuâ ̣t của các tác giả như Trần

Đình Sử, Chu Văn Sơn, Pha ̣m Quang Long Đáng chú ý là bài viết Thời gian và không gian nghê ̣ thuật trong truyê ̣n ngắn Nam Cao của Trần Đăng Suyền Trong

bài viết tác giả cũng đã chỉ ra mô ̣t số loa ̣i hình không gian trong truyê ̣n ngắn của

Nam Cao: “Trong nhiều ta ́ c phẩm của Nam Cao, không gian là hình ảnh một cuộc sống khốn cùng, quẩn quanh, tù túng ngột ngạt” Hay trong cuốn Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao của Pha ̣m

Ma ̣nh Hùng, ông đã giới thiê ̣u quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t về hoàn cảnh trong mô ̣t số

tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao: “Trong cái xã hội mà đi ̣nh kiến đã thành nếp nghĩ thì một kẻ như Chí Phèo sẽ mãi mãi “không thể làm người lương thiện được nữa” [9; 258]

Trên cơ sở của những nhà nghiên cứu, chúng tôi kế thừa những thành tựu của ho ̣ và nhâ ̣n thấy cần phải vâ ̣n du ̣ng nó vào thực tiễn giảng da ̣y nhằm nâng

cao chất lươ ̣ng ho ̣c tâ ̣p bô ̣ môn Ngữ văn nói chung cũng như ho ̣c tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng

3 Mu ̣c đích và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

3.1 Mu ̣c đích nghiên cứu

Thực hiê ̣n khóa luâ ̣n này chúng tôi mong muốn được tìm hiểu thi pháp

truyê ̣n ngắn Chí Phèo, để từ đó khảo sát và đề xuất những biê ̣n pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả giảng da ̣y tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Trang 8

Qua khóa luâ ̣n, chúng tôi bước đầu tiến hành khảo sát và tìm hiểu biê ̣n

pháp giảng da ̣y tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo đă ̣c trưng thi pháp thể

loại ở nhà trường phổ thông, phát hiê ̣n những khó khăn và thuâ ̣n lợi của ho ̣c sinh

khi tiếp câ ̣n tác phẩm Chí Phèo Đồng thời người viết muốn được tìm hiểu và

tích lũy phương pháp giảng da ̣y truyê ̣n ngắn theo đă ̣c trưng thi pháp thể loại của thầy (cô) giáo ở nhà trường phổ thông để làm tư liê ̣u phu ̣c vu ̣ cho quá trình giảng da ̣y sau này

3.2 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

Khóa luâ ̣n có nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu đă ̣c điểm thi pháp truyê ̣n ngắn Chí Phèo để thấy được quan điểm về da ̣y tác phẩm truyê ̣n ngắn theo đă ̣c trưng thi

pháp thể loa ̣i

Tiến hành khảo sát thực tế ở trường THPT Ứng Hòa B - Hà Nô ̣i với

những thuâ ̣n lợi, khó khăn Đề xuất các biê ̣n pháp da ̣y ho ̣c tác phẩm Chí Phèo

của Nam Cao trong chương trình ngữ văn 11 nhằm hiê ̣u quả cao nhất Thiết kế

thể nghiê ̣m giáo án và phu ̣c vu ̣ giảng da ̣y tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

4 Đối tươ ̣ng và và pha ̣m vi nghiên cứu

4.1 Đối tươ ̣ng nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu khóa luâ ̣n “Dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo đặc trưng thi pháp loại thể” Đối tượng nghiên cứu là phương pháp

dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao theo đặc trưng thi pháp loại thể in

trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 tâ ̣p 1 Đối tượng tiếp nhâ ̣n là ho ̣c sinh lớp 11 trường THPT Ứng Hòa B - Hà Nô ̣i (thuộc thôn Đồng Xung – xã Đồng Tân – huyện Ứng Hòa – thành phố Hà Nội)

4.2 Pha ̣m vi nghiên cứu

Do điều kiê ̣n thời gian không cho phép nên khóa luâ ̣n chỉ đi sâu vào tìm

hiểu và đề xuất biê ̣n pháp da ̣y ho ̣c cho mô ̣t tác phẩm cu ̣ thể là tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao cho ho ̣c sinh trường THPT Ứng Hòa B – Hà Nô ̣i theo hướng

đă ̣c trưng thi pháp loại thể Ngoài ra khóa luâ ̣n còn liên hê ̣, so sánh đến các truyê ̣n ngắn tiêu biểu khác của Nam Cao và các tác phẩm văn ho ̣c khác trong nhà trường

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử du ̣ng hầu hết các phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c về đă ̣c trưng thi pháp loa ̣i thể truyê ̣n ngắn và phương pháp

da ̣y Ngữ văn THPT đó là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lí luâ ̣n và thực tiễn

- Phương pháp điều tra khảo sát

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp liên ngành (sử du ̣ng kiến thức tổng hơ ̣p về các mă ̣t văn hóa, xã hô ̣i, lí luâ ̣n văn ho ̣c, tâm lí ho ̣c)

- Phương pháp thực nghiê ̣m sư pha ̣m

6 Đóng góp của khóa luâ ̣n

Thực hiê ̣n khóa luâ ̣n, người viết mong muốn đây là bước đầu tâ ̣p dượt công tác nghiên cứu khoa ho ̣c Đồng thời cũng đóng góp mô ̣t phần nhỏ vào viê ̣c khảo sát thực tế phổ thông về đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c Ngữ văn, những thuận lơ ̣i và khó khăn của giáo viên và ho ̣c sinh trong viê ̣c tiếp câ ̣n tác phẩm Khóa luâ ̣n cũng góp thêm mô ̣t phần tài liê ̣u tham khảo cho các ba ̣n đo ̣c trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và giảng da ̣y sau này

7 Cấu trúc khóa luâ ̣n

Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n, khóa luâ ̣n chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sơ ̉ lí luâ ̣n và thực tiễn

Chương 2: Mô ̣t số biê ̣n pháp da ̣y ho ̣c tác phẩm Chí Phèo theo đă ̣c

trưng thi pháp loại thể

- Đọc hiểu tác phẩm

- Hoạt động tái tạo hình tượng

- Phương pháp phân tích, cắt nghĩa tác phẩm

- Hướng dẫn học sinh bình giá tác phẩm Chí Phèo

- Sân khấu hóa tác phẩm văn học

Chương 3: Thiết kế thể nghiê ̣m

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đặc trưng cơ bản của truyện ngắn và những quan niệm chung về dạy học theo thi pháp loại thể

1.1.1.1 Đặc trưng cơ bản của truyện ngắn

Truyện ngắn là “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện đời sống, đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họ môt hiện tượng, phát hiện nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người” [5; 319]

Truyện ngắn bao gồm những nét đặc trưng cơ bản về: dung lượng, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, chi tiết…

Mức độ dài ngắn (dung lượng) không phải là yếu tố đầu tiên phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác nhưng trong thể loại tự sự truyện ngắn

có dung lượng nhỏ nhất Mặc dù ngắn nhưng nó vẫn có sức “cạnh tranh” với các thể loại có dung lượng lớn như tiểu thuyết, truyện dài… Hình hài của truyện ngắn hiện đại hiện nay như ta thấy là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời mới, cách nắm bắt đời sống riêng, mang tính chất thể loại, hơn nữa nó làm tăng thêm thông tin cho ngôn ngữ, cô đọng trong dung lượng nhỏ nhưng vẫn truyền đạt nội dung lớn lao Chính vì vậy truyện ngắn đã đáp ứng được nhu cầu của con người trong thời hiện đại

Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới các hình tượng Các nhân vật truyện ngắn cũng khá đa dạng: nhân vật chức năng; nhân vật loại hình; nhân vật tưởng tượng… Trong truyện ngắn hiện đại ngoài những yếu tố về tên, tuổi, xuất thân, ngoại hình… các tác giả tập trung miêu tả tâm lí nhân vật, khắc họa sâu sự đấu tranh nội tâm để làm nổi bật hình tượng nhân vật, được thể hiện nhiều chiều, nhiều mặt củ a nhân vâ ̣t đó

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không

gian hạn chế Yếu tố cơ bản tạo nên cốt truyện là các sự kiện bao gồm: hành

Trang 11

động nhân vâ ̣t, việc làm, tính cách… Truyện ngắn hiện đại đi sâu vào đời tư vì vậy cốt truyện và sự kiện ngày càng mờ nha ̣t Những vấn đề vụn vặt của cuộc sống đời thường được đưa vào tác phẩm phản ánh mô ̣t tư tưởng sâu sắc

Kết cấu là một yếu tố của hình thức mang nội dung Kết cấu càng chặt chẽ

hài hòa, hợp lí sẽ là một phương diện đắc lực để hoàn thiện nội dung và hình thức tác phẩm Trong truyện ngắn kết cấu không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng

Trần thuật là một phương tiện cơ bản của phương thức tự sự, một ý tưởng

quan trọng tạo nên hình thức tác phẩm văn học Nó bao gồm: người trần thuật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá

Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn khá linh hoạt Thời

gian có thể đảo lộn đảo ngược từ quá khứ, vượt lương lai, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, có thể kéo dài các chốc vô tận hoặc có thể dừng lại rất lâu ở hiện tại Không gian không được trải rộng, nó tập trung khắc họa nhân vật trong môi trường nhất định Các nhà văn không chỉ sử dụng hai yếu tố thời gian, không gian nghệ thuật như một chất men, làm phông nền cho các nhân vật của mình hoạt động, bộc lộ tính cách và số phận mà còn sử dụng hai yếu tố này như một ý nghĩa tượng trưng đầy hàm ý tác giả

Tình huống truyện là một trong những chìa khóa quan trọng nhất giữ vị trí

then chốt trong tác phẩm Đó chính là những diễn biến về những mặt cần giải quyết, dự kiến tất cả các tình huống có thể xảy ra, xử lí một cách linh hoạt khi chúng ta bắt gặp những tình huống bất ngờ và phức tạp Trong thể loại truyện ngắn tình huống chính là hạt nhân của cấu trúc, quyết định tới việc tồn tại hay tiêu vong của tác phẩm Ngày nay, có nhiều cách phân loại tình huống, nhưng chủ yếu ở ba loại: tình huống nhận thức, tình huống hành động và tình huống tâm trạng

Chi tiết là yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn Những chi tiết cô đúc,

có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm những

Trang 12

chiều sâu chưa nói hết Chi tiết chính là điểm nhìn thể hiện quan điểm nghệ thuật, tâm hồn tác giả với đối tượng đó

Mă ̣t khác, tuy nằm trong loại tác phẩm tự sự, nhưng truyện ngắn mang những đặc trưng thi pháp riêng Hơn nữa truyện ngắn lại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, ngày càng mang tính chất hiện đại Do đó, nhiều nhà văn đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những trang truyện ngắn xuất sắc của mình trong đó có Nam Cao Để khám phá truyện

ngắn Chí Phèo của Nam Cao một cách khoa học và đúng đắn nhất thì tìm hiểu

đặc trưng thi pháp thể loại truyện ngắn và những xu thế truyện ngắn hiện đại là một vấn đề mang tính tiền đề cơ bản nhất

1.1.1.2 Những quan niệm chung về dạy học theo đặc trưng thi pháp

Thi pháp học đang là sự lựa chọn của khoa học phương pháp hiện đại

Thi pháp là cấp nghiên cứu nghệ thuật trong tính chỉnh thể, trong quan niệm Thi pháp học là một chuyên ngành hiện đại và thể loại là một trong những cấp dộ nghiên cứu của thi pháp học

Những thành tựu lí luận về thi pháp học Nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện một cách hình tượng ở nhiều ngành và nhiều thời đại đã

giúp ta nhìn rõ hơn môn Văn trong mối quan hệ với trong ngành về liên ngành

Mỗi tác phẩm văn học dù ngắn hay dài đều tồn tại một hình thức nhất định hay là thi pháp nội tại của thể loại Thể loại là mô hình thế giới hiện thực của nhà văn, quy định thể thức cấu tạo văn bản và định hướng phương pháp giảng dạy cho giáo viên, cách thức tiếp nhận của người đọc Những hiện nay, do chưa nắm vững đă ̣c trưng thi pháp thể loa ̣i nên trong nhà trường chưa thoát ra khỏi tình trạng võ đoán, mò mẫm hoặc rập khuôn công thức máy móc vì người dạy bị chi phối bởi “thể” của tác phẩm nhiều hơn là “tính chất của loại thể trong thể” Hay nói cách khác còn gặp nhiều bất cập xảy ra như: dạy học tác phẩm văn học dân gian giống như dạy văn học viết, dạy văn học trung đại vận dụng cả những đặc trưng thi pháp của văn học hiện đại…Xuất phát từ tình hình thực tế dạy học văn ở trường phổ thông, các nhà phương pháp đã nắm lấy thi pháp để

mở cánh cửa chương Dạy học theo đặc trưng thi pháp thể loại là một sự lựa

Trang 13

chọn hợp lí bởi nó là hướng đi khoa học đúng đắn, hiện đại, đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết của khoa học phương pháp mà còn trả văn bản ngôn từ

Các văn bản đọc hiểu trong SGK hiện nay một mặt vẫn tôn trọng tiến trình lịch sử văn học Mặt khác sắp xếp theo cụm thể loại: nhóm tác phẩm trữ tình học riêng, nhóm tác phẩm tự sự học riêng Các tác phẩm được lựa chọn mang những cách tân nghệ thuật, sáng tạo độc đáo của nhà văn được sắp xếp theo bước phát triển nối tiếp của từng giai đoạn văn học Cách bố trí này hoàn toàn phù hợp với quá trình tiếp nhận một văn bản có thể tích hợp ngang với chương trình Học sinh sẽ có kiến thức và kĩ năng toàn diện về thể loại, ngày càng bổ sung, tiếp nối trong quá trình học Định hướng của chương trình là một

lí do để chúng ta tiếp cận tác phẩm trên tinh thần đặc trưng thi pháp loại thể

1.1.2 Những nét chung về cuộc đời và phong cách nghệ thuật của Nam Cao

Mảnh đất quê hương nghèo, quanh năm chiêm trũng đã ảnh hưởng tới những sáng tác của các ông trong đề tài nông thôn Hơn nữa những năm tháng

Trang 14

dạy học cho một trường tư thục đã cung cấp cho ông một cảm nhận sâu sắc về thân phận người trí thức tư sản nghèo trong xã hội cũ

Năm 1936 Nam Cao bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình với nhiều bút danh khác nhau: Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê

Năm 1940 Nhật xâm lược Đông Dương ông mất việc dạy học về quê Tháng 3/1943 Nam Cao ra nhập hội Văn hóa cứu quốc Năm 1945 Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân được bầu làm chủ tịch xã Vào cuối năm 1947 được kết nạp Đảng Năm 1951 Nam Cao tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở vùng dịch mậu Liên Khu Ba Ông định trở về quê mình thu thập nên tài liệu để viết về làng quê mình trong cách mạng và trong kháng chiến Nhưng Nam Cao đã ngã xuống trên đường đi công tác khi tài năng đương độ chín, khi bao dự định còn dang dở Ông đã kết thúc sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn chương đang nở rộ khi mới 34 tuổi

1.1.2.2 Tư tưởng của Nam Cao

Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại giai đoa ̣n 1930 - 1945 Các tác phẩm của ông luôn thấm đẫm giá trị nhân đạo Ngòi bút của Nam Cao luôn hướng tới những gì chân thật nhất Mặc dù xuất hiện trên văn đàn muộn nhưng ông vẫn ghi tên mình với những tác phẩm để đời làm nên Nam Cao với tư tưởng, một phong cách không thể pha trô ̣n

Sinh ra ở một làng quê nghèo, nên những sáng tác của ông luôn hiện lên cái làng lam lũ ở ven sông, quanh năm gần như không có tiếng hát Cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ cực bị cường hào hà hiếp được Nam Cao hiểu sâu sắc Nhưng không vì vậy mà Nam Cao chịu khuất phục, ông không du mình với khuynh hướng lãng mạn mà lựa chọn khuynh hướng hiện thực để tìm đường chiến đấu với xã hội bấy giờ

Những chất liệu từ làng quê, những trải nghiệm trong thời gian làm thầy giáo đã làm nổi bâ ̣t hai mảng đề tài trong sáng tác của Nam Cao: đề tài người nông dân, đề tài người trí thức tiểu tư sản nghèo

Nam Cao từ một con người nông dân đến tiểu tư sản, hai cuộc đời với một con người không giúp ông tìm ra con đường sáng Chỉ khi đứng trên quan điểm

Trang 15

giai cấp vô sản để hoạt động xã hội và sáng tác Nam Cao mới thực sự được giải phóng Nam Cao đem lòng yêu cuộc sống đằm thắm mà đi sâu vào một nơi cuộc sống treo trên sợi tóc, khi giặc đang ra sức giết chóc, đốt phá Quân giặc giết Nam Cao nhưng không thể giết được tác phẩm của ông và lòng yêu nước, yêu nhân dân của ông Ông chết giản dị dũng cảm, làm vẻ vang cho truyền thống đấu tranh và phục vụ của những người văn nghệ Việt Nam

Như vậy, Nam Cao đi từ chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Cộng sản Quá trình ấy diễn ra phức tạp và chi phối nhiều đến tác phẩm của ông Con đường tư tưởng dù gian nan nhưng đúng đắn

1.1.2.3 Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Nam Cao là một trong số những nhà văn trước cách mạng có ý thức tự giác về sáng tạo nghệ thuật Những quan điểm đó không trực tiếp phát biểu bằng

lí luận mà thường gửi gắm thông qua hình tượng nhân vật

Quan điểm nghệ thuật là cách nhà văn nhận thức về thế giới Đối với Nam Cao văn chương phải phản ánh hiện thực cuộc sống Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn suy nghĩ về vấn đề cuộc sống mà viết Những tác phẩm đầu tay của Nam Cao ảnh hưởng từ văn chương lãng mạn đương thời nên ông có những câu thơ thoát li thực tế Nam Cao không dừng chân ở thế giới mộng tưởng ấy mà đã khẳng định văn học phải phục vụ đời sống con người Văn học

phản ánh đời sống được Nam Cao thể hiện rõ ràng qua nhân vật Điền: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp sống lầm than” [3; 71] Tác

phẩm này được coi là một trong những bản tuyên ngôn về quá trình nhận đường của Nam Cao, tinh thần được kế thừa từ những người đi trước như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… Ở mức độ cao hơn Nam Cao quan niệm và đòi hỏi văn chương phải phản ánh chất bên trong của hiện thực cuộc sống, gắn bó sâu sắc với hoàn cảnh của đời sống

Nam Cao có quan điểm chặt chẽ về nghề viết văn Nam Cao luôn nói đến vai trò, trách nhiệm của người nghệ sĩ đối với đời sống của con người Đối với Nam Cao nghề viết văn là một nghề cao quý Ông khẳng định một tác phẩm có

Trang 16

giá trị “phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi” [3; 177] bởi vì nghề văn là nghề sáng tạo ra những tác phẩm văn chương

là con người ngày càng tốt đẹp hơn “ca ngời lòng bác ái sự công bình làm con người ngày càng tốt đẹp hơn” [3; 177] Người cầm bút luôn phải đề cao trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp của mình: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề nào cũng là đáng trách nhưng cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện” [3; 171]

Nhân vật Hộ đã viết, vò lại, ném đi vào sọt rác những bản thảo của mình, cảm thấy hổ thẹn với chính bản thân mình Đối với Nam Cao nghề viết văn còn là một nghề sáng tạo Ông khẳng định văn chương phải luôn đòi hỏi, tìm tòi để

đem những cái mới mẻ: “văn chương không cần những người thợ khéo tay…”

[3; 171] Sự sáng tạo ở đây là sáng tạo về nội dung lẫn hình thức Cuộc đời Nam Cao là những ngày không ngừng sáng tạo Khi viết về đề tài người nông dân trước cách mạng tháng Tám khi mà chị Dậu, anh Pha đã được xem là biểu tượng khốn cùng của xã hội thì Nam Cao cho ra đời Chí Phèo với sự khác biệt lưu manh hóa, mất cả nhân hình và nhân tính Nam Cao đã chỉ ra vấn đề nội tâm của nhân vật, biểu hiện rõ nét qua các nhân vật Điền, Hộ, Thứ…

Với Nam Cao trong nghề văn ông khẳng định tầm quan trọng về vấn đề

Đôi mắt Đó là cách nhìn cuộc sống, chỗ đứng và quan điểm sáng tác, lập trường

của người nghệ sĩ Những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng thể hiện rõ quan điểm cái nhìn của mình về người nông dân, đôi mắt dáo hoảnh, cái nhìn

đầy cảm thông: “Chao ôi! Đối với những người xung ta, nếu ta không cố mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương ” [3; 163] Sau cách mạng ông thấy người nông dân không chỉ có bản chất lương thiện mà có tinh thần cách mạng sôi nổi qua Đôi mắt

1.1.2.4 Thi pháp truyện ngắn Nam Cao

Nam Cao kế thừa và phát huy tinh hoa của thế hệ đi trước, lĩnh hội một cách chọn lọc để làm nên những nét đặc sắc nghệ thuật riêng trong truyện ngắn của mình Trong đó có cốt truyện, ngôn ngữ… và các thủ pháp khác

Trang 17

Cốt truyện

Theo quan điểm truyền thống, cốt truyện có vai trò quan trọng trong tác phẩm tự sự Cốt truyện được xây dựng từ sự kiện và hành động nhân vật Nhưng trong sáng tác của mình Nam Cao không quan tâm đến cốt truyện, thậm chí có những tác phẩm không có cốt truyện Yếu tố tạo nên tác phẩm chính là sự phân tích, lí giải thế giới nội tâm của nhân vật Đáng chú ý trong tác phẩm của mình Nam Cao thường kết thúc truyện bỏ ngỏ, không có hậu, kích thích tưởng tượng đối với người đọc, tạo cơ hội đồng sáng tạo của người đọc với tác phẩm Kết

thúc tác phẩm Chí Phèo nhà văn viết: “Thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng Nói dại nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi thì làm thế nào? Đột nhiên Thị thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại” Chẳng biết Thị Nở có chửa hay không? Và rồi cuộc đời đứa bé sẽ

như thế nào? Hay lại giống Chí Phèo? Đó cũng là câu hỏi chung cho người nông dân nghèo lúc bấy giờ

Một số thủ pháp khác

Điểm nổi bật và tiêu biểu trong truyện ngắn của Nam Cao, đó là ông miêu

tả hiện thực - tâm lí Không chỉ miêu tả hiện thực xã hội ông còn đi sâu vào

Trang 18

khám phá hiện thực tâm hồn con người Nhân vật của ông dù là nông dân hay trí thức cũng đều có thế giới nội tâm giằng xé Qua đó nhà văn đưa ra vấn đề: làm thế nào để giữ nhân phẩm con người trước sức công phá dữ dội của hoàn cảnh Đọc truyện ngắn Nam Cao, ta thấy chất tự thuật trong sáng tác của ông khá đậm Trong truyện ngắn của ông có một người kể chuyện đóng vai trò là nhà văn, thầy giáo Người ấy biết nghe ngóng, quan sát, suy ngẫm, biết tự thú, biết những

thói hư tật xấu của chính mình Ta bắt gă ̣p các nhân vật: ông giáo trong Lão Hạc, nhà văn Điền trong Giăng sáng, Hộ trong Đời thừa, Độ trong Đôi mắt…

Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình Nam Cao là sự “săn đuổi chính mình” [21;32], lấy bản thân mình ra làm thứ máy kiểm nghiệm để đi sâu vào

những bí ẩn tâm lí mang tính nhân cách Đó là những đóng góp độc đáo cho việc hình thành phong cách nhà văn tâm lí của Nam Cao

Ngoài ra, trong truyện ngắn Nam Cao còn có sự phối hợp đan xen các giọng điệu, có thể tạm phân biệt: chất giọng nghiêm nghị, trầm tư, suy ngẫm, giọng điệu triết lí, bi quan, hài hước… Tất cả các thủ pháp biểu hiện trên góp phần làm cho truyện ngắn của ông thêm đặc sắc

1.1.3 Giá trị truyện ngắn Chí Phèo

1.1.3.1 Giá trị nội dung

Ra đời năm 1941 truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao đã khẳng định ngay

từ đầu sự hình thành của một phong cách mới, vững vàng và sắc sảo Chí Phèo

là một tác phẩm giàu giá trị hiện thực và nhân đạo Đề tài người nông dân đã có nhiều tác giả lớn khai thác và đạt đến nguyên mẫu như chị Dậu của Ngô Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan có tinh thần phảng kháng nhưng bế tắc cùng đường Tưởng như người nông dân không còn đất để sáng tác thì Nam Cao cho

ra đời Chí Phèo Chí Phèo ra đời cho ta thấy được mâu thuẫn gay gắt xót xa với vấn đề giai cấp và vấn đề con người sẽ ra sao trong cái xã hội đó Câu chuyện về con người ấy cho ta thấy được bối cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Cụ thể hơn

là cuộc sống của người nông dân bị chèn ép, bóc lột đến cùng cực “mất cả nhân hình và nhân tính” Sự tha hóa của cuộc đời Chí Phèo từ người lương thiện

thành tên lưu manh và từ thằng lưu manh thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại đã

Trang 19

vạch ra thật hùng hồn cái quy luật tàn bạo: người nông dân bị đè ép đến cùng cực chống trả cái xã hội đó bằng cách lưu manh hóa

Vẽ nên người nông dân lưu manh đầy thú tính, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm tốt đẹp của người nông dân ngay trong khi

họ bị rạch nát cả bộ mặt người, giết chết tâm hồn người Cuộc gặp gỡ với Thị

Nở đã làm thức tỉnh lương tâm trong Chí Nam Cao đã cho ta thấy bản chất lương thiện của con người không hề mất đi, dù có đè nén, che nấp vùi dập thì nó vẫn không hề tắt

Qua Chí Phèo Nam Cao cho chúng ta thấy được cái khốc liệt của mâu

thuẫn giai cấp ngàn đời giữa người nông dân và địa chủ không có gì có thể xoa dịu Cái sức mạnh ghê gớm của mối căm thù giai cấp đang âm ỉ trong lòng trật

tự phong kiến nông thôn, càng nén xuống thì càng dễ bùng nổ không gì có thể dập tắt

1.1.3.2 Giá trị nghệ thuật

Cốt truyện đầy kịch tính

Cốt truyện trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao thuộc loại cốt truyện

nhân vật bao gồm: mở đầu, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc tràn đầy kịch tính

Ở phần mở đầu: Nam Cao miêu tả Chí Phèo từ lúc hắn ra đời đến khi hắn

đi ở cho nhà Bá Kiến Cái lai lịch ấy giúp người cho người đọc hiểu được bản tính vốn lương thiện của Chí Phần này là cánh cửa mở dẫn cho người đọc đi vào bên trong tác phẩm

Phần thắt nút: Là chỗ xung đột bắt đầu thể hiện Trong truyện xung đột giữa Chí Phèo – tiêu biểu cho người nông dân với Bá Kiến – tiêu biểu cho bọn địa chủ cường hào trong xã hội thực dân nửa phong kiến Chí Phèo bị Bá kiến đẩy vào tù oan Từ đây tính cách của nhân vật Chí Phèo được hình thành và phát triển theo sự phát triển mâu thuẫn chuyện

Phần phát triển: Sang phần này tính cách nhân vật Chí Phèo đã được xác định qua một quá trình lưu manh hóa bắt đầu từ lúc ra tù về đến trước khi gặp

Trang 20

Thị Nở Nhà tù và sự độc ác của bọn cường hào biến Chí Phèo từ người lương thiện thành con quỷ dữ và rồi tình yêu của Thị Nở lại thức tỉnh lương tâm của Chí Phèo, thức tỉnh quyền được làm người của Chí

Phần đỉnh điểm: Chí Phèo bị khước từ ước muốn nhỏ nhoi làm người của mình Chí Phèo cầm dao đến nhà Bá Kiến đòi làm người lương thiện, hai thế lực

đã trực tiếp xung đột, trực tiếp đối đầu Xung đột giữa Chí Phèo (nạn nhân) và

Bá Kiến (thủ phạm) đã lên đến tột đỉnh, không thể dung hòa

Phần kết thúc: Từ sự căm thù cao độ và trạng thái bế tắc hoàn toàn, Chí Phèo đã giết chết Bá Kiến rồi tự sát Từ trong khốn cùng Chí Phèo mong thoát ra nhưng lối thoát duy nhất cho tình cảnh này chỉ có thể là cái chết Chí Phèo đã đi đúng theo quá trình vận động, phát triển của sự vật Cái chết thê thảm của Chí Phèo là sự phê phán gay gắt chế độ thực dân phong kiến đã trà đạp lên quyền sống chính đáng của con người

Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình

Nhân vật là hình tượng trung tâm trong tác phẩm Trong sáng tác của Nam Cao luôn dựng lên một thế giới nhân vật bằng kĩ thuật hiện đại điêu luyện Các nhân vật của ông mang sức khái quát và điển hình cao Trong truyện ngắn

Chí Phèo toàn bộ ý nghĩa truyện hầu như được toát ra từ nhân vật Chí Phèo

Chí Phèo là nhân vật điển hình cho sự tha hóa, bị mất nhân hình, nhân tính do nhà tù thực dân và sự hiểm độc tàn ác của bọn địa chủ cường hào trong

xã hội thực dân nửa phong kiến Mở đầu câu truyện, Chí Phèo đã xuất hiện một

cách đầy tính dự báo với người đọc: “hắn vừa đi vừa chửi” Chỉ một câu thôi

Chí Phèo với danh tính một người liều lĩnh bất cần Cuộc đời của Chí bất hạnh, khi ra đời đã gắn với những dấu hiệu cô đơn: không cha không mẹ, không tấc đất cắm rùi Cả cuộc đời chưa một lần được chăm sóc bởi tay người đàn bà nào

cả Đến ước muốn nhỏ nhoi được chung sống với người phụ nữ “ma chê quỷ hờn” cũng không đạt được.Chí Phèo bị cướp đi nhân hình với bộ dạng như thằng lưu manh “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt thì gườm gườm trông gớm chết”[3; 14] Ngoại hình thì vậy còn tính cách của Chí Phèo cũng thay đổi “hắn về hôm trước hôm sau đã

Trang 21

thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa cho đến xế chiều” [3; 14]

Rồi chửi bới, la làng, ăn vạ, đâm chém phá tan bao hạnh phúc của người lương thiện trong cái làng Vũ Đại đó Hơn nữa hình tượng nhân vật Chí Phèo không đơn thuần cho một bộ phận cố nông bị lưu manh hóa Chí Phèo trước hết là một hình tượng có quy luật, là sản phẩm của trạng thái áp bức tàn khốc ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng: người nông dân phải bỏ làng đi phải lựa chọn con đường lưu manh hóa như Năm Thọ, Binh Chức Ở cấp độ cao hơn, Chí Phèo còn là điển hình cho tình trạng con người không có quyền được làm người Bằng cách làm nổi bật sự thay đổi của Chí Phèo trước và sau khi ra tù Nam Cao đã tố cáo sự hủy hoại ghê gớm đối với nhân phẩm, nhân cách của người lao động do

xã hội cũ gây nên Bên cạnh đó Nam Cao cũng cho ta thấy mâu thuẫn sâu sắc giữa người nông dân và bọn địa chủ cường hào không thể dung hòa được Xây dựng nhân vật Chí Phèo Nam Cao không phải phê phán người nông dân mà khẳng định vẻ đẹp của người nông dân, sự thức tỉnh hồn người của Chí Phèo là một biểu hiện bản chất của người nông dân: bản chất lương thiện luôn tồn tại trong họ chỉ cần có cơ hội là nó sẽ trỗi dậy dù có bị mua chuộc đè nén như thế nào

Bên cạnh nhân vật Chí Phèo, Nam Cao cũng đã khắc họa thành công các nhân vật khác như Bá Kiến và Thị Nở

Bá Kiến xuất hiện trong truyện như một hình mẫu của giai cấp thống trị tiêu biểu là giai cấp địa chủ phong kiến Bốn đời làm tổng lý, chỉ cần nhìn qua

sự việc thôi ông ta đã biết xử trí ra sao, khi thấy Chí Phèo ông ta nhanh chóng giải tán đám đông, đối xử nhũn nhặn với Chí Đến khi nghe thấy lời thách thức

của Chí Phèo thì cười lớn “người ta bảo cụ hơn người cũng chỉ bởi cái cười”.Chúng ta thấy được sự ngang tàng, hống hách, đê tiện, bỉ ổi, thâm độc và

khéo léo thể hiện qua nhiều chi tiết điển hình khác: trước kia ông ta ngang tàng hống hách khi bỏ tù Chí Phèo chỉ vì ghen vô cớ, mặc nhiên cho mình cái quyền

sinh sát ở cái nơi “xa phủ xa tỉnh này”, là con cáo già trong cái thế “quần ngư tranh thực” ông ta biết “mềm nắn rắn buông”, “trị không dược thì cụ dùng” và ông ta nhận ra một quy luật tất yếu: “ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền lành chỉ è

Trang 22

cổ làm nuôi bọn lý hào, nhưng chính bọn lý hào, nhiều khi phải ngậm miệng cung cấp cho những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình” Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào con đường

tội lỗi không thể nào thoát ra được Sử dụng Chí Phèo như một công cụ bảo vệ

quyền lực của mình “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị thằng đầu bò?” Chính sự khôn khéo lão đời đấy làm cho thế lực của ông ta ngày càng lấn

át được các thế lực khác Chí Phèo không nhân thức được việc mình bị Bá Kiến lợi dụng bán dần nhân hình nhân tính từng ít một để phục vụ sự sinh tồn của mình.Việc miêu tả Bá Kiến như vậy Nam Cao lại càng làm nổi bật nên sự tàn ác của giai cấp thống trị, đặt mâu thuẫn giai cấp lên đến đỉnh điểm, tăng sức mạnh lên án, tố cáo hiện thực

Thị Nở được Nam Cao miêu tả là một người ngẩn ngơ như những người đần trong truyện cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn Người ta tránh Thị như một con vật ghê tởm Một người có gương mặt xấu, quá lứa lỡ thì, hơn nữa lại sinh ra trong gia đình có truyền thống mả hủi Nam Cao đã để Thị vào một bức tường không có lối thoát, khẳng định cuộc đời Thị chỉ sống như vậy, không có quyền được hạnh phúc Nhưng sự thực lại khác, đọc tác phẩm ta thấy Thị là người có suy nghĩ rất đơn giản khi mà Chí Phèo dọn ra bờ sông mọi người trong làng xa lánh Chí Phèo không gánh nước ở lối đi vườn chuối nữa thì thị vẫn giữ thói quen

cũ, Thị không sợ Chí vì “ai có thể ác khi ngủ” Thị cũng biết yêu thương, cũng

biết quan tâm chăm sóc người khác, có tình có nghĩa điều đó được biểu hiện qua cách Thị chăm sóc Chí Phèo Xây dựng nhân vật Thị Nở Nam Cao đã bộc lộ rõ

quan điểm rất hiện đại về hai chữ “con người” của mình Không có con người

hoàn toàn thánh thiện, không có con người hoàn toàn xấu xa Con người được hiện diện với tất cả sự phức tạp của các mặt đối lập

Không gian và thời gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật

Không gian trong sáng tác của Nam Cao hầu hết là vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã, những con đường làng Không gian bao trùm rộng

lớn trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao là không gian làng Vũ Đại Không

Trang 23

gian địa lí cho chúng ta thấy được làng Vũ Đại đó bị lãng quên, cái làng đầu tỉnh

cuối huyện, vừa hẻo lánh vừa xơ xác, một mảnh đất “quần ngư tranh thực”

Trong cái không gian tù túng đó có biết bao số phận bị vùi dập như Năm Thọ, Binh Chức và cả Chí Phèo, Thị Nở Đó là không gian đóng kín chật hẹp với những luật lệ, hủ tục khắt khe cướp đi quyền làm người của Chí Phèo Nam Cao

đã miêu tả cái không gian làng quê đó với một trật tự rõ ràng, nơi ngự trị của những kẻ cường hào ác bá, nơi con người bị bóc lột cùng cực phải bỏ làng đi hay ở lại phải è cổ ra nuôi bọn lý hào, nơi có đầy mưu toan Cái không gian tồn tại những mối mâu thuẫn giữa người cai trị và kẻ bị cai trị, giữa những bọn có thế lực tranh giành miếng ăn Người nông dân bị đè nén, áp bức, bóc lột đến cùng cực Bên cạnh đó làng Vũ Đại cũng là nơi sản sinh ra một Chí Phèo lương thiện, nhưng sự hắt hủi của mọi người khiến Chí Phèo khi ra tù trở về lại trượt dài trong con đường tha hóa Không gian hiện lên với âm thanh chủ yếu là tiếng chửi của Chí một tiếng tuyệt vọng với đời Không gian tiêu biểu cho nông thôn Việt Nam trước cách mạng

Trong cái làng đó Nam Cao đã chú ý miêu tả không gian con đường Không gian con đường miêu tả từ đầu đến cuối tác phẩm Nếu như đầu tác phẩm hình ảnh con đường xuất hiện để Chí Phèo gây tội ác, triền miên trong những cơn say và tiếng chửi bới thì đến cuối tác phẩm con đường xuất hiện với lối vào nhà Bá Kiến với cái ngõ cụt cũng giống như kết thúc không lối thoát cho cuộc đời Chí Phèo Không gian con đường còn mở rộng ra rìa làng với hình ảnh con

đê Con đê ngăn cách Chí Phèo với người dân trong làng thể hiện sự cô lập, miệt thị của xã hội với Chí Phèo khẳng định cuộc đời Chí Phèo phải sống trong cô đơn

Bên cạnh đó Nam Cao còn chú trọng miêu tả không gian nhà ở Chí Phèo

sau bao năm cũng có “năm sào vườn ở bãi sông” một túp lều chứ không phải là

cái miếu ven sông nữa Trong cái không gian riêng tư ấy chứa bao nhiêu giá trị biểu đạt Không gian số ng của Chí Phèo là biết bao âm thanh vui tươi của cuộc sống, của thiên nhiên với tiếng chày đập cá, tiếng người qua lại, những đêm trắng gió mát nhưng Chí Phèo không thể nhận biết được điều đó Không gian

Trang 24

nhà ở là nơi Chí Phèo trở về khi rượu ngấm khi làm bao tô ̣i ác bên ngoài nhưng

trở về hắn chỉ ngủ “ai có thể ác khi ngủ” Không gian đó cũng chứa đựng tình

yêu hạnh phúc của Chí Phèo với Thị Nở, trong cái không gian đó Chí Phèo được làm người, Thị Nở được hạnh phúc Nhưng vượt ra ngoài cái không gian ấy hai con người khốn khổ không thể sống sót bởi định kiến ác nghiêt của dân làng, vượt qua không gian ấy Chí Phèo lại trở về là con quỷ dữ của làng Vũ Đại

Thời gian nghệ thuật

Trong truyện ngắn Chí Phèo thời gian có sự đảo lộn giữa hiện tại – quá

khứ - tương lai Thời gian hiện tại không chỉ tàn phá nhân hình mà còn hủy hoại

nhân tính của Chí Phèo “bây giờ hắn đã là người không tuổi” hắn đã mất ý thức

về thời gian Một cơn say dài hơn 10 năm chưa bao giờ tỉnh khiến Chí Phèo không thể nhận ra hình hài của mình Sau đêm gặp Thị Nở thì ý niệm thời gian

đã trở về với Chí, bản thân chưa bao giờ tỉnh để nhớ rằng hắn có ở đời Quá khứ tương lai hiện tại dồn về trong suy nghĩ của hắn Hắn nhớ quá khứ không thể quay về, hắn thức tỉnh hiện lại phũ phàng, dự cảm lương lai nhưng tất cả chỉ là con số không tròn trĩnh Hắn khát khao lương thiện, hắn thèm làm người lương

thiện “muốn làm hòa với mọi người” muốn mọi người “lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của người lương thiện”

Nam Cao là bậc thầy trong việc sử dụng hai yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật một cách linh hoạt Từ việc thay đổi không gian, thời gian nghệ thuật mở ra nhiều chiều nhờ hồi tưởng, suy nghĩ và ước mơ nhân vật của Nam Cao có thể số ng trong nhiều thời gian khác nhau để làm nổi bật tính cách nhân vật

Ngôn ngữ và lối kể chuyện

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Chí Phèo rất phong phú về lời nói,

cách nói và giọng nói Ngôn ngữ thể hiện và bộc bộ tính cách nhân vật một cách

rõ ràng nhất Nhân vật của Nam Cao luôn chứa đựng một quy luật “cảnh ngộ nào – ngôn ngữ ấy, tính cách nào – lời lẽ ấy” Đố i với Chí Phèo Nam Cao để

ngôn ngữ nói của nhân vật không qua nhiều nhưng qua cách nói của hắn chúng

ta cũng thấy được rõ con người hắn Trước khi vào tù ngôn ngữ của Chí Phèo

Trang 25

luôn bị đè nén đúng vai giao tiếp vì hắn là kẻ dưới Những lời nói mang đặc hình ảnh người nông dân thấp cổ bé họng, hiền lành chân chất Sau khi ra tù Chí Phèo với ngữ điệu và cách nói chuyện ta có thể thấy được sự thay đổi của Chí Phèo theo chiều hướng tiêu cực là một thằng lưu manh đến con quỷ dữ của làng Vũ

Đại với nhưng câu nói cộc lốc, khô cằn cùng giọng điệu dữ dằn: “tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi”, “tao muốn làm người lương thiện” Nhưng

cũng có lúc nó thể hiện sự cô đơn trống trải tột cùng của Chí Phèo, thể hiện một cách tha thiết nguyện vọng được giao lưu, giao tếp của Chí Phèo Dù là cách giao tiếp ấy rất đặc biệt: giao tiếp qua tiếng chửi, bởi mọi ngõ ngách giao tiếp đều bị bịt kín

Ngôn ngữ nhân vật được đan xen với lối kể chuyện trần thuật, lời nhân

vật và lời bình luận của người kể: “có hề gì”, “thế cũng chẳng sao” tạo một

giọng văn đa điệu Cách trần thuật gián tiếp xen lẫn những đoạn văn nửa trực

tiếp, nửa gián tiếp làm tô đậm thêm hoàn cảnh nhân vật: “ờ thế này thì tức thật, ! tức chết mất Mẹ kiếp ! Thế này thì có phí rượu không ?” ta thấy tác giả vừa ở

bên ngoài nhân vật, vừa nhập vào nhân vật Vì vậy, mối giao thoa hòa giữa người kể, nhân vật và người đọc thường xuyên diễn ra

Nói Nam Cao luôn khách quan trong miêu tả nhân vật của mình vớ i giọng điệu có vẻ lạnh lùng, vô cảm nhưng thật ra không phải như vậy Ngôn ngữ của

tác giả cũng thay đổi theo tiến trình cuộc đời của nhân vật Trong truyện,

Nam Cao luôn thay đổi giọng kể của mình theo từng đoạn khác nhau Mỗi đoạn chứa đựng tình thương nỗi xót xa với nhân vật thầm kín theo cách khác nhau: lúc nhanh giọng văn đầy kịch tính ở đoạn đầu miêu tả Chí Phèo say rượu, chậm hơn tớ i đoạn hai khi kể về quá khứ Chí Phèo, đoạn ba ngắn gọn với những hồi ức của Chí Cấu trúc trên được Nam Cao sử dụng để về tâm bi kịch của cuộc đời Chí Phèo cũng như cuộc đời người nông dân Đó chính là điểm đặc sắc trong của ngòi bút Nam Cao Vì vậy ông có một phong cách riêng, tạo nên thi

pháp tác giả không giống với các nhà văn cùng thời Có thể nói Chí Phèo là tác

phẩm đánh dấu trình độ một trình độ phát triển mới của ngôn ngữ văn học nghệ

thuật viết truyện ở nước ta

Trang 26

Các hình ảnh tượng trưng mang ý nghĩa như những biểu tượng giàu giá

trị

Truyện ngắn Chí Phèo sử dụng dày đặc những hình ảnh tượng trưng Đó

là xu hướng chung của văn học hiện đại Chí Phèo là sự tiên phong kết tinh tài

năng nghệ thuật độc đáo của Nam Cao trong việc xây dựng những hình ảnh biểu

tượng có tính khái quát cao

Nam Cao không chỉ muốn lên án tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến

mà còn muốn thức tỉnh tình người trong sâu thẳm mỗi con người Bằng việc

miêu tả sự ra đời của Chí Phèo với hàng loạt những từ ngữ mở đầu “một anh đi

thả ống lươn một buổi sáng… một thằng bé… một chiếc váy đụp… một cái lò

gạch… một bà góa mù… một bác phó cối không con” duy chi ̉ từ “một” thôi cũng

cho chúng ta thấy trước được một cuộc đời đầy cô đơn và bất hạnh của Chí Bên

cạnh đó hình ảnh “cái lò gạch cũ” cũng là một chi tiết mang giá trị biểu tượng

sâu sắc Hình ảnh cái lò gạch cũ bỏ không, vắng vẻ, không người qua lại hiện

lên chỉ ở trong tiềm thức ở đầu và ở cuối tác phẩm Cái lò gạch nơi xuất hiện

cuộc đời Chí Phèo chỉ hiện lên trong trí nhớ của người dân làng Vũ Đại, khi

người ta xác định cuộc đời Chí Đến cuối tác phẩm nó lại hiện lên trong suy nghĩ

của Thị Nở Suy nghĩ đó vẽ ra một tương lai gần Chí Phèo con ra đời Chi tiết

hình ảnh đó chứa đựng một ý nghĩa triết lí sâu sắc: nếu không thay đổi thực tại,

sẽ lại tiếp tục những bi kịch quẩn quanh không lối thoát của con người, chừng

nào còn chế độ bất công vô nhân đạo chừng ấy còn tồn tại hiện tượng Chí Phèo

Cái lò gạch cũ còn là đấu vết, ám ảnh biết bao cuộc đời không được làm người

lương thiện, biết bao mối tình không được thừa nhận vượt qua khuôn phép

Trăng cũng là một biểu tượng nghệ thuật của Nam Cao Người xưa và nay luôn

coi trăng là người bạn tâm tình với mình

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

(“ Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử)

Trong truyện hình ảnh trăng xuất hiện hai mươi mốt lần: lúc trăng lên,

trăng chảy trên đường, lúc Chí Phèo và Tự Lãng uống rượu với nhau, trăng

Trang 27

trong vườn chuối lúc Chí Phèo say rượu trở về nhà, trong cảnh ân ái của Chí và

Thị Nở, tạo cảm giác thơ mộng, lãng mạn với những hình ảnh miêu tả “mặt trăng lên trăng, mặt trăng tròn vành vạnh”, “trăng xanh rười rượi như là nước ướt, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình” Không

ngẫu nhiên Nam cao xây dựng không gian như vậy là đều có dụng ý riêng của mình Mở đầu tác phẩm là Chí Phèo ngang ngược, dữ dằn tưởng như không biết yêu Nhưng dưới trăng hôm ấy Chí Phèo đã được biết đến vị của tình yêu là gì Thiên nhiên cũng tác động mạnh mẽ đến Chí Phèo Xuyên suốt tác phẩm là âm thanh của tiếng chửi của Chí Phèo, tiếng tuyệt vọng của một con người không được xã hội thừa nhận, nhưng bên cạnh đó cũng có âm thanh vui vẻ của cuộc sống hàng ngày như tiếng chim, tiếng nói cười, tiếng chầy đập cá Đối với Chí khi tỉnh rượu Chí mới nhận ra âm thanh đó, âm thanh mà bao nhiêu năm qua chìm trong cơn say Chí không nhận thấy Chỉ vậy thôi Nam Cao cũng cho chúng

ta phải suy nghĩ nếu con người cứ sống trong cái bi kịch của sự tha hóa thì không bao giờ có được hạnh phúc trong cuộc sống Phải biết vươn lên tìm lại chính mình mới nhận ra được giá trị của cuộc sống

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Hoạt động dạy học của giáo viên

Trường THPT Ứng Hòa B – Hà Nội được thành lập vào tháng 8 năm

1962 đến nay đã được 50 năm Có truyền thống hiếu học và đạt nhiều thành tích cao trong dạy và học Đến năm 2015 – 2016 có tổng số 86 giáo viên tham gia giảng dạy với 78 giáo viên đạt chuẩn Nhà trường có 06 tổ chuyên môn, 01 tổ hành chính với tinh thần và trách nhiệm cao, đoàn kết nhất trí thực hiện mục tiêu Giáo dục, pháp luật của Nhà nước Tổ Văn có 10 giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy, với tổ trưởng là cô Đinh Thị Lộc Hầu hết các giáo viên đều tốt nghiệp đại học chính quy từ các trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Đại học Tây Bắc có độ tuổi trẻ, chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm, sự sáng tạo trong dạy học và đặc biệt là lòng nhiệt tình đam mê với công việc, từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy, mang đến cách tiếp nhận mới mẻ, tạo được sức hấp dẫn đối với học sinh học tập môn Văn nói riêng và

Trang 28

các môn khác nói chung

Không ngừng học tập và trau dồi kiến thức tiếp cận phương pháp mới bên cạnh đó cơ sở vật chất nhà trường cũng có những thuận lợi tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho quá trình dạy học, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phòng máy, phòng thí nghiệm Song còn tồn tại những khó khăn nhất định chưa thể đáp ứng được hết nhu cầu của người dạy và học

Bước đầu khảo sát và tìm hiểu trực tiếp các tiết đọc hiểu ở khối 11 trường THPT Ứng Hòa B – Hà Nội cho thấy các thầy cô đã sử dụng phương pháp đọc

và sử dụng hệ thống câu hỏi để nắm bắt tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Tôi

đã tiến hành lựa chọn, khảo sát các phương pháp giảng dạy tại lớp 11A2 trường THPT Ứng Hòa B – Hà Nội do cô Đinh Thị Lô ̣c trực tiếp giảng dạy

Đọc hiểu văn bản là một hoạt động đầu tiên trong quá trình đầu tiên trong

việc tiếp nhận tác phẩm Trong giờ dạy tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao tại lớp

11A2, phương pháp đọc tác phẩm được sử dụng như là phương pháp đạt được hiệu quả trong quá trình dạy học Đọc giúp học sinh làm việc với văn bản nắm bắt được tư tưởng chủ đề Yêu cầu củ a giáo viên khi đọc là đọc chậm, đọc đúng câu chữ, đọc diễn cảm Đọc để người nghe cảm nhận được cái không khí ngột ngạt, bế tắc của những con người làng Vũ Đại, thấy được sự tuyệt vọng của Chí Phèo Đặc điểm của học sinh là vùng nông thôn nên dễ hình dung được những hình ảnh trong bài Tuy nhiên vốn sống hiểu biết của học sinh không nhiều nên việc sử dụng hệ thống các câu hỏi học sinh chưa làm việc hiệu quả, chưa nâng cao tinh thần chủ động và kĩ năng làm việc theo nhóm

Bên cạnh đó giáo viên còn sử dụng các phương pháp, biện pháp phát vấn,

gợi tìm, nêu vấn đề trong quá trình dạy truyện ngắn Chí Phèo để giúp học sinh

tiếp cận tác phẩm theo hướng tích cực giáo viên và học sinh cùng làm việc với sách giáo khoa Kết hợp với so sánh tác phẩm với những tác phẩm cùng chủ đề

như Tắt đèn hay Bước đường cùng, bình giảng để khai thác sâu hơn giá trị nội

dung và nghệ thuật của tác phẩm

Tuy nhiên, việc sử dụng không đồng bộ, linh hoạt các phương pháp, biện pháp trên lại làm cho giờ dạy văn không được như ý muốn Giáo viên chỉ tập

Trang 29

trung khai thác về nội dung là bi kịch của Chí Phèo, nỗi thống khổ của người nông dân, quá trình tha hóa của một người lương thiện thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật Chính vì vậy không làm nổi bật được tính chất của truyện ngắn, làm cho học sinh ít hứng thú hơn, không thấy được sự khác nhau giữa các thể loại tự sự, trữ tình, kịch

1.2.1.2 Hoạt động học tập của học sinh

Năm học 2015 – 2016, toàn trường có 1478 học sinh và 33 lớp học Học sinh chăm ngoan luôn đạt thành tích nổi bật Chất lượng giáo dục đạo đức học lực tốt với tỉ lệ hàng năm đều tăng lên

Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát thực tế học tập môn Ngữ văn nói chung (khối lớp 10 dự giờ 5 tiết, khối lớp 11 dự giờ 5 tiết, khối lớp 12 dự giờ 3

tiết) và tiết đọc – hiểu tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng ở hai lớp

11A2 và 11A4 dự giờ 2 tiết (đây là hai lớp học theo chương trình cơ bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh

Số lượng học sinh khảo sát là 85 học sinh / 02 lớp (lớp 11A2 có 45 học sinh và 11A4 có 40 học sinh) Các tiêu chí đánh giá đặc điểm tiếp nhận của học sinh là về độ tuổi, dân tộc, nhận thức về tác phẩm trong giờ học và kết quả học tập môn Văn (kì I năm học 2015 – 2016) Về độ tuổi học sinh tương đối đồng đều, hầu hết các em đều ở độ tuổi sinh năm 1999 Ở độ tuổi này các em đã có suy nghĩ mang tính chủ quan, thích khám phá nhưng vẫn chưa hoàn thiện Bên cạnh đó sở thích học tập của học sinh cũng là tiêu chí đánh giá mức độ tiếp nhận của học sinh Trong đó, có 03/85 học sinh thực sự yêu thích môn Văn (3,5%), số học sinh không thích học môn Văn 30/85 (35,3%), học sinh ở mức độ bình thường 52/85 (61,02%) Kết quả học tập theo thống kê của hai lớp 11A2 và 11A4 trường THPT Ứng Hòa B – Hà Nội năm học 2015 – 2016 của các em như sau: học lực giỏi 05 học sinh (5,88%), học lực khá 40 học sinh (47,1%), học lực trung bình 38 học sinh (44,7%), học lực yếu 02 học sinh (2,32%) Đánh giá chung ta thấy kết quả học tập môn Văn của học sinh hai lớp 11A2 và 11A4 chưa cao

Trang 30

Từ kết quả trên giúp người làm khóa luận muốn tìm ra một số phương pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả giảng dạy tác phẩm văn học tại trường THPT Ứng Hòa B

Kết quả tiếp nhận tác phẩm Chí Phèo

Tại lớp 11A2, tiết học 53 – 54 được tiến hành với sự chuẩn bị đầy đủ của giáo viên và học sinh Giáo viên chuẩn bị khá chu đáo và tỉ mỉ, 100% học sinh

có vở soạn và đã soạn bài, chuẩn bị bài Các em phần lớn hăng hái phát biểu xây dựng bài Tiết dạy khá sôi động bởi các câu hỏi đưa ra phù hợp với các em

Sau tiết đọc – hiểu tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, chúng tôi đã tiến

hành kiểm tra đánh giá mức độ tiếp nhận bài học của học sinh lớp 11A2 bằng phiếu câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức sau tiết học Kết quả thu được

có 4/45 học sinh đạt điểm xuất sắc chiếm 8,9%, có 8 học sinh đạt điểm giỏi chiếm 17,8%, có 20 học sinh đạt điểm khá chiếm 44,4%, có 8 học sinh đạt điểm trung bình chiếm 17,8%, có 05 học sinh dưới điểm trung bình chiếm 11,1% Kết quả điều tra trên đã cho thấy khả năng tiếp nhận, cảm thụ các tác phẩm văn học của học sinh chưa cao Với việc áp dụng một số phương pháp dạy học Ngữ văn, môn Ngữ văn chưa khẳng định được vị thế và được nâng cao về chất lượng

Tiểu kết chương 1

Xuất phát từ cơ sở lí luận dựa trên đặc trưng cơ bản của truyện ngắn kết hợp với những quan niệm chung về dạy học theo thi pháp loại thể Thi pháp học đang là sự lựa chọn của khoa học phương pháp hiện đại cùng với quan điểm xây dựng SGK theo tinh thần thể loại

Nam Cao là một tài năng lớn, một nhà nhân đạo chủể nghĩa và là một cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Bên cạnh

đó thi pháp truyện ngắn Nam Cao đã làm nên nét đặc sắc nghệ thuật riêng trong sáng tác của mình Nổi bật lên ở cốt truyện, ngôn ngữ, nghệ thuật miêu tả tâm lí, nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ và lối kể chuyện, các hình ảnh mang ý nghĩa như những biểu tượng giàu giá trị

Trang 31

Cơ sở thực tiễn dựa vào thực trạng dạy và học ở trường THPT Ứng Hòa B Những đặc điểm về hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh dựa trên đặc điểm tiếp nhận của học sinh

Chính vì vâ ̣y, chúng tôi ma ̣nh da ̣n đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp giảng da ̣y tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo đă ̣c trưng thi pháp loại thể để phân tích và hiểu rõ hơn về tác phẩm

Trang 32

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO

THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP LOẠI THỂ

2.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi dạy học tác phẩm Chí Phèo

2.1.1 Dạy học truyện ngắn Chí Phèo phải nắm được đặc trưng loại thể

Chí Phèo là một truyện ngắn xuất sắc thể hiện phong cách văn chương của Nam Cao Việc dạy Chí Phèo cần nắm được đặc trưng thi pháp loại thể

không phải bởi thi pháp là sự lựa chọn đúng đắn khoa học mà còn bởi yêu cầu của nội tại củ a tác phẩm Vậy dạy học tác phẩm Chí Phèo theo đặc trưng thi

pháp loại thể được hiểu theo cách nào? Tức là dùng thi pháp để “mở đường” thâm nhập vào tác phẩm một cách khoa học và đúng đắn Tuy nhiên chúng ta

cần phải tiếp cận tác phẩm một cách đồng bộ chứ không tuyệt đối hóa Với Chí Phèo việc tìm hiểu về bối cảnh lịch sự chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng thời

đại cũng như quan niệm văn chương và phong cách Nam Cao là một thao tác cần và đủ để tiếp cận tác phẩm

Theo Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng “sự tồn tại của phương pháp dạy học là cụ thể” Khi dạy học một tác phẩm văn chương nói chung và dạy học truyện ngắn Chí Phèo nói riêng chúng ta cần phải chú ý những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, khi tìm hiểu thi pháp thể loại không được tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường;

Thứ hai, tìm hiểu thi pháp thể pháp thể loại là cơ sở để phát hiện ra những nét độc đáo của thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả;

Thứ ba, cần vận dụng thi pháp thể loại gắn liền với lí luận dạy học hiện đại

2.1.2 Dạy học truyện ngắn Chí Phèo trên cơ sở phát huy vai trò chủ thể của học sinh

Đây là yêu cầu tất yếu rất cần thiết khi dạy học tác phẩm Chí Phèo và còn

là một nguyên tắc khi giảng dạy tác phẩm văn chương Bên cạnh các thể loại khác như thơ, kịch thì tự sự cũng cuốn hút sự khám phá tìm tòi của các em học

sinh Chính vì vậy, chúng tôi chọn Chí Phèo để dạy cho học sinh lớp 11 Với

học sinh lớp 11 các em đã có đủ những tri thức nền tảng vững chắc được bồi đắp

Trang 33

từ các cấp dưới, được rèn luyện kĩ năng đọc hiểu một tác phẩm đặc biệt là tác phẩm tự sự Vì thế khi dạy tác phẩm Chí Phèo cần phát huy tính chủ thể của học

sinh Người giáo viên cần có sự định hướng gợi mở giúp các em chủ động sáng tạo tìm hiểu Giáo viên cần tổ chức ra một không gian sư phạm cho học sinh có thể thâm nhập vào tác phẩm một cách tuần tự để học sinh có thể tự khám phá và chiếm lĩnh giá trị của tác phẩm

2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

theo đặc trưng thi pháp loại thể

Từ những vấn đề trên, một yêu cầu bức thiết được ra đó là phải đề ra một

số biện pháp nhằm dạy học tốt tác phẩm Chí Phèo cho học sinh Sau dây là một

số biện pháp mà chúng tôi đề ra Chúng tôi hi vọng những biện pháp này sẽ góp

phần nâng cao hiệu quả dạy và học Chí Phèo của Nam Cao nói riêng, các tác

phẩm văn chương nói chung

Để cho giờ dạy đạt hiệu quả và phát huy cao nhất vai trò của chủ thể học sinh trong giờ dạy, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh có bước chuẩn bị kĩ lưỡng về nội dung bài học (soạn bài và tìm hiểu bài trước khi đến lớp) Đối với

Chí Phèo học sinh cần nắm vững kiến thức về tác giả như cuộc đời, sự nghiệp

sáng tác, quan niệm sáng tác văn chương, phong cách nghệ thuật, về thời đại như lịch sử, văn hóa, xã hội dương thời Bên cạnh đó, học sinh cần soạn thảo bài theo câu hỏi sách giáo khoa một cách chu đáo, tỉ mỉ, tránh tình trạng soạn lấy lệ, soạn cho có bài Học sinh cần nắm được những kiến thức lí luận khai thác chiều sâu giá trị trong tác phẩm và phải nắm được kiến thức đặc trưng thể loại để tháo

gỡ tác phẩm Sau khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, giáo viên có thể sử dụng

một số biện pháp sau để nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn Chí Phèo theo

đặc trưng thi pháp loại thể

2.2.1 Đọc hiểu tác phẩm

Đọc - hiểu là vấn đề then chốt, cốt lõi trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương Vì quá trình thâm nhập một bài văn có rất nhiều cách khác nhau tùy theo kinh nghiệm rút ra của từng người và đối với từng bài nhưng một bước quan trọng nhất mà ai cũng phải thực hiện mới thâm nhập vào bài văn đó chính

Trang 34

ra thế giới cuộc sống trong tác phẩm Đọc để có tiếng nói nội tâm hào vào tiếng nói nội tâm của tác giả” [12; 197]

Hoạt động đọc đòi hỏi người đọc phải làm việc với văn bản, có sự cảm thụ thẩm mĩ tiếp nhận giáo dục, thể hiện tư duy sáng tạo Mục đích cuối cùng của đọc là để hiểu văn bản Hiểu là người đọc có sự phát hiện nắm vững mối liên hệ của sự vật hiện tượng, đối tượng nào đó, ý nghĩa quan hệ nào đó

Hiểu là sự bao quát nội dung vận dụng vào đời sống Người đọc tự trả lời được các câu hỏi: Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào? Người đọc hiểu những gì khi đọc tác phẩm? Hiểu vừa là quá trình, vừa là mục đích và là kết quả của việc đọc

Đọc - hiểu có mối quan hệ rõ ràng, ràng buộc với nhau như hai mặt của tờ giấy Có đọc thì mới hiểu, có hiểu thì mới đọc đúng đọc hay được Thông qua quá trình đọc để hiểu được tác phẩm văn chương, xóa mờ đi khoảng cách mơ hồ giữa giữa người tiếp nhận với nhà văn

Như vậy, đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn Đọc hiểu là quá trình phức tạp nên trong quá trình dạy học yêu cầu với học sinh phải phải có năng lực tiếp nhận và theo định hướng của giáo viên, tránh đọc lan man, suy diễn

Để tiếp thu truyện ngắn Chí Phèo giáo viên cần có những định hướng cho

học sinh việc đọc trên mô hình tháo gỡ tác phẩm Có nhiều cách đọc khác nhau nhưng phương pháp đọc hiện đại chú ý ba cách đọc sau: đọc kĩ, đọc sâu, đọc sáng tạo

Đọc kĩ là đọc tỉ mỉ, chính xác từng câu, tứng ý, nắm vững mọi tình tiết sự kiện của tác phẩm, tìm ra mối liên hệ giữa các ý, từ đó tìm ra kết cấu của tác

Trang 35

phẩm Đây là bước đầu tiên để học sinh từng bước cảm và hiểu tác phẩm bởi khi đọc học sinh sẽ nắm được giọng điệu của tác phẩm

Đọc sâu là đọc chậm, phát hiện những nét mới lạ của từ ngữ, hình ảnh, nhân vật với những tâm tư, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại của nhân vật Đây là bước thâm nhập sâu hơn vào thế giới hình tượng tác phẩm Yêu cầu cao nhất là của việc đọc là đọc sáng tạo

Đọc sáng tạo là phát hiện ra những ý nghĩa mới ngoài chú ý của tác giả,

bổ sung những nội dung mới, làm giàu thêm ý nghĩa xã hội và ý vị nhân sinh của tác phẩm

Bên cạnh đó, đọc truyện ngắn Chí Phèo, học sinh cần phải nắm bắt được giọng điệu văn của Nam Cao “ngoài lạnh trong nồng” tức là bề ngoài lạnh lùng

nhưng bên trong lại ấm nóng, luôn khách quan, bình tĩnh Truyện ngắn có ba đoạn, các hình ảnh, chi tiết cứ sống dậy trong lòng người đọc một không gian, thời gian, mỗi cuộc đời điển hình là số phận của Chí Phèo mang đến cho người đọc sự xót xa với một kiếp người bị đày dọa, bị cướp đi tất cả Đọc đoạn mở đầu truyện là hình ảnh Chí Phèo xuất hiện với đầy đủ ngôn ngữ và hành động Hắn say, hắn chửi nhưng không ai trả lời Đọc phải hóa thân vào nhân vật mới thấy được bi kịch của Chí Phèo tuyệt vọng của con người muốn giao tiếp mà không

được chấp nhận Cách thức giao tiếp thông qua tiếng chửi: “Hắn vừa đi vừa chửi bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi cả làng Vũ Đại không ai biết” Tạo cho người đọc sự tò mò về hắn là ai? Hắn là Chí Phèo Tại sao hắn lại

như thế? Kích thích người đọc chú ý đi tìm hiểu nguyên nhân

Câu hỏi: Đoạn mở đầu Chí Phèo xuất hiện có đặc sắc không? Vì sao hắn chửi mà không ai chửi lại?

Câu hỏi kích thích sự tò mò của học sinh đi tìm hiểu nguyên nhân và giáo viên giúp học sinh phân tích tiếng chửi của Chí

Đoạn hai là kể lại quá trình tha hóa của Chí Phèo khi đi tù về Diễn biến tâm lí của Chí Phèo lúc này nên giọng đọc của học sinh tăng tiến theo tâm lí

nhân vật đến lúc cao trào khi Chí Phèo rạch mặt ăn vạ “Ối làng nước ôi! Cứu tôi với thằng Lí Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi! ” Giáo viên hướng dẫn

Ngày đăng: 20/09/2016, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bắc (1999), Trọng tâm kiến thức Ngữ văn, NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia – Hà Nô ̣i, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tâm kiến thức Ngữ văn
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia – Hà Nô ̣i
Năm: 1999
2. Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học tác phẩm văn học (theo đặc trưng loại thể) , NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia – Hà Nô ̣i, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn học (theo đặc trưng loại thể)
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia – Hà Nô ̣i
3. Nam Cao (2008), Truyê ̣n ngắn chọn lọc , NXB Thanh niên, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyê ̣n ngắn chọn lọc
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
4. Ha ̀ Minh Đức (2001), Lí luận văn học, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Ha ̀ Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2001
5. Lê Ba ́ Hán (2003), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Ba ́ Hán
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2003
6. Nguyễn Thanh Hu ̀ ng (2001), Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT- những vấn đề cập nhập , NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT- những vấn đề cập nhập
Tác giả: Nguyễn Thanh Hu ̀ ng
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m
Năm: 2001
7. Nguyễn Thanh Hu ̀ ng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hu ̀ ng
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2002
8. Nguyễn Thanh Hu ̀ ng (2002), Hiểu văn dạy văn , NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hu ̀ ng
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2002
9. Pha ̣m Ma ̣nh Hùng (2001), Thi pha ́ p hoàn cảnh trong tác phẩm cuả Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, NXB Thanh niên, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi phá p hoàn cảnh trong tác phẩm cuả Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao
Tác giả: Pha ̣m Ma ̣nh Hùng
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
10. Đỗ Thi ̣ Mai (2013), Phân tích không gian – thời gian trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, www.doc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích không gian – thời gian trong truyện ngắn Chí
Tác giả: Đỗ Thi ̣ Mai
Năm: 2013
11. Phan Tro ̣ng Luâ ̣n (2004), Phương pháp dạy học văn , tâ ̣p 1, NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Tro ̣ng Luâ ̣n
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m
Năm: 2004
12. Phan Tro ̣ng Luâ ̣n (2004), Phương pháp dạy học văn , tâ ̣p 2, NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Tro ̣ng Luâ ̣n
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m
Năm: 2004
13. Phan Tro ̣ng Luâ ̣n (2010), Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tâ ̣p 1, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Tro ̣ng Luâ ̣n
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2010
14. Phan Tro ̣ng Luâ ̣n (2010), Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tâ ̣p 1, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Tro ̣ng Luâ ̣n
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2010
15. Phương Lư ̣u (2006), Lí luận văn học, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lư ̣u
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2006
16. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (2007), tâ ̣p 1, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11
Tác giả: Sách giáo khoa Ngữ văn 11
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2007
17. Sách giáo viên Ngữ văn 11 (2007), tâ ̣p 1, NXB Giáo du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11
Tác giả: Sách giáo viên Ngữ văn 11
Nhà XB: NXB Giáo du ̣c
Năm: 2007
18. Trần Đăng Suyền – Nguyễn Văn Long – Lê Quang Hưng – Tri ̣nh Thu Tiết (2012), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại , tâ ̣p 1, NXB Đa ̣i ho ̣c Sư Pha ̣m, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Trần Đăng Suyền – Nguyễn Văn Long – Lê Quang Hưng – Tri ̣nh Thu Tiết
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Sư Pha ̣m
Năm: 2012
19. Trần Đình Sử (2000), Một số vấn đề thi pháp học hiê ̣n đại, Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o – Vu ̣ giáo viên, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề thi pháp học hiê ̣n đại
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2000
20. Tác giả trong nhà trường – Bộ sách phê bình và bình luận văn học – Nam Cao, NXB Văn ho ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả trong nhà trường – Bộ sách phê bình và bình luận văn học – Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w